Sự An Ủi Của Triết Học

Định dạng khác: 📖 Chữ 🎧 Audio
Lượt đọc: 95 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3

❊ ❊ ❊

1. Cuộc đời

Socrates sinh năm 469 trước Công nguyên tại Athens. Cha ông, Sophroniscus, được cho là một nhà điêu khắc, còn mẹ, Phaenarete, là bà đỡ. Thời trẻ, Socrates theo học triết gia Archelaus, và từ đó ông thực hành triết học mà không hề viết ra bất kỳ điều gì. Ông không thu học phí khi giảng bài và do đó trượt dần vào nghèo túng; mặc dù ông cũng ít quan tâm đến của cải vật chất. Cả năm trời ông chỉ mặc đúng một chiếc áo choàng và gần như thường xuyên đi chân trần (người ta nói rằng ông sinh ra là để trả thù đám thợ giày). Cho đến trước khi chết, ông đã có vợ cùng ba người con. Vợ ông, Xanthippe, cực kỳ tai tiếng vì tính nết thô lỗ (khi được hỏi tại sao lại lấy người đó, ông trả lời rằng người huấn luyện ngựa cần phải luyện tập với những con vật trái tính nhất). Ông dành phần lớn thời gian ở ngoài đường, trò chuyện với bạn bè ở những nơi công cộng của Athens. Họ đánh giá cao sự thông thái và khiếu hài hước của ông, ít người đánh giá cao hình thức của ông: thấp người, râu ria xồm xoàm và hói, dáng đi lắc lư buồn cười, và khuôn mặt thì được ví giống như đầu con cua, một con đười ươi hay nói chung là kỳ quặc. Ông có cái mũi tẹt, môi dày và cặp mắt lồi dưới đám lông mày rậm rạp không theo hàng lối gì hết.

Tuy nhiên, điều kỳ quặc nhất là ông có thói quen đến gần một người Athens bất kỳ, không cần biết tầng lớp, tuổi tác, nghề nghiệp, không cần biết họ có cho ông là dở hơi hay phiền phức, và không ý tứ gì hết, ông yêu cầu họ giải thích một cách chính xác tại sao họ lại có những niềm tin cụ thể nào đó, và họ coi điều gì là ý nghĩa của cuộc đời. Một người bình thường, kinh ngạc trước cách hành xử của Socrates, đã thuật lại như sau:

Mỗi khi có ai đó đến gặp và trò chuyện với Socrates thì mọi việc luôn diễn ra như sau: cho dù lúc đầu người đó nói về một chủ đề hoàn toàn khác thì Socrates cũng sẽ liên tục ngắt lời cho đến khi bẫy được họ nói về lối sống hiện tại của mình cũng như cách mà họ đã sống trong quá khứ. Và một khi đã bẫy được thì Socrates sẽ không để người đó đi cho đến khi ông đã khai thác một cách đầy đủ và chân thực ở mọi góc độ.

Thói quen này của Socrates được hỗ trợ bởi khí hậu và kiểu quy hoạch đô thị của Athens. Khí hậu Athens ấm áp trong suốt nửa năm và điều này giúp ông có nhiều cơ hội trò chuyện với mọi người ngoài đường phố một cách tự nhiên. Những hoạt động mà ở phương Bắc thường diễn ra đằng sau các bức tường bùn của những túp lều tối tăm mờ mịt khói thì tại Athens có thể diễn ra dưới bầu trời trong xanh. Người Athens thường la cà ở quảng trường, chỗ hàng cột của cổng vòm Poikile[1] hay cổng vòm Zeus Bleutherious và trò chuyện với người lạ vào chiều muộn, khoảng thời gian được ưa thích so với tính thực dụng của buổi trưa và sự lo lắng mà buổi tối mang lại.

Sự thoải mái này cũng một phần là nhờ quy mô của thành phố. Khoảng 240.000 người sống tại Athens và khu cảng biển. Chỉ mất chưa tới một giờ để đi từ đầu này đến đầu kia thành phố, từ Piraeus đến cửa Algeus. Cư dân thành phố cảm thấy có sự gắn kết giống như học sinh cùng một trường hay khách mời tại một đám cưới. Không phải chỉ có những kẻ cuồng tín và say rượu mới đi bắt chuyện với người lạ ở nơi công cộng.

