Sau hàng thế kỷ bị quên lãng, đôi khi bị thù ghét, sau khi bị xé nát, bị đốt cháy và chỉ còn sót lại đôi chút trên những mái vòm và thư viện của các tu viện, minh triết Hy Lạp và La Mã cổ đại đã có sự trở lại đầy vinh quang vào thế kỷ 16. Trong giới trí thức tinh hoa của châu Âu nổi lên sự đồng thuận cho rằng những tư tưởng vĩ đại nhất mà thế giới từng được biết đã xuất phát từ trí tuệ của một số ít thiên tài trong các thành quốc của Hy Lạp và bán đảo Italy trong khoảng thời gian từ khi điện Parthenon được xây dựng cho đến khi Rome sụp đổ - và rằng đối với một người có giáo dục, không có nhiệm vụ nào lớn hơn là làm quen với sự giàu có của những tác phẩm ấy. Nhiều ấn bản mới của các tác phẩm của Plato, Lucretius, Seneca, Aristotle, Catullus, Longinus, Cicero và nhiều nhà triết học khác được phát hành. Các tuyển tập kinh điển - Cách ngôn và Châm ngôn của Erasmus, Danh ngôn của Stobeus, Những bức thư vàng của các sứ đồ của Antonio de Guevara và Sự học tôn kính của Petrus Crinitus được phổ biến rộng rãi trong các thư viện trên khắp châu Âu.
Ở vùng Tây Nam nước Pháp, trên đỉnh một ngọn đồi được bao phủ bởi cây xanh nằm cách Bordeaux 30 dặm về phía Đông là một lâu đài xinh đẹp với đá vàng và mái ngói đỏ.
Đó là nơi ở của một quý tộc trung niên cùng vợ là Françoise, con gái Léonor, các gia nhân và vật nuôi (gà, dê, chó và ngựa). Ông nội của Michel de Montaigne đã mua lâu đài này năm 1477 nhờ việc kinh doanh cá muối của gia đình. Cha của Montaigne cho xây thêm mấy chái nhà và mở rộng diện tích đất canh tác, còn bản thân ông thì bắt đầu trông coi cơ ngơi này từ năm 35 tuổi, mặc dù ông không mấy quan tâm đến việc quản lý điền sản và gần như không biết gì về nghề nông (“Tôi gần như không thể phân biệt nổi bắp cải với xà lách”).
Ông thích dành thời gian trong căn phòng thư viện hình tròn trên tầng ba của một tòa tháp ở một góc của lâu đài: “Tôi dành phần lớn số ngày của cuộc đời mình, và phần lớn số giờ trong ngày ở đó.”
Thư viện có ba cửa sổ (Montaigne mô tả quang cảnh nhìn từ các cửa sổ là “huy hoàng và ngút tầm mắt”), một cái bàn, một cái ghế, và trên năm tầng giá sách được xếp theo hình bán nguyệt là khoảng một ngàn cuốn sách triết học, lịch sử, thơ và tôn giáo. Chính tại đây Montaigne đã đọc bài diễn văn kiên định của Socrates (“người thông thái nhất từ trước đến nay”) trước bồi thẩm đoàn nôn nóng của Athens trong một phiên bản tiếng Latin của tác phẩm của Plato do Marsilio Ficino dịch; tại đây ông đã đọc về quan điểm về hạnh phúc của Epicurus trong tác phẩm Những cuộc đời của Diogenes Laertius và Về bản chất của vạn vật của Lucretius, do Denys Lambin biên soạn năm 1563; và cũng chính tại đây ông đã đọc đi đọc lại Seneca (tác gia “đặc biệt hợp với khiếu hài hước của tôi”) trong một tuyển tập bao gồm các tác phẩm của ông mới được in ở Basle năm 1557.
