Một câu chuyện tình hiện đại
VỚI CHÚ THÍCH THEO PHONG CÁCH SCHOPENHAUER
Một người đàn ông đang cố tập trung làm việc trên chuyến tàu từ Edinburg đến London. Lúc đó là đầu buổi chiều một ngày mùa xuân ấm áp.
Trên chiếc bàn trước mặt anh ta có mấy tờ báo và cuốn nhật ký, và một cuốn sách đang mở đặt trên tay ghế. Nhưng người đàn ông không thể có nổi một suy nghĩ mạch lạc từ Newcastle, khi một cô gái bước lên toa tàu và ngồi ở hàng ghế bên kia. Sau khi lặng lẽ nhìn ra ngoài cửa sổ một lúc, cô hướng sự chú ý sang một tập tạp chí. Cô đọc Vogue từ Darlington. Cô làm cho người đàn ông nhớ lại bức chân dung Bà Høegh-Guldberg của Christen Kobke (dù anh không nhớ nổi bất kỳ cái tên nào) mà anh từng nhìn thấy trong một bảo tàng ở Đan Mạch vài năm trước đó, và việc nó đã làm anh xúc động và buồn bã một cách lạ lùng như thế nào.
Nhưng không giống như Bà Høegh-Guldberg, cô có mái tóc ngắn màu nâu, đi giày thể thao, mặc quần jeans và chiếc áo len cổ chữ V màu vàng như lông chim hoàng yến bên ngoài chiếc áo phông. Anh chú ý đến chiếc đồng hồ thể thao điện tử to quá khổ trên cổ tay trắng xanh, lấm tấm vết tàn nhang của cô. Anh tưởng tượng mình đang lùa bàn tay vào mái tóc màu hạt dẻ của cô, vuốt ve phía sau cổ, luồn vào cổ áo cô, ngắm cô ngủ bên cạnh anh, môi hé mở. Anh tưởng tượng mình sống cùng cô trong một căn nhà ở phía Nam London, trên một con phố trồng toàn cây anh đào. Anh đoán có thể cô là một nghệ sĩ cello hoặc nhà thiết kế đồ họa, hoặc một tiến sĩ nghiên cứu về gien. Đầu óc anh bắt đầu chuyển sang chiến thuật làm quen. Anh tính sẽ hỏi mượn cô cây bút chì, hỏi lối đến nhà vệ sinh, hỏi xem cô nghĩ gì về thời tiết, mượn cô một cuốn tạp chí. Anh ước gì con tàu gặp sự cố, khi đó toa tàu của họ sẽ bị ném vào một trong những cánh đồng lúa mạch mênh mông mà họ đang đi qua. Trong cơn hỗn loạn, anh sẽ đưa cô ra ngoài an toàn và cùng cô trú tạm trong một chiếc lều gần đó do lực lượng cứu hộ dựng lên, nơi họ sẽ uống trà ấm và nhìn sâu vào mắt nhau. Nhiều năm sau, họ sẽ thu hút mọi sự chú ý khi tiết lộ rằng họ gặp nhau trong thảm kịch va chạm tàu Edinburg Express. Nhưng vì con tàu chẳng có vẻ gì là sẽ trật bánh, và mặc dù biết rằng điều mình nói ra nghe thật mờ ám và lố bịch, người đàn ông vẫn không thể kìm được, hắng giọng và nghiêng người hỏi thiên thần liệu nàng có thừa chiếc bút bi nào không. Cảm giác như nhảy xuống từ một chiếc cầu rất cao.
1. Theo truyền thống, các nhà triết học không thấy ấn tượng với điều này: sự sầu não của tình yêu dường như quá trẻ con để khiến họ phải xem xét. Chủ đề này nên dành cho các nhà thơ và những kẻ cuồng loạn thì hơn. Công việc của nhà triết học không phải là đi suy đoán về những cái nắm tay hay những bức thư ướp hương thơm. Schopenhauer thấy lạ về sự thờ ơ này:
Chúng ta nên thấy ngạc nhiên là một vấn đề nhìn chung chiếm một phần quan trọng đến như vậy trong cuộc đời con người lại gần như bị các nhà triết học bỏ qua, và nó nằm trước mặt chúng ta như là một thứ nguyên liệu thô và chưa qua xử lý.