Chúng ta không đặt câu hỏi về nguyên trạng chủ yếu là do chúng ta gắn cái phổ biến với cái đúng - ngoài lý do thời tiết và quy mô của thành phố. Nhà triết học chân đất đã đặt ra quá nhiều câu hỏi để xác định xem liệu có phải những điều phổ biến diễn ra đều có ý nghĩa của chúng.

2. Quy luật Lẽ thường

Nhiều người cho rằng các câu hỏi đó thật là điên rồ. Một số người trêu chọc ông. Vài kẻ muốn giết ông. Trong vở kịch Những đám mây, được công diễn lần đầu tại nhà hát Dionysus vào mùa xuân năm 423 trước Công nguyên, Aristophanes cho người dân Athens thấy một bức tranh biếm họa về nhà triết học từ chối chấp nhận lẽ thường mà không xem xét logic của nó một cách cặn kẽ. Diễn viên đóng vai Socrates xuất hiện trên sân khấu trong một cái giỏ treo trên cần cẩu, vì ông từng tuyên bố rằng trí óc mình làm việc tốt hơn ở trên cao. Ông đắm chìm vào những suy nghĩ quan trọng đến nỗi không có thời gian giặt giũ hay làm việc nhà. Vì thế cái áo choàng của ông bốc mùi kinh khủng và nhà thì đầy sâu bọ, nhưng ít nhất thì ông đã có thể suy nghĩ về những câu hỏi quan trọng nhất của cuộc đời. Chúng bao gồm: con bọ chét có thể nhảy xa với khoảng cách bằng mấy lần chiều dài cơ thể nó? Lũ muỗi phát ra tiếng kêu vo ve qua đường miệng hay đường hậu môn? Mặc dù Aristophanes không nói kỹ hơn về câu trả lời cho các câu hỏi của Socrates nhưng chắc hẳn như vậy cũng đã đủ để khán giả thấy được sự liên quan của chúng.

Aristophanes đang nhấn mạnh một lời chỉ trích quen thuộc nhằm vào giới trí thức, đó là so với những người không bao giờ mạo hiểm phân tích vấn đề một cách có hệ thống thì họ thường bị cuốn xa rời những quan điểm hợp lý. Làm nổi bật sự khác biệt giữa nhà soạn kịch và nhà triết học là một sự đánh giá đối lập về tính đầy đủ của những lý giải thông thường. Trong con mắt của Aristophanes, người tỉnh táo có thể thỏa mãn với hiểu biết rằng con bọ chét có khả năng nhảy xa so với kích thước của chúng và muỗi phát ra tiếng kêu vo ve từ đâu đó, còn Socrates thì bị cho là chứa chấp sự nghi ngờ điên rồ đối với lẽ thường và sự khao khát trái khoáy đối với những lý giải phức tạp và ngu ngốc khác.

Trước những cáo buộc này, chắc hẳn Socrates sẽ đáp trả rằng trong những trường hợp cụ thể, mặc dù có lẽ là không liên quan đến bọ chét, thì lẽ thường có thể đòi hỏi sự suy xét kỹ lưỡng hơn. Sau những cuộc trò chuyện ngắn với nhiều người Athens, những quan điểm phổ biến về việc làm thế nào để sống tốt, những quan điểm được đa số cho là bình thường và không có gì đáng để hỏi, lại bộc lộ sự thiếu hụt đáng ngạc nhiên mà cung cách tự tin của những người ủng hộ chúng đã che giấu quá tài tình. Trái ngược với những gì mà Aristophanes hy vọng, những người mà Socrates trò chuyện hầu như không biết mình đang nói gì.

3. Hai cuộc đối thoại

Trong tác phẩm Laches, Plato viết rằng, vào một buổi chiều ở Athens, Socrates đến gặp hai vị tướng đáng kính là Nicias và Laches. Hai vị tướng đã chiến đấu chống lại quân Sparta trong cuộc chiến Peloponnesla, và nhận được sự kính trọng của những người lớn tuổi trong thành phố và sự ngưỡng mộ của lớp trẻ. Sau này cả hai đều chết trên chiến trường: Laches chết trong trận Mantinea năm 418 trước Công nguyên, Nicias chết trong cuộc viễn chinh đen đủi đến Sicily năm 413 trước Công nguyên. Không có bức chân dung nào của họ còn sót lại nhưng người ta có thể hình dung rằng hình ảnh của họ trên chiến trường giống như hình hai người đàn ông trên lưng ngựa khắc trên bức phù điêu trong điện Parthenon.

