Cứ vài trang ta lại bắt gặp một đoạn có nói về những ngọn núi:
Ecce Homo: Người biết cách hít thở không khí của tác phẩm của tôi biết đằng đó là thứ không khí trên những đỉnh cao, một thứ không khí mạnh mẽ. Bạn phải được chuẩn bị cho thứ không khí đó bởi vì nguy cơ bị cảm lạnh là không hề nhỏ. Xung quanh là băng tuyết, nỗi cô đơn thì kinh khủng - nhưng mọi vật phơi mình dưới ánh sáng mới yên bình làm sao! Bạn được hít thở một cách tự do làm sao! Bạn cảm thấy biết bao nhiêu thứ bên dưới mình! Triết học, như tôi đã hiểu và đã sống trong nó, là một cuộc sống tự nguyện trong băng tuyết và trên núi cao.
Phổ hệ luân lý (On the Genealogy of Morals): Chúng ta sẽ phải cần một tinh thần khác cái mà chúng ta dễ dàng bắt gặp trong thời đại này [để hiểu triết học của tôi], chúng cần thích nghi với không khí loãng ở trên cao, với những chuyến đi vào mùa đông, với băng tuyết và núi non trong mọi khía cạnh.
Phàm phu, Quá đỗi phàm phu (Human, All Too Human): Trên những ngọn núi của chân lý, bạn sẽ không bao giờ leo trong vô vọng: hoặc hôm nay bạn sẽ leo cao hơn, hoặc bạn sẽ luyện tập sức mạnh để có thể leo cao hơn vào ngày mai.
Suy ngẫm không đúng lúc (Untimely Meditations): Trèo lên cao đến làn không khí băng giá tinh khiết của dãy Alps như một triết gia có thể trèo, đến nơi mà mọi màn sương và sự mơ hồ chấm dứt và nơi mà luật cơ bản của mọi vật nói lên bằng giọng nói thô ráp và cứng nhắc nhưng hoàn toàn dễ hiểu!
Ông thuộc về những ngọn núi - cả trên khía cạnh vật chất lẫn tinh thần. Nhập quốc tịch Thụy Sĩ năm 1869, Nietzsche có thể được coi là nhà triết học nổi tiếng nhất của Thụy Sĩ. Ngay cả khi đó, thỉnh thoảng ông vẫn không chịu nổi cảm giác mà ít người Thụy Sĩ chưa từng biết đến. “Con khốn khổ vì là người Thụy Sĩ!” ông phàn nàn với mẹ, một năm sau khi nhập quốc tịch.
Sau khi từ chức tại Đại học Basle ở tuổi 35, ông bắt đầu dành các mùa đông ở Địa Trung Hải, chủ yếu là ở Genoa và Nice, và mùa hè trên dãy Alps, trong ngôi làng nhỏ Sils-Maria nằm cách mặt nước biển 1.800 mét ở vùng Engadine phía Đông Nam Thụy Sĩ, cách St. Moritz vài cây số, nơi mà những cơn gió từ Italy va chạm với những cơn gió mát hơn từ phương Bắc và khiến bầu trời có màu xanh nước biển.
Nietzsche tới Engadine lần đầu vào tháng Sáu năm 1879 và ngay lập tức yêu khí hậu và địa hình của vùng này. “Giờ đây tôi đã có thể hít thở bầu không khí tuyệt vời nhất và hùng vĩ nhất của châu Âu,” ông kể với Paul Rée, “bản chất của nó giống của tôi”. Trong thư gửi Peter Gast, ông viết, “Đây không phải là Thụy Sĩ mà là một nơi rất khác, ít nhất nó giống phương Nam hơn - tôi sẽ phải đi đến vùng cao nguyên của Mexico nhìn ra Thái Bình Dương mới bắt gặp được điều tương tự (Oaxaca chẳng hạn), và các loại rau quả ở đó đương nhiên là rau quả nhiệt đới. Tôi sẽ cố giữ Sils-Maria này cho riêng mình.” Với bạn học cũ Carl von Gersdorff, ông giải thích, “Tôi cảm thấy ở đây và không phải nơi nào khác là ngôi nhà đích thực và là nơi nuôi dưỡng tôi.”
