Sơn Câu Hoàng Đế

Lượt đọc: 14717 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1278
Tống Hoàn Tử Chấn Kinh

❊ ❊ ❊

Cảng Busan, thuộc quyền quản lý của Đông Giang Phủ, tỉnh Liêu Đông. Thời gian khai phá nơi đây cũng không tính là quá dài, chủ yếu là sau khi Đế quốc sáp nhập bán đảo Cao Ly vào lãnh thổ thống trị. Mặc dù đã trải qua hàng loạt các biện pháp khiến cho cơ cấu dân số nơi đây thay đổi cực lớn, nhưng không thể tránh khỏi việc trên bán đảo Cao Ly vẫn còn tồn tại một lượng lớn thổ dân bản địa.

Vì thế, thái độ của Đế quốc đối với việc cai trị bán đảo Cao Ly luôn luôn rất thận trọng.

Năm này qua năm khác, Đế quốc luôn duy trì lượng trú quân đông đảo. Chỉ một bán đảo nhỏ bé mà đóng quân tận ba sư đoàn dự bị, quân số lên tới hai vạn người.

Ngoài ra, Đế quốc cũng liên tục khuyến khích dân chúng di cư, đưa dân từ nội địa đến bán đảo, rồi lại di dời thổ dân trên bán đảo đến vùng Đông Bắc hay khu vực phía tây Sơn Hải Quan, đồng thời khuyến khích kết hôn khác tộc.

Về mặt văn hóa, Đế quốc nghiêm ngặt thực thi nền giáo dục thống nhất của Đại Đường và các loại hình văn hóa khác. Ví dụ như về trang phục, nghiêm cấm các loại trang phục truyền thống của thổ dân địa phương, tất cả đều phải mặc Hán phục. Về văn tự, trực tiếp phế bỏ cái gọi là Huấn dân chính âm, thậm chí là sưu tầm và thiêu hủy tất cả các loại sách vở viết bằng thứ chữ đó.

Đồng thời, Đế quốc còn trực tiếp sưu tầm rộng rãi và phong tỏa một số loại sách vở được cho là sách lịch sử trên bán đảo Cao Ly.

Cùng lúc đó, Đế quốc du nhập vào rất nhiều sách vở của Đại Đường. Phiên bản Liêu Đông của Đại Đường Triều Báo cứ ba ngày lại tuyên truyền rằng bán đảo Cao Ly từ xưa đến nay vốn là một phần của Hoa Hạ.

Điều Đế quốc muốn làm chính là triệt để xóa bỏ tính độc lập văn hóa trên bán đảo Cao Ly!

Không chỉ muốn thôn tính bán đảo Cao Ly về mặt quân sự và chính trị, mà còn phải thôn tính triệt để về mặt văn hóa, để tránh việc sau này xảy ra những chuyện như đòi độc lập.

Trong chính sách lớn này, sự cai trị của Đế quốc đối với bán đảo Cao Ly chủ yếu vẫn thiên về công tác chính trị, quân sự và văn hóa. Còn về xây dựng kinh tế thì không đầu tư quá nhiều nguồn lực, chủ yếu là hỗ trợ phát triển nông nghiệp, duy trì dân sinh cơ bản.

Dẫu sao thì lương thực do nông nghiệp sản xuất ra mới là yếu tố mấu chốt nhất để duy trì ổn định xã hội.

Còn về công thương nghiệp, ý kiến của trung ương Đế quốc là tạm thời không cấp vốn hỗ trợ đặc biệt, cũng không có chính sách ưu đãi đặc biệt nào, cứ đối xử như một khu vực bình thường là được.

Không cấp hỗ trợ thực ra cũng là vì lo ngại sau này việc cai trị trên bán đảo Cao Ly sẽ xảy ra bạo loạn, hoặc là phía Phù Tang lại nảy sinh biến cố gì đó khiến bán đảo Cao Ly bị ảnh hưởng.

Ngoài ra, điều này cũng có liên quan mật thiết đến việc bán đảo Cao Ly ít tài nguyên, ít dân số, không phù hợp để phát triển công thương nghiệp quy mô lớn.

