Thời Tam quốc, nhân tài đông đảo, những hiền sĩ đắc lực luôn luôn tiến cử lẫn nhau. Có thể tiến cử người tốt là biết hiểu người, biết người mới có thể dùng người, dùng người thỏa đáng như khi đánh cờ bày đúng quân cờ, thể thì ván cờ ấy có đánh cũng nhẹ nhàng thoải mái và sẽ nắm chắc rằng sẽ ngồi thu kết quả của thắng lợi. Còn nếu dùng người không thỏa đáng thì sao? Hậu quả tai hại của nó sẽ khiến người ta khó giữ toàn tính mạng, còn mất sạch cả giang sơn. Việc dùng người trong Tam quốc, có thành công, cũng có thất bại. Những kinh nghiệm lịch sử đó nói với chúng ta một cách rõ ràng về cách dùng người thành công và cũng hé ra những sai lầm trong cách dùng người, đủ để làm tấm gương và lời răn trong việc dùng người hiện nay.
Có biết dùng người hay không, là mấu chốt thành công hay thất bại của sự nghiệp. Những bài học kinh nghiệm về dùng người trong Tam Quốc, cho đến nay còn chưa mất đi ý nghĩa hiện thực của nó.
Lễ hiền đãi sĩ mới được sĩ
Trong Thuyết Uyển – Tôn hiền biên có ghi lại một đoạn đối thoại sinh động về cầu hiền. “Triệu Giản Tử đi chơi trên sông bỗng than rằng: “Ai biết được hiền sĩ ở đâu nhỉ?” Người lái đò là Cổ Thừa đáp rằng: “Châu ngọc không có chân mà đến được, bởi người ta thích nó. Ngày nay kẻ hiền sĩ có chân mà không đến, đó là vua ta không thích họ đó thôi!” Ngài Triệu Giản Tử ở đây đâu có đi cầu hiền, mà núp trong du thuyền, hờ hững tỏ ra khao khát cầu hiền. Câu nói của lái đò Cổ Thừa đã vạch trần cái chân tướng “không thích hiền sĩ” của hắn. Bóng gió của câu nói này là: chỉ có yêu thích người hiền, thì người hiền mới đến. Thế nhưng cũng không thể nói, hễ cứ hiếu hiền, cầu hiền là được hiền. Cái ông Cổ Thừa này cũng coi việc cầu hiền đơn giản quá!
Muốn cầu được hiền sĩ cần phải đi quỳ gối mà cầu, thực sự lễ người hiền, hạ mình với kẻ sĩ, để cho đối phương thấy được ta là tri kỷ của họ, mới tình nguyện suốt đời hết lòng vì ta. “Kẻ sĩ chết vì tri kỷ của mình”. đó là điểm giống nhau của kẻ sĩ ở xã hội phong kiến. Khổng Minh sở dĩ “cúc cũng tận tụy, chết cũng không tiếc” vì Lưu Bị đã “tam cố thảo lư”. Lưu Bị cầu hiền không phải chiêu tập bằng lệnh, như kiểu Trương Phi nói là “anh việc quái gì phải thân chinh đi, có thể sai người gọi đến là được rồi!”, mà là tự mình đến chào, lần thứ nhất không gặp, thì đi thăm lần nữa. Lần thứ hai này lại vào giữa mùa đông, hôm ấy gió chướng ào ào, tuyết bay tới tấp, núi trắng như vôi, cây như nạm bạc. Trời lạnh đất cóng như thế, Lưu Bị không chịu dừng chân hoãn lại, mà là đi trong gió lạnh để đến thăm, như thế càng để Khổng Minh thấy ân cần của ta”. Lần thứ hai không gặp, lại đi thăm lần thứ ba. Lần thứ ba, trước khi đi, Lưu Bị sai thày tướng chọn ngày giờ đẹp, ăn chay hai ngày, tắm thay tươm tất mới đến Ngọa Long Cương tìm Khổng Minh. Chọn ngày giờ đẹp! Mới hay vị Hoàng Thúc này mê tín đến đâu, nhưng cũng thấy được rằng ông tha thiết cầu hiền, lo ngày hôm đó không phải là ngày tốt, lại không gặp được Khổng Minh; trai giới, tắm gội lại chứng tỏ sự tôn kính vô hạn của ông với Khổng Minh. Có thể ngày hôm đó may mắn gặp ngày tốt, lại thêm lòng thành thực cầu hiền của Lưu Bị đã cảm động Khổng Minh, lần này thì Khổng Minh ở nhà, thế nhưng, con rồng này lại đang nằm ngủ trưa chưa dậy (tên đất Ngọa Long Sơn nghĩa là núi rồng nằm – ND). Có phải là cố ý tỏ ra nhạt nhẽo với Lưu Bị, để thử xem Lưu Bị có thành tâm thật không? Lưu Bị rón rén bước vào, thấy Khổng Minh đang nằm ngửa, ngủ rất say, bèn đứng chờ ở bậc thểm. Quan, Trương đợi một lúc lâu không chịu nổi, nhưng Lưu Bị vẫn kiên nhẫn đứng đợi. Nhìn lên trên nhà, thấy Khổng Minh trở mình muốn dậy, bỗng lại quay vào tường ngủ tiếp. Tiểu đồng muốn vào báo, Lưu Bị nói: “Xin chớ đánh động rồi lại đứng một lúc nữa, lúc ấy rồng nằm mới thôi không nằm, lại còn ngâm lên câu thơ “Mơ màng ai tỉnh trước”, thật là quá ư hờ hững. Lưu Bị trọng người hiền sĩ như thế, làm gì mà không khiến cho Khổng Minh cảm động mà nguyện tận tụy suốt đời. Sự lễ độ trên đời không ai bì được của Lưu Bị đối với Khổng Minh, Khổng Mính sẽ suốt đời không quên. Hai mươi mốt năm sau khi Khổng Minh dâng biểu yêu cầu bắc phạt, còn nhắc đến chuyện này và nói: “Tiên đế không vì thần thấp hèn, không sợ uổng công, ba lần đến lều cỏ bàn với thần những chuyện lớn trong đời, và và cho cảm kích, thần đã hứa theo tiên đế”. Ba năm trước ngày ông ốm chết ở Ngũ Trượng Nguyên, trong hậu xuất sư biểu” đã đưa ra một câu thể: Thần cúc cung tận tụy, chết cũng không tiếc”.
Khi Lưu Bị “tam cố thảo lư, ông gửi gắm ở Lưu Biểu, không tấc đất cấm dùi; hoàn cảnh rất gian nan, tiền đồ không biết ra sao. Lúc đó, kẻ mạnh ở Trung Quốc bắc có Tào Tháo, nam có Tôn Quyền; Khổng Minh có nhiều bạn thân đã đi theo Tào Tháo, Khổng Minh lại không đi theo. Người anh cả của Khổng Minh là Gia Cát Cẩn đi với nước Ngô rất được Tôn Quyền tin yêu. Nếu ông cùng đi với nước Ngô sẽ được thông qua anh mình mà thăng tiến. Nhưng Khổng Minh tại sao không lên bắc theo Tào Tháo hoặc sang đông theo Tôn Quyền? Bởi vì giữa lúc thiên hạ đại loạn, không chỉ có quân chọn thần, thần cũng phải chọn quân vương. Vì, dùng lầm người, sẽ gây tổn thất cho sự nghiệp, thậm chí còn thất bại, còn thần mà chọn nhầm quân vương thì chẳng làm nên trò trống gì, thậm chí còn bỏ phí cả tiền đồ của mình. Cho nên, Khổng Minh tuy có tư tưởng kiến công lập nghiệp cũng không chịu mặc nhiên xuống núi, mà ẩn dật ở Long Trung làm bạn với đàn ca để chờ thời đợi thế. Ông sở dĩ đi theo Lưu Bị, một là vì Lưu Bị là một anh hùng được đông đảo sĩ phu Kinh Châu kính phục, một nữa là lòng thành tâm cầu hiền đã làm Khổng Minh cảm động. Nếu so sánh hai lý do trên, thì lý do sau này làm Khổng Minh cảm động hơn, như ông đã từng nói rằng sở dĩ ông theo Lưu Bị là cầm cái ơn tri ngộ. Cho nên trong bài thơ “Gia Cát Võ hầu” của Vương An Thạch đã có câu đại ý là: Nước Thục nhỏ yếu có thể sánh với nước Ngụy, nước Ngô đứng vững một chân kiềng là bởi vì Lưu Bị khiêm tốn, được Khổng Minh phò tá.
Có đoàn kết được nhân tài mới có thể thành việc lớn
Đoàn kết là sức mạnh. Một nước hay một đạo quân, khi trên dưới một lòng, tạo thành quả đấm, lực lượng ấy sẽ lớn, kẻ địch sẽ không có chỗ nào để đánh. Ngược lại thế thì mềm yếu bất lực, bị người ta chia rẽ đi đến chỗ bị thất bại. Mà có thể trên dưới một lòng hay không mấu chốt là ở chỗ kẻ dùng người có biết đoàn kết người khác hay không. Lưu Bị là một minh chủ biết đoàn kết mọi người cho nên hào kiệt ở Kinh Châu mới đoàn kết bên ông, lấy đó làm lực lượng nòng cốt, Tây lấy được Ba Thục, chiếm giữ Thành Đô, sau lại đoàn kết được sĩ phu ở Ích Châu, Đông Châu, đoàn kết được lực lượng của ba châu là Kinh Châu, Ích Châu, Đông Châu thành một lực lượng lớn mạnh, khiến cho Tào Tháo có được Lũng (Cam Túc – ND) cùng không dám nhòm ngó Thục (Tứ Xuyên). Tôn Quyền cũng phải coi nước Thục là bạn đồng minh để liên kết chống Tào Tháo.
Trước khi Lưu Bị vào đất Thục, vùng Tứ Xuyên dưới ách thống trị của Lưu Chương, nhân tài tản tác mâu thuẫn đầy rẫy. Trước hết là khi Lưu Yên trị vì nước Thục, người Nam Dương, Tam phụ lục tục di chuyển về phía Tây, số vào Ích Châu có tới hàng vạn nhà, trong đó thanh niên trai trẻ đa số gia nhập Xuyên quân, gọi là Đông Châu binh. Đông Châu binh ỷ thế ức hiếp người Ích Châu nên người Ích Châu rất thù ghét. Triệu Vì người Ích Châu vốn được lòng dân, một mặt ngầm bàn mưu với thân hào ở Ích Châu, dấy binh phản loạn. Đông Châu binh vì sợ phái Ích Châu mà thắng sẽ bị trả thù cho nên đã đồng tâm hiệp lực giúp Lưu Chương, quyết tử chiến với quân phản loạn và cuối cùng trấn áp được phản loạn. Tuy nhiên người Ích Châu chưa hẳn là tâm phục, đối với người Đông Châu vẫn như nước với lửa, các tướng của Đồng Châu thì ỷ vào có công nên kiêu căng, không nghe điều khiển. Lưu Chương vừa nhu nhược lại không có uy lực, thấy vậy cũng chẳng biết làm sao. Lưu Chương vốn có thù với Trương Lỗ, Trương Lỗ muốn dấy binh để báo thù, với binh lực của Tây Thục vốn có thể địch lại được, nhưng do lòng người không hòa nhập, Lưu Chương chỉ còn biết nghe theo lời của Trương Tùng, mời Lưu Bị vào Tứ Xuyên để chống lại Trương Lỗ. Sau khi Lưu Bị vào Tứ Xuyên trước hết là đoàn kết lòng dân, thời cơ đến, lập tức giành Tây Thục. Sau khi ông lãnh Ích Châu mục, đối với nhân sĩ Kinh Châu, Ích Châu, Đông Châu đều đối xử như nhau, ngay cả người đối địch với mình, hoặc còn mang thù oán, cũng vẫn tùy tài mà sử dụng.
Hoàng Quyền là người Ích Châu, từng trung thành với Lưu Chương, là người kiên quyết phản đối mời Lưu Bị vào đất Thục. Lưu Chương muốn đến Bồi Thành gặp Lưu Bị, ông ta đã ngậm vạt áo Lưu Chương cản lại, Lưu Chương nổi giận, dứt áo đứng dậy, Hoàng Quyền vẫn không buông đến nỗi rụng cả hai cái răng cửa. Lưu Bị không vì thế mà trách ông ta, ngược lại còn khen ông là có lòng trung, bổ làm hữu tướng quân. Lưu Ba là nhân sĩ đất Kinh Tương. Khi ở Kinh Châu không muốn được Lưu Bị tin dùng, bèn lên Bắc theo Tào Tháo, sau lại quay về với Lưu Bị, Lưu Bị vẫn không trách gì chuyện cũ, bổ làm tả tướng quân. Phí Vĩ là họ hàng của Lưu Chương. Ngô Ý, Phí Quan đều là thân thích của Lưu Chương, cũng đều được trọng dụng và cất nhắc. Do Lưu Bị đoàn kết được nhân sĩ của ba châu, tận dụng tài năng của họ, nên họ hết lòng trung thành với Lưu Bị, không ít người sau này đã trở thành những đại thần chủ chốt của nhà Thục. Ngoài những người từ Kinh nhượng tới như Khổng Minh, Tưởng Uyển và các tướng ngũ hổ là Quan, Trương, Triệu, Hoàng, Mã v.v... còn có Lý Nghiêm, Phí Vì v.v... Khi sắp chết Lưu Bị còn bổ nhiệm Lý Nghiêm làm cố mệnh đại thần, Phí Vĩ thì sau khi kế vị Tưởng Uyển, thành thừa tướng của nhà Thục. Những người này có tác dụng rất lớn lao trong việc mở mang và bảo vệ nước Thục.
