Trong nhà ngục lúc đó hẳn là tối tăm và những âm thanh từ đường phố vọng vào chắc hẳn có cả những lời chế nhạo của người Athens dự đoán về kết cuộc của nhà tư tưởng với bộ mặt của vị thần rừng. Lẽ ra ông đã bị xử tử ngay nếu như bản án không trùng với thời điểm phái đoàn thường niên của Athens tới Delos. Theo truyền thống, trong thời gian này, thành quốc sẽ không xử tử bất kỳ ai. Là một người tốt bụng, Socrates nhận được sự cảm thông của người gác ngục. Ngày cuối đời của Socrates được làm dịu bớt khi người gác ngục cho phép mọi người vào thăm ông. Một đoàn người kéo đến: Phaedo, Crito, Critobulus - con trai của Crito, Apollodorus, Hermogenes, Epigenes, Aeschines, Antisthenes, Cteslppus, Menexenus, Simmias, Cebes, Phaedondas, Euclides và Terpsion. Họ không giấu nổi sự đau xót khi chứng kiến con người mà cả đời mình chỉ đối xử với người khác bằng sự tử tế tuyệt vời cùng lòng hiếu kỳ giờ đây đang chờ đợi cái chết như một phạm nhân.
Bức tranh của David thể hiện hình ảnh Socrates được vây quanh bởi những người bạn đau buồn, tuy vậy, chúng ta cần lưu ý rằng tình cảm mà họ dành cho ông chỉ là thiểu số trong một biển người hiểu lầm và ghét bỏ ông.
Để thể hiện sự đối nghịch với tâm trạng trong phòng giam và cho thấy sự đa dạng, Diderot có thể đề nghị vài người trong số rất nhiều những họa sĩ có tiềm năng, thay vì vẽ cảnh Socrates uống thuốc độc thì chuyển sang thể hiện tâm trạng của những người Athens khác trước cái chết của ông - và kết quả có thể là những bức tranh với cái tên như Năm bồi thẩm viên chơi bài sau một ngày ở tòa hay Những người luận tội kết thúc bữa tối và chuẩn bị đi ngủ. Một họa sĩ với xu hướng thể hiện cảm xúc bi ai có thể sẽ đặt tên cho những cảnh này một cách đơn giản hơn, ví dụ như Cái chết của Socrates.
Đến ngày thi hành án, chỉ có mình Socrates vẫn giữ được bình tĩnh. Vợ và ba người con của ông được đưa tới nhưng Xanthippe kêu khóc quá thảm thiết khiến Socrates phải yêu cầu đưa bà ra ngoài. Những người bạn lặng lẽ hơn nhưng cũng đầy nước mắt. Ngay cả viên cai ngục, tuy đã từng chứng kiến nhiều người bị xử tử nhưng cũng không nén nổi xúc động với lời từ biệt vụng về:
“Trong thời gian ngài ở đây, tôi thấy ngài là người hào phóng, lịch thiệp và là người tử tế nhất trong số những người từng đến nơi này... Ngài biết thông điệp mà tôi mang đến: xin từ biệt, và hãy gắng đối mặt với điều không thể tránh khỏi một cách nhẹ nhàng nhất có thể.” Nói rồi anh ta quay đi và bước ra ngoài trong nước mắt.
Tiếp đó người thi hành án bước vào, mang theo cây độc cần đã được nghiền nhỏ.
Khi nhìn thấy người này, Socrates nói: “Nào, anh bạn, anh là chuyên gia trong chuyện này, giờ thì ta phải làm gì?” “Uống thôi,” anh ta nói, “và đi lại một chút cho đến khi chân cảm thấy nặng thì nằm xuống, lúc đó thuốc độc sẽ phát tác.” Nói rồi người thi hành án đưa chiếc cốc cho Socrates. Ông cầm một cách hoàn toàn bình thản... tay không hề run và mặt không hề biến sắc. Ông đưa cốc lên miệng, uống sạch một cách hài hước và không một chút nhăn mặt. Cho tới lúc đó, hầu hết chúng tôi đều có thể kiềm chế không khóc [Phaedo kể lại]; nhưng khi nhìn Socrates uống cốc thuốc độc, thấy rằng ông thực sự đã uống, chúng tôi không thể kìm nén lâu hơn nữa, về phần tôi, nước mắt cứ thế tuôn ra... Crito còn khóc trước cả tôi và đã đi ra ngoài vì không thể kìm được nước mắt. Apollodorus, trước đó đã khóc không ngừng, thì đến lúc này bật ra những cơn nức nở khiến cho mọi người có mặt tại đó đều òa khóc theo, trừ Socrates.
Nhà triết học kêu gọi các bạn hữu hãy giữ bình tĩnh - “Những người bạn kỳ lạ của tôi, các bạn thật là biết cách cư xử!” - ông chế giễu họ - rồi đứng dậy đi quanh phòng giam để cho thuốc độc ngấm nhanh. Khi cảm thấy nặng chân, ông nằm ngửa xuống và bàn chân rồi cẳng chân dần mất cảm giác; thuốc độc ngấm lên phần trên cơ thể, đến ngực, ông dần mất ý thức. Hơi thở của ông chậm dần. Khi nhìn thấy đôi mắt người bạn thân nhất của mình không còn chuyển động nữa, Crito bước đến và vuốt mắt cho Socrates:
Và đó [Phaedo nói]... là sự kết thúc của người bạn của chúng tôi, người mà chúng tôi có thể nói một cách công bằng sau chừng đó thời gian biết nhau, là người can đảm nhất, cũng là người thông thái và ngay thẳng nhất.
