Điều mà người thông minh cần biết.
Một trong những điều đó, phản ánh ở những thứ được dạy trong nhiều trường phổ thông và đại học, đó là người thông minh thì phải biết trả lời những câu hỏi như:
1. Tìm chiều dài hoặc độ lớn của cạnh hoặc góc đánh dấu X trong các tam giác sau:

2. Tìm chủ ngữ, vị ngữ, từ nối, từ chỉ số lượng (nếu có) trong các câu sau: Chó là bạn tốt nhất của con người; Licilius là kẻ xấu xa; Tất cả các con dơi thuộc loài gặm nhấm; Không có cái gì màu xanh trong căn phòng này sao?
3. Luận điểm Nguyên nhân đầu tiên của Thomas Aquinas phát biểu như thế nào?
4. Dịch đoạn sau:
Πάσα τέχνη και πάσα μέθοδος, ομοίως δέ πραξίς τε και προαιρεοις, αγαθού τίνος εφιεσθαι δοκεΐ διό καλώς άπεφήναντο τάγαθόν ο•5 πάντ’ εφίεται. (διαφορά δέ τις φαίνεται των τελών τα μέν γάρ ειοιν ενέργειαι, τα δε παρ’ αύτάς έργα τινά’ ων δ’ εισι τέλη τινά παρά τάς πράξεις, εν τούτοις βελτίω πέφυκε των ενεργειών τά έργα.) πολλών δε πράξεων οΰσών καί τεχνών και επιστήμων πολλά γίνεται και τα τέλη• ιατρικής μεν γαρ ΰγίεια, ναυπηγικής δέ πλοιον, στρατηγικής δε νίκη, οικονομικής δέ πλούτος.
(Aristotle, Nicomachean Ethics,1 i-iv)
5. Dịch đoạn sau:
In capitis mei levitatem iocatus est et in oculorum valituđinem et in crurum gracilitatem et in staturam, Quae contumelia est quod apparet audire? Coram uno aliquid dictum ridemus, coram pluribus indignamur, et eorum aliis libertatem non relinquimus, quae ipsi in nos dicere adsuevimus; locis temperatis delectamur, immodicis irascimur.
(Seneca, De Constantia, XVI. 4)
Montaigne đã gặp nhiều câu hỏi như vậy và đã trả lời chúng rất tốt. Ông theo học tại một trong những cơ sở giáo dục tốt nhất của Pháp, Collège[1] Guyenne ở Bordeaux, được thành lập năm 1533 để thay thế cho Collège des Arts của thành phố đã cũ và không còn đáp ứng được nhu cầu. Trong số các giáo viên của trường có vị hiệu trưởng khai sáng André de Gouvéa - một học giả Hy Lạp nổi tiếng, Nicolas de Grouchy - một học giả về triết học Aristotle, Guillaume Guerente, và nhà thơ Scotland, George Buchanan.
Nếu cố gắng xác định triết lý giáo dục làm nền tảng cho Collège de Guyenne, hay đúng ra là của hầu hết các trường phổ thông và đại học tồn tại trước và sau nó, ta có thể thấy nó ít nhiều dựa trên quan điểm cho rằng một học sinh càng học nhiều về thế giới (lịch sử, khoa học, văn học) thì càng tốt. Nhưng Montaigne, sau khi học tập chăm chỉ theo giáo trình của trường, đã thêm vào đó hai điều kiện:
Một người thông thái sẽ đánh giá giá trị thực của mọi thứ dựa trên sự hữu dụng và phù hợp của nó với cuộc sống của anh ta.
Chỉ những gì khiến ta cảm thấy tốt hơn mới đáng để hiểu.
Có hai nhà tư tưởng cổ đại xuất hiện khá nhiều trong giáo trình của Collège de Guyenne và được tôn vinh là những tấm gương về trí tuệ. Học sinh được dạy các cuốn Các phân tích Trước và Sau của Aristotle, trong đó nhà triết học Hy Lạp, người tiên phong trong khoa học logic, phát biểu rằng nếu A được khẳng định bởi mọi B và B được khẳng định bởi mọi C thì A được khẳng định bởi mọi C. Aristotle lập luận rằng nếu một mệnh đề khẳng định hoặc phủ định việc P được khẳng định bởi S thì S và P là các điều kiện của lập luận đó, với P là điều kiện thụ động và S là điều kiện chủ động, và thêm rằng mọi mệnh đề đều phổ quát hoặc cá biệt, khẳng định hoặc phủ định việc P được khẳng định bởi mọi S hoặc một phần của S. Người thứ hai là học giả La Mã Marcus Terentius Varro, người đã xây dựng một thư viện cho Julius Caesar và viết 600 cuốn sách, bao gồm một cuốn bách khoa toàn thư về khoa học xã hội và 25 cuốn sách về từ nguyên học và ngôn ngữ học.
Montaigne không thờ ơ trước những nhân vật này. Để viết nên cả một giá sách về nguồn gốc các từ và khám phá ra các mệnh đề phổ quát là cả một kỳ công. Tuy thế, nếu như chúng ta biết rằng những người làm việc đó không hạnh phúc hay thực ra là hơi bất hạnh hơn những người chưa bao giờ nghe về logic triết học, chúng ta có thể phải suy nghĩ. Montaigne nghiên cứu cuộc đời của Aristotle và Varro, và đặt câu hỏi:
Sự uyên bác đã mang lại điều gì tốt đẹp cho Varro và Aristotle? Nó có giải thoát cho họ khỏi những tai ương mà con người phải gánh chịu hay không? Nó có giúp giảm bớt rủi ro giống như những rủi ro xảy ra với một người cửu vạn bình thường hay không? Logic có thể an ủi họ khi mắc bệnh gout không...?