Một bán đảo Cao Ly như vậy, trong nội bộ Đế quốc thực chất thuộc về khu vực không được coi trọng mấy. Tuy nhiên, dù là như thế thì vẫn tốt hơn nhiều so với thời đại của triều đại Triều Tiên.

Dù nói thế nào đi nữa, Đế quốc đã mở ra chính sách công thương nghiệp, hoàn toàn khác biệt với các triều đại phong kiến truyền thống. Bán đảo Cao Ly thiếu tài nguyên, dân số cũng không nhiều, lại còn tồn tại vấn đề cơ cấu dân số cực kỳ nghiêm trọng. Nhưng ngay cả như vậy, nhờ vào vị trí gần Phù Tang, bán đảo Cao Ly – đặc biệt là cảng Busan thuộc Đông Giang Phủ – vẫn dựa vào việc giao thương với vùng Phù Tang để đạt được sự phát triển vượt bậc.

Đây là ưu thế do địa lý mang lại, những nơi khác rất khó sao chép.

Đảo Đối Mã trực thuộc Đông Giang Phủ chính là hòn đảo trung chuyển kết nối với Phù Tang, trở thành một trong hai trạm trung chuyển thương mại lớn nhất của Đại Đường với Phù Tang, còn trạm trung chuyển lớn kia đương nhiên là huyện Đại Ngung.

Chỉ là so với huyện Đại Ngung thì sự phát triển của đảo Đối Mã chậm hơn nhiều, tuy nhiên như vậy cũng đã mang lại lợi ích cực lớn cho đảo Đối Mã và cả vùng Đông Giang Phủ.

Thuyền buôn của Đế quốc qua lại Phù Tang có hai tuyến đường chính. Một là xuất phát từ các cảng ở vùng biển phía Đông như Thượng Hải, Ninh Ba, đi qua quần đảo Lưu Cầu rồi đến huyện Đại Ngung, sau đó dùng huyện Đại Ngung làm trung tâm trung chuyển để giao thương với Phù Tang.

Tuyến đường lớn còn lại là xuất phát từ các cảng ở vùng phía Bắc Đế quốc, dọc theo bờ biển bán đảo Cao Ly, sau đó cập cảng Busan để trung chuyển, rồi vượt eo biển Đối Mã, qua đảo Đối Mã trung chuyển, cuối cùng đi đến các cảng ở Phù Tang để giao thương.

Một nam một bắc, đó chính là hai tuyến thương mại Đông Dương lớn. Chỉ là công thương nghiệp vùng phía Bắc Đế quốc vốn không mấy phát triển, cho nên tuyến đường phía Bắc không được sầm uất bằng, chủ yếu vẫn dựa vào tuyến đường Lưu Cầu.

Nhưng dù có yếu hơn một chút, cảng Busan dựa vào tuyến đường này vẫn có được sự phát triển vượt bậc.

Thậm chí để thể hiện sự coi trọng đối với thương mại đường biển, sau khi gửi đơn xin, nha môn Đông Giang Phủ đã trực tiếp chuyển phủ trị tới Busan.

Nơi đây không chỉ là một cảng biển, mà còn là phủ trị của Đông Giang Phủ.

Cảng Busan mà Tống Hoàn Tử nhìn thấy chính là cảng Busan sau nhiều năm phát triển thương mại!

Ấn tượng đầu tiên của nàng về cảng Busan chính là tàu thuyền trong cảng vô cùng nhiều!

Hơn nữa, một phần không nhỏ trong số tàu thuyền đó là tàu biển!

Không chỉ có vô số tàu buôn viễn dương cỡ trung và lớn, mà còn có không ít tàu đánh cá.

Người ta vẫn nói dựa biển ăn biển, ngoài phát triển thương mại trung chuyển đường biển, Đông Giang Phủ đồng thời cũng chú trọng phát triển ngành ngư nghiệp.

Dựa vào nguồn tài nguyên ngư nghiệp phong phú của Bắc Hải, mấy năm gần đây ngành ngư nghiệp của Đông Giang Phủ cũng khá phát triển.