Sự thờ ơ này dường như là kết quả của sự chối từ kiêu ngạo đối với cái khía cạnh của cuộc sống đã vi phạm tự ảnh duy lý của con người. Schophenhauer nhấn mạnh vào thực tế đầy rối rắm này:
Tình yêu làm gián đoạn ngay cả những công việc nghiêm túc nhất, bất kể giờ giấc, và đôi khi làm bối rối cả những bộ óc vĩ đại nhất. Nó không ngần ngại can thiệp vào cuộc đàm phán của các chính khách và quá trình nghiền ngẫm của các học giả uyên bác. Nó biết cách cài những bức thư tình và những lọn tóc quăn vào giữa mớ công việc của các vị bộ trưởng và bản thảo của các nhà triết học. Đôi khi nó đòi hỏi sự hy sinh, sức khỏe, đôi khi là tiền bạc, địa vị và hạnh phúc.
2. Giống như người viết tiểu luận xứ Gascony sinh trước ông 225 năm, Schopenhauer quan tâm đến cái làm cho con người - lẽ ra phải là sinh vật có lý trí nhất - trở nên kém lý trí. Có một bộ tác phẩm của Montaigne trong thư viện tại căn hộ của Schopenhauer ở Schöne Aussicht. Schopenhauer đọc về việc lý trí có thể bị hạ bệ như thế nào bởi một cú đánh trung tiện, một bữa trưa lớn hay một cái móng chân mọc ngược vào trong và tán đồng quan điểm của Montaigne rằng lý trí của chúng ta phục tùng cơ thể, mặc cho sự ngạo mạn của chúng ta khi tin vào điều ngược lại.
3. Nhưng Schopenhauer còn đi xa hơn. Không dừng lại ở việc chỉ ra những ví dụ lỏng lẻo về sự hạ bệ của lý trí, ông đặt tên cho nguồn sức mạnh bên trong chúng ta mà ông luôn cảm thấy có vị trí cao hơn so với lý trí, một sức mạnh đủ lớn để làm biến dạng mọi kế hoạch và sự phán xét của lý trí, và ông gọi nó là ước-vọng-tồn-tại (Wille zum Leben) - được định nghĩa là nghị lực bên trong mỗi con người để sống và tái sinh sản. Ước-vọng-tồn-tại khiến cho ngay cả những người bị chứng trầm cảm nặng cũng đấu tranh để sinh tồn khi họ bị đe dọa bởi một vụ đắm tàu hay một trận ốm trầm trọng. Nó đảm bảo rằng những người cứng rắn nhất, coi trọng sự nghiệp nhất cũng mềm lòng khi thấy một đứa trẻ bi bô, hoặc nếu vẫn không xúc động thì nhiều khả năng họ vẫn sẽ sinh con, và sẽ yêu nó mãnh liệt ngay khi nó đến bên đời. Và chính ước-vọng-tồn-tại là thứ khiến cho người ta đánh mất lý trí trước những hành khách dễ thương mà họ nhìn thấy ở hàng ghế đối diện, trên những chuyến tàu dài.
4. Schopenhauer có thể thất vọng với sự đổ vỡ trong tình yêu (không dễ gì mà mời các cô gái trẻ ăn nho); nhưng ông không coi nó là thứ không tương xứng hay ngẫu nhiên. Nó hoàn toàn xứng với chức năng của tình yêu:
Tất cả những tiếng động và sự phiền phức này để làm gì? Tất cả những sự hối thúc, náo động, đau khổ và cố gắng này để làm gì? Tại sao một chuyện vặt vãnh lại có vai trò quan trọng như thế? Không có chuyện gì là vặt vãnh ở đây cả; trái lại, tầm quan trọng của vấn đề này hoàn toàn phù hợp với sự nghiêm túc và nhiệt thành của những nỗ lực. Thật ra, mục đích cuối cùng của mọi cuộc tình quan trọng hơn mọi mục đích khác trong cuộc đời con người; và do vậy nó xứng đáng với sự nghiêm túc sâu sắc mà mọi người theo đuổi.
Và mục đích đó là gì? Không phải sự chia sẻ hay giải phóng tình dục, hiểu biết hay giải trí. Sự lãng mạn chi phối cuộc sống bởi vì:
Điều mà nó quyết định chính là sự sản sinh ra thế hệ tiếp theo, sự tồn tại và cấu thành đặc biệt của loài người trong tương lai.
Vì tình yêu, với sức mạnh ghê gớm, hướng ta tới điều thứ hai trong số hai mệnh lệnh vĩ đại nhất của ước-vọng-tồn-tại nên Schopenhauer cho rằng nó là nỗi ám ảnh quen thuộc và dễ hiểu nhất của chúng ta.