Hai vị tướng này gắn liền với một quan niệm lẽ thường. Họ tin rằng một người chỉ được coi là can đảm khi ở trong quân ngũ, trưởng thành trên chiến trường và tiêu diệt kẻ thù. Nhưng khi gặp họ ngoài đường, Socrates bị thôi thúc hỏi thêm vài câu hỏi:

SOCRATES: Laches, hãy thử nói xem lòng can đảm là gì?

LACHES: Socrates, theo tôi điều đó chẳng có gì khó. Nếu một người sẵn sàng đứng trong quân ngũ, đối mặt với kẻ thù và không trốn chạy thì anh có thể chắc rằng người đó có lòng can đảm.

Nhưng Socrates nhớ rằng trong trận Plataea năm 479 trước Công nguyên, một đội quân Hy Lạp dưới sự chỉ huy của Pausanias, quan nhiếp chính của Sparta, ban đầu đã rút lui nhưng sau đó đã đánh bại đội quân Ba Tư của Mardonius một cách can đảm.

SOCRATES: Chuyện kể rằng trong trận Plataea, người Sparta nổi dậy chống lại [người Ba Tư], nhưng không sẵn sàng chiến đấu và đã rút lui. Khi quân Ba Tư đuổi theo, hàng ngũ của họ bị phá vỡ; sau đó người Sparta quay lại chiến đấu như thể sẵn sàng tử trận.

Điều này làm cho Laches phải nghĩ lại và ông nêu ra một quan điểm lẽ thường thứ hai: lòng can đảm là một dạng của sự bền bỉ. Nhưng Socrates chỉ ra rằng sự bền bỉ có thể bị hướng vào những mục tiêu bừa bãi. Để phân biệt lòng can đảm thực sự với sự cuồng nhiệt điên rồ thì cần có một yếu tố khác. Bạn đồng hành của Laches là Nicias, với sự dẫn dắt của Socrates, đề xuất rằng lòng can đảm sẽ phải đi kèm với tri thức, sự nhận thức cái thiện và cái ác, và không phải lúc nào cũng gắn với chiến tranh.

Chỉ qua một cuộc trò chuyện ngắn ngoài đường người ta cũng có thể phát hiện ra sự thiếu hụt nghiêm trọng về định nghĩa chuẩn cho một đức tính rất được ngưỡng mộ của người Athens. Họ đã không tính đến lòng can đảm bên ngoài chiến trường hay tầm quan trọng của tri thức đi kèm với sự bền bỉ. Vấn đề này nghe có vẻ tầm thường nhưng lại có những ngụ ý vô cùng to lớn. Nếu một vị tướng cho rằng việc ra lệnh cho đội quân của mình rút lui là hèn nhát, ngay cả khi đó là hành động hợp lý duy nhất, thì việc định nghĩa lại lòng can đảm sẽ mở rộng những lựa chọn và giúp ông ta đối phó với những lời chỉ trích.

Trong tác phẩm Meno của Plato, Socrates nói chuyện với một người cực kỳ tự tin về sự đúng đắn của một quan niệm lẽ thường. Meno, một nhà quý tộc hống hách, tới thăm Attica từ quê nhà Thessaly và nói về mối quan hệ giữa tiền bạc và phẩm hạnh. Ông nói với Socrates rằng để là người có phẩm hạnh thì phải rất giàu có, và sự nghèo khó luôn luôn là thất bại của cá nhân chứ không phải sự tình cờ.

Chúng ta cũng không có bức chân dung nào của Meno nhưng khi xem một cuốn tạp chí cho đàn ông của Hy Lạp, tôi hình dung rằng hẳn Meno sẽ giống người đàn ông đang uống sâm banh trong một hồ bơi sáng choang ánh đèn.

Một người đàn ông có đạo đức, Meno tự tin nói với Socrates, là người vô cùng giàu có và sở hữu những thứ tốt đẹp. Socrates hỏi Meno thêm mấy câu:

SOCRATES: Theo ngài những thứ tốt có nghĩa là sức khỏe và tài sản?

MENO: Tôi nghĩ nó bao gồm cả vàng và bạc, cũng như một vị trí cao và danh giá trong bộ máy nhà nước.

SOCRATES: Đó có phải là những thứ duy nhất mà ngài cho là tốt không?

MENO: Đúng, ý tôi là tất cả những thứ kiểu như vậy.