Bắc Hải, tức là vùng biển mà thời nhà Nguyên và đầu thời Minh gọi là Kình Hải, người Cao Ly và triều đại Triều Tiên gọi là Đông Hải. Sau khi Đại Đường thống nhất Hoa Hạ, trong bản đồ cương vực Đế quốc được ban hành, vùng biển này đã được xác định rõ là Bắc Hải.

Về khái niệm Bắc Hải, định nghĩa của nhiều triều đại Hoa Hạ khác nhau. Có lúc là chỉ hồ Baikal, có lúc lại chỉ Bắc Băng Dương. Nhưng trong Đại Đường Đế quốc, Kình Hải được gọi là Bắc Hải, hồ Baikal được gọi là "Tiểu Hải", còn Bắc Băng Dương là Bắc Dương, chứ không dùng tên Bắc Hải để gọi.

Vùng biển Bắc Hải hiện nay đương nhiên cũng đã nằm trong sự kiểm soát của Đại Đường Đế quốc. Tất nhiên, điều này cũng liên quan đến việc vốn chẳng có ai tranh chấp với Đại Đường Đế quốc cả.

Đi về phía Bắc đều là thổ dân, hoàn toàn không có khả năng đi biển quy mô lớn, còn Phù Tang cùng lắm chỉ có vài con thuyền nhỏ, cũng không thể tạo ra chút đe dọa nào đối với sự kiểm soát Bắc Hải của Đại Đường Đế quốc.

Tài nguyên ngư nghiệp của Bắc Hải lại vô cùng phong phú, là cảng lớn nhất ở cực Bắc của Đế quốc, phát triển ngư nghiệp ở đây là một lựa chọn tự nhiên.

Sự tồn tại của thương mại trung chuyển đường biển và ngư nghiệp đã khiến Tống Hoàn Tử nhìn thấy vô số tàu thuyền tại cảng Busan. Ngoài tàu thuyền ra, trên bờ còn có rất nhiều công trình kiến trúc. Tất nhiên, nhà máy xí nghiệp rất ít, nếu có thì cũng chỉ là vài nhà máy chế biến hải sản.

Nhưng dẫu vậy, điều đó vẫn khiến Tống Hoàn Tử thấy được thành phố phồn hoa nhất mà đời nàng từng chứng kiến!

Đặc biệt là khi nàng vô tình biết được rằng, Busan này chỉ là một cảng biển quy mô trung bình dưới quyền cai trị của Đại Đường Đế quốc, nàng lại càng thêm chấn kinh.

Người khác nói, dưới quyền cai trị của Đế quốc, cảng biển quy mô lớn có rất nhiều!

Cảng Thượng Hải, cảng Quảng Châu, hai cảng lớn này ngày đêm có vô số tàu thuyền ra vào, hàng chục vạn người sinh sống bên trong!

Mà ngoài hai cảng lớn này, các thành phố cảng ven biển khác cũng không thể xem thường, gần như cái nào cũng là thành phố cảng quy mô trung đến lớn!

Bao gồm Quỳnh Châu, Lôi Châu, Liêm Châu, Triều Châu, Chương Châu, Tuyền Châu, Phúc Châu, Ninh Ba, Hải Châu, An Đông, Uy Hải, Bồng Lai, Thiên Tân, Kim Châu, Nhân Xuyên, Busan, v.v.

Ngoài các thành phố ven biển kể trên, thực ra một số thành phố cảng nội địa cũng không thể xem nhẹ, thậm chí còn phát triển hơn không ít thành phố ven biển trong số đó.

Trong đó, Kim Lăng thành thì không cần phải nói, chính là thành phố cảng nội địa lớn nhất cả nước, lưu lượng hàng hóa qua cảng chỉ đứng sau hai thành phố cảng ven biển là Thượng Hải và Quảng Châu.

Tiếp theo là Dương Châu, Trấn Giang, Đương Đồ, An Khánh, Cửu Giang, Vũ Xương, Trùng Khánh, Thành Đô, v.v. các thành phố ven sông Trường Giang, cộng thêm Triệu Khánh, Ngô Châu ở sông Tây Giang – Châu Giang, cùng với Hoài An, Khai Phong ở lưu vực sông Vận Hà, sông Hoài, sông Hoàng Hà.

