Hoang tưởng.
Marion đứng dậy kéo dãn các cơ tê cứng. Câu chuyện về con vật lảng vảng ban đêm, cái con ghûl đó, hoàn toàn là chuyện hoang tưởng.
Cô nhìn cái bìa đen của cuốn nhật ký. Đây là thể loại gì vậy? Cô đang rơi phải cái gì đây? Lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu đọc, cô cảm thấy phiền toái. Cô từng thấy khó chịu ở đoạn kể về các vụ giết trẻ con, tuy nhiên đó là một phần câu chuyện, một phần cuộc điều tra. Nhưng cái chuyện về con quái vật này thể hiện sự ngây ngô nhất định, khiến Marion không biết nên quy cho con người hay cho thời cuộc.
Tác giả Jeremy Matheson, kể ở ngôi thứ nhất những gì anh ta trải qua hay cảm nhận, và nói thêm cả một đoạn dài về những gì người đồng nghiệp Azim, từng làm trong thời gian đó, để lộ ra rằng sau đó họ có trao đổi với nhau. Thật lý thú khi nhận thấy anh ta có thể miêu tả hết sức rõ ràng, có đôi chỗ gần như trong tiểu thuyết. Anh ta thậm chí còn kể lại chính xác những cảm xúc của Azim, riêng tư đến mức ít có khả năng họ đã thật sự cùng nhau trao đổi. Không, Jeremy ước đoán, suy diễn hay tưởng tượng mà thôi. Tuy vậy, giả thuyết về ghûl vẫn rất khó nuốt trôi.
Marion kìm một cái ngáp. Đang là giữa chiều, cô chỉ nghỉ chút xíu để ăn trưa, và những giờ đọc sách khiến cô hoàn toàn đờ đẫn.
Thời tiết rất ảm đạm, bầu trời bày ra các gam màu xám, từ trắng đục trên đỉnh đầu đến màu tro nơi chân trời. Cô chui vào một cái áo len và chọn áo khoác để đi dạo, trời lạnh hơn hẳn từ hai ngày nay. Cảm giác tiếp xúc với cuốn nhật ký trong túi làm cô tạm yên lòng.
Dù câu chuyện về ghûl vượt quá khả năng hiểu của cô, cô vẫn phải thú nhận mình bị dính vào lời kể đó, và bị kích thích bởi những gì mấy trang giấy ố vàng dành cho cô. Từ khi tìm thấy cuốn nhật ký, gần như không bao giờ cô rời xa kho báu quý giá đó. Nó hấp dẫn cô một cách ma quái. Nó gây ra thói nhìn trộm mà cô không hề tìm cách kìm nén.
Cô men theo nghĩa địa nhỏ, rồi đi vòng qua lối vào nhà thờ giáo khu thánh Pierre để quay lại Phố Lớn. Từ đây cô đi sâu vào một con hẻm giữa hai ngôi nhà cổ để đến bức tường nối hai bờ thành. Hết tháp này đến tháp khác, cô lang thang dưới làn gió thổi mạnh. Phía bên dưới, biển để lại trên vết liếm ban đêm những vòng tay nước, những vũng nước có ánh phản chiếu màu ngải đắng đôi khi gửi trả lại bầu trời một hình ảnh méo mó.
Đảo đá Tombelaine nổi lên từ phía xa, trơ trọi với quầng mây màu cánh ngỗng trời. Lạc lõng như vậy, nó gợi cho Marion cảm giác sầu muộn, một phần của nước Pháp chịu phận lưu vong, bị đày ải vĩnh viễn giữa màn sương mù và những ngọn thủy triều của vịnh. Bị đày ải hoặc là được ưu đãi, cô sửa lại… Dáng hình trần trụi của nó khiến cô thiên về nỗi buồn hơn.