SOCRATES:... Ngài cho rằng việc “có được” những thứ đó có cần phải “công bằng và chính đáng” không, hay điều đó với ngài không quan trọng? Liệu ngài có coi một người là có phẩm hạnh ngay cả khi họ có được những thứ tốt một cách không công bằng hay không?

MENO: Chắc chắn là không.

SOCRATES: Như vậy có vẻ là việc có được [vàng và bạc] phải gắn với sự công bằng, chừng mực, lòng hiếu thảo hoặc những yếu tố khác của phẩm hạnh... Thực ra, việc không có vàng hay bạc, nếu xuất phát từ thất bại trong việc có được chúng, trong những trường hợp mà việc có được chúng là không chính đáng, thì bản thân nó lại là phẩm hạnh.

MENO: Có vẻ như vậy.

SOCRATES: Như thế có nghĩa là việc có các thứ đó không hề làm cho một người trở nên tốt đẹp hơn là không có chúng...

MENO: Kết luận của ngài có vẻ như là tất yếu.

Sau đó, Socrates còn cho Meno thấy rằng tiền bạc và ảnh hưởng bản thân chúng không phải là những đặc điểm cần và đủ của phẩm hạnh. Người giàu có thể được ngưỡng mộ nhưng điều đó còn phụ thuộc vào việc tài sản của họ từ đâu mà có, và sự nghèo khó bản thân nó không cho thấy điều gì về giá trị đạo đức của một cá nhân. Không có lý do ràng buộc nào để một người giàu cho rằng tài sản của mình đảm bảo cho phẩm hạnh, và không có lý do ràng buộc nào để một người nghèo nghĩ rằng sự nghèo khó của mình là dấu hiệu của sự đồi bại.

4. Tại sao người khác có thể không biết?

Các chủ đề này có thể đã cũ nhưng ý nghĩa đằng sau chúng thì không: người khác có thể sai, ngay cả khi họ có vị trí quan trọng, ngay cả khi họ tán đồng những niềm tin đã được đa số tin theo qua hàng thế kỷ. Lý do chỉ đơn giản là họ chưa xem xét niềm tin của mình một cách logic.

Meno và các vị tướng có những quan niệm sai bởi vì họ tiếp thu những quy phạm phổ biến mà không kiểm tra tính logic của chúng. Để chỉ ra sự thụ động một cách khác thường của họ, Socrates đã so sánh việc sống mà không suy nghĩ một cách có hệ thống với việc thực hiện một hoạt động như làm đồ gốm hay đóng giày mà không tuân theo hay thậm chí không biết các quy trình kỹ thuật. Chúng ta khó có thể tưởng tượng rằng một cái bình gốm tốt hay một chiếc giày tốt lại được làm ra chỉ nhờ trực giác; vậy thì tại sao lại cho rằng có thể thực hiện một nhiệm vụ phức tạp hơn nhiều như sống một cuộc đời mà lại không cần đến bất kỳ sự suy ngẫm nào về những giả định hay mục đích của nó?

Có lẽ là vì chúng ta không tin rằng sống cuộc đời của mình lại là một việc phức tạp như vậy. Chắc chắn có những việc khó nhìn bên ngoài rất khó, trong khi những việc khác cũng khó thì nhìn lại rất dễ dàng. Có được quan niệm đúng đắn về việc sống như thế nào rơi vào loại thứ hai, làm một chiếc bình gốm hay một chiếc giày rơi vào loại thứ nhất.

Làm một chiếc bình gốm rõ ràng là rất khó. Trước tiên đất sét được mang đến Athens, thường là từ một giếng lớn ở Mũi Kolias cách thành phố khoảng 7 dặm về phía Nam, rồi đặt trên một cái bàn xoay và xoay với tốc độ từ 50 đến 150 vòng một phút, tốc độ này tỷ lệ nghịch với đường kính của sản phẩm (bình càng hẹp thì tốc độ xoay càng lớn). Tiếp đến nó được cọ bằng bọt biển, mài nhẵn, phủ bề mặt và gắn quai.

