Về sự thiếu hụt văn hóa
Một nguyên nhân khác của cảm giác thiếu hụt là việc con người dường như chia thế giới thành hai phần, bình thường và bất bình thường, với tốc độ và sự ngạo mạn đáng ngạc nhiên. Kinh nghiệm và niềm tin của chúng ta thường xuyên bị bác bỏ bằng những câu cảm thán giễu cợt, có phần hơi hoảng hốt như “Thật vậy sao? Kỳ lạ thật!”, đi kèm với một cái nhướng mày, và từng bước một, nó dẫn đến sự chối bỏ nhân tính và sự chính đáng của ta.
Mùa hè năm 1580, Montaigne thực hiện khát vọng của đời mình và bắt đầu chuyến đi đầu tiên ra ngoài biên giới nước Pháp. Ông khởi hành bằng ngựa đến Rome qua Đức, Áo và Thụy Sĩ. Cùng đi với ông có bốn nhà quý tộc trẻ, trong đó có em trai ông là Bertrand de Mattecoulon, và một chục người hầu. Họ sẽ xa nhà trong 17 tháng, vượt qua 3.000 dặm (tương đương 4.827 kí lô mét). Trong số các thành phố họ đi qua có Basle, Baden, Schaffhausen, Augsburg, Innsbruck, Verona, Venice, Padua, Bologna, Florence và Siena - họ đến Rome vào buổi tối ngày cuối cùng của tháng Mười một năm 1580.
Trong chuyến hành trình, Montaigne quan sát sự thay đổi lớn trong quan niệm của con người ở những vùng đất khác nhau về cái được gọi là bình thường. Trong các nhà trọ ở Thụy Sĩ, người ta cho rằng điều bình thường là giường phải được kê cao hơn so với nền nhà, và để trèo lên giường cần phải có bậc thang, phải có những tấm rèm xinh đẹp bao quanh tường và khách trọ phải có phòng riêng. Cách đó vài dặm, ở Đức, người ta cho rằng giường phải đặt sát nền nhà, không có rèm xung quanh và khách trọ ở bốn người một phòng. Chủ nhà trọ ở Đức mang cho khách chăn lông thay vì loại chăn thường thấy ở các nhà trọ Pháp, ở Basle, người ta không thêm nước vào rượu vang và bữa ăn có sáu hay bảy món, và ở Baden, người ta chỉ ăn cá vào ngày thứ Tư. Ngôi làng nhỏ nhất ở Thụy Sĩ cũng có hai cảnh sát canh gác; người Đức cứ 15 phút lại rung chuông một lần, ở một số làng, họ còn rung chuông mỗi phút một lần. Ở Lindau có món xúp nấu bằng quả mộc qua, món chính được mang lên trước món xúp và bánh mì được làm với rau thì là.
Du khách Pháp thường rất khó chịu vì sự khác biệt này. Ở khách sạn, họ tránh xa những món ăn lạ và yêu cầu những món bình thường mà họ quen. Họ không nói chuyện với ai phạm phải lỗi là không nói ngôn ngữ của họ, và cẩn trọng nhặt sạch rau thì là ra khỏi bánh mì, Montaigne quan sát họ từ bàn của mình:
Một khi đã đi khỏi làng mình, họ giống như cá mắc cạn. Đi đến đâu họ cũng giữ thói quen của mình và nguyền rủa những phong tục lạ. Nếu gặp đồng hương ... họ vô cùng sung sướng... Với sự cẩn trọng mang dáng vẻ khinh khỉnh và lầm lì, họ quấn trên mình chiếc áo choàng và bảo vệ bản thân tránh khỏi sự ô nhiễm của những vùng đất lạ.
Vào giữa thế kỷ 15, ở các bang miền Nam nước Đức, người ta đã nghĩ ra phương pháp sưởi nhà mới: Kastenofen, một lò sưởi bằng sắt dạng hộp có thể tự đứng, được làm từ các đĩa hình chữ nhật gắn vào với nhau, trong đó than hoặc củi sẽ được đốt nóng. Chúng mang lại rất nhiều lợi ích trong mùa đông dài. Lò sưởi kín có thể tỏa nhiệt gấp bốn lần so với lò sưởi mở trong khi tiêu tốn ít nhiên liệu hơn và không cần ống khói. Nhiệt được hấp thụ bởi phần vỏ bao ngoài, được phân tán chậm và đều ra không khí bên ngoài. Xung quanh lò sưởi có lỗ để thoát khí và hong khô quần áo và các gia đình có thể dùng khu vực lò sưởi làm nơi sinh hoạt gia đình trong mùa đông.
Nhưng người Pháp không mấy ấn tượng. Họ nghĩ rằng lò sưởi mở rẻ hơn; họ chê lò sưởi Đức không cung cấp ánh sáng và hút quá nhiều lượng ẩm trong không khí, khiến cho căn phòng trở nên ngột ngạt.