Một vệt đen di chuyển theo đường chéo giữa Đỉnh và đảo đá Tombelaine. Marion căng mắt nhìn và khẳng định được điều cô đã linh cảm từ trước: một người đàn ông, dáng đi bình thản, đang bước lại phía cô. Ông ta đi một vòng rộng và Marion cho rằng không có lý do gì để làm như thế, cho đến khi cô nhớ lại những gì người ta nói về vịnh. Cát lún khiến không ít người thành nạn nhân nơi này. Chúng cuốn chặt lấy mắt cá rồi hút bắp chân, liếm mút thứ thức ăn của mình từng tí một, cho đến khi thủy triều lên dìm chết những gì còn nổi lên từ mặt đất.
Người đi dạo thuộc đường thấy rõ, và đang đến gần tường bao. Khi ông ta ở cách cô không xa, Marion nhìn kỹ vẻ bên ngoài của ông ta, một người đàn ông khá nhiều tuổi, cao dong dỏng, không phải tóc nâu như cô nghĩ lúc đầu mà là mũ lính thủy đội trên mái tóc trắng. Dáng đi của ông ta lịch thiệp, hai tay thọc sâu trong túi chiếc áo va rơi màu xanh nước biển. Ông ta khẽ giơ cánh tay vẫy cô, thay lời chào.
Lúc đầu cô ngạc nhiên rồi sau đó nhận ra mình là người duy nhất trên tường thành và cô đã quan sát ông ta được một lúc, ông ta không thể không nhận thấy điều này. Marion cũng vẫy tay đáp lại.
Chính cô cảm thấy ngạc nhiên khi tự động đi trên bức tường nối, song song với người đi dạo đó, xuống phía lối vào làng.
Họ gặp nhau dưới vòm cửa Roy. Người đàn ông lạ mặt nhấc mũ ra, khiến những ngọn tóc trắng như hoa bách hợp rối tung lên, rồi khẽ nghiêng người về phía trước, hai tay bắt tréo sau lưng.
“Xin chào cô.”
Ông ta già hơn nhiều so với đánh giá ban đầu của cô, ít ra cũng phải tám mươi tuổi, Marion thầm đoán. Một phần khuôn mặt ông ta biến mất dưới bộ râu một tuần không cạo cũng trắng phau như mái tóc, má hằn sâu hai nếp nhăn. Chỉ thoáng nhìn thấy mắt ông qua đôi mí mắt nửa nhắm nửa mở, tuy nhiên từ đó lại tỏa ra vẻ linh hoạt đáng kinh ngạc, rõ ràng xuyên thấu qua cô. Người đàn ông đứng thẳng, không có vẻ gì là phải cố gắng, ông ta có phong cách lôi cuốn rất tự nhiên. Hồi trẻ chắc ông ta khiến người khác choáng ngợp ghê lắm bởi bất chấp tuổi tác, Marion vẫn thấy ông ta rất cuốn hút.
“Tôi không tin là đã có vinh hạnh gặp cô, tuy nhiên, tôi nghĩ tôi biết cô là ai. Làng nhỏ nên thông tin truyền nhanh lắm, nhanh hơn cả cái mạng Internet mà ai cũng nói đến. Cô đi ẩn tại dòng tu, phải vậy không?”
“Chính xác là vậy.”
“Cho phép tôi được tự giới thiệu: tôi là Joe.”
“Joe?” Cô nhắc lại.
“Vâng, đó là tên tôi. Tôi xin chào mừng cô đến nơi đây, cô…”
“Ồ, xin lỗi, tôi là Marion.”
Cô chìa tay ra và ông siết tay cô hết sức trìu mến. Da ông ram ráp; ‘có thể vì lạnh’, cô đồ chừng.
“Rất vui được làm quen với cô. Vì chúng tôi không có nhiều khách trong mùa đông, những người ở lại lâu lại càng ít hơn.”
Trong giọng nói của ông có chút âm sắc mà Marion không thể xác định được ở đâu. Alsace[1], cô nghĩ nhưng không chắc chắn lắm.
