Sự An Ủi Của Triết Học

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 95 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
4

❊ ❊ ❊

Năm 70 tuổi, Socrates gặp phải một cơn cuồng phong. Ba người Athens - nhà thơ Meletus, chính trị gia Anytus và nhà hùng biện Lycon - cho rằng ông là một người kỳ dị và xấu xa. Họ buộc tội ông không tôn thờ các vị thần của thành quốc, làm băng hoại kết cấu xã hội của Athens và làm cho thanh niên trẻ chống lại cha của họ. Họ tin rằng cần phải làm cho ông im lặng và thậm chí là xử tử ông.

Thành quốc Athens đã thiết lập những quy trình để phân biệt điều phải trái. Ở phía Nam quảng trường thành phố là Tòa Heliasts, một công trình lớn với các hàng ghế gỗ dành cho bồi thẩm đoàn ở một bên còn bục dành cho công tố viên và bị cáo ở phía bên kia. Quá trình xét xử bắt đầu bằng bài phát biểu của bên công tố, tiếp đó là phát biểu của bên bào chữa. Sau đó, bồi thẩm đoàn từ 200 đến 2.500 người sẽ quyết định có buộc tội hay không bằng cách bỏ phiếu hoặc giơ tay biểu quyết. Phương pháp xác định đúng sai bằng cách đếm số người ủng hộ một đề xuất nào đó được sử dụng trong toàn bộ đời sống chính trị và pháp luật của Athens. Cứ hai hoặc ba lần mỗi tháng, toàn bộ công dân nam, tổng cộng khoảng 30.000 người, được mời đến tập trung trên ngọn đồi Pynx nằm ở phía Tây Nam quảng trường để quyết định những vấn đề quan trọng của thành quốc thông qua việc giơ tay biểu quyết. Đối với Athens, quan điểm của đa số được coi là chân lý.

Có 500 công dân tham gia bồi thẩm đoàn trong phiên xử Socrates. Bên công tố bắt đầu bằng việc yêu cầu bồi thẩm đoàn xem xét coi triết gia đang đứng trước mặt họ là một người không đứng đắn. Ông ta đã hỏi những thứ trên trời dưới đất, ông ta là kẻ dị giáo, ông ta đã dùng những phương kế tu từ để khiến lập luận yếu hơn đánh bại lập luận mạnh hơn, và ông ta gây ảnh hưởng xấu đến lớp trẻ, làm họ hư hỏng một cách có chủ đích thông qua các cuộc đối thoại của mình.

Socrates cố gắng đáp trả những lời buộc tội đó. Ông nói rằng mình chưa bao giờ đưa ra lý thuyết về thiên đường hay tìm hiểu những gì bên dưới mặt đất, ông không phải là kẻ dị giáo và rất tin vào những hoạt động thiêng liêng; ông chưa bao giờ làm hư hỏng giới trẻ Athens - chỉ là vài thanh niên có những ông bố giàu có và quá nhiều thời gian rảnh rỗi đã thực hành phương pháp đặt câu hỏi của ông và gây bực mình cho vài người có vai vế khi chứng minh rằng họ chẳng biết gì cả. Nếu như ông có làm ai hư hỏng thì đó cũng không phải là chủ đích của ông, bởi vì chẳng có lý do gì để một người cố ý gây ảnh hưởng xấu lên người khác, vì như thế thì chính người đó cũng có nguy cơ bị hại. Và nếu như ông có vô ý làm người khác hư hỏng thì lẽ ra chỉ cần nói với ông điều đó để thay đổi thay vì đưa ra xét xử tại tòa.

Ông thừa nhận đã sống một cuộc sống có vẻ kỳ dị:

Tôi đã lơ là những thứ mà phần lớn mọi người quan tâm - kiếm tiền, chăm lo cho tài sản, kiếm danh trong quân đội hay trong xã hội, hoặc những vị trí quyền lực khác, hay tham gia các câu lạc bộ chính trị và những bữa tiệc đã hình thành nên xã hội của chúng ta.

