Tinh Hoa Mưu Trí Trong Tam Quốc

Lượt đọc: 246 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
VI. NHÂN SỰ: DI SẢN QUÝ VỀ NHÂN TÀI HỌC

❊ ❊ ❊

Sự đông đảo về nhân tài trong Tam quốc, thật hiếm thấy trên lịch sử Trung Quốc. Chúa của ba nước là Tào Tháo, Lưu Bị, Tôn Quyền, tung hoành tan rồi lại hợp, quyền mưu thao lược, xuất chúng siêu quần đáng mặt là anh hùng thời đại. Khổng Minh, Tuân Úc, Lỗ Túc với trí tuệ hơn người, vẽ nên bức tranh hoành tráng thời Tam Quốc, khiến cho đứng vững ba chân kiềng, không hổ thẹn với cái tên là ba nhà chiến lược kiệt xuất thời Tam quốc. Tính toán ở trong nhà, quyết thắng ngoài ngàn dặm, loại này thì có Chu Du, Lục Tốn, Quách Gia, Trình Dục, Tư Mã Ý, Bàng Thống, Từ Thứ v.v... Dùng mà có mưu, chiến công hiển hách thì có Quan Vũ, Trương Phi, Hoàng Trung, Triệu Vân, Trương Liêu, Từ Hoảng, Từ Thịnh, Chu Hoàn; tài sức ngang nhau, kỳ phùng địch thủ thì có Khương Duy, Đặng Ngải và Dương Hộ, Lục Kháng. Dũng khí thấu ba quân, giỏi giang cũng khó địch nước Thục thì có Mã Siêu, Ngụy Diên; nước Ngụy thì có Hứa Chử, Điển Vi; nước Ngô thì có Cam Ninh, Thái Sử Từ. Không làm nhục mệnh vua, Đặng Chi, Triệu Tư có thể gọi là người giỏi về ngoại giao. Văn thái phong lưu thì Sái Ung, Vương Sán, Nễ Hành, Tào Thực, Dương Tu đều nổi tiếng một thời. Nhân tài trong Tam quốc còn nhiều, kể ra không hết. Đọc Tam quốc diễn nghĩa giống như vào nhà trưng bày triển lãm nhân tài cổ đại Trung Quốc, các loại nhân tài từng thời đại đều có mặt ở đây, khiến người ta phải kêu lên Tam quốc sao mà lắm nhân tài đến thế!

Nhân tài đông đảo chủ yếu là do vua chúa biết dùng người

Nhân tài trong Tam quốc đông đảo đến thế mà những triều đại khác thì chỉ lác đác mấy người. Phải chăng là tạo hóa thiên vị với ba nước này? Kỳ thực thì “chân trời nơi nào chẳng có cỏ thơm”. Nhà văn thời Tây Tấn là Tả Tư trong bài thơ “Vịnh sử” đã chỉ ra “Thời nào chẳng có kỳ tài, chẳng qua là bị vùi ngoài đầm sâu” ý muốn nói là có thời nào mà lại chẳng có bậc kỳ tài, chẳng qua là bị chôn vùi mất mà thôi. Tại sao bị chôn vùi mai một? Hoặc là do không có cơ ngộ, hoặc là do vua chúa không biết dùng tài. Nhân tài xuất hiện nhiều là vào thời loạn hay thời thịnh, sở dĩ nhiều nhân tài là bởi vì thời thịnh. Ở triều đại thối nát, nhân tài sẽ khó phát huy tác dụng. Thời thịnh vốn không phải do thượng đế sắp đặt mà nhờ con người đổi đất thay trời, không có nhiều người có tài trị thế thì khó có thể xuất hiện thịnh thế. Loạn thế, là thời kỳ xáo trộn mạnh, phân hóa mạnh, chuyển biến mạnh, kẻ thống trị cũ đã không thể thống trị thêm được nữa, cái nền móng thống trị của nó gồm hoàng thân quốc thích và quan lại các cấp đã hủ bại đến tột độ, những người đó phần lớn đã là một lũ tầm thường không làm nên trò gì, họ đã không chống đỡ được sự cuồng loạn vì sắp đổ, cũng không đủ sức đứng vững một mình, sự chờ đợi đối với họ chỉ là vận mệnh diệt vong. Lúc này những anh hùng bị vùi ngoài đầm có mới lũ lượt đứng dậy, tranh giành trung nguyên. Muốn giành thiên hạ, ắt phải có nhân tài, làm chúa độc chiếm một phương phần lớn phải chiêu hiền đãi sĩ, trăm phương ngàn kế thu góp nhân tài. Cho nên nói đó đúng là lúc được mùa nhân tài, cũng là cơ hội tốt để nhân tài vươn vai xuất thế. Lịch sử Tam quốc chính đã chứng minh chân lý thời loạn sinh anh hùng.