Rõ ràng, Đỉnh thực sự là một cái tháp Babel, phần lớn các cư dân cô gặp đều không có gốc gác từ các vùng lân cận mà đến từ bốn phương đất nước.
“Lúc nãy tôi thấy cô trên bờ thành, đó là một đoạn đường rất lộng lẫy, nếu tôi có thể cho cô một lời khuyên, thì hãy lên đó vào lúc hoàng hôn, cô sẽ lóa mắt vì vẻ đẹp của phong cảnh. Các bụi cỏ đổi màu cam và tím phía đằng xa, kỳ lạ lắm.”
Marion vén một lọn tóc ra sau tai.
“Tôi sẽ nhớ điều này, cảm ơn ông. Ông đã đi ra tận Tombelaine ư?”
“Quả là vậy.”
“Ở đó chắc cũng đẹp.”
“Đúng là đẹp thật. Tôi có thể dẫn cô ra đó khi có dịp nếu cô muốn, gần sáu ki lô mét cả đi lẫn về. Ngược lại, đừng có thử vận may một mình nơi đó, cát lún ở vịnh rất khó lường. Phải biết đường mới ra được.”
“Tôi cũng nghe nói thế. Tôi sẽ rất vui mừng được đi cùng ông ra đó lần tới. Ông… ông sống ở đây nếu tôi không nhầm…”
“Đúng vậy, phía trên cao hơn một chút, hay là về nhà tôi uống trà đi, nếu cô không bận gì?”
Marion gật đầu và đi theo ông già khi ông đi lên Phố Lớn.
“Sự tiếp đãi của dòng tu có hợp với cô không?” Ông già hỏi.
“Có, ai cũng rất dễ mến,” Marion nói tránh. “Và tôi được bình yên hoàn toàn, đúng như tôi mong ước.”
“Bình yên ư! Cô đã rất có lý khi chọn Mont-Saint-Michel nếu như điều cô tìm kiếm là sự bình yên. Và việc thiền định trong tu viện cũng rất đặc biệt! Không một nơi nào khác phù hợp với việc đó hơn đâu.”
“Cứ nghe ông nói thì tôi suy ra rằng ông đã ở đây lâu rồi.”
“À vâng. Tuy nhiên không là gì so với… tảng đá này,” ông vừa nói vừa ngẩng đầu về cái khối lừng lững phía trên đỉnh.
Trong lúc đi lên con phố, Marion ngạc nhiên khi nhận ra ông cao hơn cô rất nhiều, có lẽ phải xấp xỉ một mét chín mươi.
“Cô ở đâu?” Ông hỏi. “Tôi đoán là đối diện với nghĩa địa?”
“Phải, nơi đây tin tức đi nhanh đến thế sao?”
“Hơn cả cô tưởng ấy chứ,” ông cười. “Thật ra là dòng tu có thói quen để những người đi ẩn ở trong các gian nhà áp mái phía bên dưới làng nếu như có đông người, và trong ngôi nhà nhỏ đó khi chỉ có một người.”
Ông nghiêng người về phía cô và vừa nở nụ cười đồng lõa vừa nói thêm:
“Tôi nói với cô rồi: tôi đã ở đây từ lâu… Mọi người đều biết thói quen của những người khác trên Đỉnh.”
“Tôi thấy rồi… Nhân thể, hiện có tất cả bao nhiêu người sống trên đảo?”
“À thì… Có Béatrice, cô bán hàng, và con trai cô ấy. Nhân viên bưu điện chỉ đến làm việc, cũng như nhân viên của khách sạn và của nhà hàng Mẹ Poulard trong mùa này… À, cả anh chàng gác đêm Ludwig sống cùng chúng tôi. Các thành viên dòng tu, và chính tôi đây. Tổng cộng là… mười ba! Trời, tôi chưa bao giờ để ý điều đó đấy. Từ giờ trở đi, cô sẽ được tiếp đón nồng nhiệt gấp đôi! Khách trọ thứ mười bốn của Đỉnh, để tránh điềm rủi!”