Thật khó mà không khóc trước cảnh tượng này. Có lẽ bởi vì Socrates được cho là có cái đầu giống như củ hành và hai mắt đặc biệt cách xa nhau nên cảnh tượng cái chết của ông khiến tôi nghĩ về một buổi chiều mà tôi đã khóc khi xem bộ phim Người Voi (The Elephant Man).
Dường như cả hai người đã phải chịu những số phận buồn thảm nhất - là người tốt nhưng lại bị coi là có tội.
Chúng ta có thể không bao giờ bị chế giễu do khiếm khuyết về ngoại hình hay bị kết tội chết vì sứ mệnh của đời mình nhưng có một cái gì đó mang tính phổ quát trong kịch bản bị hiểu lầm mà hai câu chuyện trên là những ví dụ bi thảm và mang tính tổng quát. Đời sống xã hội bị cản trở bởi sự khác biệt giữa cách người khác nhìn ta và thực tế của ta. Khi ta cẩn trọng thì bị coi là ngu dốt. Sự nhút nhát bị coi là kiêu ngạo và mong muốn làm hài lòng người khác bị coi là xu nịnh. Chúng ta đấu tranh để làm sáng tỏ một sự hiểu lầm nhưng cổ họng ta khô rát và những lời nói ra không phải là lời ta muốn nói. Kẻ thù tàn độc được cất nhắc vào vị trí cao hơn và lăng mạ ta trước mặt người khác. Nhìn vào sự thù ghét đầy bất công dành cho một nhà triết học vô tội, ta cảm nhận được sự cộng hưởng của nỗi đau mà bản thân ta từng trải qua dưới bàn tay của những người hoặc không thể hoặc không muốn cho ta sự công bằng.
Nhưng trong tấn bi kịch trên phần nào cũng có sự cứu rỗi. Không lâu sau cái chết của nhà triết học, tâm trạng của người dân thành quốc bắt đầu có sự thay đổi. Isocrates kể lại rằng khán giả xem vở Palameaes của Euripides đã òa khóc khi nghe đến cái tên Socrates; Diodorus thì nói những người buộc tội Socrates cuối cùng đã bị người dân Athens trừng trị. Plutarch kể người dân Athens trở nên căm ghét bọn họ đến mức từ chối tắm cùng và tẩy chay họ cho đến khi, trong cơn cùng quẫn, họ treo cổ tự sát. Diogenes kể lại rằng không lâu sau cái chết của Socrates, thành quốc cũng kết án tử hình đối với Meletus, buộc Anytus và Lycon đi lưu đày và cho dựng một bức tượng Socrates bằng đồng rất tốn kém do nhà điêu khắc vĩ đại Lysippus thực hiện.
Nhà triết học đã tiên đoán cuối cùng Athens sẽ đi theo con đường của ông, và đúng là như vậy. Có thể sự cứu rỗi này nghe thật khó tin. Chúng ta quên mất rằng cần phải có thời gian để định kiến bị đánh đổ và sự ghen tức nhạt phai đi. Câu chuyện này khuyến khích chúng ta tự lý giải việc mình không được người khác yêu thích thay vì nhìn nó qua con mắt giễu cợt của bồi thẩm đoàn. Socrates bị phán xét bởi 500 người đàn ông với trí tuệ hạn chế, họ nuôi dưỡng sự ngờ vực vô lý bởi vì Athens đã thua trong cuộc chiến tranh Peloponnesia và bởi vì bị cáo trông khác thường. Vậy mà ông vẫn giữ vững niềm tin vào sự phán xét của những tòa án lớn hơn. Mặc dù chúng ta chỉ sống ở một nơi tại một thời điểm nhưng qua ví dụ này, chúng ta có thể tưởng tượng mình sống ở một nơi khác, vào một thời đại khác hứa hẹn sẽ phán xét chúng ta một cách khách quan hơn. Chúng ta có thể không thuyết phục được bồi thẩm đoàn nơi đây vào thời điểm này về sự đúng đắn của bản thân ta, nhưng chúng ta có thể được an ủi bởi triển vọng được hậu thế phán xét.
Tuy nhiên, cái chết của Socrates có thể quyến rũ ta bởi những lý do sai lầm. Nó có thể thôi thúc một niềm tin dựa trên cảm tính vào mối liên hệ chắc chắn giữa việc bị ghét bỏ với sự chính đáng. Dường như số phận của các bậc thánh nhân và thiên tài là phải bị hiểu lầm lúc ban đầu, rồi sau đó được Lysippus dựng tượng. Chúng ta có thể không phải thiên tài cũng chẳng phải thánh. Chúng ta có thể chỉ đơn giản là bất chấp lý lẽ và tin tưởng một cách trẻ con rằng chưa bao giờ ta đúng hơn là khi người khác bảo ta sai.
Đây không phải là ý định của Socrates. Cho rằng không được ưa chuộng đồng nghĩa với chân lý là sự ngây thơ, cũng giống như cho rằng không được ưa chuộng đồng nghĩa với sai lầm. Sự đúng đắn của một quan điểm hay hành động không được xác định bởi việc nó được nhiều người tin theo hay phỉ báng mà bởi vì nó tuân theo những quy luật logic. Không phải vì một lập luận bị số đông phản đối mà nó sai, còn đối với những người theo chủ nghĩa bất tuân anh hùng, cũng không phải vì thế mà nó đúng.
Nhà triết học đã chỉ cho chúng ta một con đường thoát khỏi hai ảo tưởng lớn lao: một là ta luôn luôn nên nghe theo sự phán xét của công luận; hai là không bao giờ.
Theo gương ông, chúng ta sẽ được tưởng thưởng xứng đáng nếu cố gắng luôn nghe theo sự phán xét của lập luận.