Phạm Ngọc Đa

Lượt đọc: 228 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16

❊ ❊ ❊

Âm mưu và hành động của địch vượt quá dự kiến của cán bộ và nhân dân Bạch Đằng.

Sau thất bại nặng nề ở biên giới, địch đối phó bằng cách tập trung quân mở những trận càn quét lớn ở vùng đồng bằng. Chúng muốn xóa bỏ cái thế cài răng lược. Chúng muốn xoá những làng xã vẽ màu đỏ trong bản đồ, tức là những vùng du kích nằm giữa những vùng trắng, vùng mà chúng đã chiếm được. Bạch Đằng và một số xã khác của Tiên Lãng nằm trong mục tiêu càn quét của chúng.

Từ sáng sớm, địch câu đại bác vào Bạch Đằng như giã giò. Chúng tập trung bắn vào hai thôn Phác Xuyên và Xuân Lai. Bụi bốc mù mịt trên những cánh đồng màu ở rìa bờ tre. Những quả “ô-buy” rơi xuống đầm dựng lên vô số cột nước lẫn bùn đất.

Sau một hồi bắn phá, tiếng đại bác thưa dần. Địch dàn quân ba hướng tiến vào Bạch Đằng. Một hướng trên Minh Đức kéo xuống, một hướng từ đường cái số 25 tiến vào, một hướng từ phía Quang Phục dồn sang.

Khi tiếng đại bác dứt, Thu từ dưới hầm nhảy lên, rồi trèo lên cây gạo quan sát. Trước mặt Thu, lính địch nhung nhúc như giòi trong vại mắm thối. Thu có cảm giác ghê ghê, lạnh ớn ở sống lưng. Thu hiểu rằng cái lũ giòi kia tràn vào làng thì tất cả sẽ bị nhơ nhớp, bị chà đạp. Thu tụt xuống chạy đến gặp anh Đàn:

– Địch đông quá anh ạ, chúng làm cỏ xã mình mất.

– Địch đông đã dễ làm gì nhau, anh em mình hãy vững tâm. Cậu đi báo cho anh Đám biết là bố trí du kích cho kín đáo. Tiêu diệt địch, nhưng phải giữ lực lượng mình, đừng nóng nảy. Tiểu đội của cậu đã sẵn hầm bí mật chưa?

– Đầy đủ rồi.

– Cậu đi đi, rồi trở về đây.

Thu đi một lát thì súng bộ binh đã nổ ở rìa làng. Địch xả súng máy và ném lựu đạn vào lũy tre. Tổ du kích do Đám trực tiếp phụ trách đã nổ súng. Tiếng súng lẻ tẻ của du kích bị chìm đi trong tiếng súng nổ ran của địch nhưng lại đạt những kết quả cụ thể. Nhiều tên địch đã ngã. Đám đã dồn hết tâm trí vào cuộc chiến đấu một cách say mê. Anh quên hết mọi nỗi phiền muộn, và cái vẻ lầm lì mới có ít lâu nay cũng mất đi. Mái tóc cắt ngắn dựng lên. Sau mỗi tiếng súng nổ, anh lại văng ra vài tiếng chửi tục, và vỗ đùi đen đét mỗi khi thấy kẻ địch bị hạ.

Thu đã đến sau lưng và nói to:

– Báo cáo anh Đám, anh Đàn dặn anh là đừng nóng nảy, bố trí du kích cho kín đáo, đánh địch và giữ mình. Hết!

Thu đem tiếp lệnh tới tổ du kích bố trí ở miếu ông Đoài, phía giáp đường 25. Cái miếu này có từ bao giờ không ai biết rõ. Chỉ nghe truyền lại là miếu thờ một ông tướng từ thời Bà Trưng khởi nghĩa. Bây giờ còn lại một cái bàn thờ lộ thiên bằng đá, một cái cổng tò vò đã lên rêu, một cây đa cổ thụ rễ chùm và những bụi duối, bụi tre, dứa dại mọc rậm rạp.

Quang là tổ trưởng tổ du kích ở đây. Anh có một kho chuyện cười, chuyện vui, chuyện đời xưa, chuyện ngày nay, chuyện anh nghe lại, và chuyện do anh bịa ra. Khi Thu đến thì thấy mấy anh du kích đang cười, còn anh Quang lại tỉnh bơ. Chắc anh lại vừa kể một chuyện gì đó. Thu rất thích nghe những chuyện ấy.