Dùng người ở tài ba, không ở tuổi tác
Lưu Bị là một minh chủ, giỏi nhìn người và dùng người. Nhưng do ở cuối đời, sự nghiệp phát triển tương đối thuận lợi, nhất là sau khi ông bước lên ngôi hoàng đế, bắt đầu nảy sinh đầu óc kiêu căng tự mãn, càng ngày càng coi khinh người khác, chẳng chê già thì cũng khình là trẻ, như nói lão Hoàng Trung vô dụng, khinh Lục Tốn là đồ “nho sinh miệng còn hơi sữa, bởi vậy đã gây hậu quả rất tồi tệ. Chính vì ông không nhìn nhận Lục Tốn, một con người trẻ tuổi nhưng nhiều tài năng, tê liệt cảnh giác, khinh địch dẫn đến việc thất bại hoàn toàn ở trận Di Lăng. Mao Tôn Cương đã nêu ra sau đây lời phê bình cách dùng người chê già khinh trẻ của Lưu Bị: “Ai yêu già mà không yêu trẻ, là không có thể dùng tài. Người yêu trẻ mà không yêu già, cũng không có thể dùng tài. Người đã có tài thì già cũng được, trẻ cũng được. Người đã không có tài, thì già cũng không được, trẻ cũng không được bởi chuyện đáng bàn là xem họ có tài không, chứ đâu có cần bàn đến chuyện họ trẻ hay không trẻ. Luận điểm của Mao Tân Cương về dùng người là ở chỗ có tài chứ không ở chỗ già hay trẻ là một chuẩn mực dùng người hết sức quan trọng. Vô số sự thực thời Tam quốc đều chứng minh luận điểm của Mao Tôn Cương là chính xác. Những vị tướng lỗi lạc được miêu tả trong Tam quốc diễn nghĩa, phần lớn ngay từ lúc còn trẻ tuổi đã thể hiện tài trí hơn người của họ hoặc là đã có những chiến công kinh thiên động địa. Khổng Minh buổi mới ra khỏi lều cỏ mới chỉ là chàng trai 29 tuổi đời, thế mà đã nêu ra được “Long Trung Sách”, biết trước rằng thiên hạ sẽ chia ba, vun vén cho Lưu Bị xưng đế ở Tây Thục. Chu Du 33 tuổi đã làm thống soái, trong trận Xích Bích “hùng dũng hiên ngang, khăn vấn trên đầu tay, phe phảy quạt, trong khi cười nói mà làm cho tro bụi khỏi bay”. Tướng trẻ Lục Tốn hai lần dùng kế, làm cho Quan Vũ bị rơi đầu, Lưu Bị hết vía. Khương Duy 27 tuổi đã thể hiện là một vị tướng trẻ tài ba đã được Khổng Minh biết đến. Thế nhưng người sắp xếp thứ bậc thì bao giờ cũng coi nhẹ các bậc anh tài trẻ tuổi. Chẳng hạn như Quan Vũ, Trương Phi cây mình cùng Lưu Bị đánh đông đẹp bắc lấy giang sơn, vào bậc lão làng, đã từng coi khinh cả quân sư trẻ tuổi Khổng Minh, qua mấy lần Khổng Minh thử tài sắc bén, dùng bình ở Bác Vọng, lửa cháy ở Tân Dã, về sau hai người này không thể không khẩu phục tâm phục. Từ Thịnh, Đinh Phụng cùng cậy mình là lão tướng của Đông Ngô, lúc đầu không phục Lục Tốn làm thống soái, sau rốt cuộc trước sự thực cũng phải chịu thua. Có một số người lại khác hẳn, thế, luôn luôn coi khinh các lão tướng. Tướng “tuyệt tài” của Tào Tháo là Hạ Hầu Uyên cũng vì vậy mà bị lão Hoàng Trung chém chết.
Cái cách dùng người thiên lệch dùng già chê trẻ hay dùng trẻ khinh già, chẳng những có ở thời Tam quốc mà ngay từ xưa cũng đã có rồi. Vì cách dùng người thiên lệch này mà Nhan Tứ thời Đông Hán ấm ức ba đời vua mà không toại chí. Hán Vũ động viên các lang tướng ra trận đanh Hung Nô. Ông già tóc bạc Nhan Tứ lấy nê tuổi già từ chối không ra trận. Vũ Đế thấy ông này già thể mà vẫn còn làm chức quan lang nhỏ bé, ngạc nhiên hỏi nguyên cớ làm sao. Nhan Tứ vô cùng cảm động nói: Ông đã sống ba triều vua, nhưng “Văn Đế yêu văn mà thần tôi lại ham võ; Cảnh để yêu người già thì thần tôi lại còn trẻ; Đến nay bệ hạ thích người trẻ thì thần lại đã già mất rồi, thế là ba đời vua mà không gặp dịp”. Dương nhiên, gây nên bị kích cho Nhan Tứ “ba đời vua mà không gặp dịp còn có nguyên nhân khách quan. Thời Văn Đế thiên hạ thái bình, cần lo nội chính, cho nên trọng dụng văn tài; Nhạn Tứ ham võ cũng vì vậy mà không có dịp thì thố ở sa trường để giết giặc lập công; Thời Cảnh Đế xảy ra loạn Thất Vương cần phải có lão thần đầy uy vọng đi trấn áp, để an bang định quốc; Nhan Tứ còn trẻ trung cũng không can dự được; đến thời Vũ Đế, các lão thần phần lớn đã qua đời, cần mạnh dạn cất nhắc một số lớn trong lực lượng trẻ tuổi, Nhan Tứ lúc này tuổi đã già nên không được coi trọng. Thế nhưng nguyên nhân chủ quan làm cho Cảnh Đế trọng già khinh trẻ, Vũ Đế trọng trẻ khinh già là hai người này đều có quan điểm dùng người lệch lạc. Kỳ thực, cái tài của người già là được tôi luyện nhiều năm, kinh nghiệm phong phú, nhưng quan điểm tương đối cố định, dễ rơi vào bảo thủ; tài của người trẻ tuổi là dám nghĩ dám làm, muốn tạo ra cái mới, nhưng lại chưa chín chắn, dễ rơi vào hời hợt. Đó là tình hình nói chung, còn không, cũng có những người tài đã già, nhưng tư tưởng vẫn nhạy bén hoạt bát, cũng có những người tuy tuổi trẻ nhưng tác phong lại như lão thành. Với vấn đề người tài già hay trẻ, nếu có thể lấy nhiều ở mặt mạnh của họ để bù vào mặt yếu của họ, thì mới có thể lợi dụng và phát huy đầy đủ tác dụng của nhân tài.
Thế nhưng những người thống trị xưa nay lại không tận hiểu điều này, không trọng già khinh trẻ thì lại trọng trẻ khinh già, đó đã thành chứng bệnh chung từ xưa tới nay, nó đã gây nên không biết bao nhiêu tổn thất, làm mai một và lãng phí không biết bao nhiêu là nhân tài. Bởi vậy, ôn lại luận điểm của Mao Tôn Cương về “dùng người ở chỗ có tài, không ở chỗ già hay trẻ” là điều rất có ích.
Đừng dùng người qua diện mạo!
Chọn người qua diện mạo, từ xưa đến nay đều lặp đi lặp lại cái sai lầm đó. Bởi vì con người bao giờ cũng ưa đẹp ghét xấu, vẻ mặt đẹp dễ gây thiện cảm với người khác, vẻ mặt xấu dễ gây cho người ta ác cảm. Nhưng nếu chọn dùng người theo diện mạo đẹp hay xấu, sẽ bị rơi vào vũng lầy của chủ nghĩa hình thức. Bởi vẻ đẹp bên ngoài và vẻ đẹp bên trong không có quan hệ ngang bằng, tất nhiên bên ngoài đẹp bên trong chưa hẳn đã đẹp, bề ngoài xấu chưa hẳn bên trong xấu. Nói thì nói vậy, nhưng người ta lại cứ luôn luôn tự giác hay không tự giác chọn dùng người theo diện mạo. Ngay cả đến bậc Khổng Tử thánh nhân cũng là như vậy. Hàn Phi trong bài “Hiển học” cũng nhắc đến chuyện này, ông nói: “Đạm Đài Tử Vũ, vẻ ngoài quân tử, Trọng Ni đã chọn dùng, ở lâu mới thấy việc làm không xứng với diện mạo... Cho nên Khổng Tử nói: Chọn người theo diện mạo, mất đi Tử Vũ”. Tử Vũ là môn đệ của Khổng Tử, vẻ ngoài không chê vào đâu được, nhưng sống lâu với con người này, Khổng Tử thấy việc làm của Tử Vũ rất không tương xứng với cái vẻ bên ngoài, bởi vậy hối hận nói: Chọn người theo diện mạo, sai lầm ngay trên con người Tử Vũ. Tuy bậc thánh nhân này đã để lại bài học trên đây cho đời sau, nhưng sai lầm ấy vẫn cứ luôn luôn xuất hiện. Ngay đến như bậc biết nhận ra người, biết dùng người như Lưu Bị, Tôn Quyền và Tào Tháo cũng từng mắc phải sai lầm này.
Thủy Kính tiên sinh từng nói với Lưu Bị thế này: “Phục Long, Phụng Sồ, được một trong hai người, có thể dẹp yên thiên hạ”. Phụng Sồ tức là Bàng Thống, mới hay con người ấy thật là phi phàm. Thế nhưng, cái ông Phụng Sồ này, vẻ ngoài không được nho nhã cho lắm: mày rậm mũi hếch, mặt đen ria cùn. Thủy Kính tiên sinh biết tài ông này, nên không nói đến diện mạo mà ca tụng như vậy. Nhưng người không hiểu ông ta, vừa mới nhìn thấy “tôn nhan” của ông ta đã chẳng lấy gì làm vui cho lắm. Bàng Thống đầu tiên được Lỗ Túc tiến cử với Tôn Quyền, thấy hình thù quái đản của người này, lại vốn khinh cả Chu Du mà ông này vốn kính phục, cho nên Tôn Quyền đã từ chối không dùng. Về sau Khổng Minh và Lỗ Túc ra sức tiến cử với Lưu Bị, tuy rằng có hai bức thư tiến cử, nhưng Bàng Thống lại không dùng hai bức thư đó để được tin yêu, mà muốn bằng tài năng của mình để được coi trọng, cho nên đã không đưa ra, chỉ nói với Lưu Bị rằng vì nghe “Hoàng thúc chiêu hiền nạp sĩ” nên đến xin theo. Lưu Bị thấy Bàng Thống mặt xấu thế nên trong lòng cũng không vui. Thế nhưng, ông lại không từ chối không nhận như Tôn Quyền, mà chỉ cho một chức huyện quan nho nhỏ để làm. Được tin Bàng Thống mải uống rượu không thiết công việc, Lưu Bị bèn sai Trương Phi đi tra hỏi. Cũng may mà chàng Trương Phi lúc đó nhiều cái thô lỗ cũng có cái tế nhị, thấy Bàng Thống có nửa ngày mà giải quyết hết công việc hơn trăm ngày dồn lại, đã kinh ngạc mà vái tạ, sau đó về khen với Lưu Bị rằng Bàng Thống đại tài. Lưu Bị cũng kinh ngạc nói: “Đối xử tồi tệ với bậc đại hiền như thế, ta thật có lỗi”. Tôn Quyền thấy Bàng Thống mặt xấu nên cuối cùng không dùng, để mất một bậc đại hiền. Lưu Bị cũng do Bàng Thống mặt xấu nên không trọng dụng, đến cuối cùng còn biết đã “đối xử tồi tệ với bậc đại hiền” mà trọng dụng con người này, cho nên đã được một bậc đại hiền. Một đằng biết hối cải, một đằng không hối cải, sự được mất của nó là thế đó.
Trương Tùng nổi tiếng ở Ích Châu, là người nói năng lưu loát, biết rộng nhớ giỏi, cũng là một bậc tài trí, thế nhưng tướng mạo lại hết sức khó coi. Trán dô đầu nhọn, mũi hếch răng vổ, mình cao chưa đầy năm thước, thật là vừa xấu vừa lùn. Ông ta đến Hứa Đô gặp Tào Tháo lấy danh nghĩa nhờ Tào Tháo đánh Trương Lỗ để giúp Lưu Chương, thực ra là ngấm làm cái việc câu kết bán rẻ Tây Xuyên. Tào Tháo thấy người này xấu xí như thế lại thêm nói năng bộc trực, chẳng hợp câu nào, bèn phủi áo đứng dậy. Sau này, khi bàn cãi, Dương Tu, thân Trương Tùng miệng trơn như cháo chảy, lại thấy vừa đọc “Mạnh Đức tân thư” mà đã thuộc làu không sai một chữ, còn khen là tài hơn Tào Tháo. Hôm sau tiếp kiến, ông ta còn châm chọc ngay trước mặt Tào Tháo, Tháo bèn sai đánh đuổi ra. Tào Tháo cũng mắc sai lầm là dùng người qua diện mạo, vì ông ta lạnh nhạt với Trương Tùng, nên Tùng đã không bán Tây Xuyên cho Tào Tháo. Với Lưu Chương, Trương Tùng là người bán chúa cầu vinh, với Tào Tháo lại là người tài có ích. Tào Tháo để mất Trương Tùng cũng là mất đi dịp nay hiếm có để lấy Tây Xuyên.