Đây là sự không thông hiểu lẫn nhau giữa các vùng. Tháng Mười năm 1580 tại Augsburg, Montaigne gặp một người Đức đã nói một tràng dài chỉ trích cách người Pháp làm hệ thống lò sưởi mở, và sau đó nói về những ích lợi của lò sưởi bằng sắt. Khi nghe nói Montaigne sẽ chỉ ở lại thị trấn vài ngày (ông đến ngày 15 và sẽ rời đi vào ngày 19), người kia tỏ vẻ thương hại, cho rằng một trong số những điều bất tiện khi rời Augsburg là “cảm giác nặng đầu” khi trở lại với lò sưởi mở - chính cái “cảm giác nặng đầu” mà người Pháp từ lâu vẫn chỉ trích lò sưởi bằng sắt.
Montaigne xem xét vấn đề một cách cặn kẽ hơn. Ở Baden, ông nghỉ trong căn phòng có lò sưởi bằng sắt, và một khi đã quen với mùi mà nó tỏa ra, ông cảm thấy khá thoải mái. Ông ghi lại rằng lò sưởi sắt cho phép ông mặc quần áo mỏng, không cần khoác thêm áo choàng lông, và vài tháng sau, vào một buổi tối lạnh ở Italy, ông bày tỏ sự tiếc nuối rằng nhà trọ không có lò sưởi sắt.
Khi trở về nhà, ông lần lượt cân nhắc điểm mạnh, điểm yếu của từng hệ thống sưởi:
Đúng là lò sưởi sắt mang lại hơi nóng ngột ngạt và chất liệu của nó khi bị làm nóng sinh ra mùi gây đau đầu cho những người không quen... Mặt khác, do hơi nóng tỏa rộng, đều, và ổn định, không có ngọn lửa, khói và gió lùa từ ống khói, nó có khá nhiều lợi thế khi so sánh với hệ thống sưởi của chúng ta.
Như vậy, điều khiến Montaigne khó chịu là niềm tin quả quyết, không được kiểm nghiệm của cả người đàn ông ở Augsburg lẫn người Pháp rằng hệ thống sưởi của mình mới là ưu việt. Nếu như khi từ Đức về, Montaigne cho lắp đặt một cái lò sưởi sắt giống như ở Augsburg trong thư viện của mình thì những người Pháp đồng hương của ông chắc hẳn cũng chào đón nó với sự ngờ vực mà họ dành cho bất kỳ cái gì mới mẻ:
Mỗi dân tộc đều có nhiều phong tục và tập quán mà với dân tộc khác, chúng không chỉ lạ mà còn man rợ và đáng kinh ngạc.
Trong khi rõ ràng là chẳng có gì man rợ hoặc đáng kinh ngạc về một cái lò sưởi sắt hay lò sưởi đốt củi. Định nghĩa về sự bình thường của bất kỳ xã hội nào xem ra cũng chỉ nắm bắt được một phần nhỏ của bể trải nghiệm mênh mông, rất hợp lý nhưng lại bị chỉ trích một cách vô lối, của cái mà xã hội đó cho là xa lạ. Với việc chỉ cho người đàn ông từ Augsburg và người hàng xóm xứ Gascony thấy rằng một cái lò sưởi bằng sắt hay lò sưởi đốt củi đều có vị trí chính đáng trong tập hợp các hệ thống sưởi có thể chấp nhận được, Montaigne muốn mở rộng quan niệm mang tính địa phương của độc giả về sự bình thường - và tiếp bước nhà triết học ưa thích của ông:
Khi người ta hỏi Socrates từ đâu tới, ông không trả lời “Từ Athens” mà là “Từ thế giới”.
Thế giới này đã chứng tỏ nó khác biệt hơn nhiều so với tưởng tượng của bất kỳ ai ở châu Âu thời đó. Thứ Sáu, ngày 12 tháng Mười năm 1492, 41 năm trước khi Montaigne ra đời, Christopher Columbus cập bến một hòn đảo thuộc quần đảo Bahamas ở cửa vịnh Florida và tiếp xúc với vài thổ dân da đỏ Guanahani, những người chưa bao giờ nghe nói đến Chúa Jesus và đi lại hoàn toàn khỏa thân.