Trông thấy Thu, anh Quang đã hỏi ngay:

– Có lệnh gì đấy?

Trông mặt anh Quang, Thu đã muốn cười nhưng cố nén để truyền lệnh:

– Nếu tình hình găng, anh cho tổ rút vào trong làng, đừng để địch chặn mất lối.

Quang điều khiển một bên mắt cho xếch lên:

– Này, ngày xưa cũng có một thằng…

Thu muốn cười lắm, nhưng vẫn cố kìm:

– Anh nghe rõ tôi nói chưa anh Quang?

– Ngày xưa có một thằng… à thôi, tớ kể cho cậu nghe một câu chuyện thời này. Này, chú ý cảnh giới các cậu nhé, chúng nó còn ở xa thì kệ xác chúng nó, đừng có nóng mắt mà nổ súng vội. Chưa đánh đã có lệnh chuẩn bị rút. Được rồi, đánh mới khó, chứ rút thì dễ thôi. Thu, mày biết những loại máy bay gì của Pháp?

Thu đã bị cuốn hút vào câu chuyện, hào hứng trả lời:

– “Bà già”, “Cá trắm”, “Cổ ngỗng”, “Bê-vanh-xít”…

– Được rồi, thế là đủ. Ấy vậy mà có một ông đi đường nghe có tiếng máy bay, hốt hoảng quăng cái mũ đội đầu đi và nhảy xuống hố cá nhân ở vệ đường. Ông ta ngồi thu lu bó gối trong cái hố hẹp ngước nhìn lên. Chợt có một bà cụ già cũng vừa đi đến đấy, nghe tiếng máy bay liền nhảy ngay xuống cái hố đó. Ông ta bị đè nặng vội la lên:

– Ối cái bà già này.

Bà cụ ngồi trên trông rõ máy bay địch liền nói: – “Bà già” đâu mà “Bà già”! “Cổ ngỗng” đấy ông ạ. Ngồi im, không nó bắn chết bây giờ.

Địch đã vào tới tầm súng. Tổ này có ba khẩu, hai khẩu mút-cơ-tông, một khẩu súng Anh cổ lỗ, bắn mỗi phát súng lại giật đến sái bả vai.

Quang nâng súng lên và nheo mắt. Tiếng nổ kêu đánh bộp, tan đi trong tiếng ầm ầm trên đường cái. Hai chiếc xe bọc sắt vừa lao đến đổ thêm quân, rặt một giống lính lê dương mũ đỏ.

Quang nghĩ, mình mà có hai chiếc xe bọc sắt kia thì sẽ đè bẹp tất cả chúng nó. Tình hình này khá găng đây. Hãy hạ địch vài ba loạt rồi tính đường rút. Đúng, nơi bố trí này tuy có lợi là đánh địch bất ngờ, nhưng lại bị cắt rời khỏi làng bởi một khoảng ruộng trống, không nhanh thì dễ bị địch bao vây.

Quang từ từ hướng đầu ruồi súng vào một cái mũ đỏ, bóp cò. Cái mũ biến mất. Anh đếm nhẩm: một thằng đi tây, chợt anh phát hiện một thằng đội cái mũ dạ đen có lưỡi trai, anh nhằm đúng mé dưới cái mũ lưỡi trai đó, nhưng chưa kịp bóp cò, thì bỗng tay anh rời khỏi súng, như có nhát dao chém mạnh vào.

– Anh Quang! – Thu kêu lên và vội đỡ lấy anh.

Nét mặt anh thay đổi hẳn đi, anh hé môi một cách khó khăn:

– Thu, mày biết bắn chứ?

Thu đỡ anh Quang ngồi dựa vào phía khuất của bệ đá, rồi cầm lấy khẩu súng đã lên đạn. Phía trước, địch đông đặc, Thu siết cò. Có một đứa ngã, Thu không biết chắc có phải là do viên đạn của mình quật nó không.

Địch càng vào gần và la ó ầm ĩ. Một anh du kích kêu:

– Rút thôi các cậu ạ. Cậu Thu cõng anh Quang chạy trước đi, để hai thằng chúng tớ yểm hộ cho.

– Cho em bắn thêm vài thằng nữa.

– Vào trong làng rồi bắn. Chạy ngay, không chúng nó bịt đít bây giờ.

