Phạm Ngọc Đa

Lượt đọc: 223 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3

❊ ❊ ❊

Sau khi anh Dừa hy sinh, huyện cử anh Tường về thay. Anh Tường vốn là cán bộ xã Bạch Đằng mới được điều lên huyện. Anh Tường về xã Quang Phục tìm gặp các cán bộ Bạch Đằng chạy giặc sang đây, bàn bạc công việc rồi anh cùng cậu Thu liên lạc trở về Bạch Đằng trước.

Từ xã Quang Phục về Bạch Đằng có hai con đường nhỏ. Một đường về Xuân Hòa qua cái cầu ván bắc năm 1947 gọi là cầu “Trường kỳ kháng chiến”. Một đường về Phác Xuyên qua miếu Âm hồn và miếu ông Hai. Cả hai con đường đều phải đi qua cánh đồng.

Vàng vàng mặt giời, Tường và Thu ra đến miếu Âm hồn. Hai anh em dừng lại đó chờ trời tối sẽ về xã. Theo kế hoạch, hai anh em sẽ về trước xem tình hình ra sao, rồi mới gọi các cán bộ khác về.

Miếu Âm hồn dựng trên một cồn đất cao. Cái miếu lâu ngày đã lên rêu mốc, ẩn giữa những bụi dứa dại, những bụi cây lúp xúp vừa lút đầu người ngồi. Người ta kể lại từ lâu lắm, vào cái năm Kỷ dậu xa xưa nào đó có một trận lụt ghê gớm đã xảy ra. Nước dâng lên trắng băng cả một vùng rộng lớn mênh mông. Xác người chết trôi bập bềnh. Gió đánh thốc những cái xác đó trôi giạt vào cồn đất này, lúc đó còn có nhiều cây to. Xác người mắc vào thân cây dồn lại có đến hàng trăm. Khi nước rút, người ta chôn những xác chết ngay tại cồn đất ấy, rồi lập một cái miếu thờ. Cái miếu thờ những âm hồn chết trôi lưu lạc, không ai biết quê hương nhà cửa. Bao nhiêu người nghèo khổ đã chết oan trong cuộc đời xưa cũ như vậy. Đêm đêm chỉ có tiếng giun dế rên rỉ. Hằng năm vào dịp tết và rằm tháng bảy, dân làng nấu cháo hoa, rang bỏng, khoanh những cái lá đa ghim gai lại như cái bát, đổ cháo vào để cúng những người đã chết hớp cháo lá đa ấy.

Tường và Thu ngồi trước cửa miếu nhìn qua bụi cây thưa xuống cánh đồng lúa đang bắt đầu chín. Cánh đồng vắng vẻ không một bóng người. Chút nắng chiều còn lại làm cho đồng lúa thêm vàng, cái màu vàng gợi biết bao niềm vui no ấm. Gió nồm thổi cuộn lên những đợt sóng lúa. Rồi hoàng hôn đến, một màu tím bát ngát từ biển lan tới. Tường thấy lòng gợn lên nỗi buồn man mác.

Chợt Thu nghe có tiếng động, vội nắm tay Tường ra hiệu, hai anh em nằm xuống im lặng lắng nghe. Thu đã nhìn thấy và kêu khẽ:

– Thằng Đa!

– Thằng Đa nào? – Tường hỏi.

Một đứa bé dắt hai con trâu mộng từ bờ lúa lên cồn đất đi qua trước miếu Oan hồn. Thằng bé cởi trần, mặc quần đùi, chiếc nón mê úp sau lưng, chân đi hơi cà nhắc. Hai con trâu đực to béo lù lù, bước từng bước chắc nịch.

Đứa bé và hai con trâu đi qua, Thu trả lời Tường:

– Thằng Đa Phác Xuyên đấy. Hôm qua em chạy sang Quang Phục cũng gặp nó. Thằng này đáng nghi lắm.

– Tại sao vậy?

– Nó nghịch ngợm, và láo, có lần đã ném đất vào cuộc họp của chúng em.

– Nó là con nhà ai?

– Con ông Tư thợ mộc, bố mẹ chết cả rồi, nó đi ở chăn trâu cho nhà ông chánh Bất. Hồi tết, con trâu đực giẫm nó què chân đến nay chưa khỏi.

– Nó không vào Đội à?

– Không. Nó đi ở, chăn trâu, cắt cỏ, bắt cua, tối về lại làm gạo, có thì giờ đâu mà hoạt động. Vả lại, như em đã nói đấy, nó láo lắm.

– Các chú bỏ rơi nó à?