Montaigne đặc biệt quan tâm đến chủ đề này. Trong thư viện hình tròn của ông có mấy cuốn sách về cuộc sống của các bộ lạc da đỏ ở châu Mỹ, trong đó có cuốn Khái quát lịch sử người da đỏ của Francisco Lopez de Gomara, Lịch sử Tân thế giới của Girolamo Benzoni và Chuyến du hành đến Brazil của Jean de Léry. Ông đọc được rằng ở Nam Mỹ, người ta thích ăn nhện, châu chấu, kiến, thằn lằn và dơi: “Họ nấu chúng lên và dọn kèm với các loại xốt khác nhau.” Có những bộ tộc châu Mỹ mà ở đó các trinh nữ để vùng kín của mình lộ thiên, cô dâu tham gia sex tập thể trong ngày cưới, đàn ông được cưới nhau, còn người chết thì được nấu chín, xay thành cháo, trộn với rượu và người thân của họ sẽ uống hỗn hợp đó trong bữa tiệc tâm linh. Có nơi phụ nữ đi tiểu đứng còn đàn ông thì tiểu ngồi, đàn ông để lông ở phần trước cơ thể và cạo sạch phía sau. Có nơi đàn ông được cắt bao quy đầu, trong khi ở nơi khác, việc để cho phần đầu của cậu nhỏ nhìn thấy ánh mặt trời là rất đáng sợ, thế nên họ “cẩn trọng kéo miếng da che kín nó và buộc lại bằng những sợi dây nhỏ”. Có nơi bạn chào hỏi người khác bằng cách quay lưng lại phía họ, và ở đó, khi nhà vua nhổ nước bọt, viên cận thần sẽ đưa tay ra, và sau đó những người có mặt sẽ “gom thứ chất nhầy mà ông thải ra bằng một miếng vải”. Mỗi nước đều có quan niệm khác nhau về cái đẹp:
Ở Peru, tai to là đẹp: họ kéo tai dài hết mức có thể. Một người đàn ông vẫn còn sống đến ngày nay nói rằng ông từng thấy có một đất nước ở phía Đông nơi tập tục kéo tai và đeo đầy trang sức lên tai được coi trọng đến mức ông có thể đưa tay, quần áo và nhiều thứ khác qua lỗ tai của những người phụ nữ ở đó. Có những nơi mà tất cả mọi người đều nhuộm răng đen rất cẩn thận và ghê tởm những hàm răng trắng. Có nơi người ta nhuộm răng màu đỏ... Phụ nữ Mexico cho rằng trán ngắn là biểu hiện của cái đẹp, vì thế, họ nhổ hết tóc và lông trên cơ thể nhưng để tóc mọc dày trên trán và còn cấy tóc giả. Họ coi ngực lớn là điều đáng tự hào đến mức vắt vú qua vai và cho con bú từ đằng sau lưng.
Từ cuốn sách của Jean de Léry, Montaigne biết rằng các bộ lạc Tupi ở Brazil ở trần trong trang phục nguyên thủy của Adam và Eva và không hề tỏ ra xấu hổ (trên thực tế, khi người châu Âu đưa quần áo cho phụ nữ Tupi mặc, họ cười khúc khích và từ chối, không hiểu tại sao lại có người muốn khoác lên mình thứ đồ vướng víu khó chịu như vậy).
Người làm tranh khắc cho De Léry (người đã sống cùng các bộ lạc suốt tám năm trời) đã chú ý đính chính lại tin đồn lan truyền ở châu Âu rằng người Tupi đầy lông lá như động vật (theo lời de Léry: “Ils ne sont point naturellement poilus que nous ne sommes en ce pays”). Đàn ông cạo trọc đầu còn phụ nữ thì nuôi tóc dài và buộc tóc bằng những cái dây màu đỏ. Thổ dân Tupi thích tắm gội; mỗi khi thấy sông họ đều nhảy xuống và kỳ cọ cho nhau. Họ có thể tắm đến 12 lần mỗi ngày.
Họ sống trong những căn nhà dài giống như nhà kho có thể chứa đến 200 người. Giường của họ được dệt từ sợi bông và treo giữa các cột giống như những chiếc võng (khi đi săn, người Tupi mang theo giường và mắc chúng vào giữa hai cái cây để ngủ trưa), Cứ sáu tháng một lần, cả làng sẽ chuyển đi chỗ khác vì họ nghĩ rằng thay đổi môi trường xung quanh sẽ tốt cho mình (“Ils n’ont d’autre réponse, sinon de dire que changeant l’air, ils se portent mieux” - de Léry). Cuộc sống của người Tupi được tổ chức tốt đến mức họ thường thọ đến 100 tuổi và không bao giờ có tóc trắng hay tóc sâu khi về già. Họ cũng rất mực hiếu khách. Khi có người lạ đến làng, phụ nữ sẽ che mặt, hò reo và kêu lên thật to: “Bạn khỏe không? Bạn thật vất vả khi ghé thăm chúng tôi!” Lữ khách sẽ lập tức được mời thức uống ưa thích của người Tupi làm từ rễ một loại cây và nhuộm màu rượu vang, có vị hăng nhưng tốt cho dạ dày.