5. Việc ta hiếm khi nghĩ đến sự duy trì nòi giống khi xin số điện thoại của một người nào đó không mâu thuẫn với học thuyết này. Schopenhauer cho rằng chúng ta bị chia thành hai phần, có ý thức và vô thức, phần vô thức chịu sự chi phối của ước-vọng-tồn-tại, phần có ý thức phục tùng nó và không thể biết được mọi kế hoạch của nó. Thay vì là một thực thể độc lập, ý thức phần nào là kẻ đầy tớ nhìn thấy được của cái ước-vọng-tồn-tại đóng vai trò chi phối, bị ám ảnh bởi trẻ con:
[Trí tuệ] không thâm nhập vào nhà xưởng bí mật nơi sản sinh ra các quyết định của ý chí. Tất nhiên, nó là bạn tâm tình của ý chí, nhưng không phải cái gì người bạn tâm tình cũng được biết.
Trí tuệ chỉ hiểu đủ để thúc đẩy sự sinh sản, điều này có thể đồng nghĩa với việc nó hiểu rất ít:
[Nó] vẫn cơ bản bị loại trừ khỏi những ý định thật và quyết định bí mật của chính ý chí của mình.
Một sự loại trừ giúp giải thích tại sao, một cách có ý thức, chúng ta không cảm thấy gì hơn là khao khát mãnh liệt được gặp lại ai đó, trong khi một cách vô thức, chúng ta đang bị chi phối bởi một sức mạnh hướng tới quá trình tái sản xuất cho thế hệ tiếp theo. Tại sao sự lừa dối đó lại cần thiết? Bởi vì, theo Schopenhauer, chúng ta sẽ không chắc chắn đồng ý tái sản xuất trừ phi chúng ta phải mất lý trí trước đã.
6. Phân tích này rõ ràng là vi phạm tự ảnh duy lý, nhưng ít nhất nó phản biện quan điểm cho rằng tình yêu lãng mạn là sự sao nhãng khỏi những nhiệm vụ quan trọng hơn mà ta có thể tránh được, rằng có thể tha thứ cho những người trẻ tuổi với quá nhiều thời gian rảnh rỗi khi họ ngây ngất dưới ánh trăng và thổn thức trong chăn. Nhưng thật điên rồ và vô bổ khi những người lớn tuổi hơn sao nhãng công việc vì một khuôn mặt mà họ thoáng thấy trên chuyến tàu. Với việc coi tình yêu là điều không tránh khỏi mang tính sinh học, là chìa khóa cho sự kéo dài nòi giống, học thuyết của Schopenhauer về ước-vọng-tồn-tại cho phép chúng ta vị tha hơn với hành vi kỳ lạ mà tình yêu thường áp đặt lên con người.
Người đàn ông và cô gái ngồi ở chiếc bàn cạnh cửa sổ trong một nhà hàng Hy Lạp ở Bắc London. Giữa họ là một bát ô liu nhưng không ai nghĩ ra cách gì để nhằn hột ô liu mà vẫn giữ được vẻ lịch thiệp cần thiết nên họ không đụng đến chúng.
Cô không mang theo bút bi nhưng cho anh mượn một chiếc bút chì. Sau một khoảng lặng, cô nói cô rất ghét các chuyến tàu dài, một nhận xét vô thưởng vô phạt mang lại cho anh sự khuyến khích ít ỏi mà anh cần. Cô không phải một nghệ sĩ cello hay nhà thiết kế đồ họa mà là luật sư chuyên về tài chính doanh nghiệp tại một công ty lớn trong thành phố. Cô đến từ Newcastle nhưng đã sống ở London tám năm qua. Khi tàu đến Euston, anh đã xin được số điện thoại của cô và lời chấp thuận đi ăn tối cùng.
Người phục vụ đến ghi món ăn. Cô gọi salad và món cá cờ kiếm (sword-fish). Cô đến thẳng nhà hàng sau khi vừa tan làm, mặc một bộ vest màu ghi nhạt và đeo chiếc đồng hồ hôm trước.
Họ bắt đầu nói chuyện. Cô nói rằng vào cuối tuần, hoạt động ưa thích của cô là leo núi đá. Cô bắt đầu chơi môn này ở trường và từ đó đến nay đã đi leo núi ở Pháp, Tây Ban Nha và Canada. Cô miêu tả cảm giác hồi hộp sung sướng khi treo người lơ lửng trên cao hàng trăm feet phía trên một thung lũng và cắm trại trên núi cao, nơi mà vào buổi sáng, trong lều đóng băng. Người cùng ăn bữa tối với cô thì bị chóng mặt khi leo đến tầng hai của các tòa nhà. Một đam mê khác của cô là khiêu vũ, cô yêu cái năng lượng và cảm giác tự do mà nó mang lại. Khi có thể, cô thích thức suốt đêm. Anh thì thường lên giường trước 11 giờ 30. Họ nói chuyện về công việc. Cô đang tham gia vào một vụ kiện liên quan đến bằng sáng chế. Một nhà thiết kế ấm đun nước ở Frankfurt bị cáo buộc vi phạm bản quyền của một công ty của Anh. Công ty của cô có trách nhiệm theo khoản 60,1,a của Luật Bằng sáng chế năm 1977.