Sai lầm của Lưu Bị, Tào Tháo và Tôn Quyền cũng là lời răn cho những ai dùng người qua diện mạo.
Nguy hại bởi không nghe can ngăn
Qua các Vương triều phong kiến, có không ít những bậc trung thần nổi tiếng bởi những lời can gián, nhưng có mấy người có kết cục tốt. Bởi các đế Vương phong kiến đều là những kẻ thống trị chuyên chế, lời vàng đã ban, thánh chỉ đã xuống không dễ gì sửa lại, huống hồ ở cái thời mà “quân bảo thần chết, thần không thể không chết” ấy, ai mà giám đưa ra những ý kiến bất đồng để xúc phạm đến Long nhan, tất sẽ bị nghiêm trị, nhẹ thì cũng bãi quan, nặng có thể mất đầu. Đương nhiên cũng có những người biết nghe lời can gián, như Đường Thái Tông bởi biết nghe câu “Nghe lệch lạc thì tối, nghe cả hai bên thì sáng” của Ngụy Chinh, đã biết nghe mọi điều can ngăn, đã uốn nắn lại nhiều chủ trương và hành động sai lầm của mình, điều đó đã có tác dụng quan trọng trong việc thúc đẩy sự hiến mình về chính trị, phồn thịnh về kinh tế. Thế nhưng kẻ thống trị bao đời nay phần lớn cậy mình là sáng suốt, không chịu nghe ý kiến của người khác, mà nếu có nghe cũng chẳng nghe đầy đủ, mà nghe là lệch lạc, tin lệch lạc, kết quả là chậm trễ còng việc, lỡ làng cho đất nước, thậm chí còn nước mất thân tàn. Viên Thiệu, Lưu Chương và sau này cả Lưu Bị chính vì không chịu nghe lời trung thực mà đã bị thất bại thảm hại.
Viên Thiệu đối với người ngoài rộng trong hẹp, nghe lệch lạc, tin lệch lạc. Vì yêu con út là Viên Thượng muốn để rồi nối nghiệp, đối với bọn bè đảng của Viên Thương như Thẩm Phối, Phùng Kỷ thì nghe theo răm rấp, đối với những người trung trinh, trí tuệ với những lời lẽ trung thực nhưng hơi khó nghe như Điền Phong, Ký Thụ thì chẳng chịu nghe. Ông ta định dấy quân giúp Lưu Bị để đánh Tào Tháo. Điền Phong can rằng: “Binh đao mấy năm trời, dân chúng xác xơ, lương thảo không tích được, không thể nói đến việc huy động đại quân”, “nếu chuẩn bị ba năm nữa, việc lớn sẽ thành.” Ký Thụ cũng phản đối việc Viên Thiệu ra quân. Viên Thiệu lại nghe theo lời Thẩm Phối, tiến quân đánh Lê Dương, kết quả là hao binh tổn tướng – đại tướng Nhan Lương, Văn Sú bị giết. Khi Viên Thiệu tiến quân Quan Độ quyết chiến với Tào Tháo. Điền Phong do phản chiến mà bị tống giam, đã dâng thư can gián nói: “Nay nên im mà giữ để đợi thiên thời, không được vội vàng mà dấy đại quân, sợ rằng sẽ bất lợi”. Phùng Kỷ thì kín đáo nói: “Chúa công dấy đội quân nhân nghĩa, Điền Phong sao nỡ nói những lời gở mồm”. Thiệu nghe vậy nổi nóng lên, định đem chém Điền Phong. Các quan xin mới thôi. Đến trước ngày Tào Tháo đến Ô Sào cướp lương, vì chủ trương hoãn chiến nên bị quản thúc trong quân đội, Ký Thụ vẫn đề nghị lên với Viên Thiệu: “Ô Sào là nơi cất giữ lương thảo, không thể không phòng bị, nên cử ngay tinh bình và tướng giỏi đến tuần tiểu trên những con đường núi, để tránh quân Tào đến cướp”. Vậy nhưng Viên Thiệu cho rằng Ký Thụ là “tội nhân” nói láo mê hoặc người”, từ chối không thèm nghe. Nếu Viên Thiệu theo kế sách của Điền Phong, hoặc nghe lời đề nghị của Kỳ Thụ sẽ không bị thất bại thảm hại như thế ở Quan Độ. Viên Thiệu hùng cứ vùng Hà Bắc sẵn có dân chúng bốn châu, binh lực hơn hẳn Tào Tháo, thế nhưng vẫn thua to như vậy là bởi vì Viên Thiệu có trung thần trong tay mà không dùng, có lời trung đến tai mà không nghe. Điền Phong thì do Viên Thiệu giận quá hóa cùn mà giết đi. Một nhấn sì trí tuệ mà kết cục như thế, đáng than thay!
Viên Thiệu từ chối lời khuyên can vì luôn nghe lệch, tin lệch. Lưu Chương không nghe can ngăn vì nhìn người ám yếu, phải trái không phân biệt. Trương Tùng thính cấu cử sứ giả đi xin cứu viện ở bên ngoài để chống lại Trương Lỗ, nguyên ý của nó không phải vì Tây Thục, mà là chuyện bán chúa cầu vinh, hắn những tưởng khuyên được Tào Tháo thừa dịp lấy Tứ Xuyên, nhưng bị Tào Tháo kiêu ngạo coi khinh, Trương Tùng đành lại quay theo Lưu Bị. Sau khi về Tứ Xuyên vẫn khuyên Lưu Chương mời Lưu Bị vào Tứ Xuyên chỉ viện. Hoàng Quyền, Vương Lũy cũng ra sức can ngăn. Vương Lũy chỉ ra một cách rõ ràng rằng: “Trương Lỗ xâm phạm nước Thục, chỉ là cái mụn ngứa còn con. Lưu Bị vào Tứ Xuyên mới là bệnh hoạn lớn”. Hoàng Quyền thì chủ trương: “Có thể trước chém Trương Tùng sau mới diệt Lưu Bị, thì mới là điểu vạn hạnh cho Tây Xuyên”. Lưu Chương lại nghe theo lời nói ngon nói ngọt của Trương Tùng, không nghe Hoàng Quyền, Vương Lũy can ngăn: Khi Lưu Chương chuẩn bị đến Bồi Thành cùng Lưu Bị hội ngộ, Vương Lũy tự lấy dây treo ngược mình lên trước cổng thành, một tay cầm thư can, một tay cầm gươm, miệng hô “Nếu can gián không nghe, sẽ tự cất đứt dây cho rơi mình xuống đây”. Sau khi đọc thư can, Lưu Chương nổi giận nói: “Ta đi gặp người nhân đức như thân tựa chi lan, người làm gì mà dạy ta nhiều thế”. Vương Lũy tự cắt dây, chết ngay tại chỗ. Vương Lũy lấy cả xác mình ra can ngăn, mà Lưu Chương chẳng mảy may tỉnh ngộ, cuối cùng là “công dã tràng xe cát biển” mất toi đất Tây Xuyên.
Lưu Bị từ chối lời can ngăn, là do ông ta vì nghĩa riêng mà quên thù lớn và kiêu căng tự mãn. Khi còn chưa lên ngôi vua, Lưu Bị còn khá khiêm tốn thận trọng, dễ tiếp nhận những ý kiến đúng đắn của mọi người. Thế nhưng trước thắng lợi, đầu óc ông bị mụ mẫm, bản sắc chuyên chế của bậc đế vương đã bộc lộ ra đầy đủ hết. Để báo thù cho em là Quan Vũ, ông đã quyết ý đem quân đi đánh nước Ngô. Triệu Vân can ngăn rằng: “Thù giặc Hán, là thù chung, thù anh em, là mối thù riêng, mong hãy lấy thiên hạ làm trọng”. Lưu Bị không đồng ý, nói: “Trẫm không báo được thù cho em, tuy có ngàn dặm giang sơn, cũng chẳng lấy gì làm quý”. Mới hay, Lưu Bị dù cho có mang nghĩa khí giang hồ, nhưng lại thiếu quan điểm chiến lược “lấy thiên hạ làm trọng”. Bởi vì hai nước Thục Ngô giao binh với nhau, tất sẽ hao mòn lực lượng, chỉ có lợi cho Tào Tháo. Lưu Bị chỉnh quân, khí thế sắp xuất phát. Tần Bật khuyên can thẳng thắn và chỉ ra rằng: “Bệ hạ không nghe lời chúng thần, e rằng sẽ bất lợi”. Lưu Bị cho rằng nói điều này không lợi, định đem chém đầu. Tần Bật mặt không đổi sắc, ngoảnh lại nhìn Lưu Bị, cười nói: “Thần chết chẳng có gì ân hận, chỉ tiếc thay cho cơ đồ mới lập này rồi sẽ đổ vỡ”. Do chúng quan kêu xin, sau nhốt Bật vào trong ngục. Khổng Minh được tin này, cũng dâng biểu lên cứu Bật, cho rằng những lời Bật can ngăn đó đều là “ý ngọc lời vàng”. Lưu Bị xem xong, vứt biểu xuống đất, nói: “Ý trẫm đã quyết, không được ai khuyên can nữa!” Một vị minh chúa từng biết nghe mọi lời khuyên can, một mẫu mực về tôn hiền trọng sĩ, khi được Khổng Minh, đã nói là “như cá gặp được nước”, mà lúc này đến người được coi là “nước” như Khổng Minh nói ra cũng chẳng được ông nghe. “Con cá” Lưu Bị này lại có phen mất “nước”, những cảnh ngộ sau này ông gặp phải đã cho biết. Do tư tưởng kiêu hùng ngày một phát triển, Lưu Bị đã không nghe lời can ngăn trung thực, và tất nhiên sẽ đưa ra những quyết sách sai lầm, cái “cơ đồ mới lập rồi sẽ đổ vỡ” là điều không thể tránh khỏi. Sau thất bại thảm hại ở đất Di Lăng xứ Hào Đình, khi ông ta “ân hận đã không nghe lời thừa tướng” thì đã muộn mất rồi!
Thất bại của Viên Thiệu, Lưu Chương và Lưu Bị nói lên rằng: coi lời nói trung thực là chướng tai, đáng là hại mình, làm hỏng việc nước.
Kết cuộc của sự kéo bè kéo đảng
Cuối đời Đông Hán, trong đám anh hùng hào kiệt, Viên Thiệu là người mạnh nhất. Trong trận quyết chiến ở Quan Độ, ông ta có trên 70 vạn quân, Tào Tháo chỉ có 7 vạn tinh binh, quân lực của Viên Thiệu gấp 10 lần Tào tháo, thế mà Tào Tháo có thể lấy yếu tháng mạnh, nguyên nhân thì có rất nhiều, nhưng tập đoàn của Viên Thiệu nội bộ kéo bè kéo cánh, tranh giành lẫn nhau đi đến chỗ hao mòn lực lượng để Tào Tháo có thể lần lượt đánh tan quân Thiệu, đó là một trong những nguyên nhân quan trọng.
Phàm là đã gây bè đảng, tất sẽ có lực lượng đối lập lại bè đảng đó, nội bộ tập đoàn Viên Thiệu bè đảng mọc lên như nấm, thực ra cũng tại Viên Thiệu lập ra bè đảng trước. Vì yêu mến con út là Viên Thượng và muốn để thành người kế vị, Viên Thiệu đã cực kỳ tín nhiệm hết sức với bọn người cùng bè đảng với Viên Thượng như Thẩm Phối, Phùng Kỷ, để họ nắm lấy quyền lớn trong quân đội và chính trị. Mưu sĩ Tân Bình, Quách Đồ thì là người cùng bè đảng với Viên Đàm, kiên quyết phản đôi việc phế con trường, lập con út, ủng hộ Viên Đàm kế vị. Cho nên Thẩm Phối, Phùng Kỷ và Tân Bình, Quách Đồ, ai cũng vì chủ của mình, câu kết móc nối với nhau, để tranh nhau kế vị. Nhưng bốn người đều cùng chủ trương quyết tử chiến với Tào Tháo, khác với ý kiến của các mưu sĩ Điền Phong, Thư Thụ, vì họ đều chủ trương “tĩnh thủ để đợi thời. Vì mưu lược không giống với bọn Thẩm Phối, và như thế lại hình thành thêm một bè đảng nữa. Sau khi Viên Thiệu tiến quân vào Quan Độ, Thư Thụ đã nêu ra một tư tưởng chiến lược chính xác: “Quân ta tuy đông, song không dũng mãnh bằng quân địch. Quân địch tuy tình, những lương thảo lại không bàng quân ta. Quân địch không có lương thực, lợi ở đâu đánh nhanh. Quân ta có lương thực, thích hợp với việc giữ lâu, nếu lâu dài thì không đánh địch cũng sẽ thua”, đó là sự phân tích một cách biết người biết mình. Nếu Viên Thiệu nghe sách lược của Điển Phong là không đánh, thì sẽ không thất bại, nghe theo kế hoãn chiến của Thư Thụ cũng sẽ không đến nỗi thất bại. Thế mà Viên Thiệu không chỉ không nghe, còn bỏ giam Điền Phong vào ngục, quân thúc Thư Thụ trong quân đội, đó tức là tự bỏ rơi mất trí khôn, để mặc cho Tào Tháo tha hồ tính toán sắp đặt. Tuân Úc đã nhận ra rằng: “Viên Thiệu là đồ vô dụng”, ông nói: “Quân Thiệu đông mà không chỉnh; Diễn Phong cương trực nhưng lại phạm thượng, Hứa Du tham mà không có mưu trí, Thẩm Phối chuyên mà vô mưu, Phùng Kỷ quả đoán mà vô dụng, nhiều người như thế, thế không dung hòa nhau, tất sẽ sinh nội biến”. Cho nên họ đã chủ trương quyết chiến với Thiệu.