Để hiểu tại sao hai người đàn ông có thể vừa uyên bác lại vừa bất hạnh đến thế, Montaigne đã phân biệt hai loại tri thức: kiến thức và sự thông thái. Trong thể loại kiến thức, ông xếp vào đó những môn như logic học, từ nguyên học, ngữ pháp, tiếng Latin và tiếng Hy Lạp. Trong thể loại sự thông thái, ông xếp vào đó một loại tri thức rộng hơn, khó nắm bắt hơn và giá trị hơn, tất cả mọi thứ có thể giúp con người sống tốt, điều đó, theo Montaigne, có nghĩa là giúp họ sống hạnh phúc và có đạo đức.
Vấn đề với Collège de Guyenne, bất chấp việc có một vị hiệu trưởng và đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp, là nó rất giỏi trong việc truyền đạt kiến thức nhưng hoàn toàn thất bại trong việc truyền đạt sự thông thái - và như thế, nó lặp lại ở cấp độ thể chế những sai lầm đã làm hỏng cuộc sống riêng tư của Varro và Aristotle:
Tôi vui mừng trở lại với chủ đề sự ngu xuẩn của nền giáo dục của chúng ta: mục đích của nó không phải để làm cho ta trở nên tốt đẹp và thông thái mà thành người có học. Và nó đã thành công. Nó không dạy ta tìm kiếm phẩm hạnh và đi theo minh triết: nó áp đặt lên ta nguồn gốc và từ nguyên của những từ này...
Chúng ta hỏi ngay, “Thế ông ta có biết tiếng Hy Lạp và tiếng Latin không?” “Ông ta có biết làm thơ và viết văn không?” Nhưng điều quan trọng nhất là điều mà chúng ta hỏi sau cùng: “Ông ta có trở nên tốt đẹp và thông thái hơn hay không?” Chúng ta cần tìm ra không phải người hiểu nhiều nhất mà là người hiểu đúng nhất. Chúng ta làm việc chỉ để lấp đầy trí nhớ, còn phần dành cho hiểu biết và ý thức về cái đúng, cái sai thì trống rỗng.
Montaigne chưa bao giờ giỏi thể thao: “Với môn khiêu vũ, quần vợt và đấu vật, kỹ năng của tôi chỉ sơ sài và tầm thường; ở môn bơi, đấu kiếm, nhảy ngựa và nhảy cao, tôi không hề có chút kỹ năng nào.” Tuy nhiên, sự phản đối của Montaigne đối với sự thiếu minh triết mà phần lớn các giáo viên truyền đạt cho học sinh mạnh mẽ đến mức ông không e ngại đề xuất một sự thay đổi quyết liệt về giáo dục cho thế hệ trẻ Pháp:
Nếu như tâm hồn của học sinh đó không chuyển động với một chuyển động tốt hơn và nếu nó không có được sự phán xét lành mạnh hơn, tôi nghĩ rằng em ấy nên dành thời gian chơi quần vợt ngay lập tức.
Đương nhiên là ông muốn học sinh đi học, nhưng phải là những ngôi trường dạy chúng sự thông thái thay vì từ nguyên học và có thể thay đổi khuynh hướng trí tuệ từ lâu quá coi trọng các câu hỏi trừu tượng. Thales, người xứ Miletus ở bán đảo Tiểu Á, là một ví dụ về khuynh hướng này. Ông được tôn vinh suốt bao năm qua vì từ thế kỷ 6 trước Công nguyên, ông đã tìm cách đo kích thước của bầu trời và xác định chiều cao của Đại Kim tự tháp Ai Cập theo định lý tam giác đồng dạng - một công việc phức tạp và cũng là thành tựu sáng chói của ông. Điều này không có gì phải nghi ngờ, nhưng đó không phải là cái mà Montaigne muốn sẽ đóng vai trò chủ đạo trong giáo trình của mình. Ông dành sự đồng cảm lớn hơn đối với triết lý giáo dục không được thể hiện ra của một trong số những người quen trẻ tuổi và hỗn xược của Thales:
Tôi luôn thầm cảm ơn cô gái đến từ Miletus đó, người mà khi thấy nhà triết học của vùng với cặp mắt đăm đăm nhìn lên trời, lúc nào cũng trầm ngâm suy tưởng về việc đo độ lớn của bầu trời, đã ngáng chân ông để cảnh báo rằng vẫn có đủ thời gian cho ông nghĩ đến những thứ bên trên các đám mây sau khi ông đã giải thích hết mọi thứ nằm ngay dưới chân mình. Bạn có thể dùng lý lẽ này của cô gái để chỉ trích bất kỳ ai bận lòng với triết học: họ không nhìn thấy điều gì nằm ngay dưới chân mình.
Montaigne nhận thấy rằng trong các lĩnh vực khác cũng tồn tại khuynh hướng tương tự, khuynh hướng coi trọng các hoạt động phi thường hơn là những thứ khiêm tốn nhưng không kém phần quan trọng - và giống y như cô gái xứ Miletus, ông tìm cách đưa chúng ta trở lại mặt đất:
Chọc thủng một phòng tuyến, chỉ huy một phái đoàn, cai quản một quốc gia, đó là những công việc hào nhoáng. Trách mắng, cười, mua, bán, yêu, ghét và sống cùng nhau một cách dịu dàng và phù hợp với gia đình của mình và với bản thân mình, không chểnh mảng, cũng không lừa dối bản thân, điều đó đáng nói hơn, hiếm hơn và khó hơn. Dù người ta có nói gì đi nữa thì cuộc sống tự tại như vậy sẽ giúp ta thực hiện được những trách nhiệm mà ít ra cũng khó khăn và căng thẳng như của người khác với sự ung dung tự tại như thế.
Vậy Montaigne muốn học sinh học được gì ở trường? Bài kiểm tra như thế nào thì sẽ kiểm tra được trí thông minh thuộc về sự thông thái mà ông muốn nói đến, loại trí thông minh đã bị loại bỏ khỏi kỹ năng tinh thần của Aristotle và Varro bất hạnh?
