Ra khỏi vùng chiếm đóng ở Pháp là việc khó khăn và nguy hiểm. Còn trở về - với một cô gái hai mươi tuổi có nụ cười thường trực trên môi - lại là việc dễ dàng.
Chỉ vài ngày sau khi đến San Sebastián, sau những cuộc gặp gỡ và bàn bạc triền miên, Isabelle lên tàu về Paris, ngồi trên ghế gỗ trong toa hạng ba - chỗ ngồi duy nhất có thể khi đặt trước gấp như thế -, ngắm thung lũng sông Loire chạy qua. Toa tàu giá buốt và chật ních những lính Đức ba hoa, những đàn ông và đàn bà Pháp sợ hãi, cứ cúi gằm mặt xuống và hai tay đặt trên lòng. Nàng có một mẩu pho mát cứng và một quả táo trong xắc, nhưng mặc dù rất đói - thực ra là gần chết đói - nàng vẫn không mở xắc.
Nàng cảm thấy mình dễ bị chú ý trong trang phục quần nâu rách tả tơi và áo choàng len. Má nàng bỏng rát vì gió, xây xước và môi nàng nứt nẻ, khô khốc. Nhưng những thay đổi thực sự lại là ở bên trong. Niềm tự hào vì việc đã hoàn thành ở Pyrénées đã biến đổi nàng, khiến nàng trở nên chín chắn. Lần đầu tiên trong đời, nàng biết chính xác mình muốn gì.
Nàng đã gặp một đặc vụ của MI9 và chính thức vạch ra con đường trốn thoát. Nàng là đầu mối liên lạc chủ chốt của họ - họ gọi nàng là Sơn ca. Trong xắc của nàng có một trăm bốn mươi ngàn franc giấu trong lớp vải lót. Khoản tiền đủ để dựng những nơi trú ẩn an toàn và mua đồ ăn, quần áo cho các phi công và những người mạo hiểm cho họ trú ngụ dọc đường. Nàng đã hứa với liên lạc của mình là Ian (bí danh là Thứ Ba) rằng sẽ có nhiều phi công tiếp theo. Gửi lời nhắn cho Paul: “Sơn ca vẫn hót” có lẽ là khoảnh khắc tự hào nhất trong đời nàng.
Lúc nàng xuống tàu ở Paris đã sắp đến giờ giới nghiêm. Thành phố mùa thu run rẩy dưới bầu trời lạnh giá, tối tăm. Gió thổi lồng lộng qua các cây cối trơ trụi, làm các làn hoa rỗng va vào nhau lách cách, khiến những tấm vải bạt che mái hiên gợn sóng và xôn xao.
Nàng rẽ và lúc đi qua căn hộ cũ của mình ở đại lộ La Bourdonnais, nàng thấy trào lên một cảm giác... có thể gọi là nhớ nhung. Lúc đến gần căn hộ, nàng nhớ ra mình đã không bước vào trong, hoặc gặp cha nàng từ nhiều tháng nay. Không phải từ khi bắt đầu con đường trốn thoát. Sẽ không an toàn nếu họ gặp nhau. Thay vào đó, nàng đến một căn hộ nhỏ, xám xịt và đó là ngôi nhà gần đây nhất của nàng. Một bộ bàn ghế cọc cạch, một tấm đệm trải trên sàn, một thùng lạnh đã hỏng. Tấm thảm dày trải sàn nặc mùi thuốc lá của người thuê trước và các bức tường đầy vệt nước.
Nàng dừng lại ở cửa trước, liếc quanh. Đường phố im ắng, tối tăm. Nàng cắm chiếc chìa khóa vạn năng vào ổ và xoay nhẹ. Nghe tiếng cách, nàng cảm thấy mối nguy. Một cái gì đó không ổn, một cái bóng ở nơi không nên có, một tiếng kim loại lách cách từ quán rượu ngay bên cạnh đã bị chủ bỏ từ nhiều tháng trước.
Nàng từ từ quay lại, nhìn chăm chú vào đường phố tối tăm, yên tĩnh. Nhiều xe tải kín đáo đỗ đó đây, vài hiệu cà phê nhỏ buồn bã hắt những tam giác ánh sáng ra hè, trong ánh đèn dìu dịu, những tên lính là những hình bóng gầy gò, chuyển động tới lui. Một bầu không khí bị ruồng bỏ lơ lửng ở nơi trước kia vui vẻ là thế.
Bên kia đường, một ngọn đèn không thắp như một vạch chéo đen sẫm trong màn đêm quanh nó.
Anh ở đó. Nàng biết dẫu không thể nhìn thấy anh.
Nàng đi xuống các bậc, chầm chậm, mọi giác quan đều tập trung cao độ mỗi lần nàng thận trọng bước một bậc. Nàng chắc chắn có thể nghe thấy tiếng anh thở cách đó không xa. Đang quan sát nàng. Theo bản năng, nàng biết anh đang lo lắng đợi nàng trở về.
- Gaëton, - nàng nói dịu dàng, để quyến rũ, cố níu giữ anh. - Anh đã theo em cả tháng. Vì sao vậy?
Không có gì. Sự im lặng hòa trộn vào làn gió quanh nàng, nhức nhối và lạnh lẽo.
- Lại đây đi, - nàng nghiêng cằm, cầu xin.
Vẫn không có gì.
- Bây giờ ai không sẵn sàng nào? - Nàng nói. Sự im lặng đó làm tổn thương nàng, nhưng nàng cũng hiểu. Với mọi việc mạo hiểm họ đang làm, tình yêu chắc chắn là một lựa chọn nguy hiểm nhất.