Do Viên Thiệu phế con trưởng lập con út, lại để cho hai con tự gây bè đảng. Viên Thiệu vừa chết đi, hai anh em vì tranh nhau kế vị đã đấu tranh với nhau một mất một còn. Vì Tào Tháo tấn công rất gấp, hai anh em còn hợp sức với nhau để giữ Ký Châu, quân của Tào Tháo cũng khó mà đánh nổi, Quách Gia lại hiến kế lên Tào Tháo nói: Viên Thiệu phế con trưởng lập con út, mà giữa anh em chúng với nhau, tranh giành quyền lực với nhau, mỗi người gây bè gây đảng của mình, lúc cấp thì cứu nhau, lúc tình hình dịu đi, lại tranh nhau, chẳng thả cất quân xuống phía Nam, đến Kính Châu, đánh Lưu Biểu để chờ sự biến của anh em họ Viên, tạo nên thế đánh cả trước cả sau, có thể chỉ một trận là xong”. Tào Tháo theo kế đó. Quả nhiên là không ngoài dự đoán của Quách Gia, Tào Tháo vừa thu quân, hai anh em họ Viên gây nội chiến với nhau. Bắt đầu là Quách Đồ hiến kế mời Viên Thượng, Thẩm Phối đến uống rượu, cho quân phục sẵn để giết. Đàm nghe theo kế ấy, bèn sai người đi mời. Thẩm Phối nói với Viên Thượng: “Đây chính là kế của Quách Gia. Chúa công mà đến, nhất định sẽ mắc vào mưu gian, chẳng thà nhân thế này mà tấn công mạnh vào”. Thế là hai anh em giao chiến với nhau, Viên Thượng nhiều lần đánh bại Viên Đàm. Viên Đâm rút về giữ bình nguyên, do bị bao vây nguy cấp, Quách Đồ bèn đề nghị Viên Đàm hàng Tào cứu viện. Hai anh em họ Viên đánh nhau, Tào Tháo mới có dịp thừa cơ đánh vào Ký Châu.
Phàm đã gây bè đảng, đều coi tư lợi làm trọng, mọi luân lý phong kiến đều bị đảo lộn. Viên Đàm, Viên Thượng là anh em con cùng một mẹ, vì tranh nhau kế vị mà gây bè đảng, đánh nhau một mất một còn. Tân Bình cùng phe với Viên Đàm, nhưng em của Tần Bình là Tân Tỷ lại thừa dịp đi cứu viện cho Viên Đàm mà khuyên Tào Tháo rút quân về lấy Ký Châu. Thẩm Phối ở phe Viên Thương, cháu Thẩm Phối đã do gia quyến bạn mình là Tân Tỷ bị giết đã mở cửa cho quân Tào Tháo vào thành.
Sự thất bại của Viên Thiệu, cái chết của anh em họ Viên đủ thấy mối nguy hại của bè đảng lớn đến chừng nào. Nếu Viên Thiệu không đứng về một phe, anh em họ Viên và mưu sĩ khác không gây bè đảng của mình, vì tư lợi mà quên công ích, có thể làm cho trên dưới một lòng, hợp lực chống Tào, thì chỉ riêng sức Tào Tháo cũng khó mà thu thắng lợi; có mưu lược của Quách Gia cùng không có chỗ mà thi thố. Đương nhiên những bè đảng trong đó cũng có những điểm khác nhau. Bè cánh của Thẩm Phối, Phùng Kỳ trung thành với Viên Thượng; bè cánh của Quách Đô, Tân Bình trung với Viên Đàm, ai lo hiến sách bày mưu cho phe đảng của người ấy; Điền Phong, Thư Thụ tuy cũng cùng một bè đảng thế nhưng họ hiến thêm kế hay, luôn lo nghĩ cho lợi ích của tập đoàn họ Viên. Nếu chỉ là bé đảng của Phong Điền Thư Thụ, thì cũng chẳng gọi là bè đảng và họ Viên cũng không đến nỗi diệt vong.
Dùng gian trá chỉ được người, mà không được lòng người
Trong lịch sử, phàm là vua chúa lấy sự thành thực và lòng tin đối xử với cấp dưới thì bầy tôi lấy lòng trung đáp lại, quân thần tương đắc, đến chết vẫn không thay đổi. Nếu gian trá mà đối xử, bầy tôi sẽ thấp thỏm không yên, tất sẽ trên dưới nghi ngờ nhau, mỗi người nghĩ một khác.
Đầu đời Trinh Quán (Niên hiệu của vua Thái Tông nhà Đường – ND), có người dâng sớ lên Đường Thái Tông Lý Thế Dân xin bãi những hạng quan khéo mồm nịnh bợ. Lý Thế Dân đòi chỉ những tên ấy ra, người đó nói rằng: “Xin bệ hạ hãy giả vờ nổi giận để thử quần thần, ai không sợ lôi đình, can ngăn thẳng thắn, người đó là đúng đắn, ai thuận tình nghe theo đó là kẻ nịnh.” Lý Thế Dân nói: “Trẫm muốn lấy chữ đại tín để hành động trong thiên hạ, không muốn dùng sự gian trá để làm nếp sống, lời của khanh tuy có ý tốt, nhưng trẫm không chấp nhận”. Với bên dưới, Lý Thế Dân không lừa trá, mà đối đãi với mọi người bằng lòng thành và chữ tín. Hơn nữa lại khéo nghe lời can ngăn, cho dù là có nói ông một cách độc địa thì chỉ cần lời can ngăn đó có thể chấp nhận được, ông cũng không chấp chuyện đó. Bởi vậy mà bầy tôi cũng rất tin ông, dám can ngăn một cách thẳng thắn. Do giữa quân thần với nhau thành thực công khai, không có gì ngăn cách, đồng tâm hợp lực trị vì thiên hạ cho nên mới xuất hiện cách trị thời Trình Quán.
Tào Tháo đối xử với mọi người lại khác hẳn Lý Thế Dân, không phải là dựa vào trung thành tin tưởng, mà là dùng cách gian trá. Để mong đồ thiên hạ, Tào Tháo cũng tích cực thâu tóm nhân tài, các nhân sĩ ở Hà Bắc số lớn đã đi theo. Nhưng chính vì ông này gian trá, cho nên được kẻ sĩ, mà không được tấm lòng của họ. Tào Tháo chỉ cần cho rằng không một lòng với mình, không có lợi cho mình thì bất kể có bao nhiêu công trạng, cũng tìm đủ mọi cách khử đi để trừ hậu họa. Bởi Tào Tháo buổi đầu khởi sự đã dựng lên ngọn cờ “ủng hộ nhà Hán”, Tuân Úc là người ở phái trung với nhà Hán đã bị mê hoặc bởi loại giả tướng đó nên đã bỏ Viên Thiệu quy Tào, mang hết mưu trí ra vì Tào Tháo, lập nên những chiến công bất hủ và cũng được Tào Tháo trọng dụng. Khi thấy Tháo muốn làm lễ “Cửu tích” đã hết sức phản đối và than rằng: “Tôi không nghĩ rằng hôm nay lại có chuyện này”. Tháo thấy người này đã có ý khác mình, rất là tức. Khi Tháo dấy quân đánh phía Nam, Tuân Úc thác bệnh dừng lại ở Thọ Xuân, Tháo sai người mang tới một hộp cơm, bên ngoài có chữ tận tay Tháo niêm phong. Mở hộp ra xem, chẳng có một thứ gì bên trong, tức ý muốn bảo Tuân Úc nhịn ăn đi. Úc biết ý liền uống thuốc độc tự tử. Để thoát khỏi những hoàn cảnh nguy nan, Tào Tháo cũng chẳng tiếc gì dùng người khác làm bia đỡ đạn, làm vật hy sinh. Khi ông ta cùng Viên Thuật giằng co nhau ở Thọ Xuân, quân đông lương ít, bèn bảo quan giữ kho là Vương Hậu đem đong nhỏ cái hộc đong lương đi. Vương Hậu làm theo, quân sĩ rất oán giận cho rằng thừa tướng lừa bịp người. Tháo bèn mật báo cho Vương Hậu vào cung, nói rằng: “Ta muốn mượn cái đầu người để bêu ra chợ.” Vương Hậu thất kinh, nói: “Thần quả là vô tội!” Tào Tháo nói: “Ta vẫn biết ngươi không có tội, nhưng nếu không giết ngươi, quân tất sẽ loạn”. Thế là đem ra chém liền, và yết bảng hiểu thị: “Vương Hậu cố ý dùng hộc nhỏ, ăn bớt quân lương, nay xử theo quân pháp”. Thế là nỗi oán giận của binh lính cũng tiêu tan. Để giữ an toàn cho riêng mình, Tào Tháo còn dùng cách “giết gà răn khỉ” giết hại bao nhiêu người vô tội. Tào Tháo sợ người khác ngầm hại mình, thường cán dặn tả hữu: “Ta giết người khi nằm mộng, nên phàm lúc ta đang ngủ, các ngươi đừng ai đến gần”. Một hôm Tháo đang ngủ trưa trong màn, chăn rơi xuống đất, một người hầu cận vội nhặt lên đắp lại cho, Tào Tháo choàng dậy rút gươm đâm chết, sau lại lên giường ngủ tiếp, một lúc lâu sau mới dậy, giả vờ kinh ngạc hỏi: “Kẻ nào giết hầu cận của ta?”. Mọi người cho là thực. Tào Tháo khóc to lên rồi sai đem chôn, đúng là mèo thương chuột nhất. Những việc như thế, chỉ có Tào Tháo mới làm ra được. Tào Tháo tưởng rằng cái cách “giấu trời qua biển” của mình có thể che đậy được tai mắt thiên hạ. Kỳ thực các quan tả hữu cận thần trong lòng ai cũng biết, có điều, chỉ giận trong lòng, nhưng không dám nói ra mà thôi. Khi chôn cất cho người hầu cận chết oan, mưu sĩ Dương Tu chỉ mà than rằng: “Thừa tướng không nằm mơ, mà chính ngươi nằm mơ”. Bởi vậy Tào Tháo mặc dù có lúc cũng “lắm điều và láu cá”, tha cho người trước đây vốn thù ghét mình, hoặc đốt hết thư từ của cấp dưới của mình tư thông với địch, những người cấp dưới và thuộc hạ vẫn chưa thật tin tưởng, mà lúc nào cũng luôn luôn lo lắng, đề phòng. Cho nên Tào Tháo chỉ giành được người trong một lúc nào đó, chứ không giành được trái tim người một cách lâu dài. Lưu Bị cũng từng có thời ở dưới trướng Tào Tháo và cũng đã từng được Tào Tháo coi trọng. Nhưng thấy ông này có hành động gian trá nên đã bỏ đi. Tào Tháo vốn hâm mộ tiếng tăm Di Hoành, muốn triệu tới để dùng cho mình. Di Hoành cũng vì thấy Tào Tháo gian trá nên một mực không nhận lời, lớn tiếng mắng mỏ sỉ nhục, biểu hiện lên khí chất cao thượng không mấy sống chung với tuồng dơ bẩn.
Lý Thế Dân đối xử với cấp dưới bằng lòng thành và chữ tín, cho nên được người lại được cả lòng người. Còn Tào Tháo đối với người bằng xảo trá, tuy được người nhưng không được lòng người. Cái đạo đối xử với con người tức là dùng lòng thành và chít tín, không nên dùng sách gian trá, qua những so sánh ở trên, chẳng đã rõ ràng lắm sao.