Các bài kiểm tra sẽ đặt câu hỏi về những thách thức của cuộc sống hằng ngày: tình yêu, tình dục, bệnh tật, cái chết, con cái, tiền bạc và tham vọng.
Nghiên cứu của Montaigne về sự thông thái
1. Khoảng bảy hoặc tám năm về trước, có một người dân làng sống cách đây khoảng hai dặm, ông ta hiện vẫn còn sống; từ lâu ông đã điên đầu vì sự ghen tuông của bà vợ; một ngày, ông vừa đi làm về đã nghe thấy những lời đay nghiến thường lệ của bà ta; nó khiến ông tức giận đến nỗi, trên tay vẫn cầm cái liềm, ông bất thình lình chặt đứt cái bộ phận cơ thể đã khiến bà ta rơi vào cơn điên loạn như vậy và ném vào mặt bà ta. (Tiểu luận, 11.29)
a) Chúng ta nên giải quyết mâu thuẫn gia đình như thế nào?
b) Người vợ đang chì chiết chồng hay đang thể hiện tình cảm?
2. Hãy đọc hai câu sau:
Tôi muốn thần chết tìm đến mình lúc đang trồng bắp cải, không lo nghĩ về nó cũng như về mảnh vườn chưa làm xong. (Tiểu luận, 1.20)
Tôi hầu như không phân biệt nổi bắp cải với xà lách. (Tiểu luận, 11.17)
Đâu là sự tiếp cận cái chết một cách khôn ngoan?
3. Có lẽ sẽ hiệu quả và trong sáng hơn nếu để cho phụ nữ học về thực tế [kích thước bộ phận sinh dục nam] từ sớm thay vì để cho họ đoán mò theo sự phóng túng của trí tưởng tượng bị hun nóng: thay vì dạy cho họ biết về bộ phận sinh dục như chúng vốn thế, những hy vọng và mong muốn của họ thay thế chúng bằng những cái to gấp ba lần... Thật tai hại làm sao khi bọn con trai vẽ đầy hình những cái dương vật khổng lồ lên khắp các bức tường hành lang và cầu thang của các tòa lâu đài hoàng gia! Từ đó nảy sinh sự lầm tưởng ghê gớm về năng lực tự nhiên của chúng ta. (Tiểu luận, III.5)
Một người đàn ông với cái “Thực tế sống động” nhỏ bé sẽ nêu lên chủ đề này như thế nào?
4. Tôi biết một người hầu đã phục vụ một buổi tiệc lớn tại phòng ăn của một lâu đài, và bốn hoặc năm ngày sau đó, anh này khoác lác (chỉ đùa thôi vì không có chút sự thật nào trong đó) rằng mình đã cho họ ăn bánh làm từ thịt mèo; một trong số các quý cô dự bữa tiệc sợ hãi đến nỗi bị suy nhược vì một cơn đau bụng trầm trọng và sốt cao: người ta không thể cứu sống cô. (Tiểu luận, I.21)
Hãy phân tích sự phân chia trách nhiệm đạo đức.
5. Giá như việc tự nói chuyện với mình không bị cho là điên rồ thì sẽ không có ngày nào mà tôi không tự nghe tiếng mình tự gào vào mặt, “Mày là đồ cặn bã ngu xuẩn!” (Tiểu luận, 1.38)
Nỗi đau khổ kỳ lạ nhất của con người là ghê tởm sự tồn tại của mình. (Tiểu luận, III.13)
Mỗi chúng ta nên tự yêu bản thân mình bao nhiêu?
Thiết kế các bài kiểm tra để đánh giá sự thông thái của con người thay vì kiến thức có lẽ sẽ dẫn đến sự sắp xếp lại thứ bậc của trí thông minh - và sự ra đời của một giới tinh hoa mới đầy kinh ngạc. Montaigne thích thú với viễn cảnh mà ở đó những con người lạ lùng này sẽ được coi là thông minh hơn các ứng cử viên truyền thống được tán dương nhưng thường là không xứng đáng.
Trong đời mình, tôi đã thấy hàng trăm người thợ thủ công và thợ cày thông thái hơn và hạnh phúc hơn những vị hiệu trưởng trường đại học.
Người thông minh nên nói gì và trông như thế nào?
Thông thường chúng ta hay cho rằng mình đang đọc một cuốn sách rất cao siêu khi ta còn không hiểu nó đang viết gì. Sau cùng thì những ý niệm sâu sắc không thể được giải thích bằng ngôn ngữ trẻ con. Tuy nhiên, việc gắn sự khó nhằn với sự thâm sâu có thể bị mô tả một cách hơi nhỏ nhen là biểu hiện bằng con chữ của sự vô lý thường gặp trong đời sống tình cảm, nơi mà những người bí hiểm và khó nắm bắt lại có thể có được sự trân trọng của những bộ óc khiêm tốn hơn là những người đáng tin cậy và rõ ràng.
Montaigne chẳng e ngại gì mà không thừa nhận vấn đề của mình với những cuốn sách bí hiểm. “Tôi không thể giao du lâu với [chúng],” ông viết, “Tôi chỉ thích [những cuốn] vui vẻ, nói về thứ mà tôi quan tâm.
Tôi không định tẩy não vì bất kỳ cái gì, kể cả vì mục đích học hành, dù nó có cao quý đến thế nào đi nữa. Cái tôi tìm kiếm từ sách vở chỉ là để mang lại sự hài lòng cho bản thân từ một thú vui danh giá... Khi đọc đến một đoạn khó, tôi không bao giờ ngồi đấy mà cắn móng tay: sau một hay hai lần cố hiểu, tôi sẽ mặc kệ nó... Nếu một cuốn sách khiến tôi mệt mỏi, tôi sẽ bỏ đấy và đi đọc quyển khác.”