Đàn ông Tupi được lấy nhiều hơn một vợ và yêu chiều mỗi bà vợ như nhau. Montaigne viết: “Toàn bộ hệ thống luân lý của họ chỉ bao gồm hai điều: kiên cường trong chiến trận và yêu những người vợ của mình.” Và những người vợ tỏ ra hạnh phúc với sự sắp đặt này, không hề thể hiện sự ghen tuông (quan hệ tình dục rất thoáng, chỉ có điều cấm kỵ duy nhất là không được ngủ với họ hàng gần). Montaigne, với bà vợ ở tầng dưới của tòa lâu đài, rất thích thú với chi tiết này:
Một đặc điểm đẹp đáng chú ý của các cuộc hôn nhân đó là: nếu như các bà vợ của chúng ta dành nhiều công sức cho việc ngăn cản các ông chồng đem tình yêu và sự dịu dàng đi cho các cô gái khác thì các bà vợ của họ cũng dành sự tận tâm như thế cho việc tìm các cô gái cho chồng. Vì họ quan tâm đến danh dự của chồng hơn bất kỳ điều gì khác nên họ tìm mọi cách giúp chồng lấy được càng nhiều vợ càng tốt, bởi vì đó là bằng chứng cho lòng dũng cảm của người chồng.
Tất cả những điều này rõ ràng rất kỳ lạ. Montaigne thì không thấy chúng bất thường chút nào.
Ông chỉ là thiểu số. Ngay sau phát hiện của Columbus, thực dân Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha bắt đầu tới khai thác vùng đất mới và quyết định rằng người bản địa chỉ hơn động vật một chút. Hiệp sĩ Kitô Viilegagnon nói về họ như là “thú vật với bộ mặt con người”, Richer, mục sư dòng Calvin, cho rằng họ không có ý thức về đạo đức; và bác sĩ Laurent Joubert, sau khi kiểm tra năm phụ nữ Brazil, đã kết luận rằng họ không có kinh nguyệt và do đó không thuộc về loài người.
Sau khi tước bỏ nhân tính của họ, người Tây Ban Nha bắt đầu tàn sát họ như con vật. Đến năm 1534, 42 năm sau khi Columbus đặt chân lên xứ này, đế chế Aztec và Inca bị phá hủy, các dân tộc bị bắt làm nô lệ hoặc tàn sát. Montaigne đọc về sự man rợ này trong cuốn Tường thuật của Brevissima về Sự tàn sát người Anh-điêng của Bartolomeo Las Casas (cuốn sách này được in tại Seville năm 1552 và được dịch ra tiếng Pháp với nhan đề Tyrannies et cruautés des Espagnols perpétrées es Indes occidentales qu’on dit le Nouveau Monde). Người Anh-điêng bị sát hại bởi chính lòng hiếu khách và vũ khí thô sơ của họ. Họ mở cửa những ngôi làng và thị trấn để chào đón người Tây Ban Nha, để rồi chứng kiến những vị khách đó quay lưng phản lại khi họ ít đề phòng nhất. Các loại vũ khí nguyên thủy của họ không thể sánh được với súng thần công và kiếm của người Tây Ban Nha, và những conquistadores đó không hề tỏ sự thương hại nào đối với các nạn nhân. Họ giết trẻ em, mổ bụng phụ nữ mang thai, móc mắt, thiêu sống cả gia đình và đốt cháy các ngôi làng trong đêm.
Họ huấn luyện chó rồi thả chúng vào rừng nơi người Anh-điêng chạy trốn và để lũ chó xé họ ra từng mảnh.
Đàn ông bị đưa tới làm việc tại các mỏ vàng và mỏ bạc, bị xích lại với nhau bằng cùm sắt. Khi một người chết, cơ thể anh ta bị cắt khỏi chiếc cùm, trong khi những người khác, ở vị trí trước và sau, vẫn tiếp tục làm việc. Phần lớn người Anh-điêng không chịu nổi quá ba tuần làm việc ở các mỏ. Phụ nữ bị hãm hiếp và tra tấn trước mặt chồng.
Kiểu hành hạ được ưa thích là xẻ cằm và mũi. Las Casas kể lại việc một phụ nữ khi nhìn thấy quân Tây Ban Nha đang tiến đến cùng đàn chó, đã treo cổ cùng đứa con. Một binh sĩ đi tới, dùng kiếm xẻ đứa trẻ làm đôi, quẳng cho lũ chó một nửa rồi bảo thầy dòng thực hiện nghi lễ cuối cùng để đứa trẻ được lên thiên đàng.
Đàn ông và đàn bà bị buộc phải sống tách biệt, đau khổ và lo sợ khiến cho người Anh-điêng tự tử hàng loạt. Trong khoảng thời gian từ khi Montaigne ra đời, năm 1533, đến khi tập thứ ba của bộ Tiểu luận được xuất bản, năm 1588, dân số người bản địa ở Tân Thế giới ước tính đã giảm từ 80 đến 100 triệu người.