Tệ bao biện làm thay
Về tác phong bao biện, làm thay của Khổng Minh, trong Tam Quốc diễn nghĩa đã miêu tả rất hình tượng. Tư Mã Ý quyết thủ không ra đánh. Khổng Minh sai người mang khăn, váy của đàn bà đưa tặng đê chọc tức. Tư Mã Ý tuy giận trong lòng nhưng vẫn giả vờ cười, lệnh hậu đãi sứ giả ý hỏi: “Chuyện ăn ngủ và làm việc của Khổng Minh lúc này thế nào?”. Sứ giả thưa: “Thừa tướng thức khuya dậy sớm, các vụ phạt đều tự tay xem xét. Ăn uống ngày chỉ vài thưng”. Ý nói với các tướng của mình: “Khổng Minh ăn ít, làm việc nhiều, liệu có được lâu nữa không?”. Sứ giả trở về, nói thực hết mọi chuyện. Khổng Minh thốt lên: “Địch biết về ta rất sâu!” Chủ bạ Dương Ngung (người coi giữ sổ sách– ND) nói: “Tôi thấy thừa tướng đối chiếu sổ sách, trộm cho rằng có gì đó không phải, vì công việc đã có thể chế, trên dưới không nên giẫm chân vào nhau... Nay thừa tướng thân chinh đi làm từng việc vật, cả ngày đẫm mồ hôi chẳng phải là một lắm sao. Tư Mã Ý nói vậy, là nói thật đó”. Khổng Minh khóc mà nói: “Ta không phải là không biết, nhưng đã nhận trọng trách mà tiên đế giao cho, sợ người khác không nghĩ được như ta”. Mọi người đều rớt nước mất.
Khổng Minh cai quản việc quân việc nước, mọi việc thượng vàng hạ cám đều nắm lấy, bận đến mức thức khuya dậy sớm, mệt đến nỗi áo đẫm mồ hôi, ăn không biết ngon, ngủ không yên giấc. Cái tinh thần “cúc cung tận tụy, chết cũng không tiếc” đó. Thật đáng khen, đáng để người ta phải rơi nước mặt. Nhưng tác phong bao biện làm thay thì lại không đáng học. Chủ bạ Dương Ngưng đã đưa ra những lời dị nghị đối với cái cách “tự tay làm việc vặt ấy, là muốn thừa tướng nên nắm lấy việc lớn, những việc cụ thể khác nên để cho các bộ môn chủ quản làm, đó là điều rất đúng đắn chính xác. Đối với điều đó, Khổng Minh miệng nói: “Ta không phải là không biết”, kỳ thực ông không hiểu sự tai hại của tác phong đó. Mà ông làm như thế, chủ yếu là do không thật sự yên tâm với người khác, lúc nào cũng lo rằng người khác không làm tốt được công việc đó, cũng chính như ông đã nói ra miệng: “Sợ người khác không nghĩ được như ta”. Làm người chấp chính trong một nước, chức trách chủ yếu của họ nên là: quyết định chính sách, chọn và cất nhắc người tài. Phí Vĩ, một trong những người kế vị Khổng Minh là người tương đối sáng suốt, ông biết nắm việc lớn cho nên ngay trong khi bận việc quân, việc nước, ông vẫn bỏ được thì giờ ra để vui đùa với mọi người hoặc đánh cờ mà vẫn làm tương đối tốt công việc của mình. Tôn Quyền đối với những việc lớn, sau khi đã nêu ra quyết sách, chọn được người làm việc ấy, liền thả sức cho họ đi làm, cũng vẫn có thể làm tốt được công việc. Thế nhưng, Khổng Minh thì ngay những việc vặt cũng tự mình đi làm, bận không mở được mắt ra mà không thể việc nào cũng làm tốt được. Những tai hại của tác phong bao biện làm thay, thường bao gồm mấy mặt:
Một là không thể phát huy đầy đủ tác dụng của nhân tài. Chính vì như Khổng Minh nói là “chỉ sợ người khác không nghĩ được như mình”, không chịu thả cửa cho mọi người đi làm việc, thì dù có là bậc kỳ tài cũng không phát huy đầy đủ được tác dụng của nó. Lần đầu Khổng Minh dấy quân đi bắc phạt. Chúa nước Ngụy là Tào Duệ, dặn phò mã Hạ Hầu Lâm, điều các lộ quân ở Quan Trung trở về đón đánh. Ngụy Diên hiến kế nói: Hạ Hầu Lâm vốn dòng dõi Cao Lương nhu nhược vô mưu, Diên này nguyện đem năm ngàn tinh binh, cất đường đến Bảo Trung, vòng Tấn Lĩnh, đi về đông rồi lên hướng bắc, chỉ hơn chục ngày, có thể đến Tràng An. Hạ Hầu Lâm nếu nghe tin quân tôi đến, tất nhiên sẽ bỏ thành đi theo đường Hành Môn, Để Các, ta lại từ phương Đông đến, thừa tướng có thể tung nhiều quân tiến theo hướng Tà Cốc. Làm như thế, thì phía Tây Hàm Dương, chỉ một trận là bình định được. Đó cũng là cách dùng mới của kế Hàn Tín ngầm vượt bến Trần Thương. Nếu chủ tướng của địch là Tư Mã Ý thì chưa vị tất đã được, nhưng chủ tướng là Hạ Hầu Lâm, một người nhút nhát, vô mưu, thì kế này có thể lừa được hắn, đem ra thi hành có thể thành công. Thế nhưng Khổng Minh cả đời chưa từng mạo hiểm lại không thật tin người, bèn phủ nhận kế này với lý do “chưa thật vẹn toàn”. Ngụy Diên cũng vì thế mà ca thán là “tài của mình không được dùng hết”.
Hai là không có lợi cho sự trưởng thành của nhân tài. Do Khổng Minh lúc nào cũng sợ người khác làm hỏng việc, nên việc gì cũng phải nhúng tay vào, thuộc hạ của ông chỉ có thể chạy theo hướng chỉ của cái quạt lông trong tay ông. Khi mọi việc lớn nhỏ đều đã do Khổng Minh nắm lấy, thuộc hạ của ông cũng chẳng cần phải suy nghĩ làm gì, rồi cũng chẳng có dịp nào một mình giữ một mật nào đó để rèn luyện mình, như thế rất không có lợi cho sự trường thành của nhân tài. Trong đất Thục, nhân tài ít ỏi thế, đó chẳng phải là một nguyên nhân đó sao.
Ba là chưa làm tốt được công việc. Muốn cho cuộc bắc phạt thắng lợi, cần phải có nhiều người, bàn nhiều cách, nếu chỉ dựa vào một người lo toan, cho rằng anh ta có giỏi bằng trời cũng khó mà hoàn thành tốt được nhiệm vụ đó. Khổng Minh do không phát huy được tác dụng của trí tuệ và mưu sách của mọi người, cho nên ông 6 lần rút binh ra Kỳ Sơn, 6 lần “nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì” cũng là chuyện tất nhiên thôi. Đối với riêng cá nhân ông, đúng như Tư Mã Ý đã định liệu: “ăn ít làm nhiều” thì liệu có được lâu không” chỉ có thể là “xuất quân vị tiệp thân tiên tử” (nghĩa là ra quân chưa thấy báo tin thắng trận tướng đã chết trước), để lại cho đời sau ở Ngũ Trượng Nguyên nỗi giận hờn muôn thuở.
2. TRÊN ĐƯỜNG ĐI TỚI DIỆT VONG: “HẬU QUẢ TỒI CỦA TỆ DUY THÂN”
Sai lầm trong dùng người, thường sai ở chữ “thân”, làm sao lại có thể sinh ra cái tệ “duy thân” trong việc dùng người”. Bởi vì kẻ dùng người coi sự nghiệp là của riêng mình, cho rằng người thân vừa hiểu được vừa tin cậy được, họ sẽ trung với mình, còn người sơ, cho rằng có tài, nhưng không thể tin được, nên không dùng. Kỳ thực, người thân chưa hẳn đã trung. Có một số quen bợ đỡ tâng bốc dùng lời lẽ ngon ngọt để lấy lòng người chủ của mình, nhưng nếu có biến cố, họ lập tức trở mặt, chạy ngay theo chủ khác. Thế mà bọn người này lại rất giỏi lựa gió căng buồm, làm việc theo sắc mặt của chủ, thừa biết rằng sai cũng không nói, nếu việc làm đó có lợi để kiếm chác, thì lại khoét sâu sai lầm, tạo nên một mớ bòng bong. Vương triều Đông Hán sở dĩ diệt vong, rồi những mất mát sai lầm trong tam quốc, đều có liên quan đến việc “duy thân” trong dùng người.Hán Linh Đế dùng mười quan thường thị làm loạn cả thiên hạ
Mới mở đầu, Tam quốc diễn nghĩa “đã vạch ra nguyên nhân dẫn đến loạn ly ở cuối đời Đông Hán. Hoàn để cắm cố người hiến sĩ, sủng tín bọn hoạn quan. Đến khi Hoàn để băng hà, Linh đế nối ngôi. Đại tướng, quân Kiển Vũ, Thái phó Trần Phốn cùng nhau phò tá. Lúc ấy có bọn hoạn quan như Tào Tiết v.v... lộng hành. Kiến Vũ, Trần Phần định mưu giết đi, nhưng cơ sự bị bại lộ, cho nên lại bị hại. Sự việc ngày càng tồi tệ”. “Trương Nhượng, Triệu Trung, Phong Tư, Đoạn Quế, Tào Tiết, Hầu Lãm, Kiển Thạc, Trình Khoáng, Hạ Huy, Quách Thắng... Mười người câu kết với nhau, có tên là “mười quan thường thị” Linh đế tin kính Trương Nhượng, gọi bằng “á phụ”. Triều chính ngày càng đổ nát, lòng dân náo loạn, giặc cướp nổi như ong”. Tuy chỉ ít dòng, nhưng đã khái quát được tình hình đấu tranh chính trị cuối đời Đông Hán. Hiển nhiên, thiên hạ sở dĩ đại loạn như vậy là do Hán Linh đế sủng tín bọn “mười quan thường thị” gây nên.
Trong thời kỳ Hoàn đế và Linh đế thống trị, tập đoàn sĩ tộc quan liêu và tập đoàn hoạn quan đã đấu tranh với nhau rất kịch liệt, và mỗi lần đều cáo chung bằng sự thất bại của tập đoàn sì tộc. Qua hai lần tai họa, thế lực của tập đoàn quan liêu sĩ tộc ngày một suy giảm, quyền lực của tập đoàn hoạn quan đạt tới đỉnh cao. Hán Linh đế tôn Trương Nhượng lên bậc “á phụ”, từ đó thấy được mức độ ông ta tin cậy bọn hoạn quan đến mức nào. Tại sao Linh đế lại tín nhiệm bọn hoạn quan đến thế? Do chính trị thối nát, nhân dân lầm than, buộc phải vùng lên khởi nghĩa, các trung thần cương trực nghị luận xôn xao về triều chỉnh. muốn có một sự đổi mới để tránh tình trạng này lan tràn đến mức đổ nát. Hán Linh đế chẳng những không nghe, mà còn cho đó là sự làm phản, càng không tin tường tầng lớp sĩ tộc. Ông ta cho rằng chỉ có hoạn quan mới là “tâm phúc”, cho nên việc gì cũng nghe lời “á phụ” Trương Nhượng. Thế mà bọn “tâm phúc” này của ông ta đều coi việc lấy cái lợi trước mắt làm sự nghiệp, miễn là được vui lòng cấp trên, việc xấu chúng cũng nói thành việc tốt, làm cho rối loạn lên nhưng lại che giấu ông ta. Với những lời can ngăn, chẳng xua đuổi thì cũng chém đấu. Người đầu tiên nèu ra với Linh để những lời trung thực là Sái Ung. Ông đã dâng sớ chỉ ra rằng nguồn gốc của “tai dị” này là do họ ngoại và hoạn quan can thiệp vào triều chính. Xem xong văn sơ, Linh đế chẳng những không hề tỉnh ngộ, ngược lại, còn nghe lời hoạn quan, lấy việc khác khép tội Sái Ung, đuổi về quê làm ruộng. Gián nghị đại phu Lưu Đào đã vạch ra cho Linh để thấy tội ác của bọn hoạn quan, ông nói: “bốn phương giặc cướp nổi lên, xâm chiếm cướp bóc nơi cháu quận, họa này đều do “mười quan thường thị” dở trò mua quan bán chức, đối vua lừa dân gây nên. Người đứng đắn trong triều đều bỏ đi, họa đến ngay trước mắt rồi!” Linh đế nghe xong nổi nóng, nói với Lưu Đào: “Nhà ngươi cũng có thị vệ thân cận, sao lại không cho phép riêng ta?” bèn hô võ sĩ đẩy Đào ra chém. Để cứu Đào, tư đồ Trần Đam rập đầu xuống bậc thềm can ngăn, vạch tội của mười quan thường thị. Linh đế cũng lệnh cho lôi ra, cùng cho vào ngục nhốt chung với Lưu Đào và xúi cho bọn quan thường thị kia giết chết trong ngục.