Điều này nghe thật ngớ ngẩn, hoặc hẳn là sự giả vờ, giễu cợt của quý ông với hàng ngàn cuốn sách trong thư viện và kiến thức như một cuốn bách khoa toàn thư về triết học Hy Lạp và Latin. Nếu Montaigne thích thể hiện bản thân như là một quý ông u ám thường lơ đãng khi nghe các bài thuyết trình triết học thì đó là sự không thành thật một cách có mục đích. Những tuyên bố lặp đi lặp lại về tính lười biếng và chậm chạp là những thủ thuật để chống lại nhận thức mục nát về trí tuệ và những tác phẩm tốt.
Theo Montaigne, không có lý do chính đáng nào mà sách về khoa học nhân văn lại phải khó đọc hay nhàm chán; sự thông thái không cần đến từ vựng hay cú pháp riêng, và độc giả cũng không được ích lợi gì nếu cảm thấy mệt mỏi. Tính đến mức độ nhàm chán của chúng ta, mặc dù nó không bao giờ là một viên quan tòa đủ công bằng (và trong bộ dạng suy đồi nhất của mình, nó trở thành sự thờ ơ và thiếu kiên nhẫn có chủ ý), có thể giúp chúng ta giảm bớt sự khoan dung thái quá dành cho những thứ vô nghĩa. Người không lắng nghe sự nhàm chán của bản thân mình khi đọc sách, giống như người không chú ý đến sự đau đớn, có thể sẽ càng làm tăng sự đau khổ của bản thân một cách không cần thiết. Cho dù mối nguy hại của việc bị làm phiền lòng một cách sai trái là gì đi nữa thì vẫn có rất nhiều chông gai trong việc không bao giờ cho phép bản thân mình mất kiên nhẫn với thứ mà ta đọc.
Mọi tác phẩm khó đọc đều mang lại cho chúng ta lựa chọn nên đánh giá tác giả kém cỏi vì không viết được rõ ràng hay chúng ta dốt nát khi không hiểu được. Montaigne khuyến khích chúng ta đổ lỗi cho tác giả. Văn phong khó hiểu thường là kết quả của sự lười biếng hơn là tài năng; thứ dễ đọc hiếm khi được viết như vậy, hoặc, kiểu văn phong như vậy che giấu sự thiếu hụt về mặt nội dung; tỏ ra khó hiểu mang lại cho tác giả sự bảo vệ tuyệt vời trước việc không có gì để nói:
Sự khó hiểu là một đồng tiền mà người có học làm trò ảo thuật với nó để không phải tiết lộ sự phù phiếm của các nghiên cứu của mình, và là cái mà sự ngu xuẩn của con người háo hức đón nhận như là sự trả công cho việc đọc những thứ đó.
Không có lý do gì mà các triết gia lại sử dụng những ngôn từ vốn xuất hiện trên phố hay ở chợ:
Giống như quần áo là cách mà một bộ óc tầm thường dùng để thu hút sự chú ý tới phong cách thời trang riêng hoặc kỳ dị thì lời nói cũng vậy; việc tìm kiếm những cách thể hiện mới và những từ ít ai biết xuất phát từ một tham vọng muốn được trở thành vị hiệu trưởng đáng kính từ thuở thiếu thời. Giá như tôi có thể giới hạn bản thân, chỉ cho phép mình dùng những từ ngữ được sử dụng ở Les Halles[2] tại Paris.
Nhưng viết một cách giản dị đòi hỏi phải có lòng can đảm, bởi vì điều nguy hiểm là chúng ta có thể bị coi thường, bị cho là đầu óc đơn giản bởi những người với niềm tin chắc chắn rằng văn phong khó hiểu là đỉnh cao của trí tuệ. Khuynh hướng này mạnh đến nỗi Montaigne tự hỏi liệu phần đông các sinh viên đại học có đánh giá cao Socrates đến thế nếu như người mà họ tuyên bố là tôn kính hơn tất thảy mọi người, đến gặp họ ở chính quê hương của họ, trong chiếc áo choàng bẩn thỉu, không có vinh hạnh được giới thiệu qua những đoạn đối thoại của Plato, và nói bằng một ngôn ngữ đơn giản:
Hình ảnh về các cuộc đối thoại với Socrates mà bạn bè ông truyền lại cho chúng ta được tán đồng chỉ vì ta bị choáng ngợp trước sự đồng tình chung dành cho nó. Điều này không xuất phát từ kiến thức của chúng ta; vì họ không làm theo cách của chúng ta: nếu những thứ như vậy được sinh ra vào thời đại ngày nay thì sẽ được ít người đánh giá cao. Chúng ta không thể thưởng thức vẻ đẹp yêu kiều mà không ai chỉ cho, không được thổi phồng và tán dương bởi sự khéo léo. Những vẻ đẹp bên dưới cái tên ngây thơ hoặc giản dị sẵn sàng bị lờ đi dưới con mắt thô thiển như của chúng ta... Với chúng ta, sự ngây thơ chẳng phải là họ hàng gần của đầu óc đơn giản và là một đặc tính đáng bị chỉ trích hay sao? Socrates làm cho tâm hồn mình chuyển động cùng nhịp điệu với chuyển động tự nhiên của người thường, vì thế ông nói tiếng nói của người nông dân, tiếng nói của một phụ nữ... Phép quy nạp và so sánh của ông được rút ra từ những hoạt động đời thường nhất và được biết đến nhiều nhất của con người; bất kỳ ai cũng hiểu ông. Với vẻ ngoài bình thường như vậy, chúng ta ngày nay sẽ không bao giờ thấy được sự cao quý và chói lọi của những quan điểm đáng kinh ngạc của ông; chúng ta - những người cho rằng mọi thứ nếu không được thổi phồng lên nhờ học thức uyên bác là những thứ cơ bản và tầm thường, những người không bao giờ biết được sự phong phú trừ phi chúng được bày ra trước mắt ta một cách mỹ miều.