Người Tây Ban Nha đã tàn sát người Anh-điêng với lương tâm không hề cắn rứt bởi vì họ tự tin rằng họ biết một người bình thường là như thế nào. Lý trí bảo họ rằng người bình thường là người mặc quần túm ống, có một vợ, không ăn nhện và ngủ trên giường:
Chúng ta không hiểu tí gì về ngôn ngữ của họ; cách cư xử và thậm chí cả hình dáng và quần áo họ mặc cũng khác xa so với chúng ta. Liệu có ai trong số chúng ta không cho rằng họ là những kẻ cục súc và man rợ? Ai trong số chúng ta không cho sự im lặng của họ là biểu hiện của sự ngu si và đần độn?
Dù sao đi nữa thì họ cũng không biết gì về những cái hôn tay hay cúi chào thật thấp và đầy phức tạp của chúng ta. Họ có thể trông giống như con người. À! Nhưng họ không mặc quần ống túm...
Đằng sau sự tàn sát này là một lập luận bừa bãi. Việc tách bạch cái bình thường với bất bình thường thường được thực hiện thông qua một kiểu logic quy nạp, trong đó chúng ta rút ra kết luận chung từ những trường hợp cụ thể (một nhà logic học sẽ nói như sau: từ việc quan sát rằng A1 là ø, A2 là ø và A3 là ø, chúng ta đi đến kết luận rằng “Tất cả A đều là ø”). Để nhận xét ai đó có thông minh hay không, chúng ta dựa vào những đặc tính phổ biến ở tất cả những người thông minh mà ta từng gặp từ trước đến nay. Nếu chúng ta gặp một người thông minh trông giống như người trong bức tranh số 1, một người khác giống số 2, và một người nữa giống số 3, chúng ta có xu hướng kết luận rằng người thông minh thì đọc nhiều, mặc đồ màu đen và mang vẻ trang nghiêm. Có nguy cơ chúng ta sẽ cho rằng người trông giống như người trong bức tranh số 4 là kẻ ngu si, và có thể sau đó giết chết họ.
Những du khách người Pháp tỏ ra ghê sợ việc đặt lò sưởi kiểu Đức trong phòng ngủ có lẽ đã từng biết đến một số loại lò sưởi tốt ở nước mình trước khi tới Đức, từ đó họ kết luận rằng điều cốt yếu của một hệ thống sưởi tốt là buồng đốt mở.
Montaigne thấy phiền lòng về sự ngạo mạn trí tuệ đó. Những kẻ man rợ có tồn tại ở Nam Mỹ, nhưng đó không phải là những người ăn nhện:
Mọi người gọi cái mà mình không quen là mọi rợ; chúng ta không có tiêu chuẩn nào khác cho chân lý hoặc lẽ phải hơn là những ví dụ và hình mẫu quan niệm và tập quán của chính đất nước mình. Ở đó chúng ta luôn tìm thấy tôn giáo hoàn hảo, chính thể hoàn hảo, cách thức hoàn hảo và tiến bộ nhất để làm mọi việc!
Montaigne không cố phân biệt giữa man rợ với văn minh; có sự khác biệt về giá trị trong tập quán của mỗi quốc gia (thuyết tương đối văn hóa cũng thô thiển như là chủ nghĩa dân tộc). Ông chỉ đang thay đổi cách mà chúng ta phân biệt. Đất nước chúng ta có thể có nhiều điểm tốt, nhưng chúng tốt hay không không phụ thuộc vào việc đó là đất nước của chúng ta. Một miền đất xa lạ có thể có nhiều điểm xấu, nhưng chúng không thể bị coi là xấu chỉ dựa trên thực tế là những tập quán của nước đó xa lạ với chúng ta. Tính dân tộc và sự quen thuộc là những tiêu chuẩn nực cười để đánh giá cái gì là tốt.
Tập quán của người Pháp cho rằng nếu anh muốn xì mũi thì phải xì vào khăn tay. Nhưng Montaigne có một người bạn, sau khi suy nghĩ về việc này, đã cho rằng tốt hơn hết là nên xì mũi thẳng vào tay:
Để biện hộ cho hành động của mình, anh ta hỏi tôi rằng tại sao cái chất nhầy bẩn thỉu ấy lại có đặc ân được chúng ta chuẩn bị một miếng vải đẹp để hứng lấy, gói lại rồi mang theo người một cách cẩn thận... Tôi cho rằng điều anh ta nói không phải hoàn toàn vô lý, nhưng thói quen đã ngăn tôi nhận ra chính sự kỳ lạ đó, một tập tục kiểu như thế mà diễn ra ở nước khác thì có lẽ chúng ta đã thấy thật kinh tởm.