Thu quàng khẩu súng qua vai, rồi xốc anh Quang lên lưng. Thu lách qua lùm cây rậm đến khoảng trống, Thu dừng lại một lát lấy sức, mắt ước lượng quãng đường, rồi chạy. Có hai khoảnh ruộng sao mà dài thế. Đến được lùm tre trước mặt kia là ổn. Đấy là vườn cụ Thoại, có hầm bí mật. Đưa anh Quang xuống hầm, mình sẽ ra chiến đấu tiếp. Thu nghe bên tai ù ù và hơi thở dồn dập trong ngực.

Đến rồi! Thu đặt một chân lên bờ đất ở gốc lùm tre và lấy sức để kéo nốt chân kia lên. Thu mừng quá, chạy vào ngõ nhà cụ Thoại. Chỉ còn vài bước chân nữa thôi, thì bỗng nhiên Thu thấy mình va đầu vào một bức tường vô hình và bật người trở lại. Bóng tối đen đặc bịt lấy mắt.

Thu nằm sấp xuống đất, anh Quang nằm một bên, bên kia là khẩu súng.

* *   *

Những viên đạn xé không khí rít qua đầu bọn trẻ chăn trâu ở ngoài đồng. Bọn trẻ nằm cả xuống, và đàn trâu nghếch mõm, cong đuôi phóng. Đa đứng dậy đầu tiên và kêu to:

– Chúng nó phá làng rồi!

Bọn trẻ đứng lên theo. Làng xóm đã biến vào sau đám khói bụi bốc lên dày dặc. Đa cảm thấy một nỗi lo sợ kinh hoàng, thấy mình bị cắt ra khỏi làng xóm, ra khỏi nhiệm vụ chiến đấu trong tiểu đội. Đa lại thét bọn trẻ:

– Về làng chúng mày ơi!

– Về mà ăn “ô-buy” à. Đánh trâu sang Vĩnh Bảo thôi.

Sau một lúc chạy tán loạn, bây giờ đàn trâu đã dồn lại với nhau chạy theo một hướng.

Bọn trẻ ùa theo đàn trâu. Đa đứng trơ lại một mình.

Tiếng đại bác rền như trống cái đánh liên hồi, trời đất mù mịt rung chuyển như trong một cơn giông lớn.

Đi đâu bây giờ, về làng thì bỏ mất trâu, ở đây thì không được tham gia chiến đấu, các bạn lại cho mình là đứa hèn nhát. Đa chạy theo van vỉ mấy đứa trẻ: – Chúng mày nom trâu hộ tao, tao về làng đây.

– Không trông được đâu, trâu của mày dữ như hùm, đi theo chúng tao. Mày về làm gì? Mày có cái gì ở nhà đâu mà sợ mất, muốn chết oan à. Mày để mất trâu thì mày cũng chết.

– Chúng mày không trông hộ thì thôi, mất trâu thì mất, tao về làng.

Mặt Đa bừng bừng, đôi chân nhẹ bỗng, Đa quay lại, nhìn hướng làng xóm rồi chạy. Chợt có đứa kêu to:

– Đa ơi, giặc đến trước mặt mày kia rồi, đừng về nữa, chết mất xác bây giờ!

Đa đứng lại. Địch đã đông kín cánh đồng. Không còn đường về làng nữa. Phía sau, bọn trẻ và đàn trâu đang xa dần, lẫn trong tiếng ù ù, Đa vẫn nghe tiếng chúng nó gọi mình văng vẳng tha thiết như tiếng chim gọi bầy. Đa thấy cô đơn và lo sợ. Đa quay lại và cắm đầu phóng một mạch như người chạy trốn về phía bọn trẻ và đàn trâu. Đa lao vào giữa bọn trẻ, cúi đầu không nói.

Một đứa con gái, nước mắt đầm đìa, bỗng kêu to:

– Các anh bộ đội ơi, các anh mau về đây, chúng nó đốt phá hết làng xóm chúng em rồi. Các anh ơi… ơi…

Đa rầu rĩ lại gần đứa con gái:

– Thôi, đừng kêu nữa.

Một con nghé lạc mẹ, rớt mãi phía sau, cất tiếng kêu giữa cánh đồng đầy tiếng rền của đạn nổ.

Dòng sông đã hiện ra trước mặt.