Nietzsche dành bảy mùa hè ở Sils-Maria trong một căn phòng trọ ở một ngôi nhà gỗ nhìn ra những cây thông và núi non. Ở đó, ông đã viết toàn bộ hoặc những phần quan trọng nhất của các cuốn Khoa học vui (The Gay Science), Zarathustra đã nói như thế (Thus Spake Zarathustra), Vượt qua thiện ác (Beyond Good and Evil), Phổ hệ luân lý (On the Genealogy of Morals) và Buổi hoàng hôn của những thần tượng (Twilight of the Idols), ông thường dậy lúc 5 giờ sáng và làm việc đến trưa, sau đó leo bộ lên những đỉnh núi khổng lồ bao quanh làng như Piz Corvatsch, Piz Lagrev, Piz de la Margna, những ngọn núi lởm chởm và nguyên sơ như thể chúng mới chỉ vừa nhô lên khỏi vết nứt trên bề mặt trái đất dưới áp lực địa chất khủng khiếp. Buổi tối, một mình trong phòng, ông thường ăn vài lát thịt xông khói, một quả trứng và một ổ bánh mì nhỏ rồi đi ngủ sớm. (“Làm sao mà một người có thể trở thành nhà tư tưởng nếu không dành ít nhất một phần ba thời gian trong ngày mà không có cảm xúc, con người và sách vở?”)
Ngày nay, có một bảo tàng ở ngôi làng, chắc chắn rồi. Với vài đồng franc, bạn có thể tham quan phòng ngủ của nhà triết học, đã được trùng tu, mà theo cuốn sách hướng dẫn thì nó “giống như khi Nietzsche còn ở đây, với tất cả sự đơn sơ”.
Tuy nhiên, để hiểu tại sao Nietzsche lại thấy có sự tương đồng giữa triết lý của mình với những ngọn núi, có lẽ chúng ta nên lướt qua căn phòng và thay vào đó, nên đến một trong nhiều cửa hàng bán đồ thể thao ở Sils-Maria để mua giày leo núi, ba lô, chai nước, găng tay, bản đồ và một cái cuốc chim.
Một chuyến leo núi lên đỉnh Piz Corvatsch, cách nơi Nietzsche ở vài cây số, sẽ lý giải cho chúng ta tốt hơn bất kỳ bảo tàng nào về tinh thần triết học của Nietzsche, sự bào chữa cho khó khăn và lý do mà ông từ bỏ sự nhút nhát như-con-hươu theo kiểu Schopenhauer.
Dưới chân núi ta sẽ thấy một bãi đỗ xe lớn, một dãy thùng rác, điểm đỗ xe chở rác và một nhà hàng có món xúc xích béo ngậy và bánh khoai tây rösti.
Trái lại, đỉnh núi Piz Corvatsche rất hùng vĩ. Từ đây có thể nhìn bao quát toàn bộ vùng Engadine: mặt nước xanh ngọc của hồ Segl, Silvaplana và St. Mortiz, và ở phía Nam, gần biên giới Italy là dòng sông băng khổng lồ Sella và Roseg. Không khí mang vẻ tĩnh lặng kỳ lạ đến nỗi dường như ta có thể chạm vào nóc nhà của thế giới. Độ cao làm ta khó thở nhưng phấn chấn một cách lạ lùng. Thật khó mà không mỉm cười, có lẽ là cười thành tiếng, không vì lý do gì cả, một nụ cười hồn nhiên xuất phát từ đáy lòng và thể hiện niềm vui sướng ban sơ vì được sống để nhìn thấy vẻ đẹp ấy.
Nhưng việc trèo lên một ngọn núi cao 3.451 mét so với mặt nước biển để hiểu được tinh thần của triết lý về núi của Nietzsche không hề dễ dàng. Phải mất ít nhất 5 giờ, phải bám chặt vào những đường mòn dốc đứng, đi vòng qua những tảng đá và xuyên qua rừng thông dày, hụt hơi vì không khí loãng, phải mặc thêm quần áo để chống chọi với gió và nghiến răng vượt qua lớp tuyết tưởng chừng vô tận.