“Ôi, ông đừng dành cho tôi vai trò quan trọng đến thế, lỡ họ lại không muốn để tôi đi thì sao…,” Marion thích thú đùa.
“Chúng ta đến nơi rồi.”
Họ bước vào một ngôi nhà kiểu Trung cổ, trần cao, cửa sổ rộng và gỗ lát sàn kêu cọt kẹt dưới chân. Hơi ẩm và mùi sáp chia nhau ngự trị chốn này. Joe dẫn Marion vào một phòng khách quá khổ, nơi lò sưởi còn chiếm nhiều chỗ hơn cả một cái tủ kiểu Normandie[2].
“Cô ngồi đi, tôi ra ngay.”
Ông quay lại sau vài phút, tay bưng một cái khay, và rót cho hai người họ món trà nóng bỏng uống kèm với bánh quy bơ tròn.
“Nào, thế làm sao mà cô lại lưu lạc đến đây, nếu tôi có thể hỏi điều này?” Ông muốn biết.
“Vì tình cờ.”
Joe khẽ gật đầu.
“Thật vậy sao? Vì tình cờ?”
“Gần như vậy. Tôi muốn… cần nghỉ ngơi, cần lấy lại tinh thần. Tôi tìm hiểu những việc có thể làm, ở những nơi hẻo lánh khác nhau. Dù là tạm thời, yên tĩnh vẫn không phải món tôi thích nhất, nên tôi loại một tu viện ở Savoie, rồi địa điểm tiếp theo trên danh sách của tôi là Mont-Saint-Michel. Tôi không tự hỏi mình thêm nữa mà thử luôn vận may,” cô tự tin nói dối.
Joe nhìn cô chăm chăm và dừng lại nơi vết sẹo sắp lành trên môi cô. Rồi nhìn thẳng vào mắt cô. Đến lượt mình, Marion cũng quan sát ông, có vẻ như ông sẵn sàng đón nhận lời tâm tình của cô, tưởng tượng ra một phụ nữ bị chồng hành hung đang chạy trốn, hoặc nạn nhân một vụ tấn công đến đây để tìm lại sự thanh thản nội tâm. Dù ý ông thế nào, Marion vẫn nhận thấy ông không bị lừa và ông đoán ra được vài lý do nghiêm trọng hơn cho việc đi ẩn này.
“Cô nghĩ sao nếu ta đốt lửa?” Ông đột ngột hào hứng gợi ý.
Ngay sau đó ông đứng lên đặt một khúc củi cùng vài cành củi vụn vào lò sưởi.
“Về phần tôi, tôi ở đây từ hồi chiến tranh, vậy cơ đấy!”
Marion đưa chén trà nóng lên môi thổi nhẹ.
“Thế chắc ông biết tất cả mọi người, và mọi ngóc ngách nơi này, tôi đoán vậy.”
Joe với một tờ báo cũ, xé ra thành nhiều mảnh nhỏ rồi vò nhàu và nhét vào dưới đống gỗ.
“Tôi hy vọng vậy!”
Marion kìm mình không đặt cho ông câu hỏi đang luẩn quẩn trong đầu cô. Cô hớp một ngụm trà.
Cửa sổ phòng khách nhìn xuống một cái vườn nhỏ xíu bỏ hoang ngay dưới chân thành. Bầu trời xám nhờ hòa loãng ánh sáng ban ngày thành một cái vòm lớn. Joe đánh một que diêm châm lửa cho những nắm giấy trong lò sưởi.
Marion để tính tò mò vượt lên trên sự giữ kẽ và đật câu hỏi:
“Nếu ông ở đây từ những năm bốn mươi, có thể ông đã nghe nói đến một người Anh từng ở Đỉnh…”
Joe bỏ lửng ngọn lửa đang bén dần.
“Một người Anh ư?” Ông nhắc lại. “Tại sao lại là một người Anh?”