Đa ngồi trên lưng trâu vượt sông. Con trâu hếch mũi thở phì phì bơi trên mặt nước. Đôi chân Đa nhúng xuống nước sông lạnh. Về mùa đông, dòng sông trong vắt, chảy êm đềm. Đàn trâu chen nhau bơi như trong một cuộc đua. Nếu vào lúc bình thường thì bọn trẻ đã la hét om sòm. Nhưng lúc này chẳng đứa nào còn bụng dạ mà vui đùa được nữa.

Chánh Bật cho người sang sông tìm Đa và tìm trâu. Gặp Đa người ấy bảo: – Mày đánh trâu vào nhà ông Lý Xanh trong làng kia nói là trâu chánh Phác Xuyên, ông ấy sẽ cho gửi trâu và cho mày ăn uống.

– Anh đánh trâu vào mà gửi, tôi về đây.

– Cái thằng dở chứng, tao lại bạt tai cho bây giờ.

Đa sừng sộ:

– Anh bắt nạt gì tôi, tôi không sợ. Tôi về đấy, anh làm gì tôi thì làm.

– Mày về bà ấy xé xác mày ra.

– Tôi chẳng về đấy đâu mà xé xác.

Người kia liền dịu giọng:

– Thôi, mày chịu khó vậy. Ở bên này chẳng hơn về nhà ư. Chúng nó đóng đầy làng, người lớn, trẻ con chết khối. Mày ở đây đêm nay, ngày mai tao lại sang.

Đa chợt nảy ra một ý, liền hỏi:

– Bây giờ anh về, anh vào làng bằng cách nào?

– Mày hỏi làm gì?

– Tôi hỏi thế, chứ tôi về làm gì.

– Thế thì được. Bây giờ tao bơi qua sông về Xuân Quang, ở đấy không có địch, tao chờ trời tối sẽ mò ra bờ đầm, rồi cứ dọc theo bờ về làng. Thôi, tao về, bắt tay nào.

Đánh trâu vào nhà Lý Xanh gửi, hôm sau Đa ra sông chờ lúc mặt sông đã nhòa lẫn vào màn sương đêm.

Đa về đến đầu thôn Xuân Quang, trời vừa tối. Đa tìm một chỗ khuất ngồi để định phương hướng. Theo như anh người nhà chánh Bất nói hôm qua thì thôn này địch không đóng. Đa sẽ đi xuyên trong thôn ra bờ đầm. Nhưng Đa lại nghĩ, nhỡ hôm nay địch đóng ở đây thì sao. Về Phác Xuyên, còn có con đường đi vòng ngoài đồng nữa. Nhưng đi ngoài đồng trống, lơ mơ chúng bắn chết. Đa quyết định đi đường trong thôn, dù có xảy ra chuyện gì, cũng dễ ẩn nấp. Đa đi chầm chậm, vừa đi vừa nghe ngóng. Chợt một người vác súng từ lùm tre bên đường bất ngờ nhô ra.

– Đi đâu thằng oắt con?

“Cách hỏi như thế là địch.” – Đa nghĩ thầm, vội vờ mếu máo:

– Tôi đi tìm con trâu bị lạc mà chẳng thấy.

– Mày ở đâu?

– Tôi ở Xuân Hòa. Lạy Chúa…

– Lạy với bái gì. Về nhanh đi, chốc nữa là thiết quân luật đấy.

– Thiết quân luật là gì hả anh?

– Là cấm mọi người đi ngoài đường. Thôi, đi đi, nếu thấy trâu tao sẽ cho một phát đạn, đang cần chất tươi đây.

Đa vừa đi vừa chạy theo con đường bậc thang về Xuân Hòa. Trong nhà thờ Xuân Hoà, đèn măng-sông sáng trưng. Người đi ra, đi vào tấp nập. Tiếng bát đĩa va chạm nhau loảng xoảng, lẫn trong tiếng cười, tiếng chửi tục. Bọn địch đang đánh chén. Mấy thằng vệ sĩ vác súng đứng canh bên ngoài. Cánh cửa gian nhà gác của cha Hiếu đóng kín, nhưng ánh đèn trong nhà vẫn lọt qua khe cửa chớp. Trẻ con đứng lố nhố quanh nhà thờ. Đa đi lẫn vào với chúng nó, cố ý tránh mặt vào bóng tối. Đa lo nhất là phải chạm trán với thằng Chọi và thằng Lọ ở đây.