Có thể nàng nhầm, anh không ở đây, và chưa bao giờ ở đây, quan sát nàng, chờ đợi nàng. Có lẽ nàng chỉ là một cô gái ngốc nghếch, đứng một mình trên đường phố vắng vẻ, khao khát người đàn ông không muốn có nàng.
Không.
Anh đã ở đó.
+++++
Mùa đông năm ấy còn khắc nghiệt hơn mùa đông năm trước. Chúa Trời giận dữ trừng phạt cả châu Âu bằng bầu trời xám xịt, nặng như chì, và tuyết rơi hết ngày này sang ngày khác. Cái rét là thứ bổ sung tàn khốc cho một cõi trần vốn đã ảm đạm và đang bị đe dọa.
Như nhiều thành phố nhỏ trong Vùng Chiếm đóng, Carriveau trở thành một hòn đảo tuyệt vọng, bị cắt rời khỏi các vùng xung quanh. Dân làng biết rất ít thông tin về những sự việc diễn biến trong xã hội quanh họ, không ai có thời giờ xem xét báo chí tuyên truyền để tìm ra sự thật, trong khi họ phải nỗ lực rất nhiều để sống sót. Họ chỉ thực sự biết là bọn Đức Quốc xã trở nên giận dữ hơn, tàn ác hơn từ khi nước Mỹ tham chiến.
Một sáng tinh mơ ảm đạm và giá buốt đầu tháng Hai năm 1942, khi những cành cây gãy tách và các ô kính cửa sổ trông như mảng băng nứt, Vianne thức dậy sớm và nhìn trừng trừng lên trần nhà dốc trong phòng ngủ. Cơn đau đầu đập thình thịch đằng sau mắt chị. Chị toát mồ hôi và đau nhức nhối. Lúc chị hít vào, phổi bỏng rát và làm chị ho rũ rượi.
Ra khỏi giường cũng chẳng có gì sung sướng, nhưng còn hơn là chết đói. Mùa đông năm nay, các phiếu phân phối ngày càng trở nên vô dụng, vì chẳng có thực phẩm, chẳng có giày dép, vải vóc hoặc đồ da mà mua. Vianne đã hết củi đốt lò và tiền để trả tiền điện từ lâu. Khí đốt rất đắt, và một nhu cầu đơn giản là tắm cũng biến thành một sự cam chịu. Khi đi ngủ, chị và Sophie cuộn vào nhau như những con cún, dưới một núi chăn và tấm đắp, khăn phủ. Trong vài tháng qua, Vianne bắt đầu đốt mọi thứ bằng gỗ và bán đi các đồ quý giá.
Lúc này, chị mặc gần như tất thảy mọi thứ quần áo chị có - quần flanen, đồ lót đan lấy, áo dài tay bằng hàng len cũ, cổ quấn khăn, vậy mà chị vẫn run khi rời khỏi giường. Lúc đặt chân xuống sàn, chị nhăn nhó đau đớn vì bị cước. Chộp lấy chiếc váy len, chị tròng ra ngoài quần. Mùa đông năm nay Vianne sụt cân nhiều đến nỗi chị phải khâu lại váy áo nơi eo. Vừa ho, chị vừa xuống gác. Hơi thở của chị là những luồng trắng xóa trước mặt gần như tan biến ngay lập tức. Chị lê bước qua cửa phòng khách.
Viên Đại úy đã đi vắng nhiều tuần nay. Tuy không thích, song Vianne phải thừa nhận rằng trong những ngày này, sự vắng mặt của anh ta còn tệ hơn là có mặt. Ít ra khi Beck ở đây, còn có đồ để ăn và củi đốt lò sưởi. Anh ta không để căn nhà lạnh ngắt. Vianne ăn ít hết mức có thể đồ ăn anh ta cung cấp - chị tự nhủ đói là bổn phận của chị, - nhưng có người mẹ nào nỡ để con mình bị đói? Vianne có thực sự phải để Sophie chết đói nhằm chứng tỏ lòng trung thành của chị với nước Pháp không?
Trong bóng tối, chị đi thêm đôi tất thủng lỗ chỗ ra ngoài hai đôi đang đi ở chân. Rồi quấn mình trong tấm chăn và đi đôi găng hở ngón mà chị vừa đan từ cái chăn cũ của Sophie hồi bé.
Trong căn bếp buốt giá, chị thắp ngọn đèn dầu và mang ra ngoài, chị đi chậm rãi, thở khó khăn lúc trèo lên sườn đồi đóng băng trơn nhẫy tới nhà kho. Chị trượt chân hai lần và ngã lên lớp cỏ đóng băng.
Tay cầm bằng kim loại ở cửa nhà kho lạnh buốt, rát bỏng dù qua lớp găng dày. Chị phải lấy hết sức mới đẩy được cánh cửa. Vào trong, chị đặt cái đèn xuống. Nghĩ đến việc di chuyển cái ô tô gần như quá sức chịu đựng của chị trong tình trạng ốm yếu này.
Chị hít một hơi đau đớn, cứng rắn lại và đi tới cái xe. Xe đang để ở số 0, chị cúi xuống cái thanh cản và dùng hết sức đẩy nó. Chiếc xe từ từ lăn tới trước, đúng như mong muốn.
Khi cái cửa sập lộ ra, chị cầm đèn dầu và từ từ trèo xuống thang. Trong những tháng dài dặc, đen tối từ khi bị thải hồi và hết nhẵn tiền nong, chị đã phải bán những vật quý của gia tộc, từng thứ một với giá rẻ mạt: một bức tranh đổi lấy thức ăn nuôi thỏ và gà suốt mùa đông, một bộ đồ trà Limoges được một bao bột mì, muối mỏ, và một máy xay hạt tiêu được một đôi gà mái dai nhách.