Đó là lời kêu gọi khẩn thiết chúng ta hãy đọc sách với một thái độ nghiêm túc, ngay cả khi cách viết của nó không đáng sợ và ý tưởng của nó rõ ràng, và cũng với thái độ như thế, chúng ta nên thôi cho mình là ngu ngốc nếu vì một khoảng trống trong túi tiền hay trong giáo dục, tấm áo choàng của chúng ta giản dị và vốn từ vựng không lớn hơn vốn từ vựng của một người bán hàng ở Les Halles.
Điều mà người thông minh nên biết
Họ nên biết các dữ kiện, nếu họ không biết, và thêm vào đó, nếu ngốc nghếch đến mức học được chúng từ sách nhưng học sai, thì họ không nên trông chờ vào sự thương hại của các học giả, những người có lý do để vả vào mặt họ, và với phép lịch sự mang vẻ khinh khỉnh, sẽ chỉ ra rằng ngày đó là sai hoặc từ đó bị trích dẫn nhầm, một đoạn bị lấy ra khỏi văn cảnh hay một nguồn quan trọng đã bị bỏ quên.
Tuy nhiên, trong giản đồ của Montaigne về trí thông minh thì điều quan trọng ở một cuốn sách là tính hữu dụng và sự phù hợp của nó với cuộc sống. Nếu cuốn sách chuyển tải một cách chính xác những gì Plato viết hay Epicurus nói thì nó vẫn ít giá trị hơn khi nó chỉ được ra rằng điều họ nói có thú vị không và có thể giúp chúng ta vượt qua sự lo âu hay cô đơn hay không. Trách nhiệm của tác giả trong lĩnh vực khoa học nhân văn không phải trách nhiệm đối với tính chính xác của cái tựa như khoa học, mà là với hạnh phúc và sức khỏe. Montaigne trút sự bực dọc lên những người từ chối không chịu nhìn ra điểm này:
Những học giả mà mối quan tâm là buông lời nhận xét về những cuốn sách không hề nhận ra chút giá trị nào của chúng ngoài kiến thức và không dành chỗ cho bất kỳ hoạt động trí tuệ nào ngoài học tập và trau dồi sự uyên bác. Lẽ nào nếu nhầm một Scipio này với một Scipio khác thì anh không còn điều gì để nói nữa! Theo họ, không hiểu Aristotle nghĩa là không hiểu bản thân mình.
Chính cuốn Tiểu luận cũng mắc nhiều lỗi trích dẫn sai, quy kết sai, lập luận bị chệch hướng thiếu logic và không định nghĩa thuật ngữ. Nhưng tác giả không quan tâm:
Tôi viết sách tại nhà, ở vùng quê, nơi không ai giúp hoặc sửa lỗi cho tôi, nơi tôi thường không gặp mấy người biết thậm chí cả Bài cầu nguyện chung bằng tiếng Latin chứ chưa nói đến tiếng Pháp chuẩn.
Đương nhiên là cuốn sách có lỗi (“Tôi đầy lỗi lầm”, ông khoe), nhưng những lỗi này không đủ để hạ bệ Tiểu luận, cũng như sự chính xác không đủ đảm bảo cho giá trị của nó. Viết ra một thứ mà không nỗ lực hướng tới sự thông thái là tội lớn hơn so với việc nhầm lẫn giữa Scipio Aemilianus (185-129 trCN) và Scipio Africanus (236-183 trCN).
Người thông minh nên tìm ý tưởng từ đâu?
Từ người thông minh hơn. Họ nên dành thời gian trích dẫn và bình luận về những nhân vật ngự trên tầng cao của cây tri thức. Họ nên viết chuyên luận về tư tưởng đạo đức của Plato hay luân lý của Cicero.
Montaigne học được nhiều điều từ họ. Trong Tiểu luận, ta thường xuyên bắt gặp những đoạn bình luận và hàng trăm câu trích dẫn từ các tác giả mà Montaigne cho rằng nắm bắt những luận điểm đó một cách tinh tế và chuẩn xác hơn mình. Ông trích dẫn Plato 128 lần, Lucretius 149 lần và Seneca 130 lần.
Thật khó cưỡng lại việc trích dẫn các tác giả khi họ thể hiện suy nghĩ của chính bản thân ta nhưng với sự rõ ràng và chính xác về tâm lý mà ta không thể sánh được. Họ hiểu rõ ta hơn ta hiểu bản thân mình. Điều mà ta thấy xấu hổ và bối rối, họ viết ra một cách súc tích và tao nhã, ta gạch chân và ghi chú bên lề những trang sách của họ và những gì ta trích dẫn cho thấy nơi ta tìm ra một phần con người mình, một hoặc hai câu đã xây nên chính cái chất liệu làm ra trí óc ta - sự so sánh càng nổi bật nếu như tác phẩm đó được viết trong thời đại của những áo choàng toga và lễ hiến tế động vật. Chúng ta đưa những ý, những lời đó vào sách của mình như là một cách bày tỏ lòng kính trọng vì họ đã giúp nhắc nhở rằng ta là ai.
Nhưng thay vì soi sáng trải nghiệm của ta và thúc giục ta tự tìm ra những khám phá của riêng mình thì những quyển sách vĩ đại có thể phủ lên ta cái bóng mơ hồ. Chúng có thể khiến ta chối bỏ những khía cạnh của bản thân mình mà chưa từng có bằng chứng trong sách vở. Thay vì mở rộng chân trời, chúng có thể đánh dấu những giới hạn một cách sai lầm. Montaigne biết một người dường như đã để sự tầm chương trích cú của mình đi quá xa:
Mỗi khi tôi bảo người quen [này] của mình hãy nói tôi nghe anh ta biết gì về một vấn đề nào đó thì anh ta đều đưa cho tôi một cuốn sách, anh ta không dám nói với tôi rằng mình bị ghẻ ở mông mà chưa tra từ điển từ ghẻ và từ mông.