“Bởi vì… Hoàn toàn ngẫu nhiên thôi, có những điều người ta kể cho tôi nghe, tôi chỉ muốn biết có đúng vậy thật không hay là họ bịp tôi,” cô bịa.
“Ai đã kể cho cô những chuyện đó? Thầy Gilles phải không?”
Marion cố gắng hình dung ra thầy Gilles trong số các thành viên của dòng tu. Đó là người già nhất, không dễ chịu gì, với nét nhìn nghiêng trông giống đại bàng. Một ông già khó tính, cô nhớ ra ngay. Ông ta quen thuộc quá, cô phải tìm một người khác, nếu không lời nói dối của cô có nguy cơ bị phát hiện.
“Không, hoàn toàn không,” cô đáp lại,. “đó là ở Avranches, một nhóm đàn ông muốn đùa cợt, tôi nghĩ vậy. Họ nói với tôi rằng một người Anh đã từng đến Đỉnh để trú…”
Joe lắc đầu.
“Ôi, thành thị… Họ không đáng tin cậy đâu. Dù sao cũng chẳng có người Anh nào từng ở đây cả, ít ra là theo những gì tôi biết. Điều đó có quan trọng với cô không?”
Marion ngạc nhiên khi thấy mình dễ dàng và say sưa nói dối. Từ ngữ và vẻ tự tin đến với cô một cách tự nhiên, không chút do dự, không chút sợ hãi, tay cô không nhớp mồ hôi, chân cô không run. Cô khám phá ra trong mình một kẻ nói dối đích thực đang làm tay sai cho UBGSLT theo một cách nào đó. Ý nghĩ này khiến cô thích thú. Cô đang bắt đầu một sự nghiệp mới, theo nhịp của cô, sự nghiệp của một gián điệp.
“Tại sao cô lại quan tâm đến sự có mặt của một người Anh?” Joe tra hỏi. “Có hàng trăm thứ thú vị và bí ẩn hơn trong lịch sử tu viện, tại sao thế?”
“Tự nhiên thôi, người ta kể cho tôi nghe rằng có một người Anh đã ở đây một thời gian trước khi bỏ đi và để lại một cuốn nhật ký. Nhưng hình như không ai tìm thấy cuốn nhật ký đó cả. Vì buồn chán, một câu chuyện như vậy cũng đủ để làm tôi tò mò.”
Joe xòe hai bàn tay ra trước mặt tỏ ý bất lực.
“Tôi rất tiếc nhưng quả là tôi chưa bao giờ nghe đến câu chuyện đó, ấy vậy mà tôi thuộc loại người già mà ta vẫn nghĩ đến khi phải hỏi những chuyện như vậy, tôi có phần giống tai mắt của cái khối đá cô độc này. Nếu được phép thì tôi khuyên cô không nên quá nghe những gì người ta kể cho cô trong thành phố, Đỉnh là chủ đề của nhiều loại tin đồn, và chúng hiếm khi có thật.”
Ngọn lửa lớn dần sau lưng ông, những cành củi lửa bén vào nổ lách tách. Marion uống trà và vừa nhấm nháp một cái bánh quy vừa huơ hai tay vào hơi ấm của lò sưởi.
“Lúc nãy ông hỏi tôi liệu có phải thầy Gilles là người kể cho tôi nghe câu chuyện về người Anh đó… Ông có biết rõ ông ấy không?” Marion hỏi.
Joe cắn một chiếc bánh rồi lấy khăn giấy lau cằm.
“Phải, cả hai chúng tôi đều có phần giống cái hòn đá già cỗi này. Gần như bất di bất dịch giữa vịnh.”
“Tôi cho rằng ông ta không ưa tôi chút nào,” Marion thổ lộ.