Mở hộp nữ trang của mẹ, chị nhìn chằm chặp vào lớp nhung lót. Cách đây không lâu có nhiều thứ ghim ở đây, và còn thêm vài thứ quý giá: đôi hoa tai, vòng tay bạc mảnh nhẹ, một cái trâm cài bằng hồng ngọc và kim loại dát mỏng. Giờ chỉ còn lại những hạt ngọc trai.
Vianne tháo một bên găng và chạm xuống những viên ngọc trai, vốc nó lên lòng bàn tay. Chúng sáng rực trong ánh đèn, rạng ngời như da thiếu nữ.
Chúng là vật nối cuối cùng với mẹ chị, và với di sản của gia tộc họ.
Giờ đây Sophie sẽ không còn được đeo chúng trong ngày cưới hoặc chuyển cho các con gái nó được nữa.
- Nhưng nó sẽ có cái ăn trong mùa đông này, - Vianne nói. Chị không biết chắc sự tiếc nuối, nỗi buồn hay sự khuây khỏa làm tiếng chị run rẩy. Chị may mắn còn có thứ để bán.
Chị chằm chằm nhìn xuống những viên ngọc trai, cảm thấy sức nặng của chúng trong lòng bàn tay mình, cách chúng hút hơi ấm từ người chị. Trong giây lát, chị thấy chúng nóng rực. Rồi, dứt khoát, chị đi găng vào và trèo lên thang.
+++++
Ba tuần nữa trôi qua trong cái rét tiêu điều, không có dấu hiệu gì của Beck. Một buổi sáng sương giá cuối tháng Hai, Vianne thức giấc, đầu nhức như búa bổ và lên cơn sốt. Chị vừa xuống giường vừa run rẩy, từ từ kéo một cái chăn khỏi giường. Chị quấn chăn quanh người nhưng chẳng ăn thua gì. Chị run, không sao kìm lại được, dù đã mặc quần, hai áo len và đi ba đôi bít tất. Bên ngoài gió hú từng cơn, đập vào các cánh chớp lách cách, làm thủy tinh sáng như băng dưới tấm che cửa sổ.
Chị chậm rãi làm các việc thường lệ buổi sáng, cố không thở quá sâu vì sợ cơn ho bật ra từ lồng ngực. Sự đau đớn lan khắp bàn chân bị cước theo từng bước đi, chị làm bữa sáng đạm bạc cho Sophie, chỉ có cháo bột ngô loãng toẹt. Sau đó, cả hai mẹ con đi ra ngoài, dấn thân vào màn tuyết đang rơi.
Họ lặng lẽ lê bước tới thành phố. Tuyết rơi không ngừng, làm con đường trước mặt họ trắng xóa, phủ lên cây cối.
Nhà thờ nằm trên mảnh đất nhỏ, nhô ra ở rìa thành phố, tiếp giáp với bờ sông và đằng sau là các bức tường đá vôi của một tu viện cổ.
- Mẹ ơi, mẹ có ổn không?
Vianne lại gập người về phía trước. Chị xiết chặt tay con gái, chẳng cảm thấy gì ngoài những lớp găng. Hơi thở lập bập trong phổi, bỏng rát.
- Mẹ ổn mà.
- Mẹ nên ăn sáng.
- Mẹ không đói, - Vianne đáp.
- Chà, - Sophie nói và chậm chạp lê bước qua màn tuyết dày.
Vianne dẫn Sophie vào trong nhà thờ. Bên trong đủ ấm để họ không còn nhìn thấy hơi thở của mình nữa. Mái của gian giữa tạo thành một vòm cong duyên dáng, giống như hai bàn tay chắp lại cầu nguyện, cố định bằng những rầm gỗ thanh nhã. Các cửa sổ lắp kính màu lấp lánh nhiều mảnh. Hầu hết các hàng ghế đã kín, nhưng không ai nói chuyện, trong một ngày giá lạnh như thế này, trong một mùa đông khắc nghiệt như thế này.
Chuông nhà thờ đánh từng hồi, tiếng vang lanh lảnh vọng vào chính điện, những cánh cửa đồ sộ đóng chặt, làm mờ hẳn chút ánh sáng tự nhiên có thể lọt qua màn tuyết.
Cha Joseph, một linh mục già tốt bụng đã trông coi nhà thờ này suốt đời Vianne, bước lên bục giảng.
- Hôm nay, chúng ta cầu nguyện cho những người đàn ông của chúng ta đã ra đi. Chúng ta cầu nguyện cho cuộc chiến này không kéo dài thêm nữa... và chúng ta cầu cho có sức mạnh để chống lại kẻ thù và gìn giữ sự đúng đắn cho những con người như chúng ta.
Đây không phải là bài thuyết giáo mà Vianne muốn nghe. Chị đến nhà thờ - bất chấp giá lạnh - để được an ủi bằng bài giảng của cha vào ngày Chủ nhật này, được truyền cảm hứng bằng những từ “danh dự”, “bổn phận” và “lòng trung thành”. Nhưng hôm nay, những quan niệm này dường như thật xa vời. Làm sao chị có thể nghĩ đến những lý tưởng đó khi chị đang ốm yếu, rét mướt và đói gần chết? Chị có thể nhìn những người hàng xóm sao được, khi chị nhận đồ ăn của kẻ thù, dù rất ít ỏi? Những người khác đang đói hơn kìa.
Mải suy nghĩ, một lúc sau chị mới nhận ra buổi lễ đã kết thúc. Vianne đứng dậy, cảm thấy cử động ấy làm chị hoa mày chóng mặt hơn. Chị nắm lấy cái ghế dài cho vững.
- Mẹ ơi?
- Mẹ không sao.