Tại sao Hán Linh để lại nổi nóng khi người khác vạch ra tội ác của mười quan thường thị? Đó là vì những tội ác hại nước oan dân mà bọn mười quan thường thị gây ra, đều là được nảy nở ra do sự dung túng hay xúi giục của ông. Để thoả mãn sự xa xỉ đến tột độ của mình, Hán Linh đế bèn khởi sự cho bọn hoạn quan tìm cách kiếm tiền, bọn hoạn quan cũng nhân dịp này mà nhúng tay vào để kiếm chác. Túi tham của chúng vốn không có đáy cho nên kiểu cách kiếm tiến của chúng cũng luôn luôn mới lạ. Bọn chúng cho rằng mua quan bản tước là dễ kiếm Liền nhất, nhanh nhất, nhiều nhất, bèn mở ra một cái sở giao dịch quan chức ở Tây Viên, yết ra giá cả của tất cả các loại quan chức rồi bán công khai. Quan địa phương có nhiều màu mè béo bở, nên giá của chức quan này cũng đất hơn nhiều so với quan cùng cấp trong triều. Lại do sự béo gấy của các chấu quận sở tại của các quan địa phương cũng khác nhau, cho nên dùng cách đấu giá, ai chịu bỏ ra giá cao, người ấy sẽ lập tức lên nhậm chức. Còn cho phép nợ lại, song đến hẹn phải giả gấp đôi. Do danh mức bán quan tăng lên, bán ra một chức quan chưa lâu, lại bán tiếp một chức quan niữa nhậm chức, có những quan châu quận, trong một tháng mà thay đổi mấy lần. Người mua quan sợ ở chức không được lâu, nên đề “thu hồi vốn” hay kiếm lãi được ngay, vừa nhậm chức liền ra tay vơ vét. Chỉ riêng việc bán quan thu lợi, họ còn chê là chưa kiếm được nhiều, nên còn dùng các danh nghĩa khác, bổ báng, thu vét ở các châu quận, mà gánh nặng tiền của ấy cuối cùng rơi vào vai người dân. Để giữ trọn tỉnh mạng cho cả nhà, người nghèo khổ chỉ còn cách đem bán hết những hạt lúa cuối cùng để nộp lệ quan, bởi vậy mới xuất hiện cái thảm trạng “Rét không có áo, đói không có cơm”. Trong trường hợp không sống nổi nữa, người dân đành mạo hiểm vươn mình, vì thế nên nổ ra cuộc khởi nghĩa khán vàng, đóng một hồi chuông chiêu hồn cho vương triều Đông Hán.
Triều Hán dùng quốc cữu
Hà Tiến bán rẻ giang sơn
Tam Quốc diễn nghĩa dẫn một bài thơ sau để đánh giá Hà Tiến.
“Nhà Hán nguy nan vận sắp cùng
Ngu ngơ Hà Tiến chức tam công,
Mấy phen chẳng đoái lời can gián
Hỏi thoát làm sao họa cửa cung”.
Vậy anh chàng Hà Tiến vô mưu, ngu ngơ đó là ai? Hắn xuất thân từ một nhà hàng thịt, chẳng được học hành, vô vẽ gì, vì có em được tiến vào cung làm quý phi sinh ra hoàng tử Lưu Biện nên dần được lập làm hoàng hậu, Hà Tiến do đó mà được nhiệm chức đại tướng quân. Để giết bọn hoạn quan thường thị, Hà Tiến đem quân từ ngoài vào cung, nhưng mưu mô bị tiết lộ, Tiến bị bọn hoạn quan giết chết.
Hà Tiến bị bọn mười quan thường thị giết, không phải lực hắn không địch nổi, mà là vì hắn ngu đến mức không ai bì được. Người ta khi làm sai, thì biết rút ra bài học kinh nghiệm, nhưng Hà Tiến thì hoàn toàn ngược lại, đã làm việc ngu xuẩn, lại cứ cho là khôn ngoan. Thế là hết lầm lại lỡ, cuối cùng dẫn đến lầm to. Sau khi Linh đế qua đời, mẹ đẻ của Linh đế là Đổng thái hậu bàn với trung thường thị Kiển Thạc giết Hà Tiến đi, lập hoàng tử Hiệp lên ngôi. Hà Tiến nghe tin, đương nhiên không chịu bỏ qua, vì thái tử Lưu Biện là con do em ruột mình là Hà thái hậu đẻ ra. Thế là bèn dẫn năm ngàn quân ngự lâm xông thẳng vào nội điện, định dựng Lưu Biện lên ngôi đế, cử Viên Thiệu vào cung thanh toán Kiển Thạc. Thạc vội chạy vào vườn ngự uyển, núp dưới bóng hoa, bị trung thường thị Quách Thắng giết. Tất cả bọn cấm quân do Thạc chỉ huy đều ra hàng. Điều đó nói lên rằng đám hoạn quan đâu có vững như khối thép, nếu là cách xử lý đúng đắn, thì nên phân biệt kẻ nào là gian ác đầu sỏ, kẻ nào là đi theo, kẻ nào lập được công, trừng trị kẻ ác, nương nhẹ kẻ biết phục thiện. Nhưng Hà Tiến không làm như thế, lại đi nghe lời Viên Thiệu, muốn “thừa thế giết sạch”, đẩy tất cả bọn hoạn quan sang phía đối lập với mình, đó là một cái lầm. Do Hà Tiến muốn giết sạch hoạn quan, bọn trung thường thị Trương Nhượng v.v... khuyên Hà thái hậu buông rèm mà nghe chính sự, trọng dụng người cùng bè phái với mình, để vạch ra kế hoạch đảo chính ở cung đình. Lúc này hoạn quan đã không đứng riêng ra với Hà Tiến. Nhưng Hà Tiến sau khi tiêu diệt thế lực của Đổng thái hậu, lại do sự bao che của Đổng thái hậu trở nên nới tay với mười quan thường thị. Đó lại là một sai lầm nữa. Về sau còn nghe theo chủ trương sai lầm của Viên Thiệu: “Có thể chiêu mộ nhân sĩ anh hùng bốn phương, kéo quân về kinh, diệt hết bọn quan thiến” và còn cho rằng “kế này hay lắm”. Chủ bạ Trần Lâm phản đối nói: “Nếu muốn diệt hoạn quan, như thổi lò mà cháy tóc vậy!” Khi đáng ra oai sấm sét, hành quyền phải quyết đoán thì thuận cả đạo trời, lòng người. Ngược lại, nếu hịch gọi các đại thần bên ngoài về, anh hùng tụ hội, mỗi người một dạ, cũng như cầm ngược giáo mác, cho người nắm đằng chuôi, công tất sẽ chẳng thành, mà ngược lại còn sinh loạn!” ý kiến của Trần Lâm là đúng đắn. Thế nhưng Hà Tiến lại khinh miệt cho rằng: “Đó là nhìn nhận của một tên hèn nhát”, bèn sai người ngấm đem chiếu chỉ triệu các nơi đem quân vào kinh diệt hoạn quan, thế là dẫn đến sai lầm lớn hơn là làm cho thiên hạ đại loạn, làm tăng nhanh sự diệt vọng của vương triều Đông Hán. Muốn diệt trừ địch thủ, đã không kín đáo bàn mưu vạch kế, hành động nhanh chóng, mà lại lớn tiếng rêu rao, lề mề trong hành động, để cho địch có thể chuẩn bị đầy đủ, ung dung chống lại, sự thất bại của Hà Tiến là cái thế tất nhiên. Kịp đến khi biết Đổng Trác đem quân tới, bọn Trương Nhượng mới cho năm chục tay đao búa phục sần ở cửa Gia đức cung Trường Lạc, rồi giả mượn tiếng Hà Thái hậu vời Hà Tiến vào cung để giết đi. Hà Tiến được gọi liền vào ngay. Tào Tháo nói: “Hãy gọi mười đứa hoạn quan ấy ra đây đã rồi hãy vào”. Hà Tiến còn cười nói: “Đấy là nhìn nhận của trẻ con! Ta nám binh quyển trong thiên hạ, mười đứa hoạn quan giám làm trò gì?”, bèn nghênh ngang một mình vào cung. Hắn vừa bước qua cửa Gia đức, liền bị chém làm đòi. Hai bên đã rấp sẵn mưu mô, khi giới cầm ra tay rồi mà Hà Tiến còn một mình dẫn thân vào cung, người ngu nhất trên đời cũng không ngu hơn thế!
Lúc đó Đổng Trác phụng chiếu về kinh, sớm đã đồn trú ở một nơi bên ngoài Lạc Dương, tại sao lão ta không vào cung ngay? Bởi vì con người này hiểu được rằng: phàm là diệt trừ quân phản trắc, quý ở chỗ kín đáo, quý ở chỗ nhanh chóng, thế nhưng ở đây lại không kín, cũng chẳng nhanh, đến gần Lạc Dương, lão ta liền án binh bất động, đồng thời cố ý dâng biểu tiết lộ việc vào Lạc Dương là để trừ Hoạn quan, hòng làm cho bọn hoạn quan như Trương Nhượng v.v... đánh nhau với Hà Tiến, gây nên nội loạn. Kịp đến khi Hà Tiến bị giết, lão ta mới nhân khi rối loạn mà vào triều, để lũng đoạn triều chính. Con người này sớm đã “không có bụng làm thần tôi” nên sợ quần thần không phục, nên không dám thoái vị ngay. Trước hết, Đổng Trác dựng Hán Hiến đế lên làm bù nhìn, để hắn muốn làm gì cũng được. Sau đó mới đi mua chuộc sĩ tộc, thăng quan thêm tước để thu hút sở vọng người khác, như đã trọng dụng Sái Ung, trong vòng một tháng tháng quan ba lần, bái làm thị trung. Từ đó Đổng Trác đã nắm hoàn toàn triều chính vào tay mình, trên thực tế đã thành kẻ thống trị cao nhất lúc ấy.
Trong xã hội phong kiến, quan hệ dòng máu rất thịnh hành, một số người vì trong nhà có kẻ được vào cung, hoặc được làm cung phi hay được làm hoàng hậu, thế là “một người đắc đạo, gà chó cũng được lên trời”, một người làm quan cả họ được nhờ, cả nhà lớn bé đều trở nên tôn quý vì là quốc thích mà được tín nhiệm, nắm giữ quyền cao chức trọng, bất kể đó là tên dốt đặc cán mai hoặc là một đụn rạ không hơn không kém. Bởi thế mà không biết đã lỡ biết bao nhiêu việc lớn của đất nước. Hà Tiến từ anh lái lợn mà trở nên một đại tướng quân của nhà nước, là một thí dụ điển hình. Do Hà Tiến vô mưu mang quân bên ngoài vào kinh diệt hoạn quan, để đến nỗi không chỉ có mình hắn bị giết, mà quyền bính của triều đình nhà Hán còn rơi vào tay Đổng Trác, từ đó vương triều Đông Hán chỉ còn tiếng mà không có miếng.
Đổng Trác dùng Lã Bố mà mất đầu
Ta hãy xem về bên ngoài của Lã Bố: đầu búi tóc ba trâm, đội tử kim quan, mình mặc áo gấm đỏ Tây Xuyên thêu trăm hoa, vai quàng khải giáp đầu nghê, lưng thắt đai long sư giáp lính, cung tên bên mình, tay mang họa kích, mình ngồi ngựa Xích Thố, quả nhiên là người thì có Lã Bố, ngựa thì có Xích Thố”... Vị tướng quân vô địch này, quả là oai phong lẫm liệt, nghi vệ đường hoàng. Vẻ bên ngoài của hắn mới đẹp làm sao, ai mà ngờ đến sự nhơ nhớp trong bề sâu linh hồn của hắn. Đổng Trác vì thấy hắn dũng cảm nhất ba quân nên nhận làm con nuôi, lão ta đâu có nghĩ rằng thằng con nuôi đó lại có ngày sẽ lấy đầu mình.
Đổng Trác sau khi vào kinh nắm hết quyền quân quyền nước, đã triệu tập bá quan ở vườn Ôn Minh, bàn việc phế đế Lưu Biện để lập tân đế Trần Lưu Vương. Các quan sợ không ai dám ho he. Chỉ có thứ sử Kinh Châu là người mang quân về cần vương đã kiên quyết phản đối: “Hoàng Thượng là con cả của tiên đế, xưa nay không có gì lầm lỗi, sao dám bàn xằng việc bỏ người nọ lập người kia. Người muốn thoán nghịch hay sao?” Đổng Trác nổi giận quát: “Nghe ta thì còn, không nghe ta thì chết!” Nói rồi định rút gươm toan chém Đinh Nguyên. Mưu sĩ Lý Nho thấy Lã Bố ở sau Đinh Nguyên đang gườm gườm mắt giận, ông ta biết người này võ nghệ phi thường, nên vội ra ngăn lại. Các quan cũng lựa lời khuyên giải Đinh Nguyên, Đinh Nguyên nhảy phắt lên ngựa đi luôn. Ngày hôm sau, hai bên đối trận, Lã Bố vác kích tế ngựa xông thẳng lên, Đinh Nguyên đốc quân yểm hộ. Đổng Trác thua to, lui ra 30 dặm hạ trại, bàn với mọi người. Trác nói: “Ta thấy Lã Bố là kẻ phi thường. Nếu ta được người này, chẳng lo gì trong thiên hạ!” Trung tướng Lý Túc dưới trướng bước ra nói: “Chúa công khỏi lo, tôi vốn cùng quê với Lã Bố. Nó là tên chỉ có khỏe mà không có mưu, thấy lời là phụ nghĩa. Với ba tấc lưỡi này, tôi sẽ nói cho Lã Bố phải chắp tay chịu hàng, được không?” Đổng Trác cả mừng, cử ngay Lý Túc sắm lễ vật đi gặp Lã Bố. Vì thấy Đổng Trác thanh thế lớn lao, lại có ngựa hay, đai ngọc và vàng bạc châu báu hấp dẫn, Lã Bố liền giết ngay bố nuôi là Đinh Nguyên để đi theo Đổng Trác. Vừa gặp Đổng Trác hắn đã vái chào nói: “Chúa công không vứt bỏ, Lã Bố xin được bái làm bố nuôi”. Vừa mới giết bố nuôi cũ, lại đã vội vàng nhận bố nuôi mới, Lã Bố ăn ở đúng như Lý Nho đã nói là “thấy lợi liền phụ nghĩa”. Chỉ cần có lợi mà kiếm chác, việc gì hắn cũng có thể làm ra được. Đổng Trác thì cho rằng đã có Lã Bố là người” phi thường” rồi, thì “chẳng lo gì thiên hạ”. Huống chi nay lại nhận hắn làm con nuôi, tất là hắn sẽ phải dốc lòng vì bố nuôi. Từ đó, coi Lã Bố là “tâm phúc” để cho hắn cảnh vệ bên mình, chắc rằng có thể “yên chí mà ngủ say”.