Nếu không vào thời loạn thì làm sao một người xuất thân làm nghề bện giày cỏ như Lưu Bị lại có thể xưng đế ở Tây Thục? Nếu không là thời loạn thì làm sao Tào Tháo là cháu một hoạn quan lại có thể “Hiệp thiên tử để lệnh chư hầu?” Nếu không là thời loạn, thì cháu của một huyện quan như Tôn Quyền làm sao mà có oai lừng lẫy Giang Đông? Tuy nói là thời loạn thì sinh anh hùng, nhưng trong lịch sử Trung Quốc tất cả có bảy lần phân liệt, tại sao chỉ thời Tam quốc mới xuất hiện nhiều anh hùng nhất và đáng để người ta quan tâm nhất? Bởi vì những vị chúa trong Tam quốc như Tào Tháo, Lưu Bị, Tôn Quyền đều rất khéo dùng người. Tại vùng đất mà mình cát cứ, họ đã hết sức khai thác nhân tài, có thể nói là nhặt nhạnh gần hết, số bị mai một không nhiều. Bởi vậy, thời đại xuất hiện nhiều nhân tài nhất, một là gặp thời, hai là vua chúa giỏi dùng người, thiếu một trong hai thứ đều không được. Và nhân tài thời Tam quốc khiến người ta chú ý nhất, điều đó còn có quan hệ đến cách miêu tả khéo léo của ngòi bút tác giả Tam quốc diễn nghĩa.