Tuy nhiên, ông cho rằng việc ông theo đuổi triết học xuất phát từ khao khát đơn giản là làm cho đời sống của người Athens trở nên tốt đẹp hơn:

Tôi đã nỗ lực thuyết phục mỗi người không nghĩ về lợi ích vật chất của họ nhiều hơn nghĩ về sự khỏe mạnh của tinh thần và đạo đức.

Ông giải thích rằng đó là cam kết của mình đối với triết học và ông không thể từ bỏ hoạt động đó ngay cả khi bồi thẩm đoàn coi đó là điều kiện để tha tội:

Tôi sẽ tiếp tục nói theo cách khác thường của mình, “Bạn tốt của tôi, anh là người Athens và anh thuộc về một thành phố vĩ đại nhất và nổi tiếng nhất thế giới về minh triết và sức mạnh. Anh có thấy xấu hổ không khi chỉ quan tâm làm sao có được càng nhiều tiền càng tốt, càng nhiều danh dự và tiếng tăm càng tốt, trong khi bỏ bê suy nghĩ hay chân lý, không chú trọng tìm hiểu và hoàn thiện tâm hồn mình?” Và nếu như có bất kỳ ai trong số các ngài phản đối, và tuyên bố rằng mình có quan tâm đến điều đó, tôi sẽ không bỏ đi hoặc để người đó đi ngay mà tôi sẽ hỏi và kiểm tra anh ta... Tôi sẽ làm điều này với mỗi người mà tôi gặp, bất kể trẻ hay già, bất kể là người nước ngoài hay đồng bào của tôi.

Đến lượt bồi thẩm đoàn 500 người đưa ra quyết định. Sau một thời gian ngắn cân nhắc, 220 người cho rằng Socrates vô tội, 280 người cho rằng có tội. Triết gia đáp trả một cách châm biếm: “Tôi không nghĩ là cách biệt lại nhỏ thế.” Nhưng ông không mất tự tin; không hề ngập ngừng hay hoảng hốt, ông giữ vững niềm tin vào công trình triết học mà đa số chiếm 56% đám đông đã kết luận là sai trái.

Chúng ta không có được sự điềm tĩnh như vậy, chúng ta dễ dàng òa khóc chỉ vì vài lời nói về tính cách hay thành tích của mình, bởi sự tán thành của người khác hình thành nên phần cốt yếu trong khả năng tin rằng mình đúng của chúng ta. Chúng ta cảm thấy cần phải coi việc không được ưa thích là vấn đề quan trọng không chỉ vì những lý do thực dụng, những lý do liên quan đến sự thăng tiến hay tồn tại mà quan trọng hơn là vì việc bị chế giễu có vẻ như là dấu hiệu hiển nhiên cho thấy ta đang lạc lối.

Như một lẽ tự nhiên, Socrates có thể sẽ thừa nhận rằng đôi khi chúng ta sai và cần phải nghi ngờ chính quan điểm của mình, nhưng ông cũng sẽ thêm một chi tiết tối quan trọng để làm thay đổi ý thức của chúng ta về mối quan hệ giữa chân lý và việc không được ưa thích: những sai lầm trong suy nghĩ và cách sống của chúng ta không bao giờ và không cách nào được chứng tỏ chỉ bởi việc ta bị phản đối.

Điều nên khiến chúng ta lo lắng không phải bao nhiêu người phản đối ta mà là những lập luận của họ đưa ra khi phản đối ta chặt chẽ đến mức nào. Do vậy, ta đừng nên quan tâm đến bản thân việc không được ưa thích mà nên tìm hiểu những lý giải cho việc đó. Thật đáng sợ khi biết rằng đa số trong cộng đồng cho rằng ta sai, nhưng trước khi từ bỏ quan điểm của mình, ta cần xem xét phương pháp mà họ tiến hành để đưa ra kết luận. Chính sự đúng đắn trong phương pháp suy luận của họ sẽ quyết định mức độ mà ta cần để ý đến sự phản đối của họ.

Chúng ta dường như có xu hướng làm ngược lại: nghe tất cả mọi người, buồn bực vì mỗi lời không tử tế và mỗi nhận xét châm biếm. Chúng ta không tự vấn câu hỏi cốt yếu nhất và có khả năng an ủi lớn nhất: những lời chỉ trích cay độc đó được đưa ra trên cơ sở gì? Chúng ta đánh đồng sự phản đối của người chỉ trích đã suy nghĩ một cách thấu đáo và trung thực với những người phản đối xuất phát từ thói ganh ghét và đố kỵ.