– Em với nó suýt đánh nhau. – Thu im bặt, nghĩ lại trong việc đó mình cũng có lỗi.

Tiếng chuông nhà thờ bỗng vang lên gần xa, rền rĩ. Cái thứ tiếng ru người ta vào cõi xa xôi mờ ảo, để người ta an phận, quên cuộc sống đang phải đấu tranh gay gắt từng giờ này. Bóng tối đã ụp xuống. Một loạt đại bác nổ, như tiếng sấm rền của một cơn dông phía chân trời. Tường nắm tay Thu đứng dậy:

– Chúng ta đi được rồi.

Thu đi trước. Tường đi sau cách mươi bước. Phía trước mặt, thôn làng mờ trong bóng tối, thành từng khối đem sẫm. Tường nhìn về xóm anh ở, xóm Vòng có cây cau lâu năm cao vọt lên, ngọn như cây giáo búp đa chĩa thẳng lên trời. Cây cau như người lính gác đứng âm thầm, nghiêm trang.

* *   *

Hai anh em dừng lại ở khu đình làng bên này bờ đầm. Khu đình rậm rạp, có nhiều cây to. Những cây muỗm già đang trĩu quả. Những cây bàng xòe hai ba đợt tán lá. Thu để ý đến cái tổ quạ vẫn lù lù như một bó củi trên cành đa. Bọn trẻ bảo đấy là củi do con quạ chồng lấy về cho quạ vợ nấu ăn. Nhiều đứa đã rình xem con quạ vợ nấu ăn như thế nào nhưng chưa thấy. Bây giờ chắc lũ quạ con đã ngủ yên rồi. Thu nói với Tường:

– Đến đây được hai phần đường rồi, đúng như kế hoạch của anh em mình. Bây giờ em về làng. Anh ngồi đây đợi em nhưng chớ ngủ quên đấy, em sẽ ra đón. Anh nhớ ám hiệu chưa? – Rồi Thu uốn lưỡi bật lên mấy tiếng tắc kè – Anh nhớ nhé, tiếng đầu tiên là nắng – nắng, mưa nắng. Như vậy tiếng lẻ là nắng, là yên ổn, tiếng chẵn là mưa, là có động.

Tường bật cười nắm tay Thu:

– Anh nhớ rồi. Thôi, em đi đi.

Đến bờ đầm, Thu nằm lại nghe ngóng và quan sát. Quãng đầm này hẹp, có cái cầu tre bắc qua. Thoắt một cái, Thu qua cầu và biến vào bóng tre ở đầu làng Phác Xuyên. Làng xóm yên ắng. Thỉnh thoảng mới có một nhà thắp ngọn đèn nhỏ. Đáng lẽ vào dịp ngày mùa như thế này, làng xóm rộn rịp lắm. Nhưng bây giờ thì thế đấy. Ai thức, ai ngủ, người lo lắng chờ đợi, kẻ sợ sệt hoang mang, người căm giận trằn trọc. Tất cả đều chìm trong đêm tối. Nhưng trong không khí vẫn có mùi khói bếp quen thuộc. Thu men bờ giậu vừa đi vừa quan sát. Khi qua nhà chánh Bất, Thu thấy trong nhà có đèn sáng. Cái sân gạch rộng, lúa xếp đầy một góc nhưng không thấy người đập. Tiếng chày giã gạo ở nhà ngang vọng ra từng nhịp thình thịch, rời rạc. Rồi nhịp chày tự nhiên lại nhanh lên. Thu biết đấy là tiếng chày giã gạo của Đa. Những lúc nó buồn ngủ thì nhịp chày chậm, giật mình choàng tỉnh vội giã nhanh kẻo ăn đòn. Tự nhiên Thu thấy thương nó.

Chợt có bóng người đi lại phía mình, Thu vội nép vào bờ rào. Một người đàn bà. Thu định gọi nhưng vội kìm lại được. Đấy là chị Bền, vợ anh Đám. Chị là người mau mồm miệng, tháo vát, luôn luôn vui tươi xởi lởi. Chị đi đâu về mà khuya thế? Thu đành tránh cho chị đi qua, rồi vội đi về phía đầu làng, lội qua một quãng bờ ruộng lầy lội vào nhà cụ Thoại. Nhà cụ Thoại ở lánh ngoài rìa làng, đấy là nơi cơ sở tin cậy mà anh Tường dặn Thu về đó trước tiên.