Anh không nắm bắt hết chi tiết câu chuyện dài về vụ kiện sắp tới nhưng tin rằng cô cực kỳ thông minh và họ cực kỳ hợp nhau.
1. Một trong những bí ẩn lớn nhất của tình yêu là “Tại sao lại là anh ấy?”, và “Tại sao lại là cô ấy?” Tại sao, trong tất cả những ứng cử viên tiềm năng, khao khát của chúng ta lại được đặt vào sinh vật đó một cách mạnh mẽ đến vậy, tại sao chúng ta lại trân trọng họ hơn mọi người khác trong khi câu chuyện mà họ nói trong bữa tối không phải lúc nào cũng là câu chuyện hay nhất, hoặc thói quen của họ không phải lúc nào cũng phù hợp nhất với ta? Và tại sao, cho dù có ý định tốt, chúng ta cũng không thể có được mối quan tâm về tình dục với một số người khác, những người có lẽ xét một cách khách quan cũng hấp dẫn không kém. Và sống với họ có khi còn dễ chịu hơn?
2. Sự kén cá chọn canh này không làm Schopenhauer ngạc nhiên. Chúng ta không được tự do yêu tất cả mọi người vì chúng ta không thể sinh ra những đứa con khỏe mạnh với tất cả mọi người. Ước-vọng-tồn-tại đẩy chúng ta về phía những người giúp tăng cơ hội sinh ra những đứa con xinh đẹp và khỏe mạnh, và đẩy ta ra xa những người làm cơ hội đó thấp xuống. Tình yêu không là gì khác ngoài biểu hiện có ý thức của việc ước-vọng-tồn-tại phát hiện ra một người có thể cùng ta làm cha làm mẹ:
Khoảnh khắc mà [hai người] bắt đầu yêu nhau - tơ tưởng về nhau, như cách nói rất chuẩn của tiếng Anh (to fancy each other) - thực ra được coi là xuất phát điểm của một cá nhân mới.
Trong những buổi gặp ban đầu, đằng sau các câu chuyện thông thường, phần vô thức của cả hai bên sẽ đánh giá xem liệu một ngày nào đó mối quan hệ của họ có cho ra đời một đứa trẻ khỏe mạnh hay không:
Có điều gì đó khá lạ lùng trong sự nghiêm túc sâu sắc, vô thức mà hai người trẻ tuổi ở hai giới đối nghịch nghĩ về nhau khi họ gặp nhau lần đầu, trong ánh nhìn tìm kiếm và xuyên thấu mà họ dành cho người kia, trong sự xem xét cẩn thận mọi đặc điểm và bộ phận của người kia. Sự soi mói và kiểm tra này là sự suy ngẫm của giống loài thiên tài bậc nhất về khả năng một cá thể mới được sinh ra từ hai cá thể này.
3. Và ước-vọng-tồn-tại tìm kiếm điều gì từ bài kiểm tra này? Bằng chứng về những đứa trẻ khỏe mạnh. Ước-vọng-tồn-tại cần bảo đảm rằng thế hệ tiếp theo sẽ đủ khỏe mạnh cả về tâm lý và thể chất để tồn tại trong một thế giới đầy nguy hiểm, vì thế nó muốn rằng trẻ con phải có chân tay cân đối (không quá ngắn hay quá dài, không quá béo hay quá gầy), và đầu óc cân bằng (không quá nhút nhát hay liều lĩnh, không quá lạnh lùng hay ủy mị, vv.)
Do cha mẹ chúng ta mắc sai lầm trong việc chọn bạn đời nên chúng ta khó mà là những cá thể cân bằng một cách hoàn hảo. Chúng ta thường quá cao, quá nam tính, quá nữ tính; mũi thì to, cằm thì bé. Nếu sự mất cân bằng đó tiếp diễn hoặc nếu chúng tăng lên thì không bao lâu nữa loài người sẽ trở nên kỳ dị. Do đó, ước-vọng-tồn-tại phải đẩy ta về phía những người, với sự không hoàn hảo của mình, có thể khử được sự không hoàn hảo của ta (một cái mũi to kết hợp với một cái mũi nhỏ như chiếc cúc áo hứa hẹn sinh ra một cái mũi hoàn hảo), và do đó giúp chúng ta khôi phục lại sự cân bằng về thể chất và tâm lý trong thế hệ tiếp theo:
Mọi người đều nỗ lực thông qua người khác để xoá bỏ điểm yếu, tật xấu và sự lệch lạc của mình ra khỏi giống loài, nếu không chúng sẽ được duy trì hoặc thậm chí phát triển thành sự bất thường ở đứa trẻ sẽ được sinh ra.