Chúng ta nên dành thời gian nhìn vào đằng sau những lời chỉ trích. Như Socrates đã rút ra, những suy nghĩ nằm ở gốc rễ của lời chỉ trích, mặc dù được ngụy trang cẩn thận, vẫn có thể cực kỳ lệch lạc. Dưới ảnh hưởng nhất thời của tâm trạng, những người chỉ trích ta có thể đã kết luận một cách mù quáng. Họ có thể hành động do sự bốc đồng hay thành kiến và dùng địa vị của mình để làm cho những linh cảm của họ mang vẻ cao đạo. Có thể quá trình suy nghĩ của họ giống như của một kẻ say rượu hoặc một người làm gốm nghiệp dư.

Thật không may là khác với nghề gốm, ban đầu rất khó có thể phân biệt được một sản phẩm tư duy tốt với một sản phẩm tồi. Không khó để phân biệt chiếc bình do một người thợ say rượu làm ra so với chiếc bình của người thợ tỉnh táo.

Việc ngay lập tức tìm ra được một định nghĩa ưu việt hơn thì khó hơn nhiều.

Lòng can đảm là sự bền bỉ một cách thông minh.

Người đứng trong hàng ngũ và chiến đấu với kẻ thù là người can đảm.

Một suy nghĩ tồi được nói ra một cách quyền uy, mặc dù không có bằng chứng về việc nó được sinh ra như thế nào, thoạt đầu có thể có sức nặng như một suy nghĩ đúng. Nhưng sự tôn trọng của chúng ta đối với người khác sẽ bị đặt nhầm chỗ nếu ta chỉ tập trung vào kết luận của họ và đó là nguyên nhân vì sao Socrates hối thúc ta hãy suy nghĩ kỹ về logic mà họ dùng để đưa ra kết luận đó. Ngay cả khi chúng ta không thể thoát khỏi hậu quả của sự chống đối thì ít nhất cũng không bị cảm giác bất ổn là mắc lỗi.

Ý tưởng trên lần đầu xuất hiện trước khi phiên xử diễn ra một thời gian, khi Socrates nói chuyện với Polus, một thầy giáo dạy thuật hùng biện nổi tiếng từ Sicily đến thăm Athens. Polus có một số quan điểm chính trị đáng sợ mà ông rất hăng hái thuyết phục Socrates. Polus cho rằng đối với con người, cuộc sống hạnh phúc nhất là khi trở thành nhà độc tài bởi vì sự thống trị cho phép ta làm những gì mình muốn như tống kẻ thù vào ngục, chiếm tài sản của chúng và xử tử chúng.

Socrates lắng nghe một cách lịch sự, sau đó trả lời Polus bằng một loạt lập luận logic nhằm chứng minh rằng hạnh phúc nằm ở việc làm điều tốt. Nhưng Polus không hề lay chuyển và khẳng định lại quan điểm của mình bằng cách chỉ ra rằng các nhà độc tài thường được nhiều người tôn kính. Ông nhắc đến Archelaus, Vua Macedonia, người đã ám sát chú, anh họ của mình và một người kế vị hợp pháp mới 7 tuổi mà vẫn được dân chúng ở Athens ủng hộ. Polus kết luận rằng số người ủng hộ Archelaus là bằng chứng cho thấy lý thuyết của ông về chế độ độc tài là đúng.

Socrates lịch sự thừa nhận rằng rất dễ tìm ra những người thích Archelaus trong khi khó mà tìm thấy người ủng hộ quan điểm làm việc tốt mang lại hạnh phúc: “Nếu ngài muốn gọi nhân chứng để chứng minh điều tôi nói là sai thì ngài có thể chắc rằng quan điểm của ngài sẽ được hầu hết mọi người ở Athens ủng hộ,” Socrates giải thích, “cho dù họ có sinh ra và lớn lên ở đây hay không.”