Xét về công thương nghiệp và tổng lượng kinh tế, tổng lượng của các thành phố ven sông nội địa này cũng không hề kém cạnh so với những thành phố ven biển kia.

Tuy nhiên, dù là ven biển hay ven sông, chúng đều có đặc điểm thống nhất, đó chính là dựa vào vận tải đường thủy.

Không còn cách nào khác, thời này muốn làm công thương nghiệp, giao thông là vua!

Trước khi đường sắt và tàu hỏa, dấu hiệu cốt lõi của giao thông đường bộ, phát triển lên, vận tải đường thủy luôn có ưu thế không thể thay thế.

Khi Tống Hoàn Tử nghe người khác nói rằng, thành phố cảng quy mô khổng lồ trước mắt này, lưu lượng hàng hóa và quy mô tổng thể của cảng thậm chí còn không lọt nổi vào top 20, cái miệng nhỏ nhắn của nàng liền há hốc ra.

Sự thật này vượt quá sức tưởng tượng của nàng!

Vì trong mắt nàng, thành phố quy mô như Busan đã vượt xa bất kỳ thành phố nào của Phù Tang rồi. Ít nhất là nàng chưa bao giờ nghe nói trên quần đảo Phù Tang có thành phố nào quy mô lớn như vậy.

Kyoto cũng không bằng!

Mang theo sự chấn kinh, Tống Hoàn Tử cùng các thiếu nữ Phù Tang khác xuống thuyền, sau đó được sắp xếp nơi ở. Chỉ là vài ngày sau, nàng đã tách ra khỏi nhiều thiếu nữ Phù Tang khác, vì nàng đã nói rõ mình sẽ không tham gia xem mắt. Nàng thà làm việc trả tiền vé tàu, chứ không muốn đi xem mắt, gả cho một kẻ chẳng biết là mèo hay chó nào.

Đối với lựa chọn của Tống Hoàn Tử, những người trong Ủy ban Liên hôn đương nhiên sẽ không hề gây khó dễ.

Mặc dù Ủy ban Liên hôn muốn để nam giới trong nước tiêu hóa bớt phụ nữ Phù Tang, nhưng cũng không hề ép buộc. Hơn nữa, trong mắt họ, chỉ cần Tống Hoàn Tử trở thành thần dân của Đế quốc, sinh sống trên đất Đế quốc, sau này sớm muộn gì cũng sẽ gả cho con dân Đại Đường thôi.

Mà thế là đủ rồi!

Phương châm hiện tại của họ rất rõ ràng, đó là đưa một lượng lớn phụ nữ Phù Tang vào trong nước. Còn việc những phụ nữ Phù Tang này cuối cùng gả cho ai, thậm chí không gả chồng, họ cũng không quan tâm.

Chỉ cần những phụ nữ Phù Tang này không ở lại Phù Tang, sinh con đẻ cái cho người Phù Tang là được!

Cho nên, đối với việc xử lý những thiếu nữ Phù Tang này, Ủy ban Liên hôn khá nhân văn. Về cơ bản, nếu ngươi muốn tìm đại một người để gả, họ sẽ sắp xếp xem mắt cho ngươi. Nếu ngươi muốn tự lực cánh sinh, họ sẽ sắp xếp công việc cho ngươi.

Tất nhiên, nếu ngươi có cách khác để tìm người bảo lãnh hoặc chi trả tiền vé tàu, ngươi cũng có thể rời đi ngay. Thiên hạ rộng lớn, ngươi thích đi đâu thì đi.

Nếu tự ngươi có tiền mua vé tàu, và có thể duy trì cuộc sống của mình sau khi đến Đế quốc, họ lại càng hoan nghênh!

Về nguyên tắc, Ủy ban Liên hôn tôn trọng đầy đủ sự lựa chọn tự do của những thiếu nữ Phù Tang này, không hề ép buộc hay can thiệp vào họ!

Ủy ban Liên hôn không phải là kẻ buôn người, càng không phải là kẻ dắt mối. Công việc của họ là tổ chức, vận chuyển phụ nữ Phù Tang vào trong nước.

Một công việc rất đơn giản!

Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.