Cho rằng phải đánh giá hành vi dựa trên lập luận cẩn trọng thay vì thiên kiến, Montaigne bực mình với những người vô tình đánh đồng cái không quen thuộc với sự thiếu hụt, do đó bỏ qua bài học cơ bản nhất của sự khiêm tốn về trí tuệ mà nhà triết học cổ đại vĩ đại nhất đã dạy chúng ta:
Người khôn ngoan nhất từ trước đến nay là người mà khi được hỏi anh biết gì, trả lời rằng điều duy nhất mà tôi biết đó là tôi không biết gì cả.
Vậy chúng ta cần làm gì khi đối mặt với gợi ý về sự bất bình thường được ngụy trang bằng một câu cảm thán giễu cợt, có phần hơi hoảng hốt như “Thật vậy sao? Kỳ lạ thật!”, đi kèm với một cái nhướng mày, và từng bước một, nó dẫn đến sự chối bỏ nhân tính và sự chính đáng, một phản ứng mà người bạn của Montaigne gặp phải ở Gascony khi anh ta xì mũi vào tay, và cũng kiểu phản ứng đó, ở thái cực cực đoan nhất, đã dẫn đến sự tận diệt các bộ lạc Nam Mỹ?
Có lẽ chúng ta nên nhớ đến ảnh hưởng của lịch sử và địa lý đối với việc điều gì đó bị cáo buộc là bất bình thường. Để bớt bị chúng trói buộc, chúng ta chỉ cần tiếp xúc nhiều hơn với những phong tục tập quán đa dạng cả về không gian và thời gian. Cái được coi là bất bình thường ở một nhóm người tại một thời điểm có thể không, và sẽ không mãi mãi bị coi là bất bình thường. Chúng ta có thể vượt qua những đường ranh giới trong đầu óc mình.
ĐIỀU GÌ ĐƯỢC COI LÀ BẤT BÌNH THƯỜNG Ở ĐÂU
Montaigne chất đầy trong thư viện của mình những cuốn sách giúp ông vượt qua ranh giới của thiên kiến. Ở đó có sách lịch sử, du ký, báo cáo của các đoàn truyền giáo và thuyền trưởng, tác phẩm văn học của các nước khác và các bộ sách có hình minh họa những bộ lạc bôi lên người những thứ kỳ lạ, ăn các loài cá không ai biết tên. Qua những cuốn sách này, Montaigne tìm thấy sự chính đáng cho những phần thuộc về bản thân mình mà ông không thể tìm thấy ở xung quanh - phần La Mã, phần Hy Lạp, phần con người ông gần với Mexico và Tupi hơn là Gascony, phần muốn có sáu vợ hay tấm lưng cạo nhẵn hay tắm 12 lần một ngày; ông cảm thấy đỡ cô đơn hơn khi đọc Biên niên sử của Tacitus, đọc về lịch sử Trung Hoa của Gonzalez de Mendoza, về lịch sử Bồ Đào Nha của Goulart, về lịch sử Ba Tư của Lebelski, về những chuyến du hành quanh châu Phi của Leo Africanus, về lịch sử Cyprus của Lusignano, bộ sưu tập của Postel về lịch sử Thổ Nhĩ Kỳ và phương Đông, và cuốn Vũ trụ học của Muenster (hứa hẹn có tranh vẽ về “những con vật kỳ lạ” (“animaulx estranges”).
Nếu cảm thấy bị áp lực bởi tuyên bố của những người khác về chân lý phổ quát, ông có thể, theo một cách tương tự, lôi ra những học thuyết về vũ trụ của tất cả các nhà triết học cổ đại vĩ đại và có thể thấy sự khác biệt nực cười giữa những học thuyết này, cho dù mỗi nhà triết học đều tin rằng mình sở hữu chân lý toàn thiện. Sau khi tiến hành nghiên cứu so sánh, Montaigne thú nhận một cách châm biếm rằng ông không biết phải tin vào:
“Những ý niệm” của Plato, nguyên tử của Epicurus, chất lỏng vô hình (plenum) và chân không (vacuum) của Leucippus và Democritus, nước của Thales, sự vô tận của Tự nhiên của Anaximander, hay nguyên tố thứ năm (aether) của Diogenes, con số và tính đối xứng của Pythagoras, vô cực của Parmenides, Nhất thể của Musaeus, nước và lửa của Apollodorus, hạt đồng nhất của Anaxagoras, sự xung khắc và hòa hợp của Empedocles, lửa của Heraclitus, hay bất kỳ quan điểm nào được rút ra từ mớ hỗn loạn vô tận gồm những phán đoán và học thuyết sinh ra từ lý trí cao quý của con người, với tất cả sự chắc chắn và rõ ràng của nó.
Việc khám phá ra những thế giới mới và các văn liệu cổ đại đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến cái mà Montaigne miêu tả là “sự ngạo mạn đáng buồn và sự hiếu chiến có lòng trung thành cùng niềm tin trọn vẹn vào chính nó”:
Bất kỳ ai biết tập hợp lại một cách thông minh những dấu hiệu của sự ngu như lừa của trí khôn con người sẽ có một câu chuyện tuyệt vời để kể... Chúng ta sẽ biết nên nghĩ như thế nào về Con người, về ý thức và lý trí của Con người, khi tìm thấy những sai lầm hiển nhiên và tệ hại ở chính những nhân vật quan trọng, những người đã đưa trí tuệ con người lên tới đỉnh cao.