Nếu muốn, chắc hẳn ngài sẽ có được sự ủng hộ của Nicias, con trai của Niceratus, cùng với các anh em, những người đã được tạc nguyên một dãy tượng trong khuôn viên Rạp hát Dionysus. Chắc hẳn ngài cũng sẽ có được sự ủng hộ của Aristocrates, con trai của Scellius... Ngài có thể vời cả gia đình Pericles, nếu muốn, hoặc bất kỳ một gia đình Athens nào khác mà ngài lựa chọn.

Nhưng điều mà Socrates bác bỏ một cách mạnh mẽ đó là bản thân việc lập luận của Polus nhận được sự ủng hộ rộng rãi không bao giờ chứng tỏ lập luận đó là đúng:

Poius, vấn đề là ngài đang tranh luận với tôi bằng một kiểu bác bỏ mang tính hùng biện mà những viên quan pháp đình cho là thành công. Ở đó người ta cũng nghĩ là mình chứng minh được phía bên kia sai nếu gọi được nhiều nhân chứng có tiếng tăm ủng hộ cho lập luận của mình, trong khi đối phương chỉ có thể gọi được một nhân chứng hoặc không ai cả. Nhưng khi nói về chân lý thì kiểu bác bỏ này hoàn toàn vô giá trị bởi vì ở tòa, một người hoàn toàn có thể bị đánh bại bởi một bầy nhân chứng rỗng tuếch đằng sau vẻ tôn kính bề ngoài và tất cả đều làm chứng chống lại anh ta.

Sự tôn trọng đích thực không bắt nguồn từ ý chí của đám đông mà từ lập luận đúng. Khi làm bình gốm, chúng ta nên nghe lời khuyên của những người biết cách biến lớp men thành màu đen than ở nhiệt độ 800°C; và khi xem xét các vấn đề đạo đức - làm thế nào để sống hạnh phúc, can đảm, chính trực và tốt đẹp - chúng ta không nên lo sợ những suy nghĩ xấu xa, cho dù nó có phát ra từ miệng của các bậc thầy hùng biện, các vị tướng oai phong hay các quý tộc ăn mặc chải chuốt đến từ Thessaly.

Điều này nghe có vẻ cao ngạo, và nó đúng là như thế. Không phải ai cũng đáng để lắng nghe. Tuy vậy, sự cao ngạo của Socrates không hề mang dấu hiệu nào của thói hợm hĩnh hay thành kiến. Ông có thể bộc lộ sự thiên vị trong những quan điểm mà ông quan tâm nhưng sự thiên vị này không dựa vào giai cấp hay tiền bạc, thành tích trong quân đội hay quốc tịch, mà dựa vào lập luận, điều mà ông nhấn mạnh là khả năng mà ai cũng có.

Theo gương Socrates, khi đối mặt với những lời chỉ trích, chúng ta nên hành xử như một vận động viên đang luyện tập để thi đấu Olympic.

Về các môn thể thao, có thể tham khảo cuốn Bên trong một thị trấn Hy Lạp cổ.

Hãy tưởng tượng chúng ta là những vận động viên. Huấn luyện viên đưa ra một bài tập nhằm tăng sức mạnh cho bắp chân để thi đấu môn ném lao. Người ngoài nhìn vào thấy bài tập này thật kỳ cục, họ mỉa mai và phàn nàn rằng chúng ta đang để vuột mất cơ hội giành chiến thắng. Trong nhà tắm, chúng ta nghe tiếng một người nói với người khác rằng chúng ta chỉ lo khoe các múi cơ ở bắp chân hơn là giúp thành quốc giành chiến thắng. Những lời mỉa mai thật cay độc, nhưng ta không cần lo lắng về chúng nếu nghe theo Socrates trong cuộc trò chuyện với bạn ông là Crito:

SOCRATES: Khi một người... coi trọng [việc tập luyện] thì anh ta sẽ chú ý đến tất cả những lời khen ngợi, chỉ trích và ý kiến của mọi người, ai cũng như ai, hay chỉ những lời của một người có trình độ, là vị thầy thuốc hay huấn luyện viên?

CRITO: Chỉ khi những lời đó là của một người có trình độ.

SOCRATES: Vậy thì anh ta chỉ nên lo lắng khi bị chỉ trích và vui sướng khi nhận lời khen của một người mà thôi, chứ không phải của dân chúng.