Sự do dự không tin vào chính kinh nghiệm bản thân bên ngoài sách vở có thể không đáng giận nếu như chúng ta có thể dựa vào sách vở để bộc lộ toàn bộ tiềm năng của mình, nếu sách vở biết hết về bệnh ghẻ của ta. Nhưng Montaigne nhận ra rằng những quyển sách vĩ đại nhất giữ im lặng trước quá nhiều chủ đề, vì vậy nếu ta cho phép chúng xác định đường ranh giới cho trí tò mò của mình thì chúng sẽ kìm hãm sự phát triển trí tuệ của ta. Một cuộc gặp gỡ ở Italy đã thể hiện rõ nét vấn đề này:
Ở Pisa tôi gặp một người đàn ông tử tế, ông là người theo trường phái triết học Aristotle tận tụy đến mức điều cơ bản nhất trong các học thuyết của ông là tiêu chuẩn và thước đo của mọi ý tưởng đúng đắn phải phù hợp với lời dạy của Aristotle, ngoài ra, những thứ còn lại đều vô nghĩa và ảo tưởng; Aristotle đã thấy mọi thứ, làm mọi thứ.
Đúng là Aristotle đã làm và đã nhìn thấy nhiều thứ.
Trong số các nhà tư tưởng cổ đại, Aristotle có lẽ là người toàn diện nhất, các tác phẩm của ông trải dài trên các lĩnh vực của tri thức Về sự phát sinh và biến chất, Về các thiên đường, Khí tượng học, Về linh hồn, Về Cơ thể Sinh vật, Về Cử động của Sinh vật, Sự Phản bác Ngụy biện, Đạo đức học của Nichomachus, Vật lý học, Chính trị luận.
Nhưng chính cái thước đo thành tựu của Aristotle đã để lại một di sản rất có vấn đề. Có những tác giả quá giỏi đối với ta. Vì đã nói quá nhiều nên dường như họ có tiếng nói cuối cùng đối với chủ đề đó. Tài năng thiên phú của họ kìm hãm sự bất kính cần thiết trong công việc sáng tạo ở những người kế thừa. Thật là một nghịch lý khi Aristotle có lẽ lại đang cản trở những người sùng kính ông nhất đi theo con đường của ông. Aristotle chỉ trở nên vĩ đại vì ông đã nghi ngờ phần lớn khối kiến thức từng được xây dựng nên trước đó, không phải bằng việc từ chối đọc Plato hay Heraclitus mà bằng việc phê bình những điểm yếu của họ dựa trên sự ghi nhận những điểm mạnh. Để hành động theo một tinh thần Aristotle đích thực, điều mà Montaigne nhận ra, còn người đàn ông ở Pisa thì không, có lẽ cần phải cho phép một sự giải thoát nào đó về mặt trí tuệ ra khỏi ngay cả những nhân vật vĩ đại nhất.
Tuy nhiên, dễ hiểu là chúng ta thường thích trích dẫn và bình luận hơn là tự nói và tự nghĩ cho mình. Một bài bình sách của người khác, mặc dù là công việc rất nặng nhọc về mặt kỹ thuật, cần đến hàng giờ nghiên cứu và đánh giá, nhưng lại miễn dịch trước những đòn tấn công tàn bạo nhất có thể nhằm vào một tác phẩm nguyên gốc. Các nhà bình luận có thể bị chỉ trích vì không đánh giá đúng ý tưởng của các nhà tư tưởng vĩ đại; bản thân họ không thể bị quy trách nhiệm cho những ý tưởng đó - đó là lý do vì sao Montaigne trích dẫn và bình luận nhiều trong Tiểu luận:
Đôi khi tôi để người khác nói điều mà tôi không thể nói hay bằng họ do sự yếu kém về ngôn ngữ của tôi, và đôi khi do sự yếu kém về trí tuệ của tôi... [và] đôi khi, để kiềm chế sự táo bạo của những lời chỉ trích vội vàng chỉ chực nhảy xổ ra để tấn công tất cả mọi thứ được viết ra thuộc mọi thể loại, nhất là những thứ viết ra bởi những người hiện vẫn còn sống... Tôi phải giấu điểm yếu của mình bên dưới những cái tên vĩ đại đó.
Mức độ tôn trọng mà mọi người dành cho ta sau khi chết thường cao hơn một cách đáng kinh ngạc so với khi còn sống. Những phát ngôn có thể được chấp nhận nếu chúng chảy ra từ ngòi bút của các tác giả thời cổ đại lại thường bị giễu cợt nếu được thể hiện bởi các tác giả hiện đại. Các nhà bình luận thường không sẵn sàng nghiêng mình trước những tuyên bố vĩ đại của đồng môn của mình ở trường đại học. Những người đó không được phép nói như thể họ là một nhà triết học cổ đại. “Không ai mà không phải trả giá cho việc được sinh ra trên đời.” Seneca viết, nhưng một người ở thời đại sau mà nghĩ tương tự thì sẽ được khuyên không nên nói ra giống như thế trừ phi họ bộc lộ sở thích đặc biệt với việc bị làm bẽ mặt. Montaigne, người không thích bị bẽ mặt, đã tìm nơi trú ẩn, và ở phần cuối của Tiểu luận, đã thú nhận một điều rất cảm động vì tính dễ tổn thương của nó:
Nếu tôi có tự tin để làm điều tôi thực sự muốn thì tôi sẽ hoàn toàn tự nói cho mình, dù cho điều gì xảy ra đi nữa.