Montaigne được khai tâm với các tác phẩm kinh điển từ khi còn nhỏ tuổi. Ông học bằng tiếng Latin như tiếng mẹ đẻ. Năm 7 tuổi hoặc 8 tuổi, ông đã đọc Sự hóa thân của Ovid. Khi bước sang tuổi 16, ông đã mua tập thơ của Virgil và am hiểu Sử thi Aeneid, cũng như Terence, Plautus và Bình luận của Caesar. Ông dành trọn tâm trí cho sách, sau 13 năm làm luật sư tại Pháp viện tối cao của Bordeaux, ông nghỉ hưu với ý định toàn tâm toàn ý cho sách vở. Đọc sách là niềm an ủi của cuộc đời ông:
Nó là niềm an ủi khi tôi lui về ẩn dật; nó giúp tôi thoát khỏi gánh nặng của sự biếng nhác sầu thảm và bất kỳ lúc nào nó cũng có thể giúp tôi thoát khỏi đám khách khứa tẻ nhạt. Nó làm nhẹ nỗi đau mỗi khi nỗi đau không quá choáng ngợp và khủng khiếp. Để sao nhãng khỏi những ý nghĩ ủ ê, tôi chỉ cần viện đến sách.
Nhưng các giá sách trong thư viện, bản thân chúng hàm ý sự ngưỡng mộ vô hạn đối với trí tuệ, lại không cho thấy hết toàn bộ câu chuyện. Chúng ta phải nhìn kỹ hơn xung quanh thư viện, đứng giữa căn phòng và ngửa cổ nhìn lên trần: vào khoảng giữa những năm 1570, Montaigne cho khắc trên các thanh dầm gỗ 57 đoạn trích ngắn từ Kinh Thánh và các tác phẩm kinh điển. Chúng cho thấy sự e ngại sâu sắc về lợi ích của việc có trí óc:
Cuộc đời hạnh phúc nhất là không có suy nghĩ. - Sophocles
Bạn đã từng thấy một người nghĩ rằng mình khôn ngoan chưa? Bạn có thể hy vọng vào một người điên nhiều hơn là vào anh ta. - Tục ngữ
Không có gì là chắc chắn ngoài sự bất định, không có gì khốn khổ và kiêu hãnh hơn con người. - Pliny
Mọi thứ đều quá phức tạp để con người có thể hiểu được. - Ecclesiastes
Các nhà triết học cổ đại tin rằng khả năng suy nghĩ giúp chúng ta có được hạnh phúc và sự vĩ đại mà không loài nào có. Lý trí cho phép chúng ta kiểm soát cảm xúc và sửa chữa những ý định sai lầm nảy sinh từ bản năng. Lý trí kiềm chế những nhu cầu hoang dại của cơ thể và giúp ta có được mối quan hệ cân bằng với ham muốn ăn uống và dục vọng. Lý trí là một công cụ tinh tế, gần như thần thánh, giúp ta thống trị thế giới và bản thân mình.
Trong tác phẩm Những cuộc tranh luận ở Tusculum mà Montaigne cũng có một cuốn ở thư viện của mình, Cicero dành vô số lời ca ngợi những lợi ích của trí tuệ:
Không có gì ngọt ngào hơn là học thuật; học thuật là phương tiện giúp chúng ta, khi vẫn đang sống trong thế giới này, biết được sự vô hạn của mọi vật, sự vĩ đại bao la của Tự nhiên, biết được thiên đường, các vùng đất và biển cả. Học thuật dạy cho ta lòng mộ đạo, khiêm tốn và sự cao thượng của trái tim; nó kéo linh hồn ta ra khỏi bóng tối và chỉ cho chúng thấy mọi thứ, cao và thấp, cái đầu tiên, cuối cùng và mọi thứ ở giữa; nó dạy chúng ta cách sống không bất mãn và không bực bội.