CRITO: Đương nhiên.

SOCRATES: Anh ta nên điều chỉnh hành vi, tập luyện và ăn uống dưới sự chỉ bảo của huấn luyện viên, người có kiến thức chuyên môn, chứ không phải theo ý kiến của dân chúng.

Giá trị của lời chỉ trích phụ thuộc vào quá trình tư duy của người chỉ trích chứ không phải bởi số lượng hay vị thế của họ:

Anh có cho rằng người ta không nên nghe theo ý kiến của tất cả mọi người mà chỉ một vài người thôi... rằng người ta nên tôn trọng những ý kiến tốt và bỏ qua những ý kiến tồi? Và ý kiến tốt là ý kiến của người hiểu biết, còn ý kiến tồi là của người không hiểu biết... Vậy nên, bạn tốt của tôi, chúng ta không nên quá quan tâm đến những gì mà dân chúng nói về ta, nhưng cần quan tâm đến ý kiến của chuyên gia về các vấn đề liên quan đến sự công bằng và bất công.

Các bồi thẩm viên tại Phiên tòa Heliasts không phải là những chuyên gia. Phần lớn trong số họ là người già và cựu chiến binh, những người coi việc làm bồi thẩm viên là một cách kiếm thêm thu nhập dễ dàng. Thù lao của bồi thẩm viên là 3 obol một ngày, ít hơn của một người lao động chân tay nhưng khá hữu ích với một người 63 tuổi và chán việc ngồi nhà. Yêu cầu đối với bồi thẩm viên chỉ cần là công dân, có trí tuệ minh mẫn và không mắc nợ - tuy nhiên sự minh mẫn không được đánh giá theo tiêu chuẩn của Socrates mà chỉ cần họ có thể đi được trên một đường thẳng và nói đúng tên mình khi được hỏi. Thành viên bồi thẩm đoàn thường ngủ gật trong các phiên xử, hiếm khi có kinh nghiệm về những trường hợp tương tự hay hiểu biết pháp luật liên quan và không hề được hướng dẫn cách tuyên án như thế nào.

Bồi thẩm đoàn trong phiên xử Socrates là những người cực kỳ thiên kiến. Họ bị ảnh hưởng bởi sự châm biếm của Aristophanes và cho rằng triết gia có một phần lỗi trong những thảm họa đã đổ xuống thành quốc một thời hùng mạnh trong giai đoạn cuối của thế kỷ này. Cuộc chiến Peloponnesia kết thúc bi thảm và liên minh sparta-Ba Tư đã khiến Athens quỵ ngã, thành quốc bị bao vây, đội chiến thuyền bị phá hủy và đế chế bị tan rã. Bệnh dịch bùng phát ở các khu vực nghèo khó và nền dân chủ bị đàn áp bởi những nhà độc tài đã giết chết hàng ngàn người. Với những kẻ thù của Socrates, không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà độc tài từng giao du với ông. Critias và Charmides đã thảo luận về vấn đề đạo đức với Socrates và dường như kết quả mà những người này thu về sau các buổi trò chuyện là niềm ham mê giết chóc.

Có thể giải thích như thế nào về sự suy sụp của Athens? Tại sao thành quốc vĩ đại nhất ở Hy Lạp, chính những người mà 75 năm trước đó đã đánh bại người Ba Tư trên đất liền ở Plataea và trên biển ở Mycale, lại phải chịu một loạt thất bại nhục nhã liên tiếp như vậy? Người đàn ông trong chiếc áo choàng bẩn thỉu đi lang thang trên phố hỏi mọi người những câu hỏi kỳ quặc dường như là câu trả lời rõ ràng và hoàn hảo nhất.