Trong lối đi chính nằm bên trái họ, các giáo dân - phần lớn là phụ nữ - đi hàng một. Trông ai cũng ốm yếu, gầy gò và nhợt nhạt y như chị, quấn trong nhiều lớp vải len và giấy báo.
Sophie cầm tay Vianne và đưa chị tới cánh cửa kép mở rộng. Tới ngưỡng cửa, Vianne dừng lại, run rẩy và ho. Chị không muốn ra ngoài, bước vào cõi thế trắng xóa, lạnh lẽo ấy lần nữa.
Chị bước qua ngưỡng cửa (nơi Antoine đã bế chị sau lễ cưới của họ... à không, đó là ngưỡng cửa ở Le Jardin, chị nhầm lẫn lung tung cả rồi) và rơi vào cơn bão tuyết. Vianne quấn cái khăn quàng len nặng trịch lên đầu, thắt chặt lại nơi cổ. Gập người tới trước, đi nghiêng nghiêng trong gió, chị vất vả lê bước qua lớp tuyết ướt và nặng.
Lúc về tới cái cổng xiêu vẹo ở sân nhà, Vianne thở nặng nhọc và ho như cuốc kêu. Chị đi vòng quanh cái mô tô gắn súng máy phủ đầy tuyết rồi rẽ vào vườn cây ăn quả trơ trụi. Anh ta đã về, chị đờ đẫn nghĩ, bây giờ Sophie sẽ được ăn... Lúc đến gần cửa trước, chị cảm thấy bắt đầu ngã.
- Mẹ ơi!
Chị nghe thấy tiếng Sophie, nghe thấy sự sợ hãi trong giọng con gái và nghĩ, Mình đang làm nó sợ, và chị thấy ân hận, nhưng chân chị quá yếu không giữ nổi nữa, và chị mệt... mệt quá thể...
Chị nghe thấy tiếng cửa mở từ xa, nghe thấy con gái chị hét lên: “Ông Đại úy!” rồi nghe thấy tiếng gót ủng gõ trên sàn gỗ.
Vianne đập mạnh xuống đất, đầu chị đập đánh cạch vào bậc thềm phủ tuyết, và nằm đó. Chị nghĩ Mình sẽ nghỉ ngơi chút ít, rồi mình sẽ dậy và làm bữa trưa cho Sophie... nhưng có gì để ăn nhỉ?
Việc tiếp theo chị biết, là chị đang trôi dạt, không, có lẽ chị đang bay. Chị không sao mở được mắt - chị rất mệt và đau đầu - nhưng chị cảm thấy mình đang di chuyển, đang lắc lư. Antoine, anh đấy ư? Anh đang ôm em ư?
- Mở cửa, - tiếng ai đó nói, rồi có tiếng răng rắc của gỗ và rồi, - tôi sẽ cởi áo khoác của mẹ cháu. Đi gọi bà de Champlain ngay, Sophie.
Vianne cảm thấy mình được đặt nằm trên một thứ gì mềm mại. Một cái giường.
Chị liếm đôi môi khô, nứt nẻ và cố mở mắt. Phải nỗ lực đáng kể, nỗ lực gấp đôi. Cuối cùng khi chị gắng sức làm được, mọi thứ quanh chị mờ mịt.
Đại úy Beck đang ngồi cạnh chị, trên giường chị, trong phòng ngủ của chị. Anh ta đang cầm tay chị và cúi xuống, mặt sát gần mặt chị.
- Chị Mauriac?
Chị cảm thấy hơi thở ấm áp của anh ta trên mặt mình.
- Vianne! - Rachel nói và chạy vào phòng.
Đại úy Beck lập tức đứng dậy.
- Chị ấy bị ngất trên tuyết, và đập đầu lên bậc. Tôi đã bế chị ấy lên đây.
- Tôi rất biết ơn, - Rachel nói và gật đầu. - Bây giờ tôi sẽ chăm sóc cô ấy, thưa Đại úy.
Beck vẫn đứng đó.
- Chị ấy không ăn gì, - anh ta nói, chua chát. - Mọi đồ ăn đều dành cho Sophie. Tôi đã thấy chị ấy làm như vậy.
- Đó là tình mẹ trong chiến tranh, Đại úy ạ. Bây giờ... xin ông thứ lỗi... - Rachel đi ngang qua anh ta và ngồi xuống giường, cạnh Vianne. Anh ta đứng đó thêm lúc nữa, bối rối, rồi ra khỏi phòng. - Thế đấy, cậu đã cho con bé mọi thứ, - Rachel nói dịu dàng và vuốt mái tóc ướt của Vianne.
- Mình có thể làm gì nữa? - Vianne nói.
- Không được chết, - Rachel đáp. - Sophie cần cậu.
Vianne thở dài nặng nề và nhắm mắt lại. Chị rơi vào giấc ngủ sâu, mơ thấy mình đang nằm trên một thứ mềm mại là một cánh đồng màu đen, hết mẫu này đến mẫu khác, trải ra khắp mọi phía quanh chị. Chị nghe thấy nhiều người gọi chị từ trong bóng tối, nghe thấy họ đi đến chỗ chị nhưng chị không muốn nhúc nhích, chị chỉ ngủ, ngủ và ngủ. Lúc tỉnh dậy, chị thấy mình nằm trên đi văng trong phòng khách nhà mình, một ngọn lửa reo trong lò sưởi cách đó không xa.
Chị từ từ ngồi dậy, cảm thấy yếu ớt và lảo đảo.
- Sophie?
Cửa phòng khách mở, Đại úy Beck xuất hiện. Anh ta mặc bộ pyjamas bằng flannel xám, áo len đan và đi ủng. Anh ta chào:
- Chào chị, - và mỉm cười. - Thật tốt là chị đã tỉnh lại.