Chuyến du hành vòng quanh châu Âu trên lưng ngựa trong suốt 17 tháng cũng mang lại nhiều ích lợi. Sự chứng thực về những đất nước khác và những cách sống khác làm giảm đi không khí đè nén nặng nề của chính xứ xở quê hương Montaigne. Điều mà một xã hội cho là kỳ lạ thì xã hội khác, một cách hợp lý hơn, lại cho là bình thường.
Những vùng đất khác có thể trả lại cho chúng ta cảm giác về điều khả dĩ mà sự ngạo mạn của chính quê hương ta đã bác bỏ; chúng khuyến khích ta biết chấp nhận bản thân mình hơn. Quan niệm về sự bình thường của mỗi nơi - Athens, Augsburg, Cuzco, Mexico, Rome, Seville, Gascony - đều có chỗ cho chỉ một vài khía cạnh của bản chất con người chúng ta, trong khi quy chụp tất cả những thứ còn lại là man rợ và kỳ dị. Mỗi người đều có thể là một chỉnh thể hoàn thiện của con người, nhưng dường như không một quốc gia nào có thể dung nạp hết được sự phức tạp của chỉnh thể đó.
Trong số 57 câu mà Montaigne khắc trên những thanh dầm của trần thư viện, có một câu sau của Terence:
Homo sum, humani a me nihil alienum puto.
Tôi là con người, không gì thuộc về con người lại xa lạ với tôi.
Với việc vượt qua những đường ranh giới, trên lưng ngựa và trong trí tưởng tượng, Montaigne muốn chúng ta hãy đổi những thiên kiến mang tính địa phương và sự tự chia rẽ mà chúng gây ra để lấy những bản thể ít trói buộc hơn, đó là những công dân thế giới.
Một niềm an ủi khác cho những cáo buộc về sự bất bình thường là tình bạn. Một người bạn là người mà ngoài những thứ khác, đủ tử tế để coi chúng ta là người bình thường hơn so với sự đánh giá của phần lớn mọi người. Chúng ta có thể chia sẻ với bạn bè những nhận xét mà với người khác ta không thể chia sẻ vì chúng quá chua cay, gợi dục, tuyệt vọng, ngớ ngẩn, thông minh hoặc yếu đuối - tình bạn là âm mưu nho nhỏ chống lại cái mà mọi người cho là hợp lý.
Giống như Epicurus, Montaigne tin rằng tình bạn là một phần thiết yếu của hạnh phúc:
Tôi cho rằng sự ngọt ngào của một tình bạn tương hợp là vô giá. Ôi! Một người bạn! Cái nhận xét từ thời cổ đại ấy mới đúng làm sao: rằng được gặp một người bạn thường xuyên còn dịu dàng hơn nước, còn cần thiết hơn lửa.
Montaigne đã may mắn có được một tình bạn như thế trong một thời gian. Năm 25 tuổi, ông được giới thiệu với nhà văn 28 tuổi và là nghị sĩ Nghị viện Bordeaux, Étienne de La Boétie. Đó là tình bạn từ cái nhìn đầu tiên:
Chúng tôi đi tìm nhau trước khi mắt chạm mắt vì những thông tin mà người này đã được nghe về người kia, chúng tôi đón nhận nhau bằng tên. Trong buổi gặp gỡ đầu tiên, tình cờ là nó diễn ra ở một lễ hội đông đúc của thành phố, chúng tôi thấy quá bị cuốn hút vào nhau, quá biết nhau, quá gắn bó với nhau, đến nỗi từ đó trở đi, không có gì gần gũi chúng tôi hơn là người kia nữa.
Montaigne tin rằng một tình bạn như thế 300 năm mới có một lần, nó không có điểm gì chung với những mối quan hệ nhạt nhẽo thường được gán mác tình bạn:
Cái mà chúng ta gọi là bạn bè và tình bạn không là gì hơn ngoài những mối quen biết và quan hệ thân thuộc, gắn với nhau bởi sự tình cờ hoặc vài điểm chung, nhờ chúng mà tâm hồn chúng ta nâng đỡ lẫn nhau. Trong tình bạn mà tôi đang nói đến, những tâm hồn được hòa trộn và tan vào nhau thành một hỗn hợp đồng nhất đến mức nó xóa nhòa cái đường nối đã kết chúng lại với nhau, để không ai tìm thấy đường nối ấy nữa.