Dù sở hữu một ngàn cuốn sách và được hưởng lợi từ nền giáo dục kinh điển nhưng sự tán dương này làm cho Montaigne tức giận và nó đối lập với tinh thần được thể hiện trên các thanh dầm của thư viện đến nỗi ông bộc lộ sự phẫn nộ một cách dữ tợn trái ngược hẳn với tính cách của ông:
Thật là một sinh vật khốn khổ... hãy nghe gã khoác lác kìa... Như thể gã đang mô tả về Chúa toàn năng và bất diệt! Trên thực tế, có hàng ngàn người phụ nữ bé nhỏ ở những ngôi làng đã sống một cuộc đời nhẹ nhàng, điềm tĩnh và ổn định hơn [Cicero].
Nhà triết học La Mã đã bỏ qua một sự thật là hầu hết các học giả đều có cuộc sống cực kỳ bất hạnh; ông đã ngạo mạn coi thường những điều phiền muộn mà con người, sinh vật duy nhất trong các loài, phải chịu đựng - những nỗi phiền muộn khiến cho ta, trong những giờ khắc u tối, hận là mình đã không được sinh ra làm một con kiến hay con rùa.
Hay con dê. Tôi thấy nó trong sân một trang trại cách lâu đài của Montaigne vài cây số, ở làng Les Gauchers.
Nó chưa bao giờ đọc Những cuộc tranh luận ở Tusculum hay Luận về Luật pháp của Cicero. Nhưng trông nó khá hài lòng, chóp chép gặm mấy mẩu xà lách, thỉnh thoảng lại lắc đầu như một bà lão ngầm tỏ ý không hài lòng. Đó không phải là một cuộc sống không đáng ghen tị.
Bản thân Montaigne cũng thấy kinh ngạc và ông diễn giải những lợi thế của việc sống như một con vật thay vì là một con người có lý trí với một thư viện lớn. Các con vật theo bản năng biết cách tự chữa bệnh khi ốm: nếu bị ốm, lũ dê có thể tìm thấy cây bạch tiễn trong số hàng ngàn loại cây khác, bọn rùa tự động đi tìm cây kinh giới dại khi bị rắn chuông cắn, và lũ cò có thể tự áp dụng liệu pháp bổ sung muối biển. Ngược lại, con người buộc phải dựa vào các vị thầy thuốc đắt đỏ và hay sai lầm (tủ thuốc của họ đầy các đơn thuốc kỳ quặc: “nước tiểu thằn lằn, cứt voi, gan chuột chũi, máu chích từ cánh phải của một con bồ câu trắng, và với những người bị đau bụng kịch phát thì chữa bằng cứt chuột nghiền”).
Các con vật, một cách bản năng, cũng hiểu được những ý tưởng phức tạp mà không cần bao ngày vất vả học hành. Cá ngừ là chuyên gia về thiên văn học. “Vào ngày đông chí, nếu đang ở đâu thì chúng sẽ ở nguyên đó cho đến ngày xuân phân tiếp theo,” Montaigne ghi lại. Chúng cũng hiểu hình học và đại số bởi vì chúng bơi theo đàn, tạo thành một hình khối hoàn hảo: “Nếu bạn đếm được một hàng thì sẽ ra toàn bộ số cá trong đàn vì số cá trong một hàng là giống nhau ở cả chiều sâu, chiều dài và chiều rộng.” Chó có khả năng hiểu logic biện chứng thiên bẩm. Montaigne kể chuyện một con chó đi tìm chủ, nó gặp một ngã ba. Đầu tiên nó nhìn một con đường, rồi đường thứ hai và sau đó chạy theo con đường thứ ba sau khi kết luận rằng chủ của mình hẳn đã chọn con đường đó:
Logic biện chứng thuần khiết chính là đây: con chó đã sử dụng các mệnh đề nối và phân biệt, liệt kê đầy đủ các bộ phận. Có quan trọng gì không khi nó học những điều này từ chính bản thân nó hay từ Phép Biện chứng của George xứ Trebizond?
Động vật cũng thường giỏi hơn chúng ta trong tình yêu. Montaigne ghen tị khi đọc câu chuyện về con voi yêu say đắm một người bán hoa ở Alexandria. Khi được dắt đi qua chợ, nó biết cách vươn vòi chạm vào cổ áo nàng và xoa ngực nàng với sự khéo léo mà không người nào sánh kịp.