Chị đang mặc quần flannel, hai áo len dài tay và đội mũ đan. Ai đã mặc cho chị?
- Tôi ngủ bao lâu rồi?
- Chỉ một ngày thôi.
Beck đi qua chỗ chị và vào bếp. Lúc lâu sau, anh ta trở lại với một tách cà phê sữa bốc hơi nghi ngút, một miếng pho mát xanh, một miếng giăm bông và một khúc bánh mì. Không nói gì, anh ta đặt đồ ăn xuống cái bàn cạnh chị.
Nhìn thấy nó, dạ dày chị quặn lên đau đớn. Rồi chị ngước nhìn viên Đại úy.
- Chị bị đập đầu và có thể chết đấy.
Vianne sờ lên trán, cảm thấy một khối sưng mềm mềm.
- Nếu chị chết thì Sophie sẽ ra sao đây? - Beck hỏi. - Chị có nghĩ đến điều này không? - Anh ta tiến đến chỗ chị.
- Anh đi vắng lâu quá. Không còn đủ đồ ăn cho hai mẹ con tôi.
- Chị ăn đi, - anh ta nói và đăm đăm nhìn chị.
Chị không muốn ngoảnh đi. Cảm giác nhẹ nhõm vì Beck đã về khiến chị xấu hổ. Cuối cùng, khi lướt cái nhìn chằm chặp sang bên, chị trông thấy đồ ăn.
Chị vươn tay và cầm lấy cái đĩa, đưa nó tới gần mình. Mùi giăm bông hun khói mằn mặn hòa với hương vị đặc trưng của pho mát làm chị say sưa, át cả những ý định tốt đẹp hơn của chị, cám dỗ chị hoàn toàn đến mức chị không còn lựa chọn.
+++++
Đầu tháng Ba, mùa xuân vẫn còn xa. Đêm qua Đồng minh đã ném bom tàn phá nhà máy Renault ở Boulogne-Billancourt, giết chết hàng trăm người ở ngoại ô Paris. Nó làm cho dân chúng Paris - kể cả Isabelle - lo lắng và giận dữ. Nước Mỹ tham chiến ở mức độ cao hơn mong đợi, những cuộc không kích hiện giờ là một thực tế của cuộc sống.
Trong chiều mưa giá lạnh này, Isabelle đạp xe xuống con đường nông thôn lầy bùn, đầy vết bánh xe trong màn sương mù nặng trĩu. Mưa khiến tóc bết dính vào mặt nàng và làm mờ tầm nhìn. Trong màn sương mờ, các âm thanh được khuếch đại, tiếng kêu của một con gà lôi bị tiếng bánh xe của nàng trong bùn quấy rầy, tiếng o o của các máy bay trên đầu gần như liên miên, tiếng rống của gia súc trên một cánh đồng nàng không thể nhìn thấy. Cái mũ trùm bằng len là thứ bảo vệ duy nhất của nàng.
Dường như được một bàn tay ngập ngừng vẽ bằng chì than trên loại giấy hảo hạng, đường phân chia ranh giới từ từ hiện ra trong tầm nhìn. Nàng trông thấy những cuộn dây thép gai trải dài ở bên kia cổng một trạm kiểm soát. Cạnh đó, một tên lính Đức ngồi trên ghế, súng trường để trên lòng. Lúc Isabelle đến gần, hắn đứng lên và chĩa súng vào nàng.
- Dừng lại!
Nàng đạp chậm lại, các bánh xe lún trong bùn và nàng suýt bay khỏi yên. Nàng xuống xe, bước vào một đống lầy lội nhớp nháp. Năm trăm franc khâu trong lớp lót áo khoác của nàng, cũng như bộ giấy tờ giả cho người phi công giấu trong một chỗ an toàn gần đó.
Nàng mỉm cười với tên Đức, dắt chiếc xe đạp đến chỗ hắn, lội bì bõm qua những vũng bùn.
- Giấy tờ, - hắn nói.
Nàng đưa cho hắn giấy tờ giả mang tên Juliette.
Hắn liếc xuống, chỉ vừa đủ quan tâm. Nàng có thể thấy hắn chẳng thích thú gì khi phải đứng gác ở một nơi biên giới yên bình như thế trong mưa.
- Cho qua, - hắn nói, vẻ ngán ngẩm.
Nàng đút giấy tờ vào túi và trèo lên xe, đạp đi nhanh hết mức có thể trên con đường ướt át.
Một giờ rưỡi sau, nàng tới ngoại ô của thành phố Brantôme. Nơi đây thuộc Vùng Tự do, không có lính Đức, nhưng gần đây cảnh sát Pháp đã chứng tỏ nguy hiểm không kém gì bọn Đức Quốc xã, nên nàng không được lơ là cảnh giác.
Từ nhiều thế kỷ nay, thành phố Brantôme được coi là một nơi thiêng liêng, vừa chữa khỏi bệnh cho thể xác, vừa khai sáng cho tâm hồn. Sau bệnh dịch Đen[1] và Chiến tranh Trăm năm[2] tàn phá miền quê này, các tu sĩ dòng Benedicte[3] đã xây dựng một tu viện bằng đá vôi rộng mênh mông, một bên dựa vào những vách đá xám cao vút, bên kia là dòng sông Drone bao la.
Bên kia thành phố, đối diện với các hang động là một trong những nơi trú ngụ an toàn mới nhất: một căn phòng bí mật ăn sâu trong cối xay gió hoang phế, dựng trên mảnh đất hình tam giác giữa các hang động và dòng sông. Cánh cối xay cổ bằng gỗ quay nhịp nhàng, những gầu và bánh xe của nó mọc đầy rêu. Các ô kính cửa sổ đã bịt kín bằng ván và những hình vẽ chống Đức phủ kín các bức tường bằng đá.