Lý thuyết về sự trung hòa mang lại tự tin cho Schopenhauer trong việc dự đoán đường đi của sự hấp dẫn. Phụ nữ thấp sẽ yêu đàn ông cao, nhưng hiếm khi đàn ông cao lại yêu phụ nữ cao (vô thức của họ sợ sinh ra người khổng lồ). Những người đàn ông nữ tính không thích thể thao thường bị cuốn hút bởi những người phụ nữ tomboy, có mái tóc ngắn (và đeo những chiếc đồng hồ khủng):
Sự trung hòa của hai cá thể đòi hỏi rằng một mức độ nam tính cụ thể của anh ấy phải tương thích một cách chính xác với mức độ nữ tính cụ thể của cô ấy, sao cho sự phiến diện của mỗi người khử được sự phiến diện của người kia một cách chính xác.
4. Thật không may là thuyết hấp dẫn đưa Schopenhauer đến một kết luận u ám đến mức các độc giả chuẩn bị kết hôn không nên đọc mấy đoạn tiếp sau đây để không suy nghĩ lại về đám cưới của mình. Kết luận của ông là: một người rất phù hợp cho đứa con của chúng ta gần như không bao giờ rất phù hợp với ta (mặc dù lúc đó ta không thể nhận ra được vì ta bị mờ mắt bởi ước-vọng-tồn-tại).
“Một tình yêu vừa có sự tương hợp lại vừa nóng bỏng là điều may mắn hiếm hoi nhất”, Schopenhauer nhận xét. Người tình giúp con ta không có chiếc cằm khổng lồ hay tính tình ẻo lả lại hiếm khi là người sẽ khiến ta hạnh phúc trọn đời. Sự theo đuổi hạnh phúc cá nhân và việc sinh ra những đứa trẻ khỏe mạnh là hai công trình hoàn toàn đối lập mà tình yêu, trong một số năm nhất định, thường khiến ta nhầm rằng chúng là một. Chúng ta không nên ngạc nhiên trước các cuộc hôn nhân giữa những người lẽ ra không thể là bạn:
Tình yêu gieo mình vào những người mà ngoài quan hệ tình dục ra thì sẽ căm ghét, khinh bỉ, thậm chí là ghê tởm người yêu. Nhưng ý chí của giống loài mạnh hơn ý chí của cá nhân quá nhiều, khiến cho người đang yêu nhắm mắt trước mọi tính cách mà anh ta thấy phản cảm, lờ đi mọi thứ, phán xét sai mọi thứ và tự buộc mình vào đối tượng mà anh ta đam mê mãi mãi. Vì thế, anh ta hoàn toàn bị mê đắm bởi cái ảo tưởng đó, thứ sẽ tan biến ngay khi ý chí của giống loài đã được thỏa mãn, và để lại cho anh ta người bạn đời đáng ghét. Chỉ điều này mới có thể giải thích tại sao chúng ta thường thấy những người đàn ông rất lý trí, thậm chí có tiếng tăm, lại gắn bó với những người bạn đời lắm điều và đáng sợ, và không thể hiểu tại sao họ lại lựa chọn như vậy. Một người đàn ông đang yêu có thể nhìn ra và cảm nhận một cách cay đắng ở cô dâu của mình những tính khí không thể chấp nhận được và những thói xấu hứa hẹn biến cuộc đời anh ta trở nên khốn khổ, nhưng vẫn không vì thế mà sợ hãi tránh xa cô ta vì cuối cùng điều mà anh ta tìm kiếm không phải là lợi ích của mình, mà của một người thứ ba vẫn chưa xuất hiện, mặc dù anh ta ảo tưởng rằng cái mà anh ta tìm kiếm là lợi ích của bản thân mình.
Lý thuyết của Schopenhauer hàm ý rằng khả năng của ước-vọng-tồn-tại thúc đẩy mục đích của riêng nó thay vì hạnh phúc của chúng ta có thể được cảm nhận một cách rõ ràng ở sự mệt mỏi và phiền não thường thấy ở các cặp đôi ngay sau khi làm tình:
Chẳng phải tiếng cười của quỷ vang lên ngay sau khi giao hợp đó sao? (illico post coitum cachinnus auditur Diaboli?)
