Bạn đọc chắc cũng như tôi, không muốn dừng trang sách lúc người chiến sĩ nhỏ tuổi thân thiết của chúng ta hy sinh. Nhưng, chúng ta đều biết cuộc sống vẫn bận rộn đi lên. Cuộc chiến đấu của nhân dân Bạch Đằng tiếp tục đến ngày thắng lợi.
Cuộc chiến đấu tiếp tục ấy lại là nội dung của cuốn sách khác. Tuy vậy tôi cũng muốn nói thêm đôi điều.
Một buổi chiều nắng ấm mùa đông một nghìn chín trăm sáu mươi chín, cụ Phạm Khắc Thọi đưa tôi đi thăm nghĩa trang liệt sĩ xã Bạch Đằng. Cụ đã ngoài bảy mươi, được xã giao cho làm công việc coi sóc nghĩa trang, và ở trong tổ phụ lão trồng cây.
Cụ cùng làm hai việc: Coi sóc mộ phần người chết và vun trồng mầm sống. Nghĩa trang dựng trên khoảng đất cao ráo giữa cánh đồng màu ở đầu làng Phác Xuyên. Đứng từ ngoài đường 25, ta có thể nhìn thấy rõ đài Tổ quốc ghi công, quét vôi trắng, ẩn khuất sau tán lá của rặng phi lao và bạch đàn xanh tốt.
Vào dịp kỷ niệm hai mươi lăm năm ngày thành lập quân đội, nghĩa trang được quét vôi mới. Và trong những ngày này, người ta thường ôn lại những chặng đường chiến đấu đã qua. Nhất là khi quân dân ta đang tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng đất nước khỏi tay bọn xâm lược Mỹ.
Cụ Thọi và tôi đi vào nghĩa trang giữa hai hàng phần mộ.
Mộ liệt sĩ Phạm Ngọc Đa ở đầu hàng bên trái. Cũng như khi còn sống, Đa ở giữa các anh cán bộ và du kích. Trong nghĩa trang có mộ của anh Đào Văn Dừa. Còn có mộ một anh bộ đội mà người ta không rõ quê quán ở đâu, đã chiến đấu và ngã xuống trên đất này. Cũng như các phần mộ khác, mộ của Đa xây đơn sơ bằng gạch. Ở giữa thân mộ, trừ ra một khoảng đất tròn để cắm hương. Ở khoảng đất đó, có một khóm ngải cứu nhỏ và một cụm cỏ mà tôi không biết tên, có những cánh hoa vàng bé tí xíu.
Gió reo rì rầm trong rặng phi lao như lời kể chuyện. Lòng chúng tôi bồi hồi nhớ lại quãng ngày ấy, cuộc chiến đấu như dựng lại trước mặt chúng tôi. Lời cụ Thọi chậm rãi:
– Kẻ thù dã man như thế đấy. Biết tin em Đa chết, lòng chúng tôi đau thắt lại. Địch rút rồi, nhìn làng xóm tan nát, mà lòng mọi người bừng bừng căm hận. Trong buổi lễ truy điệu những người hy sinh, chúng tôi thét lên khẩu hiệu: “Chiến đấu trả thù cho Phạm Ngọc Đa”.
Một đơn vị bộ đội biết chuyện, truy nhận Đa làm em nuôi của đơn vị, để mỗi lần đi đánh giặc lại nhớ đến em.
Chúng tôi lại dựng lều trên mảnh đất đầy than tro, chuẩn bị chiến đấu, thề một mất một còn với giặc.
Chúng tôi còn phải trải qua ba trận chống càn nữa, mới đến ngày thắng lợi. Nhưng trong những trận chiến đấu ấy, chúng tôi đã vững hơn, không còn bị vỡ cơ sở, mất đất như trước nữa… Cho đến ngày giặc Pháp cuốn xéo, xã chúng tôi cùng với một số xã vùng du kích trong huyện, tự hào đã không để địch chiếm đóng trên đầu trên cổ mình.
Cụ Thọi cúi xuống nhặt một cái cành khô vừa rơi xuống trên một phần mộ. Cụ trầm ngâm nói tiếp:
– Còn nhiều người hy sinh âm thầm mà chúng tôi không biết hết, không đưa vào được nghĩa trang. Nhưng dân xã đời đời biết ơn họ.
Giờ đây, xã Bạch Đằng đã khác xưa nhiều lắm. Dấu vết cuộc chiến đấu năm xưa chỉ còn là kỷ niệm. Nhưng những kỷ niệm vẫn in đậm trong lòng mọi người, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước.
Ở trường cấp hai của xã, bên cạnh Đội Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu có Đội Phạm Ngọc Đa. Những người anh hùng hy sinh lúc nhỏ tuổi, dù bao nhiêu năm đã qua, vẫn mãi mãi được các em học sinh coi là người bạn cùng lứa tuổi, người anh hùng mà mình biết ơn và noi theo. Người con trai độc nhất của anh Dừa nay đang theo học ở nước ngoài, chắc không bao giờ quên người bố đã hy sinh cho niềm vui, hạnh phúc của mình ngày nay.
Tôi với cụ Thọi vẫn rầm rì nói chuyện với nhau ở nghĩa trang. Cụ vẫn giữ vẻ bình tĩnh trầm lặng của người già, nhưng tôi biết cụ đang xúc động.
Một chiếc xe con chạy ngoài đường 25 rồi rẽ xuống con đường vào xã Bạch Đằng, dưới bóng phi lao và bạch đàn hai bên. Con đường này xưa kia lầy lội. Ánh nắng chiều thếp vàng trên ngọn cây, trải ra khắp cánh đồng, soi trên phần mộ trong nghĩa trang.
Những người hy sinh vì sự nghiệp cách mạng đời đời sưởi ấm dưới ánh nắng của vầng mặt trời quê hương thân yêu.
Mùa xuân năm 1970
HẾT.