Isabelle dừng lại trên đường phố, liếc nhìn cả hai phía để biết chắc không bị theo dõi. Không có ai hết. Nàng khóa xe vào một cái cây rồi băng qua đường phố và cúi xuống cửa tầng hầm, khẽ mở nó ra. Tất cả các cửa vào cối xay đều bịt ván kín, đóng đinh, đây là lối vào duy nhất.
Nàng trèo xuống tầng hầm tối om, mốc meo và với tìm cây đèn dầu đã để sẵn trên giá. Thắp đèn lên, nàng theo một lối đi bí mật, trước kia dành cho các thầy tu Benedicte trốn khỏi những tộc người man rợ. Những bậc thang hẹp, dựng đứng dẫn vào bếp. Mở cửa, nàng lẻn vào một căn phòng bụi bặm, mạng nhện chăng đầy rồi trèo lên cầu thang tới căn phòng bí mật khoảng chừng ba mét vuông, xây ở đằng sau một trong các phòng kho cũ.
- Cô ấy đến rồi! Vui lên nào, Perkins.
Trong căn phòng nhỏ, chỉ có một ngọn nến duy nhất chiếu sáng hai người đàn ông bật dậy, đứng nghiêm. Cả hai đều ăn vận như nông dân Pháp, trong những bộ quần áo chẳng vừa người.
- Đại úy Ed Perkins, thưa cô, - người to lớn hơn nói. - Còn anh chàng vụng về này là Ian Trufford hoặc tên gì na ná thế. Anh ta là người xứ Wales. Tôi là người Mỹ. Cả hai chúng tôi rất vui được gặp cô. Chúng tôi sắp phát điên trong cái nơi bé tí này rồi.
- Chỉ sắp điên thôi ư? - Nàng hỏi. Nước rỏ ròng ròng từ cái mũ trùm đầu tạo thành vũng dưới chân nàng. Nàng chẳng muốn gì hơn là được cuộn tròn trong túi ngủ và ngủ một giấc, nhưng nàng có việc phải làm trước đã.
- Anh là Perkins?
- Vâng, thưa cô.
- Từ đâu tới?
- Bend, bang Oregon. Cha tôi là thợ sửa ống nước, còn mẹ tôi làm bánh táo ngon nhất trong bốn hạt đấy.
- Vào thời gian này trong năm, thời tiết ở Bend ra sao?
- Thời gian này là gì? Giữa tháng Ba ư? Rét, tôi đoán thế. Có lẽ không còn tuyết, nhưng chưa có nắng.
Nàng xoay cổ và xoa bóp đôi vai đau nhức. Lúc nào cũng đạp xe, rồi nằm và ngủ trên sàn khiến cơ thể nàng nhức mỏi.
Nàng chất vấn hai người đàn ông cho đến khi biết chắc chắn họ đúng là hai phi công bị bắn rơi, đã đợi nhiều tuần lễ chờ cơ hội ra khỏi nước Pháp. Cuối cùng nàng mở ba lô lấy ra bữa tối, nếu có thể gọi thế. Ba người ngồi trên tấm thảm trải sàn chuột gặm tả tơi, ngọn nến đặt ở giữa. Nàng mang theo một cái bánh mì que, một miếng pho mát Camembert và một chai vang, họ chuyền tay nhau.
Người Mỹ - Perkins - nói chuyện gần như không ngừng, trong khi anh chàng người xứ Wales lặng lẽ nhai, nhã nhặn từ chối khi được mời rượu vang.
- Chắc cô phải có một người chồng ở đâu đó rất lo cho cô, - Perkins nói lúc nàng đóng ba lô. Nàng mỉm cười. Đây là một câu hỏi phổ biến, đặc biệt là của những người đàn ông trạc tuổi này.
- Còn anh chắc phải có một người vợ đang đợi tin tức, - nàng nói. - Đây là câu nàng luôn nói. Một lời nhắc nhở sắc sảo.
- Không, - Perkins nói. - Tôi không có. Một người bình thường như tôi không có nhiều cô gái xếp hàng đâu. Còn bây giờ...
Nàng cau mày:
- Bây giờ thì sao?
- Tôi biết bây giờ không phải lúc nghĩ đến những chuyện phi thường, nhưng tôi có thể ra khỏi ngôi nhà bịt ván kín mít này, trong thành phố có cái tên không thể phát âm được này và bị một thằng cha nào đấy bắn mà chẳng có gì chống lại. Tôi có thể chết khi đang cố đạp xe vượt qua những quả đồi của các vị...
- Những quả núi.
- Tôi có thể bị người Tây Ban Nha hoặc bọn Đức Quốc xã bắn khi đang đi bộ vào Tây Ban Nha. Quái quỷ, tôi hoàn toàn có thể bị chết cóng trên những quả đồi của nợ của các vị.
- Những quả núi, - nàng chỉnh lại, cái nhìn chòng chọc của nàng không rời anh ta. - Sẽ không xảy ra chuyện đó đâu.
Ian thở dài.
- Cậu thấy chưa, Perkins. Sai lầm của cô gái này là đến cứu chúng ta. - Anh chàng xứ Wales tặng nàng một nụ cười mệt mỏi. - Tôi mừng vì cô đến đây, cô gái ạ. Anh chàng này cứ bắt tôi phải nghe những lời huyên thuyên của anh ta mãi.
- Anh cứ để anh ta nói, Ian ạ. Vào giờ này ngày mai, mọi công sức của các anh sẽ chỉ dùng vào việc hít thở.
- Những quả đồi? - Perkins hỏi, mắt anh ta mở to.