Đánh giá người chính xác thì mới dùng người đúng đắn được

Nghệ thuật dùng người trong Tam quốc, là di sản quý báu trong nhân tài học cổ xưa của Trung Quốc, nghiên cứu thận trọng vấn đề này sẽ có nhiều điều bổ ích trong việc dùng người. Nghiên cứu nghệ thuật dùng người trong Tam quốc, nên bắt đầu từ việc đánh giá con người chính xác, bởi vì, có đánh giá chính xác con người mới có thể dùng người đúng đắn được. Muốn đánh giá chính xác con người, trước hết phải thực sự cầu thị, quyết không thể lấy thắng bại để đánh giá anh hùng. Lưu Bị dùng Khổng Minh, có thể nói là biết dùng trí nhân, dùng người; Khổng Minh đúng là bậc kỳ tài thời bấy giờ là một anh hùng ghê gớm. Thế nhưng, vì Khổng Minh chưa có thể thực hiện được ý đồ bắc phạt lớn lao của ông nên khiến nhiều người dị nghị, có người nói 6 lần ra khỏi Kỳ Sơn, mà Khổng Minh mới chỉ lấy được ba quận, nhọc mình mà chẳng nên công cán gì nên mới bảo ông chưa phải là đại tài. Có người nói nhân tài nước Thục kém cỏi, nên đến nỗi “nước Thục không có đại tướng, Liêu Hóa mới làm tiên phong” mới hay, ông ta không biết dùng người. Khổng Minh là nhân vật mấu chốt của nước Thục, ông phò tá Lưu Bị, bắt đầu làm mưu chúa sau lên thừa tướng. Sau khi Lưu Bị chết ông đã thực sự là người chấp chính, nước Thục mạnh hay yếu đương nhiên là có quan hệ đến Khổng Minh. Nhưng không thể lấy sự thành bại mà đánh giá ông ta, đem ưu điểm nói thành ra khuyết điểm từ đó mà phủ nhận nhà chiến lược lỗi lạc này. Về mặt dùng người, Khổng Minh không gò bó hẹp hòi, có thể dùng người theo tài năng, cho nên Trần Thọ nói: “Đất Tây Thục đều phục Gia Cát Lượng biết tận dụng người tài. Hứa Tình là một đại danh sĩ, nhưng năng lực thực tế lại chẳng có bao nhiêu. Sau khi Lưu Bị vào được Tứ Xuyên rồi, có ý không muốn dùng ông. Vì biết Hứa Tình là người khắp nơi đều biết tiếng, dùng ông có thể mở rộng được ảnh hưởng, thu hút được càng nhiều nhân tài nên Khổng Minh đã ra sức khuyên Lưu Bị nên dùng. Cho nên Lưu Bị mới đưa ông già 70 tuổi này lên hàng tư đồ. Ngụy Diên, Dương Nghi là hai người rất có tài, nhưng Ngụy Diên thì “tính tự cao”, Dương Nghi thì “tính hẹp hòi”, hai người đều không đoàn kết được người, tuy ông vẫn dựa vào một người văn, một người võ này làm quan tả hữu trong toàn quân, nhưng không đưa lên làm người thừa kế. Mỗi lần xuất quân, cai quản công việc trong quân đội, ông đều phó thác cho những người có đủ đức tài như Tưởng Uyển, Phí Vĩ, Đổng Doãn v.v... Sau khi Khổng Minh qua đời, Tưởng Uyển, Phí Vĩ lần lượt quản lý chính sự của nước Thục, khiến kẻ địch không dám khinh nhờn Tây Thục, biên giới yên hàn được tới 29 năm. Còn như việc Khổng Minh không giành được thắng lợi, đó phần chính là do tình thế khách quan. Lúc bấy giờ về mặt binh lực và nhân lực, nước Ngụy lớn hơn nước Thục hơn ba lần, lực lượng kinh tế cũng hùng hậu hơn nước Thục nhiều, các thống soái của nước này lại đều là bậc túc trí đa mưu. Chiến tranh là sự đọ sức về nhân lực, vật lực và trí lực, mà giữa nước Ngụy với nước Thục, nhân lực, vật lực đã chênh lệch nhau như thế, trí lực cũng không dám đọ, nước Thục hẳn là nước không ở trong tình thế khách quan giành thắng lợi. Thế nhưng với 5 vạn quân, Khổng Minh đã áp dụng thế công, làm cho 20 vạn quân nước Ngụy đóng giữ ở tiền tuyến Thái Châu chỉ có thể cố giữ ở đó, chủ tướng Tư Mã Ý đành phải chịu nhục mặc váy đàn bà. Nếu Gia Cát Lượng không có tài mưu lược quân sự hơn người thì làm gì được như thế. Bởi vậy, lấy sự thành bại mà đánh giá anh hùng, thì không thể nhận ra sự kỳ tài của Khổng Minh một cách chính xác được. Một điểm nữa, muốn đánh giá nhân tài được chính xác, phải có quan điểm nhìn hai mặt của vấn đề, quyết không thể khẳng định tuyệt đối hay phủ nhận tuyệt đối. Về việc đánh giá nhân tài, không thể chỉ khảo sát theo phẩm chất đạo đức của người đó, mà điều quan trọng là phải nhìn ra được sự đóng góp của người đó với xã hội. Tào Tháo là kẻ gian hùng vừa rất tàn nhẫn, nhưng lại cũng có tài thao lược, vừa có tội lại vừa có công, đối với việc phát triển của xã hội, cũng có một tác dụng nhất định. Về mặt dùng người, ông cũng có những mặt hơn người, con người này không hề nghĩ đến việc xấu trong quá khứ, hễ có tài là cất nhắc, cho nên những người thù địch cũ và những người ở cả phe đối địch, đều tập trung về dưới trướng của ông ta, dốc lòng hiến kế cho ông ta, cuối cùng thống nhất được phương Bắc. Nếu Tào Tháo là con người cứ cò kè ân oán cá nhân, dùng người mà bới lông tìm vết, thì đã chẳng đoàn kết được nhiều người để phục vụ cho mình đến thế mà có lẽ ông ta sẽ biến thành một con người cô độc, chẳng làm nên việc gì. Có người chỉ vì Tào Tháo có tính gian tà, ngay đến tài thao lược của ông ta cũng chê trách là điều tàn ác, như thế là phiến diện. Thêm nữa, muốn đánh giá nhân tài một cách chính xác thì phải phân tích cụ thể với những con người cụ thể, quyết không thể dùng một cái khuôn cứng nhắc để đo tài năng trong thiên hạ. Trên đời này không thể có người toàn tài tuyệt đối, có người giỏi mặt này thì lại yếu mặt kia. Tôn Quyền chưa thấy bày mưu lạ, nhưng biết xếp đặt người hiền, cất nhắc người có năng lực, tập trung được mưu trí đông đảo mọi người, sức lực đồng đào mọi người về với mình cho nên đã thành minh chúa một đời. Chu Du tuy không xung phong giáp trận, nhưng biết tính toán xoay chuyển ở một nơi mà quyết thắng ngoài ngàn dặm, được mệnh danh là một thống soái sáng suốt, Mã Tốc làm chủ tướng thì không được, nhưng lại là một mưu sĩ có kế sách khôn ngoan. Mã Siêu không giỏi mưu lược, nhưng là một dũng tướng ít ai bì kịp. Cho nên dùng người phải tùy tài mà chọn, không nên cố tình dùng mặt người ta không có năng lực.