Tiếp đó, chiếc bình được phủ một lớp men màu đen làm từ đất sét mịn trộn với bồ tạt. Khi lớp men đã khô, người ta đặt nó vào lò đã làm nóng tới 800°c và có lỗ thông khí. Nó chuyển sang màu đỏ sẫm, kết quả của quá trình đất sét cứng lại và chuyển hóa thành ô-xít sắt. Lúc này, người ta làm nóng lò lên 950°c và đóng lỗ thông khí. Lá ướt được đưa thêm vào lò để tạo độ ẩm, làm cho thân bình chuyển sang màu đen xám và lớp men thành màu đen than (ô-xít sắt từ). Sau vài giờ, người ta mở cửa thông gió, lấy lá ướt ra khỏi lò và lúc này nhiệt độ trong lò giảm xuống còn 900°c. Trong khi lớp men giữ nguyên màu đen từ lần đốt lò thứ hai thì thân bình trở lại màu đỏ sẫm của lần thứ nhất.

Không ngạc nhiên khi ít người Athens không chút đắn đo muốn tự làm một chiếc bình gốm. Nghề gốm trông phức tạp và thực tế cũng phức tạp. Tuy nhiên, thật không may là việc có được những quan niệm đạo đức đúng đắn thì lại không như vậy. Đây là một vấn đề rắc rối, bề ngoài có vẻ rất đơn giản nhưng thực chất lại vô cùng phức tạp.

Socrates khuyến khích chúng ta không nên chùn bước trước sự tự tin của những người không có khả năng nhìn ra sự phức tạp này và xây dựng niềm tin của họ mà không có sự khắt khe ít nhất cũng phải như một người thợ gốm. Những gì được tuyên bố là hiển nhiên và “tự nhiên” lại hiếm khi như vậy. Nhận thức được điều này dạy cho chúng ta phải suy nghĩ rằng thế giới này linh hoạt hơn vẻ bề ngoài của nó bởi vì những quan niệm đã được xác lập thường không ra đời từ quá trình lập luận hoàn hảo mà là từ sự mụ mẫm về trí tuệ kéo dài qua hàng thế kỷ. Có thể không có lý do xác đáng nào để mọi việc diễn ra theo cách mà chúng vẫn diễn ra.

5. Suy nghĩ độc lập như thế nào?

Nhà hiền triết không chỉ giúp chúng ta nhận thức được rằng người khác có thể sai mà ông còn mang lại cho chúng ta một phương pháp đơn giản để tự mình xác định điều gì là đúng. Ít có nhà hiền triết nào lại có quan niệm tối giản hơn về những điều cần thiết để khởi đầu một cuộc sống có suy nghĩ. Chúng ta không cần phải có nhiều năm tháng được học hành một cách chính thống hay một cuộc sống thoải mái để làm việc này. Bất kỳ ai với đầu óc hiếu kỳ, sáng sủa và muốn đánh giá một niềm tin thông thường đều có thể bắt đầu cuộc trò chuyện với một người bạn trên đường, và nếu áp dụng phương pháp của Socrates, trong vòng chưa tới nửa giờ, họ đều có thể nảy sinh một hay hai ý tưởng đột phá.

Phương pháp đánh giá quan niệm lẽ thường của Socrates xuất hiện trong tất cả các đoạn đối thoại ở phần đầu và giữa trong tác phẩm của Plato, và do được tiến hành theo các bước nhất quán, nó có thể được trình bày dưới hình thức giống như một cuốn sách hướng dẫn hay sách dạy nấu ăn, và có thể áp dụng cho bất kỳ niềm tin nào mà ta được yêu cầu tin theo hoặc cảm thấy cần phải chống lại. Theo phương pháp này, tính đúng đắn của một phát biểu không thể được xác định bằng việc liệu nó có được số đông tin theo, hoặc từ lâu đã trở thành niềm tin phổ biến của những người quan trọng hay không. Một phát biểu đúng là một phát biểu không thể bị phủ định bằng lập luận. Một phát biểu là đúng nếu như nó không thể bị chứng minh là sai. Nếu nó có thể bị chứng minh là sai thì dù cho có bao nhiêu người tin đi chăng nữa, dù nó có vĩ đại đến cỡ nào đi nữa thì nó chắc chắn là sai và chúng ta đã đúng khi nghi ngờ nó.

Phương pháp tư duy của Socrate:

1. Xác định một tuyên bố được mô tả một cách tự tin là “lẽ thường”

Hành động một cách can đảm bao gồm việc không rút lui trên chiến trường.

Để là người có phẩm hạnh thì phải có tiền.

2. Hãy tưởng tượng rằng mặc dù người đưa ra tuyên bố đó tự tin vào lời nói của mình thì tuyên bố đó vẫn là sai. Tìm những tình huống hoặc hoàn cảnh mà tuyên bố đó là sai.