Và kể cả một con vật nuôi tầm thường nhất trong trang trại cũng có sự bình thản mang tính triết học vượt trội so với các nhà hiền triết thông thái nhất của thế giới cổ đại. Có lần nhà triết học Hy Lạp Pyrrho đi trên một con tàu đang qua vùng biển có bão lớn. Xung quanh ông, hành khách bắt đầu hoảng loạn, lo sợ những cơn sóng cuồng loạn sẽ xé nát chiếc tàu mong manh. Chỉ có một hành khách không hề mất bình tĩnh và ngồi im lặng trong góc, giữ nguyên dáng vẻ thư thái. Đó là một con lợn:
Chúng ta có dám kết luận rằng ích lợi của lý trí (mà ta hết lời ca ngợi và dựa vào đó ta coi mình là chúa tể và chủ nhân của muôn loài) chỉ là để giày vò ta? Tri thức để làm gì nếu vì nó mà ta đánh mất đi sự bình thản và yên tĩnh mà ta có thể hưởng thụ nếu không có nó và nếu như nó khiến cho tình cảnh của ta tồi tệ hơn chú lợn của Pyrrho?
Lý trí có bao giờ mang lại cho chúng ta điều gì đáng để biết ơn hay chưa:
Nó mang lại cho chúng ta sự bất an, ngần ngại, nghi ngờ, đau đớn, mê tín, lo lắng về điều sẽ xảy ra (kể cả sau khi chết đi), tham vọng, lòng tham, ghen tuông, tị hiềm, sự ương ngạnh, sự ham ăn uống điên cuồng không kiểm soát được, chiến tranh, sự dối trá, phản bội, thói tọc mạch và nói xấu sau lưng.
Nếu được lựa chọn, có lẽ Montainge sẽ chọn sống cuộc đời của một con dê - nhưng điều này cũng đúng thôi. Cicero đã vẽ nên bức tranh đẹp đẽ về lý trí. Mười sáu thế kỷ sau, Montaigne chỉ ra điều ngược lại:
Biết rằng chúng ta đã nói hoặc làm một việc ngu ngốc là một lẽ, ta còn cần học một bài học quan trọng hơn: rằng chúng ta không là gì khác ngoài một lũ ngu xuẩn.
- kẻ ngu xuẩn nhất trong các loài chính là các nhà triết học như Cicero, những người chưa từng nghĩ rằng đó lại là mình. Niềm tin bị đặt nhầm chỗ vào lý trí là nguồn gốc của sự ngu muội - và, một cách gián tiếp, của sự thiếu thốn.
Đằng sau những thanh dầm khắc chữ đó, Montaigne đã vẽ nên những nét khái quát của một trường phái triết học mới, nó thừa nhận rằng chúng ta khác xa so với cái sinh vật bình thản, có lý trí mà phần lớn các tư tưởng gia cổ đại nhắc đến. Chúng ta phần lớn là những linh hồn điên rồ và cuồng loạn, thô thiển và luôn bị kích động. Đứng bên cạnh chúng ta, các loài động vật khác, xét trên nhiều khía cạnh, là mẫu mực của sức khỏe và phẩm hạnh - một thực tế đáng buồn mà triết học có nhiệm vụ phản ánh, nhưng hiếm khi làm được:
Cuộc sống của chúng ta được tạo nên một phần bởi sự điên rồ, một phần nhờ sự thông thái: bất kỳ ai chỉ viết về cuộc sống một cách đáng trân trọng và theo nguyên tắc thì đã bỏ qua một nửa của nó.
Tuy thế, nếu biết chấp nhận nhược điểm của mình và thôi đòi quyền bá chủ muôn loài mà chúng ta không hề có thì ta sẽ thấy - như triết lý rộng lượng và cứu rỗi của Montainge chỉ ra - rằng ta vẫn đầy đủ theo cách nửa khôn ngoan, nửa ngu ngốc của riêng mình.