Đại phàm là những mối quan hệ với nhau bằng lợi lộc, thì rồi cũng vì lợi lộc mà bỏ nhau, Lã Bố nhận Đinh Nguyên làm bố nuôi, cũng chỉ vì vụ lợi, tìm cái ô để leo cao, cho nên đến với Đinh Nguyên, Lã Bố chẳng có chút gì là tình nghĩa cha con. Đến khi thấy Đổng Trác đang nắm giữ trong tay quyền triều chính, nếu đi theo có thể có đà bay bổng tiến xa, có lợi nhiều hơn là đi với Đinh Nguyên. Bởi vậy đã giết bố nuôi cũ nhận bố nuôi mới. Đối với Lã Bố – con người “thấy lợi là phụ nghĩa mà nói, không phải là ngoài dự đoán của mọi người. Mà trong lịch sử, những kẻ vứt bỏ chủ cũ thường thường là vì lý do danh lợi, việc đó đâu có phải chỉ một mình Lã Bố như vậy? Đổng Trác ngu ở chỗ không hiểu được điều đó. Vì mối lợi Lã Bố đã có thể giết được bố nuôi cũ thì vì mỗi lợi lớn hơn hắn cũng có thể thịt cả bố nuôi mới, thế mà Đổng Trác lại ngỡ cho rằng vì có con nuôi bảo vệ bên mình mà có thể yên chí mà ngủ say” được. Đó mới thật là bi kịch. Tư Đồ Vương Doãn cũng như Lý Túc, họ đã đi guốc vào linh hồn Lã Bố, là cái tên “thấy lời liền phụ nghĩa”, thế là khéo bày ra kế liên hoàn, để Lã Bố vì tranh với Đổng Trác giành người đẹp Điêu Thuyền nên đã thịt luôn Đổng Trác.
Đổng Trác là tên thống trị phong kiến hút máu dân đen, giết người đốt nhà, sau khi bị Lã Bố giết chết đã bị Vương Doãn lệnh đem bêu ngoài chợ “dân chúng đi qua, không ai là không ném vào đầu, đạp vào thây” mới hay dân chúng căm ghét tận xương tủy, cho nên lão ta có chết cũng là đáng đời. Thế nhưng việc Đổng Trác dùng Lã Bố cũng cho người ta một bài học: đối với đồ “thấy lợi là phụ nghĩa” thì hãy hết sức coi chừng!
Việc này, từ góc độ phản diện cũng nói lên một điều: giữa trên và dưới phải có một lý tưởng chung, một mục tiêu chung mới cùng nhau phấn đấu, đến chết không thôi. Lưu, Quan, Trương kết nghĩa ở vườn đào, thể “trên đền nợ nước, dưới để yên dân lành” thì bất kỳ sự cám dỗ vật chất nào cũng không thay đổi ý chí ban đầu, nên mới đồng lòng cùng sống cùng chết. Khổng Minh vì có cùng với Lưu Bị một chí lớn là phục hưng nhà Hán, thống nhất giang sơn, không chạy theo lợi ích riêng mình, nên đã đạt tới mức “cúc cung tận tụy, đến chết cũng không tiếc”, so với bọn Lã Bố “thấy lời là phụ nghĩa” thật là sự so sánh giữa lớn lao và nhỏ nhen, tốt đẹp và xấu xa...
Tào Tháo dùng Hạ Hầu Uyên để mất Hán Trung
Hạ Hầu Uyên là anh em họ với Tào Tháo. Một đằng họ Tào, một đàng họ Hạ Hầu, sao lại có họ với nhau? Vì bố của Tào Tháo là Tào Tung vốn là con của họ Hạ Hầu, nhưng đi làm con nuôi của hoạn quan Tào Đàng nên đổi họ, và Tào Tháo mới là anh em họ với Hạ Hầu Uyên. Cho nên Hạ Hầu Uyên được Tào Tháo tín nhiệm, sau khi lấy được Hán Trung, Tào Tháo bèn giao cho Hạ Hầu Uyên trú quân trấn giữ. Khi Tào Tháo chiếm Hán Trung, dân chúng Tây Xuyên một ngày mấy phen kinh hãi, lo sợ quân Tào Tháo vào Tứ Xuyên. Tư Mã Ý khuyên Tào Tháo thừa thắng lấy luôn đất Thục, Tào Tháo than rằng: “người thật không biết thế nào là đủ, vừa mới được Cam Túc, lại đã mong lấy đất Thục sao?” Bởi vì ông ta thấy đất Thục núi non hiểm trở mà sợ, không dám mạo hiểm vào Tứ Xuyên. Hán Trung là yết hầu của Tây Thục, nếu giữ vững được Hán Trung sẽ là một mối đe dọa lớn lao với Lưu Bị ở Tây Xuyên, một lúc chưa lấy được đất Thục thì về sau cũng sẽ lấy được. Vả lại người mà Tào Tháo chọn ra trấn thủ Hán Trung là Hạ Hầu Uyên vốn và một người dùng mãnh, có thể sai xông vào trận thì được, chứ bảo Uyên đi giữ Hán Trung thì chưa chắc làm nổi, bởi Uyên còn xa mới phải là địch thủ của Lưu Bị.
Thế nhưng, khôn ngoan như Tào Tháo, mà lại không đủ khôn để biết Hạ Hầu Uyên, lại vì tình anh em mà tín nhiệm. Lưu Bị dấy quân đánh Hán Trung, mấy trận đánh mấy trận thắng, Hạ Hầu Uyên cố thủ Định Quân Sơn không ra ứng chiến, và cử người cáo cấp với Tào Tháo. Tháo bèn cất quân tiến vào giữ Nam Trịnh. Tào Tháo cho rằng: “Nếu không ra đánh tức là chịu hèn” bèn viết thư cho Uyên nói: “Ta nay đem đại quân đóng giữ Nam Trịnh, muốn xem “tài nghệ tuyệt vời của khanh, đừng để hổ thẹn với mấy chữ đó. Được Tào Tháo khích lệ, khi quân của Hoàng Trung tiến đến chân núi, Hạ Hầu Uyên quyết định ra đánh. Trương Hợp khuyên rằng: “Hoàng Trung mưu dũng song toàn, huống hồ lại có Pháp Chính trợ giúp, không thể khinh địch được! ở đây đường núi hiểm trở, chỉ hợp cho cố thủ”. Hạ Hầu Uyên không nghe, bèn chia quân đi vây trái núi mà Hoàng Trung chiếm lĩnh, kết quả bị Hoàng Trung giết chết, Hoàng Trung thừa thắng lấy luôn Định Quân Sơn. Do bậc “tài nghệ tuyệt vời” của Tào Tháo bị giết, đất quan trọng về chiến lược là Định Quân Sơn bị thất thủ, Tào Tháo tuy có đem đại quân đến đánh cũng chẳng ăn thua gì, cuối cùng mất đứt Hán Trung. Bên mình Tào Tháo có bao nhiêu danh tướng, nếu không phải vì thân thích nên dùng Hạ Hầu Uyên mà dùng một danh tướng khác, Hán Trung có thể không đến nỗi bị mất.
Có điều, dùng người duy thân không phải chỉ có mình Tào Tháo như vậy, bọn thống trị phong kiến phần lớn đều như thế cả. Xuất phát từ sách lược dùng người, có người trong một thời kỳ nhất định cũng biết dùng người hiền tài, nhưng đến cuối cùng rồi cũng lại dùng người theo duy thân, bởi vì tầng lớp thống trị phong kiến xưa nay vẫn cứ coi thiên hạ là thứ của riêng họ trong một nhà cho nên đều muốn dùng người thân thích hoặc thân tín để khống chế quyền bính của đất nước, để củng cố thêm nền thống trị phong kiến của họ. Xưa Hán Sở tranh hùng Hạng Vũ không tin ai không phải là thân tín, người ông ta dùng không phải họ Hạng thì cũng là người thân bên họ vợ, ngay một người họ khác bên ngoại là Phạm Tăng rồi cũng không thể dùng. Dùng người duy thân là một trong những nguyên nhân thất bại của ông ta. Lưu Bang khi cùng Hạng Vũ tranh giành thiên hạ, cũng đã biết dùng chính sách dùng người trong “bốn biển” cho nên được sự giúp đỡ đắc lực của Hàn Tín, Anh Bố, Bành Việt v.v... mở mang nên cơ nghiệp nhà Tây Hán. Nhưng sau khi được thiên hạ rồi, “thỏ rừng chết thì chó săn cũng bị thịt”, các Vương khác họ đã chẳng lần lượt bị trừ khử là gì, chỉ có phong cho người họ Lưu làm vương thôi. Ông ta còn quy ước: từ nay về sau “không phải họ Lưu đừng nói là Vương”. Thế nhưng những Vương họ Lưu mà ông ta phong lại không thể giúp ông giữ yên láng giềng và ổn định đất nước. Về sau đã chẳng ấp ủ thành “loạn thất vương” đó sao. Về mặt này tỏ rõ: dùng người duy thân là sự thể hiện bản chất của thống trị phong kiến, một mặt khác cũng nói lên rằng dùng người duy thân cũng nhiều vô kể. Việc Tào Tháo mất Hán Trung cũng là do dùng người theo duy thân mà nên.
Lưu Bị dùng Quan Vũ để mất Kinh Châu
Trước khi vào Tây Xuyên, Khổng Minh cắt giao ấn tín cho Quan Vũ. Khổng Minh hỏi: “Nếu Tào Tháo dẫn quân đến thì làm thế nào?” Quan Vũ nói: “Dùng sức mà chống lại!” Khổng Minh lại hỏi: “Nếu Tào Tháo, Tôn Quyền cùng mang quân đến thì làm thế nào?” Quan Vũ đáp: “Chia quân ra chống lại”. Khổng Minh nói: “Nếu mà như thế thì Kinh Châu nguy mất. Ta có tám chữ này, tướng quân hãy nhớ lấy, có thể giữ được Kinh Châu”. Quan Vũ hỏi: “Tám chữ gì vậy?”. Khổng Minh nói: “Bắc chống Tào Tháo, đồng hòa Tôn Quyền”. Quan Vũ nói: “Lời của quân sư, xin khắc sâu trong dạ”. “Ngoài liên kết với Tôn Quyền” để chống lại Tào Tháo là một trong những nội dung chính của “Long trung đối” – quyết sách chiến lược vạch ra cho Lưu Bị từ khi Khổng Minh còn chưa ra khỏi lều cỏ. Vì Kinh Châu mà Quan Vũ tiếp nhận để trấn giữ là ở giữa quân Tào Tháo và Tôn Quyền cho nên nhắc đi nhắc lại như vậy. Quan Vũ không hiểu được quyết sách ấy quan hệ đến sự mất còn của Kinh Châu, cũng chẳng “khắc sâu trong dạ lời của quân sư mà chỉ biết ỷ vào sức mạnh, muốn dùng hai quả đấm cùng xuất kích. Phía Bắc đã đụng vào Tào Tháo, phía đông lại có tội với Tôn Quyền. Cho nên dưới sự giáp kích của Tào Tháo và Tôn Quyền, Quan Vũ chỉ còn cách chạy đến Mạch Thành, quân bại, mạng toi, Kinh Châu cũng mất.