Tình bạn đó chắc hẳn đã không quý giá đến thế nếu như phần lớn những người xung quanh không đáng thất vọng đến như vậy, nếu như Montaigne đã không phải che giấu quá nhiều thứ thuộc về bản chất con người ông khi đứng trước họ. Sự gắn bó sâu sắc của Montaigne với La Boétie cho thấy mức độ mà ông buộc phải trưng ra cái hình ảnh đã qua kiểm duyệt của bản thân mình trong quan hệ với những người khác, để tránh sự nghi ngờ và những cái nhướng mày. Nhiều năm sau đó, Montaigne phân tích nguồn gốc của tình cảm ông dành cho La Boétie:
Luy seul jouyssoit de ma vraye image.
Chỉ mình anh ta có đặc quyền biết hình ảnh thực của tôi.
Nghĩa là, La Boétie người duy nhất trong số những người quen biết Montaigne - hiểu đúng về ông. La Boétie cho phép ông là chính mình; bằng tâm lý nhạy bén của mình, La Boétie cho phép Montaigne làm như vậy. Ông cho Montaigne không gian để thể hiện những khía cạnh có giá trị của bản thân, mà cho đến lúc đó vẫn bị người khác bỏ qua - điều này cho thấy chúng ta chọn bạn bè không chỉ vì họ tử tế và thú vị, mà có lẽ quan trọng hơn là vì họ hiểu chúng ta như cách mà ta nghĩ về bản thân mình.
Quãng thời gian tuyệt vời ấy ngắn ngủi đến đau lòng. Bốn năm sau lần gặp gỡ đầu tiên, vào tháng Tám năm 1563, La Boétie bị đau bụng và qua đời vài ngày sau đó. Mất mát ấy đã ám ảnh Montaigne suốt đời:
Thật lòng mà nói nếu so sánh phần còn lại của cuộc đời tôi với bốn năm mà tôi có được tình bằng hữu ngọt ngào của một con người như thế, thì nó chẳng khác nào khói bụi và tro tàn, chẳng khác nào đêm đen ảm đạm. Từ ngày mất đi người bạn ấy... tôi chỉ còn mệt mỏi lê bước trên đường đời.
Xuyên suốt toàn bộ Tiểu luận là những lời bộc bạch về niềm khát khao có được một người bạn tâm giao như người bạn đã mất. 18 năm sau cái chết của La Boétie, Montaigne vẫn trải qua những quãng thời gian đau buồn vì nhớ thương. Tháng Năm năm 1581, ở La Villa gần Lucca, nơi nghỉ dưỡng của Montaigne, ông viết trong nhật ký du hành rằng mình đã dành nguyên một ngày đắm chìm trong “những suy nghĩ đau đớn về Monsieur de La Boétie. Tôi đã chìm trong tâm trạng này quá lâu, không thể hồi phục được, đến mức nó gây ra nhiều tác hại”.
Ông không bao giờ được may mắn như thế trong tình bạn nữa nhưng đã tìm ra cách bù đắp tốt nhất. Trong cuốn Tiểu luận, bằng phương tiện khác, ông tái hiện hình ảnh thực của mình mà La Boétie từng nhìn ra. Ông trở thành chính bản thân mình trên trang giấy, như đã từng là chính mình trước người bạn đó.
Sự nghiệp viết lách của ông khởi nguồn từ nỗi thất vọng với những người xung quanh nhưng nó cũng hàm chứa hy vọng rằng có ai đó ở đâu đó sẽ thấu hiểu; cuốn sách của ông dành cho mọi người nhưng cũng không dành cho người nào cụ thể. Ông hiểu rõ nghịch lý của việc bộc lộ cái tôi sâu thẳm nhất của mình ra trước những người lạ trong hiệu sách:
Nhiều điều tôi không muốn nói cho bất kỳ ai biết thì tôi nói ra với công chúng, và nếu những người bạn trung thành nhất muốn biết những bí mật sâu kín nhất của tôi, tôi giới thiệu họ đến hiệu sách.
Tuy thế, chúng ta vẫn nên biết ơn nghịch lý này. Hiệu sách là điểm đến giá trị nhất cho những người cô đơn, nếu chúng ta để ý đến số lượng sách được viết ra bởi vì tác giả không thể tìm được ai chuyện trò.
Montaigne có thể đã bắt đầu viết sách để xoa dịu nỗi cô đơn nhưng cuốn sách của ông cũng có thể giúp chúng ta xoa dịu nỗi cô đơn của chính mình, dù ít hay nhiều. Bức chân dung tự họa chân thực, không che đậy của con người, trong đó ông nhắc đến sự bất lực và đánh trung tiện giúp chúng ta cảm thấy bớt lẻ loi khi nghĩ đến những khía cạnh của bản thân đã bị bỏ qua khi ở bên người khác hoặc ở bên những chân dung bình thường khác, nhưng những khía cạnh ấy dường như là một phần không thể chối bỏ của nguyên bản con người chúng ta.