Và như thế, một ngày, một người phụ nữ nam tính với một người đàn ông nữ tính sẽ bước vào nhà thờ với những động cơ mà không một ai, kể cả bản thân họ (trừ vài người hiểu lõm bõm về lý thuyết của Schopenhauer) có thể hiểu được. Chỉ sau này, khi đòi hỏi của ý chí đã được thỏa mãn và đã xuất hiện một cậu bé khỏe mạnh đá bóng trong khu vườn ở ngoại ô thì trò bịp bợm mới bị phát hiện. Cặp đôi sẽ chia tay hoặc cùng ăn tối trong sự im lặng thù địch. Schopenhauer cho chúng ta một lựa chọn -
Dường như khi tạo ra một cuộc hôn nhân, hoặc cá nhân, hoặc lợi ích của giống nòi, phải bị hy sinh.
- tuy nhiên, ông không để cho chúng ta phải nghi ngờ gì về năng lực siêu việt của giống nòi trong việc bảo đảm lợi ích của nó. Thế hệ tiếp theo được nuôi sống nhờ sự hy sinh của thế hệ hiện tại.
Người đàn ông trả tiền cho bữa tối, và với vẻ tự nhiên một cách có chủ ý, anh hỏi cô có muốn về nhà anh để uống chút gì không. Cô gái cười và nhìn xuống sàn nhà. Dưới gầm bàn, cô đang gấp chiếc khăn giấy thành những hình vuông bé xíu. “Điều đó rất tuyệt, thực sự rất tuyệt,” cô nói, ”nhưng sáng mai em phải dậy rất sớm để bay đi Frankfurt vì cuộc họp đó. 5 giờ 30, có khi còn sớm hơn. Có lẽ để lúc khác. Điều đó sẽ rất tuyệt, thực sự là rất tuyệt.” Một nụ cười nữa. Chiếc khăn giấy nát vụn dưới áp lực.
Nỗi thất vọng dịu đi phần nào khi cô hứa sẽ gọi cho anh từ Đức và cô nói họ sẽ gặp lại nhau sớm, có lẽ ngay khi cô trở lại. Nhưng vào ngày đã hẹn, không có cuộc gọi nào cho đến tận tối khuya, khi cô gọi cho anh từ một bốt điện thoại ở sân bay Frankfurt. Xung quanh là đám đông và giọng nói máy móc thông báo chuyến bay khởi hành về phương Đông. Cô nói cô nhìn thấy những chiếc máy bay khổng lồ từ cửa sổ, và rằng nơi này giống như địa ngục.
Cô nói chuyến bay Lufthansa chết tiệt bị chậm và cô sẽ cố tìm chuyến khác, nhưng anh không nên đợi. Sau đó là một khoảng lặng và điều tồi tệ nhất được xác nhận. Cuộc sống của cô hiện khá phức tạp, thực sự, cô nói tiếp, cô không rõ mình muốn gì, nhưng cô biết mình cần không gian và một chút thời gian, và nếu anh đồng ý, cô sẽ liên lạc với anh khi đầu óc cô đỡ rối rắm hơn.
1. Nhà triết học có thể đã đưa ra những lý giải không lấy gì làm đẹp đẽ về việc tại sao chúng ta yêu, nhưng trong đó có sự an ủi cho việc bị từ chối - sự an ủi khi biết rằng nỗi đau của chúng ta là bình thường. Chúng ta không nên bối rối trước sự đau khổ khủng khiếp được sinh ra chỉ sau vài ngày hy vọng. Sẽ thật vô lý khi một sức mạnh đủ lớn để thúc đẩy chúng ta sinh con đẻ cái với nhau lại có thể - nếu nó thất bại trong mục đích của mình - biến mất mà không để lại sự tàn phá nào. Tình yêu không thể xui chúng ta nhận lấy gánh nặng kéo dài nòi giống mà không hứa hẹn đem lại niềm hạnh phúc lớn nhất mà ta có thể tưởng tượng được. Bị sốc khi thấy bị từ chối đau đớn đến mức nào nghĩa là phớt lờ những thứ đi kèm với việc được chấp nhận. Đừng bao giờ để sự đau khổ của mình trầm trọng thêm bởi ý nghĩ rằng có điều gì đó không bình thường khi cảm thấy đau đớn sâu sắc đến vậy. Nếu ta không thấy đau thì mới là bất bình thường.