Thu rất mừng vì nhìn trong nhà có ánh đèn, ngọn đèn chỉ nhỏ bằng hạt đỗ. Thu rón rén vào sân, qua cánh cửa hé mở, nhìn thấy cụ Thoại hai tay bó gối ngồi im như pho tượng. Thu định nhẹ nhàng lách cửa đi vào, nhưng vừa đến cửa, cụ Thoại đã quay ra:

– Ai đó? – Tiếng cụ trầm trầm.

Thu bước vào nhà:

– Cháu đây ông ạ.

Cụ Thoại mắt kém không nhìn rõ, nhưng cụ nghe tiếng nói, cụ biết:

– Thằng Thu đấy à?

– Vâng.

– Vào đây cháu! – Cụ Thoại đứng lên đi ra khép cửa lại rồi kéo Thu vào ngồi ở góc nhà.

* *   *

Anh Tường nghe tiếng tắc kè, vội ra chỗ hẹn gặp Thu, cũng không để ý đến tiếng tắc kè báo hiệu mưa hay nắng.

– Không xong anh ạ. – Thu thì thào trong hơi thở gấp.

– Nghỉ một tí rồi hãy nói. – Tường cố kìm sự sốt ruột, anh thở dài nhè nhẹ.

– Em vào nhà ông Thoại. – Sau một lát nghỉ lấy hơi, Thu nói tiếp. – ông Thoại hỏi: “Mình cháu về à?” – “Vâng, mình cháu về”. – “Thế là không có ai về nữa?” – “Vâng, cháu là liên lạc về trước để xem tình hình, ông không tin hay sao?” Anh còn lạ gì tính ông Thoại. Ông im lặng ngồi bó gối một lúc rồi bảo em: “Đêm nay cháu ra bờ chuôm, trong nhà không có hầm hố, lấp hết rồi. Tao cũng mỗi đêm nằm một chỗ. Buổi chiều lính trên quận mới về đi sục khắp xóm”. Ông Thoại đã nói thế nào là làm như thế ấy.

Tường hỏi:

– Chú chuồn chứ?

– Vâng, em sang nhà cụ Vớt. Ông cụ cầm tay em dắt ra ngõ và ghé vào tai nói thầm mà váng cả tai: “Đi ngay, đi ngay mình mày về chẳng làm nên trò trống gì đâu”.

– Nhớ kỹ xem, ông Thoại có nói gì nữa không?

– Có, ông có hỏi anh Dừa chết thì ai sẽ về thay.

– Chú bảo sao?

– Em bảo nhất định sẽ có người về thay.

Ông tỏ vẻ bực mình vì câu trả lời của em. Rồi ông đưa chân em ra ngõ, không nói thêm một câu nào nữa.

– Còn gì nữa không?

– À, em có trông thấy chị Bền vợ anh Đám, nhưng em tránh mặt. Chị ấy mặc áo lụa, em nhớ ra rồi, khi chị đi qua em ngửi thấy mùi nước hoa thơm nức.

– Mùi nước hoa, đúng không?

– Mũi em thính lắm, chẳng sai được.

– Còn gì nữa?

– Em lại gặp thằng Đa, lúc em ở nhà cụ Vớt đi ra đây. Gặp nó ở ngõ nhà chánh Bất, em không kịp tránh, suýt nữa thì lôi thôi.

– Sao?

– Em định quại, tưởng địch phục kích. Nó hỏi em: “Mày đi đâu?” – “Tao đi đánh cá đêm, còn mày?” – “Tao đi đái” – “Đái mà ra tận đây?” – “Tao thích thế”. Không hiểu sao em lại cứ hay chạm mặt nó.

– Vì vậy mà chú nghi ngờ? Thôi, chuyện ấy sẽ nói sau.

– Theo chú, có phải ông Thoại sợ không?

– Không, em biết rõ lắm, ông rất gan dạ.

Tường đặt tay lên vai Thu, anh không muốn để Thu phải lo lắng nhiều:

– Thôi khuya rồi, hãy ngủ gỡ một giấc đã. Như anh em mình còn không sợ giặc mà tìm về, huống chi bà con ta ở làng, đã dày dạn rồi. Thế nào ta cũng có chỗ đứng. Ban nãy chú kêu mấy tiếng tắc kè đấy? Bốn à? – Thế là “mưa”. Không mưa đâu, ngày mai trời sẽ nắng đấy!

Hai anh em vào trong đình ngủ dưới gầm bệ thờ thần. Thu thấm mệt, đặt mình xuống ngủ ngay. Còn Tường trằn trọc thao thức mãi. Anh suy nghĩ về những công việc phải làm ngày mai.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Xuân Sách

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.