Nếu Montaigne thiếu tự tin thì đó là bởi vì khi người ta càng đến gần ông về không gian và thời gian thì những suy nghĩ của ông càng ít được đối xử như thể nó cũng có giá trị như của Seneca hay Plato:
Ở Gascony, mọi người buồn cười khi thấy tôi trên sách vở.
Nơi mà tên tôi được biết đến càng xa nhà tôi thì ở đó tôi càng được đánh giá cao.
Trong cách cư xử của gia đình và gia nhân, những người nghe thấy ông ngáy hoặc thay ga giường cho ông, không hề có sự tôn kính giống như cách người ta đối xử với ông ở Paris, chứ chưa nói đến sau khi ông chết:
Đối với thế giới thì một người có thể là phi thường, nhưng vợ và người hầu thì chẳng nhìn thấy điều gì kỳ diệu về ông ta. Ít người đàn ông lại là điều kỳ diệu với chính gia đình mình.
Chúng ta có thể hiểu điều này theo hai cách: không ai thực sự phi thường, chỉ có gia đình và người hầu đủ gần gũi để nhận ra sự thật đáng thất vọng, hoặc nhiều người thú vị nhưng nếu họ quá gần chúng ta về tuổi tác và không gian thì ta thường không quá coi trọng họ vì một khuynh hướng lạ lùng là chống đối những gì trong tầm tay.
Không phải Montaigne đang tự thương thân; thay vào đó, ông đang chỉ ra rằng những lời chỉ trích nhằm vào các tác phẩm hiện đại tham vọng là triệu chứng của sự thôi thúc độc hại khi nghĩ rằng chân lý luôn nằm xa chúng ta, ở một miền khác, trong một thư viện cổ, trong các cuốn sách của những người sống từ thời xa xưa. Vấn đề nằm ở chỗ liệu sự tiếp cận những điều thực sự có giá trị chỉ giới hạn ở một vài thiên tài ra đời trong khoảng thời gian từ khi điện Parthenon được xây dựng đến khi Rome sụp đổ, hay, như Montaigne dũng cảm đề xuất, có thể mở ra cho cả tôi và bạn.
Một nguồn minh triết rất kỳ lạ đã được chỉ ra, còn kỳ lạ hơn cả con lợn đi biển của Pyrrho, một thổ dân Tupi hay một thợ cày xứ Gascony: đó là độc giả. Nếu chúng ta chú ý một cách nghiêm túc đến trải nghiệm của bản thân và học cách coi mình là ứng cử viên có khả năng tham gia đời sống trí tuệ, thì như Montaigne nói, chúng ta có thể đạt được hiểu biết không kém phần sâu sắc so với điều mà ta tìm thấy trong các cuốn sách vĩ đại từ thời cổ đại đó.
Ý nghĩ này không hề dễ dàng. Chúng ta được giáo dục phải gắn phẩm chất với sự phục tùng uy quyền của sách vở, thay vì khám phá những cuốn sách đang hằng ngày cuộn chảy trong ta nhờ bộ máy tri giác. Montaigne cố gắng đưa chúng ta trở lại với chính mình:
Chúng ta biết cách nói “Đây là điều Cicero nói”; “Đây là đạo đức của Plato”; “Đây là ipsissima verba của Aristotle.” Nhưng điều mà chúng ta phải nói là gì? Chúng ta đưa ra nhận xét gì? Chúng ta đang làm gì? Một con vẹt cũng nói được như chúng ta.
Nhắc lại như con vẹt không phải là cách mà học giả mô tả việc viết một bài bình luận. Một loạt lập luận có thể cho thấy giá trị của việc viết một bài bình luận về tư tưởng đạo đức của Plato hay luân lý học của Cicero. Thay vào đó, Montaigne nhấn mạnh sự hèn nhát và chán ngắt của hành động này. Nghiên cứu thứ cấp không cần đến nhiều kỹ năng (“Sáng tạo phải được ưu tiên hơn nhiều so với trích dẫn”), khó khăn chỉ mang tính kỹ thuật, chỉ cần có lòng kiên trì và một thư viện yên tĩnh. Hơn nữa, nhiều cuốn sách mà nền giáo dục truyền thống khuyến khích chúng ta nhại theo chính bản thân chúng cũng không có gì hấp dẫn. Chúng chiếm vị trí trung tâm trong giáo án chẳng qua là vì chúng là tác phẩm của các tác giả danh tiếng, trong khi nhiều chủ đề đáng nghiên cứu như thế hoặc thậm chí hơn thế lại mờ nhạt bởi vì không có nhân vật tên tuổi nào từng lý giải chúng. Mối quan hệ giữa nghệ thuật và thực tế từ lâu đã được coi là một chủ đề triết học nghiêm túc, một phần vì Plato là người đầu tiên nêu ra; mối quan hệ giữa sự xấu hổ với vẻ bề ngoài thì chưa, một phần vì nó không thu hút sự chú ý của bất kỳ nhà triết học cổ đại nào.
Vì sự tôn trọng truyền thống một cách trái tự nhiên này, Montaigne cho rằng đáng để thú nhận với độc giả rằng thực ra ông nghĩ Plato có thể bị hạn chế về trí tuệ và ngu ngốc:
Liệu sự phóng khoáng của thời đại chúng ta có thứ lỗi cho tôi vì sự báng bổ càn rỡ khi nghĩ rằng bộ Đối thoại [của ông ấy] cứ lải nhải nhiều quá hóa ra lại bóp chết vấn đề mà ông ấy muốn nói, và khi tôi thấy đau khổ vì một con người có bao nhiêu điều đáng nói hơn lại đi dành chừng ấy thời gian cho những tranh luận dài và vô dụng?