Dùng người có liên quan đến sự mất còn của đất nước

Có biết dùng người hay không là điều quan trọng nhất đối việc mất còn của một đất nước. Sự hưng thịnh của Tam quốc có quan hệ chặt chẽ lớn lao đến sự khéo dùng người của Lưu Bị, Tào Tháo, Tôn Quyền. Lưu Bị “tam cố thảo lư”. Khổng Minh cảm động trước sự tri ngộ của ông, đã chỉ ra “Long trung quyết sách”, mang hết tài mưu trí của mình, mới có thể từ yếu thành mạnh, xưng đế ở vùng Tây Thục. Tôn Quyền khéo dùng “trí mọi người” và “sức của mọi người” nghe theo “sách trên giường” của Lỗ Túc nên mới đứng vững một chân kiềng ở Giang Đông. Tào Tháo khiêm tốn, lắng nghe lời Tuân Úc, theo sách lược “Cắm rễ sâu ở đất Tề”, “Bám chắc Quan Độ để chờ biến”, nên mới có thể xưng hùng ở phương Bắc. Cuối đời Đông Hán, tranh giành nhau ở vùng Trung nguyên đâu chỉ một vài người, thế nhưng tại sao chỉ còn lại có ba nước, còn những người khác thì bị tiêu diệt hết? Không biết dùng người là một nguyên nhân quan trọng. Viên Thiệu hùng cứ ở Tứ Xuyên, quân nhiều lương sản, mưu sĩ cả một bầy. Trong trận Quan Độ, binh lực của Viên Thiệu mạnh hơn Tào Tháo rất nhiều, phần thắng lẽ ra phải thuộc phía ông ta, nhưng vì ông ta đã chẳng nghe lời Điền Phong làm theo sự can gián của người này, lại chẳng nghe theo kế sách của Hứa Du, nghi ngờ cái không đáng nghi, quyết điều không đáng quyết, kết quả là làm chậm trễ quân cơ, bị động và chịu đòn và cao chung hàng sự thất bại. Lưu Biểu đóng quân trên đất võ, trong tay có lực lượng của cả 9 châu, nhưng vì “người thiện không biết dùng, người ác không biết bỏ” lại không có chí lớn, thỏa mãn với hiện tại, chỉ là miếng thịt trên mâm, mặc để cho người ta xâu xé, Kinh Châu bị chia sẻ là lẽ tất nhiên. Lã Bố được mệnh danh là tướng quân vô địch, Trần Cung là người hết lòng hết sức tận tụy hiến mưu hiến kế, nhưng Lã Bố coi như nước đổ lá khoai, thế nhưng với cha con Trần Khuê, nịnh nọt trước mặt nhưng lại thông đồng với địch, thì lại điều gì cũng nghe. Đến lúc nguy cấp bị Tào Tháo bao vây, hắn chẳng những không dựa vào những mãnh tướng như Trương Liêu để mà thoát khỏi vòng nguy hiểm, mà lại ỷ vào cây phương thiện họa kích và con ngựa xích thố để giữ an toàn cho vợ, kết quả lại chẳng là bị Tào Tháo bắt sống rồi đầu lìa khỏi cổ đó sao. Sau này Tam quốc diệt vong cũng là tại không biết dùng những người này. Lưu Thiện sủng tín Hoàng Hạo, Tào Ngụy trọng dụng Tào Sảng, Tôn Hạo tin dùng Sầm Hôn và một lũ nịnh thần nên làm nhanh thêm sự diệt vong của Ngụy, Thục, Ngô.