Người ta có thể can đảm nhưng vẫn rút lui trong một trận chiến hay không?

Người ta có thể không rút lui trong một trận chiến nhưng không can đảm hay không?

Người ta có thể có tiền nhưng không có phẩm hạnh hay không?

Người ta có thể không có tiền nhưng vẫn có phẩm hạnh hay không?

3. Nếu có thể tìm thấy một ngoại lệ thì định nghĩa đó phải là sai hoặc ít nhất không chính xác.

Một người có thể can đảm và rút lui.

Một người có thể không rút lui nhưng không can đảm. Một người có thể có tiền và là kẻ lừa đảo. Một người có thể nghèo và có đạo đức.

4. Tuyên bố ban đầu phải được làm mềm đi để tính đến các ngoại lệ.

Hành động can đảm có thể bao gồm cả việc rút lui và tiến lên trong một trận chiến.

Người có tiền chỉ có thể được coi là có phẩm hạnh nếu như họ kiếm tiền một cách có đạo đức, và có những người không có tiền nhưng vẫn là người có phẩm hạnh nếu như họ phải trải qua những tình huống mà không thể vừa có tiền vừa giữ được phẩm hạnh.

5. Nếu tìm thấy ngoại lệ cho các tuyên bố đã được điều chỉnh thì quá trình này phải lặp lại. Chân lý, trong chừng mực mà con người có thể đạt tới, nằm ở một tuyên bố mà xem ra không thể bị chứng minh là sai. Chính bằng việc tìm ra cái không phải chân lý mà ta có thể đến gần nhất với chân lý.

6. Sản phẩm của tư duy, bất kể Aristophanes có bóng gió điều gì đi chăng nữa, ưu việt hơn sản phẩm của trực giác.

Đương nhiên là chúng ta có thể đạt tới chân lý mà không cần triết lý. Không cần áp dụng phương pháp Socrates ta cũng biết rằng những người không có tiền vẫn được coi là có phẩm hạnh nếu như họ trải qua những tình huống mà không thể vừa có tiền vừa giữ được phẩm hạnh, hay hành động can đảm có thể bao gồm việc rút lui trong chiến đấu. Tuy nhiên, có nguy cơ là chúng ta sẽ không biết trả lời thế nào với những người không đồng tình với ta, trừ phi ta đã suy nghĩ một cách logic về những ý kiến đối lập với quan điểm của mình. Những nhân vật quan trọng có thể khiến chúng ta phải câm lặng, chẳng hạn khi họ mạnh mồm tuyên bố rằng phải có tiền thì mới có phẩm hạnh hay chỉ có những kẻ hèn nhát mới thoái lui trong chiến đấu. Nếu thiếu các phản lập luận (ví dụ như trận Plataea hay việc làm giàu trong một xã hội tham nhũng) thì ta sẽ phải thừa nhận một cách yếu ớt hay khó chịu rằng ta cảm thấy mình đúng mà không thể giải thích tại sao.

Socrates gọi một niềm tin đúng mà không kèm theo hiểu biết về cách đáp trả những phản bác bằng lập luận là ý kiến đúng, và cho rằng nó có vị trí thấp hơn so với tri thức, bởi vì tri thức phải bao gồm không chỉ hiểu biết về nguyên nhân tại sao một điều được coi là đúng mà còn cả nguyên nhân tại sao điều ngược lại là sai. Ông ví hai phiên bản của chân lý như hai tác phẩm của nhà điêu khắc vĩ đại Daedalus. Chân lý có được nhờ trực giác giống như một bức tượng đặt trên bệ ở ngoài trời mà không có gì chống đỡ.

Một cơn gió mạnh có thể quật đổ bức tượng bất kỳ lúc nào. Nhưng chân lý được chống đỡ bởi lý lẽ và sự hiểu biết về các phản lập luận giống như một bức tượng được bắt chặt xuống đất bằng dây cáp.

Phương pháp tư duy của Socrates hứa hẹn cho chúng ta một cách xây dựng quan điểm theo đó ta có thể cảm thấy thực sự tự tin, ngay cả khi gặp bão tố.

❀ ❀ ❀

[1] Painted stoa.

Nguyên tác: The Consolations of Philosophy Dịch giả: Ngô Thu Hương
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Alain De Botton

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.