(Ta thấy nhẹ lòng hơn khi nghĩ về Montaigne, một tác giả danh tiếng lại tin vào sự nghi ngờ bẽn lẽn và lặng lẽ của người khác). Với Cicero, thậm chí ông còn không cần xin lỗi khi tấn công:
Phần giới thiệu, định nghĩa, đề mục và từ nguyên học đã chiếm phần lớn tác phẩm của ông... Nếu tôi dành một giờ để đọc Cicero (với tôi là nhiều) và nghĩ lại xem mình rút ra được điều gì hay nội dung cốt yếu nào thì phần lớn thời gian tôi chẳng tìm thấy gì ngoài những lời rỗng tuếch.
Theo Montaigne, giới học giả quan tâm đến các tác phẩm kinh điển do mong muốn tự mãn được người khác cho là có trí tuệ bằng việc gắn tên mình với những tên tuổi danh tiếng.
Kết quả dành cho công chúng là một núi sách được đọc rất nhiều, rất không thông thái:
Có nhiều sách viết về sách hơn là về bất kỳ chủ đề nào khác: tất cả những gì chúng ta làm là bới lông tìm vết lẫn nhau. Tất cả chỉ là một bầy bình luận gia còn tác giả thì hiếm hoi.
Nhưng Montaigne nhấn mạnh rằng các ý tưởng thú vị có thể được tìm thấy trong mọi cuộc đời. Dù câu chuyện của chúng ta có khiêm tốn thế nào thì ta cũng có thể rút ra nhiều hiểu biết sâu sắc từ chính bản thân mình hơn là từ tất cả những quyển sách của quá khứ:
Nếu là một học giả giỏi, tôi sẽ tìm thấy đủ thứ từ kinh nghiệm bản thân để khiến mình trở nên thông thái. Bất kỳ ai nhớ lại cơn bực tức gần đây nhất của mình đều thấy sự xấu xa của cảm xúc này rõ hơn là ở Aristotle. Bất kỳ ai nhớ lại những bệnh tật mình từng mắc phải, những người từng đe dọa mình và những sự việc vụn vặt đã xô đẩy mình từ hoàn cảnh này sang hoàn cảnh khác, đều có thể tự chuẩn bị sẵn sàng đối mặt với những thay đổi trong tương lai và khám phá hoàn cảnh của mình. Ngay cả cuộc đời của Caesar cũng không phải là tấm gương mẫu mực cho ta hơn chính cuộc đời ta; một cuộc đời dù vương giả hay bình dân vẫn luôn là một cuộc đời chịu tác động của mọi thứ có thể xảy ra với con người.
Chỉ có một nền học thuật hăm dọa mới khiến chúng ta nghĩ khác:
Mỗi người trong số chúng ta đều giàu có hơn mình nghĩ.
Tất cả chúng ta đều có thể nghĩ ra những ý tưởng thông thái nếu dừng nghĩ về bản thân như là những người không phù hợp cho nhiệm vụ này bởi vì ta không sống đến 2000 tuổi không quan tâm đến những cuộc đối thoại của Plato và sống lặng lẽ ở vùng quê:
Một cuộc đời kín đáo bình thường cũng có thể mang trong nó toàn bộ triết lý đạo đức giống như một cuộc đời giàu có hơn.
Có lẽ để nhấn mạnh điểm này, Montaigne đã kể rất chi tiết để độc giả biết cuộc đời của ông bình thường và kín đáo như thế nào, tại sao ông lại muốn nói cho ta biết:
Rằng ông không thích ăn táo.
Tôi không quá thích... bất kỳ loại quả nào, trừ quả dưa.
Rằng ông có mối quan hệ phức tạp với củ cải:
Đầu tiên tôi thấy củ cải hợp với mình; rồi không; rồi bây giờ chúng lại hợp.
Rằng ông chăm sóc răng miệng cực kỳ cẩn thận:
Răng của tôi... từ trước đến giờ vẫn cực kỳ tốt... Từ khi còn trẻ tôi đã học cách chùi răng bằng khăn, cả khi vừa ngủ dậy lẫn trước và sau mỗi bữa ăn.
Rằng ông ăn quá nhanh:
Khi tôi vội, tôi thường cắn phải lưỡi và đôi khi cả ngón tay.
Rằng ông thích lau miệng:
Tôi có thể ăn uống dễ dàng mà không cần khăn trải bàn, nhưng tôi cảm thấy rất khó chịu khi ăn mà không có khăn ăn sạch... Tôi lấy làm tiếc rằng chúng ta không còn tiếp tục truyền thống mà các vị vua của chúng ta đã khởi xướng, đó là thay khăn ăn như thay đĩa sau mỗi món mới.
Những điều này có lẽ là tủn mủn nhưng chúng là lời nhắc nhở mang tính tượng trưng rằng có một “Tôi” đang suy nghĩ đằng sau cuốn sách, rằng một triết lý đạo đức đã sinh ra - và có thể sinh ra lần nữa - từ một tâm hồn bình thường, ghét ăn hoa quả.
Không có gì đáng phải chán nản nếu như nhìn bề ngoài chúng ta trông không giống chút nào với những tư tưởng gia trầm mặc trong quá khứ.
Trong bức chân dung mà Montaigne vẽ lại về con người hoàn thiện, bán duy lý, con người có thể không biết nói tiếng Hy Lạp, đánh trung tiện, thay đổi ý định sau bữa ăn, chán đọc sách, không biết một nhà triết học cổ đại nào, và nhầm lẫn giữa các Scipio.
Một cuộc sống bình thường, tử tế, nỗ lực đạt tới sự thông thái nhưng không bao giờ quá xa sự điên rồ, đã đủ để được coi là một thành tựu.
❀ ❀ ❀
[1] Trong hệ thống giáo dục của Pháp trước đây, Collège tương đương với trường trung học cơ sở.
[2] Đây vốn là một cái chợ cổ của Paris, halle trong tiếng Pháp có nghĩa là chợ.