- Phải, - nàng đáp và mỉm cười. - Những quả đồi.
Những người Mỹ. Họ chẳng chịu lắng nghe gì hết.
+++++
Cuối tháng Năm, mùa xuân đem lại sự sống, màu sắc và hơi ấm cho thung lũng sông Loire. Vianne tìm được sự thanh thản trong khu vườn. Hôm nay, lúc chị làm cỏ và trồng rau, một đoàn xe tải, binh lính và xe Mecedes-Benz chạy qua Le Jardin. Trong năm tháng qua, từ khi nước Mỹ tham chiến, quân Đức Quốc xã đã mất hết vẻ giả vờ lịch sự. Hiện giờ chúng luôn bận rộn, hành quân, tập hợp và thu thập hàng đống quân trang, vũ khí. Gestapo và SS ở khắp mọi nơi, lùng sục những người phá hoại và chống lại chúng. Bạn dễ dàng bị gọi là khủng bố - chỉ cần một lời thì thầm tố cáo. Tiếng gầm rú của máy bay gần như không ngừng, cũng như các trận ném bom.
Mùa xuân này, rất nhiều lần có người lén tới chỗ Vianne trong lúc chị đang xếp hàng mua thực phẩm hoặc đi qua thành phố hay lúc đợi ở bưu điện, hỏi chị tin tức mới nhất của đài BBC?
Tôi không có radio. Họ không cho phép luôn là câu trả lời của chị, và đó là sự thật. Dù vậy, mỗi lần bị hỏi, chị cảm thấy run rẩy vì sợ. Họ đã học được một từ mới: bọn chỉ điểm. Những người đàn ông và đàn bà Pháp làm công việc bẩn thỉu cho bọn Đức Quốc xã, do thám bạn bè và hàng xóm rồi báo với quân thù, bịa ra mọi vi phạm có thật hoặc tưởng tượng. Theo báo cáo của họ, dân chúng bắt đầu bị bắt giam vì những việc nhỏ, nhiều người bị triệu đến Sở Chỉ huy rồi không bao giờ gặp lại nữa.
- Cô Mauriac! - Sarah chạy qua cái cổng xiêu vẹo vào sân. Trông nó ốm yếu và gầy guộc quá thể, nước da nhợt nhạt lộ rõ các mạch máu. - Cô giúp mẹ cháu với.
Vianne ngồi lên gót chân và hất cái mũ rơm ra sau đầu.
- Có chuyện gì thế? Mẹ cháu nghe được tin của cha cháu sao?
- Cháu không biết có chuyện gì không ổn. Mẹ không chịu nói. Lúc cháu nói Ari đói và cần thay đồ, mẹ cháu nhún vai rồi bảo: “Việc ấy có quan trọng gì đâu?”. Mẹ cháu ở lì trong sân sau và cứ nhìn chằm chặp vào món đồ khâu.
Vianne đứng dậy, tháo găng làm vườn nhét vào trong túi bộ quần áo lao động bằng vải bò.
- Cô sẽ kiểm tra xem sao. Cháu đi tìm Sophie và chúng ta sẽ tới đó.
Trong lúc Sarah vào nhà, Vianne rửa tay và mặt ở cái máy bơm bên ngoài và bỏ mũ ra. Chị buộc một băng đô lên đầu. Ngay khi mấy cô bé chạy tới, Vianne cất dụng cụ làm vườn vào trong lều rồi cả ba sang nhà bên.
Lúc Vianne mở cửa, chị thấy bé Ari lên ba đang ngủ trên tấm thảm trải sàn. Chị bế bé lên, thơm vào má nó và quay sang mấy đứa con gái:
- Sao các con không chơi trong phòng Sarah nhỉ? - Chị vén tấm che cửa sổ và thấy Rachel ngồi một mình trong sân sau.
- Mẹ cháu có ổn không? - Sarah hỏi.
Vianne lơ đãng gật đầu.
- Bây giờ chạy đi. - Bọn con gái vừa vào phòng bên cạnh, chị bế Ari vào phòng Rachel và đặt thằng bé vào cũi. Chị không cần đắp cho bé, vì hôm nay rất ấm áp.
Bên ngoài, Rachel ngồi trên cái ghế gỗ ưa thích của chị, dưới gốc cây dẻ. Bên chân chị là làn đồ khâu. Chị mặc bộ áo liền quần bằng vải ka ki màu nâu, đầu quấn khăn turban có họa tiết hình cánh hoa. Chị đang hút một điếu thuốc nhỏ tự cuốn. Một chai brandy để cạnh chị và một tách cà phê đã cạn.
- Rach?
- Mình thấy Sarah đã tìm được tiếp viện rồi.
Vianne đến đứng cạnh Rachel. Chị đặt bàn tay lên vai bạn. Chị có thể cảm thấy Rachel đang run.
- Tin của Marc phải không?
Rachel lắc đầu.
- Tạ ơn Chúa.
Rachel với sang bên tìm chai brandy, rót cho mình một cốc. Chị uống cạn một hơi rồi đặt cốc xuống.
- Bọn chúng vừa đưa ra một quy chế mới, - cuối cùng, Rachel nói. Chậm rãi, chị mở bàn tay trái, để lộ những mẩu vải màu vàng nhàu nhĩ, cắt thành hình ngôi sao. Trên mỗi mảnh viết chữ DO THÁI màu đen. - Bọn mình phải đeo những cái này, - Rachel nói. - Chúng mình phải khâu chúng lên quần áo, phải khâu lên ba món trang phục mặc ngoài, và đeo chúng mọi lúc ở những nơi công cộng. Mình phải mua chúng bằng phiếu phân phối. Có lẽ mình không nên đăng ký. Nếu bọn mình không đeo, sẽ bị “những hình phạt nghiêm khắc”. Cái đó có thể mang bất kỳ ý nghĩa nào.