Kẻ biết dùng người đều áp dụng chính sách “bốn biển một nhà”

Đi suốt chiều dài của lịch sử Tam quốc, phàm kẻ biết dùng người đều áp dụng chính sách “bốn bể một nhà”. Kiểu dùng người “có tài là cất nhắc” thực chất là sự thể hiện của chính sách này. Như Tuân Úc, Quách Gia, Giả Hủ đều nguyên là mưu sĩ phía bên kia của Tào Tháo, Trương Liêu, Từ Hoảng là tù binh, Vu Cấm, Nhạc Tiến xuất thân bình dân được Tào Tháo lôi kéo đề bạt, trọng dụng, mới được có tên có tuổi. Tôn Quyền dùng người cũng vậy, ông ta chẳng những trọng dụng người của Ngô Quận như Cố Ung v.v... Đối với người Quảng Lăng tị loạn ở Giang Đông như Trương Chiêu, Gia Cát Cẩn v.v... cũng đều trọng dụng. Lưu Bị sau khi lấy được nước Thục ngoài những người Kinh Châu cùng theo vào đất Thục làm cốt cán ra, đối với người nguyên ở Ích Châu, Đông Châu, kể cả người thân hoặc sơ với Lưu Chương đều tùy tài mà sử dụng. Trong việc đoàn kết người của ba châu, Khổng Minh đã làm rất nhiều việc để đoàn kết người ba châu xung quanh Lưu Bị, gắn với nhau thành một sức mạnh, có tác dụng to lớn trong việc củng cố nước Thục.

Dùng người không tính đến ơn hay thù, là điểm giống nhau giữa Tào Tháo, Lưu Bị, Tôn Quyền. Cuối đời Đông Hán, nhiều anh hùng hào kiệt đối lập nhau, hoặc là bạn hoặc là thù rất khó cố định. Quan hệ giữa người với người rất phức tạp éo le, nếu lấy ơn hoặc thù làm giới tuyến để dùng người thì dứt khoát là không thể đoàn kết đông đảo được và cũng chẳng có lợi gì cho sự nghiệp. Bởi vậy, Tào Tháo, Lưu Bị, Tôn Quyền dùng người đều có lợi cho sự nghiệp, tuy có thù vẫn dùng. Trương Tú từng giết con đầu và cả cháu của tướng tài của Tào Tháo, sau này sang hàng, Tháo vẫn tin dùng. Lưu Ba vốn có oán giận với Lưu Bị; khi vào đất Thục, để đoàn kết mọi người ở Ích Châu, Bị cũng chẳng hề so sánh chuyện xưa mà vẫn tin dùng. Cam Ninh cùng từng kết oán với Tôn Quyền, sau này sang hàng, Quyền không đếm xỉa gì chuyện cũ của người này. Vì vậy mà Cam Ninh đã nhiều lần quên mình báo ơn và lắm dịp lập kì công, trở thành mãnh tướng của Đông Ngô.