“Cô đừng lo nghĩ về điều đó làm gì. Ông ta không ưa ai cả, cả cô, cả tôi, cả đám du khách vãng lai. Tóm lại là những người không gắn bó trực tiếp với Đỉnh. Nếu cô không được sinh ra ở đây hay tương tự như vậy, thì trong mắt ông ta cô là một thứ ký sinh trùng trên cái tu viện ‘của ông ta’, một con gián có thể làm hỏng di sản này của quá khứ.”
“Vậy tại sao ông ta lại không ưa ông? Ông ở đây trước ông ta nhiều chứ, không phải sao?”
“Thầy Gilles ư? Không, ông ta đến đây trước tôi một năm, cùng với xơ Luce mà hẳn là cô đã biết.”
Marion nhớ lại một bà già, cố dáng dấp giống thầy Gilles đến kỳ lạ, cũng trầm lặng và quàu quạu như vậy.
“Quả thật…”
“Thế rồi kể từ đó họ trở thành những người được Mont-Saint-Michel gửi gắm linh hồn, hay ít ra là họ nghĩ vậy!”
Joe bật cười, tiếng cười thành thực nhưng bị nén lại.
“Thầy Gilles và xơ Luce, họ là người… cùng gia đinh phải không?” Marion tò mò.
“Đó là cả một cuộc tranh cãi lớn! Tôi không biết. Cứ nhìn họ, cả hai đều gay gắt và đa nghi như nhau, thì ta có thể tin là vậy. Xét cho cùng, đến giờ tôi vẫn không biết thời điểm đó họ đã giống nhau rồi hay chính tính khí gay gắt mới khiến ngoại hình họ trở nên tương đồng. Tôi không còn nhớ nổi trông họ thế nào hồi trẻ. Tuổi già là thế đấy, cô gái thân mến ạ, là lãng quên, hoặc nhầm lẫn. Hoặc không còn sức để thúc đẩy trí nhớ cố gắng đi xa hơn. Thế là ta lải nhải những gì còn lại trong ta.”
“Tôi thấy ông nói được thế này là vẫn còn khỏe mạnh chán.”
“Cô đừng tin vào vẻ bề ngoài, Marion ạ, nhất là ở nơi này.”
Ông cầm đĩa bánh quy rồi đưa mời cô, và cũng lấy cho mình một cái.
“Cô đã gặp hết mọi người chưa?” ông hỏi.
“Rồi, tất cả những người được ông nhắc đến.”
“Đều là những người tử tế cả.”
“Tôi cũng thấy thế. Thật ra là rất thú vị khi khám phá từng cư dân của nơi… có thể gọi là đảo này, và tôi ngạc nhiên khi thấy mình mến họ dù biết ít về họ, trong khi tôi vốn là một kẻ hay ngờ vực, nếu không muốn nói là ghét người. Ông biết đấy, tôi vẫn thường nghĩ, tôi phải công nhận là điều này thật ngốc, rằng chỉ người có những bí mật gớm ghiếc phải che giấu mới muốn đến sống trên một hòn đá thế này, tách biệt khỏi thế giới.”
Joe chắp hai bàn tay trước mũi và vừa tì cằm lên hai ngón cái vừa ngắm nhìn ngọn lửa.
“Bí mật thì mọi gia đình trên thế giới này đều có,” ông thổ lộ. “Bất kỳ gia đình nào. Và được giữ kín nhiều hay ít. Không phải là những bí mật đã dẫn họ đến đây. Mà là những câu trả lời. Những người đàn ông và phụ nữ sống ở đây vì tâm hồn họ cũng như Đỉnh, được tạo ra từ những sự thật đôi khi bị sương mù phủ mờ, đôi khi được mặt trời chiếu rọi. Chúng tôi ở đây vì chúng tôi được làm bằng những kỷ niệm thăng trầm, như thủy triều. Không nơi nào khác có thể hợp với chúng tôi hơn.”
“Ông nói cho ông đấy ư?” Marion mạnh bạo hỏi.
“Không, tôi không nghĩ vậy. Đúng hơn là nhân danh cư dân của Đỉnh.”