2. Còn nữa, chúng ta không phải bẩm sinh là những người không đáng để yêu. Bản thân chúng ta không có gì sai. Tính nết của chúng ta không khó chịu, khuôn mặt của chúng ta không đáng ghét. Sự kết hợp bị đổ vỡ vì ta không phù hợp để sinh ra một đứa trẻ cân bằng với một người cụ thể nào đó. Không cần phải tự căm ghét chính mình. Một ngày nào đó ta sẽ gặp một người cho rằng ta thật tuyệt vời và cảm thấy đặc biệt tự nhiên và thoải mái khi ở bên cạnh ta (bởi vì chiếc cằm của ta và chiếc cằm của họ tạo thành một kết hợp đáng mong muốn, theo quan điểm của ước vọng tồn tại).
3. Qua thời gian, chúng ta nên học cách tha thứ cho những người đã từ chối mình. Chia tay không phải là lựa chọn của họ. Khi một người cố gắng giải thích với người kia rằng họ cần thêm không gian và thời gian, rằng họ chưa sẵn sàng hoặc sợ gắn bó lâu dài, thì người từ chối chỉ đang cố gắng dùng lý trí để biểu đạt phán quyết tiêu cực cơ bản mang tính vô thức mà ước-vọng-tồn-tại đưa ra. Lý trí của họ có thể đánh giá cao phẩm chất của ta nhưng ước-vọng-tồn-tại của họ thì không và nó thông báo điều này cho họ theo cách mà họ không thể cãi lại được - bằng cách rút cạn hứng thú tình dục của họ đối với ta. Nếu họ bị quyến rũ bởi những người kém thông minh hơn ta thì cũng không nên buộc tội họ là nông cạn. Chúng ta nên nhớ, như Schopenhauer đã giải thích:
Điều mà người ta tìm kiếm ở hôn nhân không phải là sự thỏa mãn về trí tuệ mà là việc tạo ra những đứa trẻ.
4. Chúng ta nên tôn trọng chỉ dụ của tự nhiên về sự phản đối sinh sản được hàm chứa trong mỗi sự chối từ, như cách mà ta tôn trọng tia sét hay trận phun trào của núi lửa - một sự kiện khủng khiếp nhưng vĩ đại hơn bản thân ta. Chúng ta nên tìm sự an ủi từ suy nghĩ rằng việc không có tình yêu:
giữa một người đàn ông và một người phụ nữ là lời tuyên bố rằng con người mà họ sinh ra sẽ chỉ là một con người được chuẩn bị kém, bất hạnh, mong muốn sự hòa hợp ngay trong chính bản thân mình.
Chúng ta có thể đã rất hạnh phúc với người mình yêu, nhưng tự nhiên thì không - đó là một lý do lớn hơn để từ bỏ tình yêu.
Người đàn ông mất một thời gian chìm đắm trong nỗi buồn. Vào cuối tuần, anh đi dạo trong Công viên Battersea và ngồi trên ghế băng nhìn ra sông Thames. Trên tay anh là cuốn “Nỗi đau của Chàng Werther” của Goethe, xuất bản lần đầu năm 1774 tại Leipzig.
Vài cặp đôi đẩy xe nôi và dắt con đi dạo. Một cô bé mặc chiếc váy xanh dính đầy sô cô la, chỉ tay lên chiếc máy bay đang hạ độ cao về phía sân bay Heathrow. “Bố ơi, Chúa ở trên đó phải không?” cô bé hỏi, nhưng ông bố đang vội vã và không vui, bế cô bé lên và nói bố không biết, như thể anh ta vừa được nhờ chỉ đường. Một cậu bé 4 tuổi phi chiếc xe ba bánh vào bụi cây và khóc gọi mẹ, bà mẹ vừa mới nhắm mắt trên tấm thảm trải trên một đám cỏ trụi. Cô bảo chồng ra giúp thằng bé. Anh ta cộc cằn bảo bây giờ đến lượt cô. Cô cãi đây là lượt của anh. Anh không nói gì. Cô nói anh là đồ chết tiệt và đứng dậy. Một cặp đôi già ngồi trên chiếc ghế băng cạnh đó lặng lẽ ăn chung chiếc bánh sandwich trứng với rau cải xoong.
1. Schopenhauer nói rằng chúng ta không nên ngạc nhiên trước cảnh tượng khốn khổ đó. Không nên đòi hỏi một thời điểm sẽ kéo dài mãi mãi, dù là ở một cặp đôi hay một bậc phụ huynh.