Vianne ngồi xuống ghế, cạnh bạn.
- Nhưng...
- Cậu đã thấy những áp phích dán khắp thành phố rồi đấy, sao bọn chúng lại coi người Do Thái chúng mình như rác rưởi cần phải quét sạch và là những kẻ xoay xở làm giàu, muốn có đủ mọi thứ? Mình có thể đối phó với việc này, nhưng... Sarah thì sao? Nó cảm thấy rất xấu hổ... thật khó cho một con bé mười một tuổi, Vianne ạ.
- Đừng đeo nó.
- Nếu không đeo, sẽ bị bắt giữ ngay lập tức. Và bọn chúng biết mình. Mình đã đăng ký. Còn... Beck nữa. Hắn biết mình là người Do Thái.
Trong sự im lặng tiếp theo, Vianne biết cả hai đang nghĩ về những vụ bắt giữ diễn ra khắp Carriveau, về những người “mất tích”.
- Cậu có thể ra Vùng Tự do, - Vianne nói nhẹ nhàng. - Chỉ cách đây bốn dặm thôi.
- Người Do Thái không thể lấy được giấy thông hành, và nếu mình bị bắt thì...
Vianne gật đầu. Đó là sự thật, chạy trốn là việc vô cùng nguy hiểm, nhất là đi cùng trẻ con. Nếu Rachel bị bắt khi đang vượt biên giới mà không có giấy thông hành, chị sẽ bị bắt giam. Hoặc bị bắn chết.
- Mình sợ, - Rachel nói.
Vianne vươn tay nắm lấy bàn tay bạn. Họ đăm đăm nhìn nhau. Vianne cố nói điều gì đó, cho thấy một chút hy vọng, nhưng không sao thốt nên lời.
- Tình hình rồi sẽ còn tệ hại hơn.
Vianne cũng đang nghĩ y hệt.
- Mẹ ơi?
Sarah nắm tay Sophie chạy vào sân sau. Hai cô bé trông sợ hãi và bối rối. Trong những ngày này, chúng hiểu thế sự rất bất ổn và cả hai đã học được một loại sợ hãi mới. Chứng kiến bọn trẻ bị chiến tranh biến đổi đến thế khiến trái tim Vianne tan nát. Chỉ ba năm trước, chúng là những đứa trẻ bình thường, cười nói, chơi đùa và thách đố mẹ cho vui. Giờ đây chúng đi đứng một cách thận trọng, như thể có bom chôn dưới bàn chân. Cả hai đều gầy gò, tuổi dậy thì của chúng như lùi lại vì thiếu dinh dưỡng. Mái tóc đen bóng của Sarah vẫn dài nhưng nó bắt đầu giật mạnh tóc trong giấc ngủ nên đã có những vệt hói ở đây đó, còn Sophie không bao giờ đến bất cứ nơi nào mà không có Bébé. Con gấu bông màu hồng tội nghiệp bắt đầu bị rứt bông tứ tung khắp nhà.
- Lại đây, - Rachel nói. - Lại đây.
Hai cô bé lê bước tới, nắm tay nhau chặt đến mức như nhập vào nhau. Cung cách của bọn trẻ y hệt Rachel và Vianne, kết thân bằng một tình bạn mạnh mẽ đến mức có thể mọi người không tin. Sarah ngồi vào ghế cạnh Rachel, còn Sophie rốt cuộc đã buông tay bạn ra. Nó đến đứng cạnh Vianne.
Rachel nhìn Vianne. Trong cái liếc nhìn ấy là nỗi buồn chan chứa giữa họ. Họ phải nói với các con chuyện này như thế nào đây?
- Những ngôi sao màu vàng này, - Rachel nói và xòe tay ra, để lộ những bông hoa vải độc địa nham nhở, với những chữ màu đen. - Bây giờ chúng ta phải đính chúng lên quần áo mọi lúc.
Sarah nhăn mặt:
- Nhưng... vì sao ạ?
- Chúng ta là dân Do Thái, - Rachel nói. - Chúng ta tự hào vì điều đó. Con phải nhớ chúng ta đã tự hào như thế nào, cho dù có những người...
- Bọn Đức Quốc xã, - Vianne nói, sắc gọn hơn dự định.
- Bọn Đức Quốc xã, - Rachel nói thêm, - muốn làm chúng ta cảm thấy... xấu hổ vì việc này.
- Mọi người đùa con chắc? - Sarah hỏi, mắt nó mở to.
- Mình cũng sẽ đeo một cái, - Sophie nói.
Nghe thế, nom Sarah tràn đầy hy vọng.
Rachel vươn tay tìm bàn tay con gái và nắm lấy.
- Không, con yêu. Đây là việc mà con và bạn thân nhất của con không thể làm cùng nhau.
Vianne hiểu rõ nỗi sợ, sự lúng túng và bối rối của Sarah. Nó cố hết sức làm một đứa con gái ngoan, nó mỉm cười và tỏ ra mạnh mẽ mặc dù những giọt lệ làm mắt nó mờ đi.
- Vâng, - cuối cùng, nó nói.
Đây là âm thanh buồn nhất mà Vianne nghe thấy trong gần ba năm bất hạnh này.
❀ ❀ ❀
[1] Bệnh dịch truyền nhiễm vào thế kỷ 14, đã làm chết 50 triệu người châu Á và châu Âu.
[2] Chiến tranh giữa Pháp và Anh (1337-1453), Pháp lấy lại được các vùng trước kia Anh đã chiếm đóng (trừ Calais).
[3] Dòng tu Biển Đức thuộc Thiên Chúa giáo.