Socrates hiểu rằng không có cơ hội nào cho mình. Ông còn không có đủ thời gian để biện hộ. Bị cáo chỉ có vài phút để trình bày trước bồi thẩm đoàn, đến khi nước đã chảy hết từ chiếc bình này sang chiếc bình kia theo như đồng hồ của tòa:

Tôi tin rằng mình không bao giờ làm hại ai một cách có chủ ý, nhưng tôi không thể thuyết phục các vị về điều này bởi vì chúng ta có quá ít thời gian. Nếu, giống như các thành quốc khác, các vị dành không chỉ một ngày mà là vài ngày để tranh tụng về các vụ trọng án thì tôi tin mình có thể thuyết phục được các vị; nhưng trong hoàn cảnh hiện tại thì việc bác bỏ những lời cáo buộc nghiêm trọng trong một khoảng thời gian ngắn là không dễ dàng.

Phiên tòa của người Athens không phải là diễn đàn để tìm ra sự thật. Nó là một sự kiện chớp nhoáng quy tụ những ông già và thương binh không tin vào phân tích lý trí mà chỉ chờ nước từ bình này chảy hết sang bình kia.

Hẳn là rất khó để nhớ được điều này, hẳn Socrates đã phải vận đến sức mạnh được tích tụ qua bao nhiêu năm tháng trò chuyện với người dân Athens: sức mạnh để trong những hoàn cảnh nhất định, không quan tâm đến ý kiến của người khác. Socrates không phải là kẻ ngoan cố, ông không bác bỏ những ý kiến này do ghét bỏ, bởi vì làm như vậy là trái với niềm tin của ông về lý tính tiềm tàng của mỗi con người. Nhưng trong phần lớn cuộc đời mình, ngày nào ông cũng dậy từ lúc bình minh và nói chuyện với người dân Athens; ông biết cách mà trí óc họ vận hành và không may là họ thường không suy nghĩ một cách có lý trí, ngay cả khi ông hy vọng một ngày nào đó họ sẽ làm như vậy. Ông nhận thấy rằng họ có thiên hướng coi nhẹ việc đưa ra ý kiến và thường nghe theo những quan niệm đã được chấp nhận mà không băn khoăn gì. Ông nói ra điều này vào thời điểm đang phải đối mặt với sự thù địch cao độ không phải do kiêu ngạo. Ông có niềm tin vào bản thân của một người có lý trí, hiểu rằng kẻ thù của mình có thể không suy nghĩ một cách đúng đắn, ngay cả khi ông không hề tuyên bố rằng suy nghĩ của mình luôn đúng. Sự phản đối của họ có thể giết chết ông nhưng nó không có nghĩa là ông sai.

Đương nhiên Socrates có thể từ bỏ triết lý của mình và giữ lấy mạng sống. Ngay cả nếu có bị kết tội thì ông cũng có thể thoát chết, nhưng ông đã bỏ qua cơ hội đó mà không hề đắn đo. Chúng ta không nên trông chờ vào lời khuyên từ Socrates về cách để thoát khỏi án tử hình mà nên nhìn vào ông như là ví dụ rõ nét nhất về cách giữ vững niềm tin vào một quan điểm sáng suốt khi đối mặt với sự phản đối phi lý.

Bài phát biểu của nhà triết học đi tới đoạn kết xúc động:

Nếu các vị khép tôi vào tội chết thì các vị sẽ không dễ dàng tìm được một người thay thế vị trí của tôi. Sự thật là, nói một cách hài hước thì tôi được Thượng đế gắn vào thành quốc của chúng ta, như thể con ruồi trâu đậu trên một con ngựa thuần chủng lớn, mà do kích thước khổng lồ của mình, con ngựa thường lười biếng và cần đến sự kích thích của con ruồi trâu... Nếu nghe theo lời khuyên của tôi, các vị sẽ để tôi sống. Tuy nhiên, tôi ngờ rằng chẳng bao lâu sau, các vị sẽ tỉnh dậy và trong cơn bực bội, các vị sẽ nghe theo lời khuyên của Anytus và kết liễu cuộc đời tôi bằng một cái tát; rồi sau đó các vị sẽ ngủ tiếp.

Ông đã không nhầm. Khi quan tòa yêu cầu bỏ phiếu lần thứ hai và cũng là lần cuối cùng, 360 thành viên bồi thẩm đoàn bỏ phiếu kết tội chết. Các bồi thẩm viên trở về nhà, kẻ có tội bị đưa vào ngục.

Nguyên tác: The Consolations of Philosophy Dịch giả: Ngô Thu Hương
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Alain De Botton

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.