2. Trong thư viện của Schopenhauer có rất nhiều sách về khoa học tự nhiên - trong đó có cuốn Nhập môn Côn trùng học (Introduction to Entomology) của William Kirby và William Spence, Loài ong (Des Abeilles) của Francois Huber và cuốn Về loài chuột chũi, cách thức, thói quen của chúng và cách diệt trừ (De la taupe, de ses moeurs, de ses habitudes et des moyens de la détruire) của Cadet de Vaux. Schopenhauer đọc về kiến, bọ hung, ong, ruồi, châu chấu, chuột chũi và chim di trú, và ông quan sát, với lòng trắc ẩn và sự tò mò, về cách mà tất cả các sinh vật này thể hiện ước vọng tồn tại nồng nhiệt và điên rồ. Ông đặc biệt cảm thông với lũ chuột chũi, những con vật kỳ dị cư ngụ ở các hành lang hẹp và ẩm thấp nhưng vẫn làm mọi thứ trong khả năng của chúng để tồn tại và duy trì nòi giống:
Công việc cả đời của chúng là đào bới không mệt mỏi với những cái móng khổng lồ như chiếc xẻng; bao quanh chúng là bóng đêm vĩnh cửu, những cặp mắt kém phát triển chỉ dùng để tránh ánh sáng, chúng có được gì từ cuộc đời đầy rắc rối và không chút niềm vui này? Những mối quan tâm và rắc rối của cuộc đời vượt xa lợi ích có được từ nó.
Với Schopenhauer, dường như mọi sinh vật trên trái đất đều có ước-vọng-tồn-tại như nhau đối với những cuộc đời cũng vô vị như nhau:
Hãy xem sự siêng năng không biết mệt mỏi của những con kiến bé bỏng tội nghiệp, cuộc đời của hầu hết lũ côn trùng không có gì khác ngoài lao động không ngừng nghỉ để kiếm ăn và chuẩn bị cho lũ con sẽ được sinh ra từ những quả trứng của chúng. Sau khi bọn côn trùng con đã tiêu thụ hết chỗ thức ăn và bước vào giai đoạn nhộng, chúng bước vào đời chỉ để bắt đầu lại từ đầu cái công việc giống như thế, chúng ta không thể không đặt câu hỏi: tất cả những thứ đó để làm gì? Không có gì để trưng ra ngoài việc thỏa mãn cái đói và ham muốn tình dục, và thỉnh thoảng là chút sung sướng chỉ kéo dài trong khoảnh khắc giữa những nhu cầu và nỗ lực không bao giờ chấm dứt.
3. Nhà triết học không cần phải chỉ ra sự tương đồng. Chúng ta theo đuổi các cuộc tình, tán gẫu trong quán cà phê với đối tác tiềm năng và sinh con, với lựa chọn cũng chỉ hạn hẹp như bọn chuột chũi và kiến - và hiếm khi hạnh phúc hơn.
4. Schopenhauer không định làm chúng ta trầm cảm mà thực ra là đang giải thoát ta khỏi những kỳ vọng khơi nguồn cho sự cay đắng. Khi tình yêu làm ta đau khổ thì điều an ủi là được biết rằng hạnh phúc chưa bao giờ nằm trong kế hoạch của tự nhiên. Nghịch lý là những người suy nghĩ đen tối nhất có thể lại là những người vui vẻ nhất:
Chúng ta chỉ có một lỗi thuộc về bản chất, đó là nghĩ rằng ta sinh ra là để hạnh phúc... Cho đến khi nào ta vẫn còn sống với sai lầm này thì thế giới đối với ta đầy rẫy mâu thuẫn. Trong mỗi bước đi, trong những thứ vĩ đại và nhỏ bé, chúng ta buộc phải trải nghiệm rằng thế giới và cuộc đời rõ ràng là không được sắp xếp với mục đích duy trì sự tồn tại của hạnh phúc, điều này được thể hiện trên nét mặt của hầu hết những người già, nét mặt họ thể hiện cái mà chúng ta gọi là sự thất vọng.
Họ sẽ không bao giờ trở nên thất vọng như vậy nếu họ bước vào tình yêu với kỳ vọng đúng đắn:
Tuổi trẻ của chúng ta bị xáo trộn và trở nên bất hạnh do sự kiếm tìm hạnh phúc với niềm tin chắc chắn rằng ta sẽ tìm thấy nó trong cuộc đời mình. Từ đây sinh ra cái hy vọng thường xuyên bị lừa dối và kéo theo nó là sự bất mãn. Ảo ảnh về niềm hạnh phúc mơ hồ trong những giấc mơ lẩn quất trước mặt ta dưới những hình thù được lựa chọn ngẫu nhiên và ta đi tìm xuất xứ của chúng trong vô vọng. Sẽ có ích hơn nếu như với lời khuyên và hướng dẫn kịp thời, những người trẻ tuổi có thể xóa khỏi tâm trí mình cái suy nghĩ sai lầm rằng thế giới này có thể mang lại cho họ nhiều thứ.