Joe chỉ một ngón trỏ còng quèo về phía cô.
“Tôi thấy cô tái mặt,” ông cười,. “cô đừng sợ, tôi nói ẩn dụ vậy thôi, Mont-Saint-Michel không phải là sào huyệt của những kẻ sầu muộn, tôi chỉ… giải mã các tâm hồn. Nói vậy chứ tôi hay nhầm lắm.”
Nói đến đó ông lại cười rộ lên.
“Ít ra là tôi không làm cô sợ chứ?”
“Không, đối với tôi thì phải mạnh hơn nữa. Mà kể từ khi ở đây, tôi bắt đầu không nhảy dựng lên vì những chuyện tầm phào.”
“Thật vậy ư? Tốt hơn là nên như vậy, trong làng đầy những tiếng động không thể định nghĩa nổi, nhất là vào ban đêm. Vậy nên nếu cô quen với…”
“Tôi không sợ tiếng động, mà là những kẻ đùa nhảm.”
Joe nhíu mày. Marion nuốt nước bọt. Giờ thì cô đã đâm lao và không thể quay đầu lại được nữa. Hơn nữa ông già tạo cho cô cảm giác tin cậy.
“Ngay sau ngày đầu mới đến tôi tìm thấy một cái phong bì trong nhà tôi, đúng ra là ngôi nhà nơi tôi đang ở. Có người muốn đùa giỡn. Dưới dạng câu đố. Đó không là gì khác ngoài một trò chơi chào đón tôi đến đây… và để thử thách tôi, tôi cho là vậy.”
“Thử thách cô ư? Điều gì khiến cô nghĩ vậy?”
“Một kẻ đùa nhảm đơn giản sẽ chỉ chào đón tôi trực tiếp qua cái phong bì và dừng lại ở việc bỏ nó vào nhà. Đằng này tôi phải giải một mật mã và đi ra Đỉnh để khám phá nội dung đích thực của bức thư.”
Joe gật đầu.
“Thật độc đáo. Và cô còn đủ sáng suốt để đi đến tận cùng, thật đáng khâm phục.”
“Tôi chỉ có việc đó để làm thôi mà.”
Lời đáp của cô rơi xuống như một lưỡi dao máy chém chẻ phăng không khí. Họ cùng im lặng một phút. Cuối cùng Marion đặt chén trà xuống và đứng dậy.
“Xin cảm ơn ông vì tất cả.”
“Nếu tôi được phép dịch nghĩa câu nói này của cô thì sẽ là: chào mừng cô đến đây, trong nhà của tôi. Giờ thì cô biết tôi ở đâu rồi, hãy qua thăm tôi nhé.”
Marion chào ông rồi bước ra giữa làn gió lạnh đang thổi rít trên Phố Lớn. Cô xuôi theo con đường lát đá xuống tận cái cầu thang nhỏ chạy quanh nhà thờ giáo khu, men theo nghĩa địa đến tận cửa nhà. Trên đường đi, cô nghĩ đến Joe. Đến dáng dấp dễ chịu, khuôn mặt tươi cười, tự tin và tuổi tác của ông. Cô không thể hiểu tại sao ông lại tử tế với cô đến vậy. Ít ra ông cũng đã tám mươi, dù có vẻ trẻ hơn hẳn ba mươi tuổi trong thân hình được giữ gìn rất tốt.
Cô đặt áo khoác ở tiền sảnh và bật đèn phòng khách. Cô mất chưa đầy năm giây để phát hiện ra nó. Nó ngự ở đó như một sự xúc phạm đến cõi riêng tư của cô.
Một phong bì lớn đặt trên ghế xô pha.
❀ ❀ ❀
[1] Một tỉnh phía Đông Bắc nước Pháp, giáp ranh với Đức.
[2] Một tỉnh phía Tây Bắc nước Pháp, nơi có kiểu tủ quần áo rất đồ sộ.