Hậu quả tai hại của việc dùng người theo cảm tình

Hậu quả tai hại việc dùng người theo cảm tình trong Tam quốc diễn nghĩa cũng chỉ ra một cách sâu sắc. Gọi là cảm tình thân cận không ai ngoài hai loại: một là loại coi là tâm phúc, hai là họ hàng. Dùng người mà chỉ hạn chế có thế thôi, nhân tài tất nhiên sẽ có hạn. Bởi cái gọi là “tâm phúc”, phần lớn là nịnh thần, hạng người này chỉ làm việc theo ánh mắt của chủ, để đạt được lợi ích cá nhân, họ thường dối trên gạt dưới, họ là hạng việc thành công thì ít, nhưng thất bại thì nhiều vô kể. Hai vua cuối đời Đông Hán là Hoàn Công, Linh Công, sủng tín bọn hoạn quan gây nên sự đại loạn trong thiên hạ là một ví dụ điển hình. Họ nhờ quan hệ bằng giải yếm mà trở nên quyền quý là việc thường thấy trong xã hội Trung Quốc phong kiến. Bọn người này chẳng có học cũng không có tài, là một bọn đần độn bất tài, một khi nắm được quyền chính triều đình là họ sẽ làm cho nát bươm ra. Hà Tiến nguyên là anh hàng thịt, vì có em là hoàng hậu mà được phong đại tướng quân, chính trong tay cái bị bông này, triều nhà Hán chỉ còn tên mà không có chất. Dùng người theo cảm tình như Tào Tháo, Lưu Bị cũng không tránh nổi, như Tào Tháo vì Hạ Hầu Uyên mà mất Hán Trung, Lưu Bị dùng Quan Vũ mà mất Kinh Châu. Đối với Tào Tháo, Lưu Bị là một sự kiện khác, nhưng cũng đủ nói lên rằng giữ bỏ hoàn toàn việc dùng người theo cảm tình quả là không dễ chút nào.

Tác hại của việc gây bè cánh

Cái hại của việc gây bè cánh đưa lại những bài học thế nào cũng rất là thấm thía. Phàm là đã dựng nên bè đảng thì thế tất sẽ hình thành một bè đảng khác đối lập. Sự tranh chấp của các bè đảng, hoặc một bên bị bại hoặc cả hai đều sứt mẻ, đối với nhà nước, với sự nghiệp đều có hại mà chẳng ích lợi gì. Dương nhiên là dùng người phải dựa vào cốt cán, nhưng việc này khác hẳn việc kéo bè kéo cánh. Bởi vì dựa vào cốt cán là để đoàn kết đại đa số người được tốt hơn, còn kéo bè kéo cánh là tâng bốc phái này, đả kích phái kia. Vì sủng ái con út là Viên Thượng mà Viên Thiệu đã ra sức trọng dụng người bè phái của hắn, thế là tự thành một bè đảng, phái của người con cả là Viên Đàm cũng dựng lên một bè đảng để đối lập lại. Vì bè đảng đối lập nhau nên lực lượng nội bộ cũng suy yếu đi rõ rệt, cuối cùng bị Tào Tháo tiêu diệt. Lưu Biểu thì yêu vợ nên để cho phái của vợ nắm giữ quân quyền, đảng của vợ tất nhiên là ủng hộ người con út của bà vợ này là Lưu Tông, một bè đảng thế là được sinh ra. Người con cả Lưu Kỳ không cam tâm mất đi quyền thừa kế hợp pháp, đã đi cầu cứu Lưu Bị, thế là lại lập thêm một bè đảng nữa. Tào Tháo chinh phục phía Nam; Lưu Tông là người nối ngôi đã chẳng liên kết cùng anh mình là Lưu Kỳ để chống Tào, mà vì ngôi báu đã đầu hàng Tào Tháo, kết quả chẳng những mất Kinh Châu, đến mạng mình cũng không giữ nổi.

Biết người, cầu hiền là điều kiện tiên quyết trong việc dùng người

Biết người, cầu hiền là điều kiện tiên quyết của việc dùng người. Biết người thì mới có thể dùng người một cách thỏa đáng, cầu hiền thì mới chiêu mộ rộng rãi được nhân tài.

Trong Tam quốc diễn nghĩa có nhiều chuyện hay về biết người và sự lạ về dùng người. Như Tào Tháo, Lưu Bị, Khổng Minh, Tôn Quyền v.v... đều có thể biết người nên mới biết dùng người. Các bậc hiền sĩ của Ngụy-Thục-Ngô đều có thể cầu đến nhau, đó là một trong những nguyên nhân làm cho nhân tài thời Tam Quốc đông đảo như vậy. Kinh nghiệm của họ về biết người, cầu hiền đáng để cho những ai đang dùng người vay mượn.

Nguyễn Bá Thính dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.