Trên bãi chợ trước cửa nhà thờ, nhiều cái bếp nổi lửa. Mùi thịt nướng, mùi khét, mùi rượu, thuốc lá, tỏa ra ngạt một khoảng trời. Đa nói nhỏ với một thằng đứng cạnh mà Đa biết nó ở Xuân Lai:

– Về thôi mày ơi.

– Về đâu?

– Về Xuân Lai.

– Tao chưa về, tao còn ở đây xem.

– Chốc nữa thiết quân luật thì mày về làm sao?

– Tao về với các ông lính, mấy ông đóng ở bên mình cũng sang đây ăn đấy.

– Tao về trước vậy.

– Ừ, mày về đi.

– Tao hơi sợ.

– Sợ đếch gì. Mày có phải là du kích đâu mà sợ. À, mày là thằng nào đấy?

Đa đã đi xa nó rồi. Đa yên tâm hơn, và đi nhanh về Xuân Lai. Ở đây, trừ cái xóm có địch đóng, còn các xóm khác rất vắng lặng. Không có ánh đèn, không có tiếng người, tiếng gà, tiếng chó. Đa đi về phía bờ đầm. Đa đứng trong một góc vườn nhìn ra thấy một toán lính địch đang đi lại trên bờ đầm. Đa ngồi chờ cho chúng đi khuất, mới lom khom chạy ra, rồi bơi qua đầm. Lên bờ bên kia, Đa luồn qua xóm Vòng rồi về nhà chị Ích. Căn nhà nhỏ, tối om, vắng lặng, nhưng cửa lại bỏ trống. Đa vòng ra phía sau nhà, áp tai vào vách lắng nghe. Bên trong im lặng, không có tiếng động. Đa quay ra phía cửa, bước vào nhà. Một tiếng bộp, Đa giật mình. Đa vừa giẫm vỡ cái nồi đất úp sấp. Trong bóng tối, Đa khua chân, thấy đồ đạc lung tung đầy nền nhà. Địch đã phá phách ở đây. Đa lo lắng không biết anh chị và cháu ở đâu? Có ai việc gì không? Đa không biết, tất cả mờ mịt.

Đi đâu bây giờ? Đa đứng trong bóng tối, lòng buồn rượi.

Lát sau, Đa đi tìm Thu. Đa đi vào vườn đến đầu hồi nhà Thu thì nghe có tiếng khóc thầm trong nhà. Đa gọi sẽ, nhưng không ai trả lời.

Đa đứng ngoài, bồn chồn lo lắng. Chợt có người đi tới. Đa nép vào góc nhà. Dù trời tối Đa vẫn nhận rõ dáng người đang đi tới. Suýt nữa thì Đa reo to lên. Anh Đàn! Đa ôm chầm lấy anh, thì thào qua nước mắt. Đa kể cho anh Đàn nghe vắn tắt, lộn xộn những sự việc đã xảy ra đối với mình.

Trầm ngâm một lát, anh Đàn bảo Đa:

– Bây giờ em lại sang Vĩnh Bảo, yên tâm ở bên ấy, bao giờ địch rút đi hãy về.

– Em muốn ở lại đây với các anh.

– Hãy nghe anh, em cứ sang bên ấy đi.

Địch cũng không ở đây lâu đâu.

– Thế còn Thu ở đâu anh?

Anh Đàn nuốt nước mắt nói dối Đa:

– Thu đi công tác.

– Hình như mẹ bạn ấy đang khóc ở trong nhà. – Thôi, bây giờ anh không có nhiều thì giờ, sau này anh sẽ nói rõ. Em hãy nghe lời anh, đừng buồn.

Hai anh em nắm tay nhau trong bóng tối. Anh Đàn nói:

– Bây giờ em đi ra xóm trại Xuân Lai, ngủ tạm ở đấy, sáng sớm mai hãy sang Vĩnh Bảo.

Đa đi rồi, anh Đàn vào nhà Thu an ủi bà mẹ. Thu đã hy sinh cùng anh Quang. Viên đạn địch xuyên từ lưng sang ngực. Dòng máu anh dũng của trái tim non trẻ ấy đã thấm sâu xuống mảnh đất quê nhà.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Xuân Sách

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.