Quan Vũ anh dũng tuyệt vời nên được gọi là “vạn nhân địch” Ông ta hâm rượu chém Hoa Hùng, trong vạn người đâm Nhan Lương, ba hồi trống chém Sái Dương, tiếng anh hùng vang khắp gần xa. Nhưng ông chỉ biết bảo thủ cố chấp, thiếu tầm nhìn chiến lược. “Bắc chống Tào Tháo” đã là quyết sách đã định của nước Thục, thì “Đông hoà Tôn Quyền” là lẽ tất nhiên, vậy mà Quan Vũ không tính được ra điều đó. Tôn Quyền vốn định hỏi con gái của Quan Vũ cho con trai của mình để hai tướng giao hảo hợp lực đánh Tào Tháo, bèn cử Gia Cát Cẩn đi Kinh Châu cầu hôn. Quan Vũ nổi giận nói: “Con gái ta là hổ lẽ nào lại gả cho chó?” rối sai tả hữu đuổi ra. Quan Vũ nhận lệnh lấy Phàn Thành, xin Tôn Quyền mang quân hỗ trợ, Quyên nhận lời nhưng lần chần không ra quân. Quan Vũ lớn tiếng chửi mắng sứ giả: “Lũ chồn lại giám thế à, nếu nhổ được Phàn Thành, tao lại không diệt được chúng mày”. Quan Vũ nhiều phen khinh miệt Tôn Quyền, nên Tôn Quyền rất căm. Con người đã làm “nước ngập bảy quân”, chém Bàng Đức, bắt Vu Cấm, uy danh lừng Hoa Hạ, Tháo phải bàn dời đô để tránh. Lúc đó nếu biết tranh thủ sự chi viện của Tôn Quyền, cục thế sẽ rất có lợi cho hai nước Thục, Ngô. Thế nhưng mâu thuẫn giữa con người này với Tôn Quyền vô cùng sâu sắc. Tào Tháo mới lựa được kẽ hở giữa hai người, sai sứ cắt đất cho Tôn Quyền và mời Tôn Quyền hợp sức đánh Quan Vũ. Tôn Quyền bèn ngầm cho quân tập kích Kinh Châu. Trước đó, Tôn Quyền dùng Lục Tốn thay Lã Mông để làm tê liệt cảnh giác của Quan Vũ. Lục Tốn nắm chắc tính tự kiêu tự đại của Quan Vũ và đặc điểm thích được tâng bốc của con người này, đã sai sứ dâng thư tâng bốc. Quan Vũ khinh miệt nói với sứ giả rằng: “Trọng Mưu kiến thức nông cạn quá, dùng người hèn nhát thế này làm tướng ư”, bèn rút già nửa quân số ở Kinh Châu đến Phần Thành, không có ý lo ngại gì ở mặt Giang Đông, khiến cho Lã Mông có dịp diễn trò “áo trắng qua sông”, tập kích vào Kinh Châu. Kinh Châu đã mất, không có sự chi viện từ phía sau. Quan Vũ một mình đem quân vào sâu, địch không nổi sự giáp công phía trước và phía sau của quân Tào Tháo, Tôn Quyền, rơi vào hoàn cảnh tuyệt vọng đánh không được, thủ không xong. Hiển nhiên, việc mất Kinh Châu là do Quan Vũ ương ngạnh cố chấp đi ngược lại phương châm “8 chữ” của Khổng Minh.
Lệnh Khổng Minh vào đất Thục để chi viện, lệnh cho Quan Vũ giữ Kinh Châu, là sự quyết định của Lưu Bị. Bởi vậy, việc để mất Kinh Châu, cũng có liên quan đến Lưu Bị. Lúc bấy giờ Lưu Bị còn chưa được Tây Thục, Kinh Châu chẳng những là đất chiến lược quan trọng để ông giành thiên hạ, mà còn là căn cứ địa duy nhất của ông. Sự an nguy của Kinh Châu có quan hệ vô cùng lớn lao tới tập đoàn Lưu Bị. Vào Thục để chi viện, cử Quan Vũ đi cũng được, cớ sao lại cử Khổng Minh? Gánh nặng trấn giữ Kinh Châu tại sao không giao cho người có nhiều mưu sâu kế hiểm như Khổng Minh, mà lại giao cho Quan Vũ ương ngạnh và tự phụ? Ở đây có vấn đề tín nhiệm. Với việc này, Vương Phu Chi từ sớm đã có lời bàn đến, Ông nói: “Việc vào Thục của tiên chúa, giao cho Vô Hầu, Trương, Triệu cũng được, mà để Quan Vũ giữ Giang Lăng vì Vũ có thể tin cậy và có dũng khí. Lưu Bị sở dĩ tin Quan Vũ, là vì “Có ơn riêng khi cùng nổi dậy, nổ cái dũng khí của ông ta mà thấy có thể giao cho việc đó”. Lưu Bị tuy cũng tin Khổng Minh mà lại không giao cho giữ Kinh Châu, là vì “Nghi sự đi lại của Võ Hầu nặng về bên Ngô, mà không nhanh chóng theo chí của mình”. Vương Phu Chi còn chỉ ra “tiên chúa tin Võ Hầu không bằng tin Quan Vũ” cho nên “mất tại Quan Vũ, song tiên chúa cũng tự trách”, ý kiến của Vương Phu Chi là rất đúng, việc mất Kinh Châu là do Lưu Bị dùng nhầm Quan Vũ.
3. BIẾT NGƯỜI MỚI CÓ THỂ DÙNG NGƯỜI: BÀN VỀ BIẾT NGƯỜI
Biết người là tiền đề của việc dùng người, dùng người là phải dùng trên cơ sở biết người. Biết người mới có thể dùng người, không biết người thì dùng người không thỏa đáng: hoặc là tài lớn dùng vào chỗ nhỏ, tài nhỏ dùng vào việc lớn, hoặc là coi kỳ tài như đần độn, coi đần độn như kỳ tài; hoặc coi trung trình là gian nịnh, coi gian nịnh là trung trinh. Biết người chẳng những có thể dùng người, còn có thể liệu địch mà giành thế thắng. Bởi trong cuộc đấu tranh với địch, trước hết phải “biết người”, “biết người” mới có thể vạch ra sách lược thắng “người”, thắng lợi mới có phần chắc chắn. Không biết người, thì không biết làm thế nào để thắng được người, khiến cho mình rơi vào chỗ mù quáng bị động, thậm chí thất bại.Tào Tháo uống rượu luận anh hùng
Một hôm, đang mùa mơ chín, Tào Tháo mời Lưu Bị đến tiểu đình, hai người ngồi hâm rượu lên cùng uống. Rượu được vài tuần, trời bỗng kéo mây đen, như sắp có mita. Người tùy tùng chỉ bóng rống lấy nước ở chân trời, Tào Tháo và Lưu Bị đứng tựa lan can nhìn theo.
Tào Tháo hỏi: “Sứ quân có biết sự biến hóa của rồng không?”. Lưu Bị đáp: “Không biết tường tận lấm”. Tào Tháo nói: “Rồng có thể lớn lên, có thể nhỏ lại, có thể bay lèn có thể ẩn đi”. “Rồng tuy là con vật, lại có thể so với anh hùng ở trên đời. Huyền Đức từng đi khắp bốn phương, tất biết được anh hùng thời nay. Xin hãy chỉ ra thử coi”. Lưu Bị lần lượt nhắc đến Viên Thuật, Viên Thiệu, Lưu Biểu, Lưu Chương, với những bậc như Trương Tú, Trương Lỗ, Hàn Toại v.v... Tháo đều lần lượt phủ nhận hết, cho rằng Viên Thuật là “xương khô trong mộ”, Viên Thiệu là “lắm mưu nhưng vô đoán”, Lưu Biểu là “không có tiếng cũng không có miếng”, Litu Chương là “chó cánh cửa”, tất cả đều chưa phải là anh hùng, còn bọn Trương Tú, Trương Lỗ, Hàn Toại là “một Bẩy nhải nhép, không bô nhắc đến tên”. Tào Tháo cho rằng: “Kẻ anh hùng, lòng phải mang chí lớn, bụng phải chứa mưu khôn, phải có cơ ôm vũ trụ vào lòng, phải có chí nuốt gọn trời đất”. Lưu Bị hỏi: “Những ai xứng đáng như vậy?” Tào Tháo chỉ vào Lưu Bị sau chỉ vào mình, nói: “Anh hùng trong thiên hạ ngày nay, chỉ có tướng quân và Tháo thôi!”. Đó chính là câu chuyện “Tào Tháo uống rượu luận anh hùng”.
Khái niệm về anh hùng của Tào Tháo, khái quát lại là: phải có chí lớn, phải có mưu sâu, và phải giống như “rồng” có thể lớn lên có thể nhỏ đi, có thể bay lên, có thể ẩn đi, đó tức là muốn nói làm việc gì cũng phải có thể thích ứng với tình hình khách quan, tùy cơ ứng biến, không gò bó bởi một khuôn khổ nào. Chính Tào Tháo lấy đó làm tiêu chuẩn để cân nhắc xem đó có phải là anh hùng không. Bởi vì rằng có hội đủ những điều kiện đó mới có khả năng thành việc lớn, mới gọi là anh hùng. Như có chí lớn mà không có mưu sâu cũng chẳng nên trò trống; có chí song lại phải có trí, mới là tố chất của anh hùng, nếu không xuất phát từ thực tế và có tài ứng biến cũng sẽ gặp phải trắc trở hoặc thất bại. Viên Thuật chiếm Hoài Nam, binh lương dồi dào, xưng bá cả một vùng, lạm xưng đế hiệu... nhưng lại vô trí vô mưu, ương ngạnh tự phụ, không hiểu được thời cuộc, cuối cùng chịu để hết lương thực, lính chết đói mà thất bại, Tào tháo gọi là “xương khô trong mộ” quả đúng là lời đánh giá xác đáng. Viên Thiệu hùng cứ Ký Châu, vì bản thân xuất thân dòng dõi tứ thế tam công, cho nên các chí sĩ mưu lược quy thuận nhiều, quân nhiều lương đủ, là kẻ mạnh nhất ở Trung quốc thời bấy giờ, ông ta cũng có chí nuốt cả thiên hạ, có điều có mưu nhưng không quả đoán, dẫn đến nhiều phen mất cơ hội giành thiên hạ, là người mà lúc đó Tào Tháo tuy ở thế yếu hơn, song vì vậy mà luôn coi khinh, không nhìn nhận là bậc anh hùng. Sau này, quân của Viện Thiệu bị quân Tào Tháo đánh bại. Lưu Biểu nổi danh là “bát tuấn”, uy danh lừng lẫy chín châu đã vừa không có chí lớn lại thiếu mưu lược cho nên Tào Tháo gọi là “theo đuổi hư danh”. Tào Tháo nói: “Anh hùng trong thiên hạ chỉ có sứ quân và Tháo tôi”. Tào Tháo át thiên tử đề lệnh chư hầu, Lưu Bị phò nhà Hán đã đạt được chí mình. Chí của Tào Tháo và Lưu Bị đều là muốn thay thế nhau, chỉ khác nhau ở mức độ khéo léo tế nhị. Để ly gián Lưu Bị với Lã Bố nên Tào Tháo đã dùng kế “hai hổ tranh mối” khiến hai người này đâm chém nhau; Lưu Bị đã biết rõ mưu này, bên ngoài hứa hẹn, song bên trong lại ngầm báo với Lã Bố. Hai bên bàn mưu tính kế với nhau, thật đáng gọi là kỳ phùng địch thủ. Lưu Bị nghe Tào Tháo bảo mình là “anh hùng”, hãi đến nỗi rơi cả đùa xuống đất, sau mượn tiếng sấm nên khéo léo làm át đi. Trên đường Tào Tháo đi chinh phạt Trương Tú, nửa chừng thiếu nước, tướng sĩ đều khát nước, Tháo chỉ roi về phía trước bảo: “Đằng trước có rừng mơ”. Quân sĩ nghe thấy thế, miệng ứa nước bọt ra, không khát nước nữa. Tài ứng biến của hai người này, quả là kẻ tám lạng, người nửa cân.
Tào Tháo bàn về anh hùng, không những là tiêu chuẩn để nhận anh hùng, mà cũng là điều kiện không thể thiếu được mà người anh hùng cần có.
Hứa Thiệu bình luận về Tào Tháo
Hứa Thiệu ở Nhữ Nam người nổi tiếng về có tri thức, khi chưa thành đạt, Tào Tháo từng đến xin gặp. Hỏi: “Tôi là người thế nào?” Hứa Thiệu không đáp. Lại hỏi lần nữa, Hứa Thiệu trả lời: “Thời trị là năng thần, thời loạn là gian hùng”. Tháo nghe nói thế mừng lắm. Vì nói rằng Tháo là “năng thần” không thôi, thì sự mừng rỡ ấy còn có thể lý giải được; đằng này nói ông ta còn là “gian hùng”, mà cũng mừng rỡ, thì mới khiến người ta khó hiểu. Kỳ thực, Tào Tháo không coi sự “gian hùng” là điều đáng xấu hổ, nhục nhã, bởi vì gian hùng cũng là hùng”.
Trong thời đại tam quốc các anh hùng tranh giành nhau, anh hùng chẳng ai là không “gian”. Không gian cũng khó mà trở thành anh hùng. Lưu Biểu là con người không gian, luôn tỏ ra là danh sĩ, cho nên không được xưng “hùng”. Lưu Chương là con người khá thực thà, tâm địa nhân từ, cũng không thành “hùng” được. Còn Đổng Trác cướp quyền của nhà Hán, làm đủ điều tàn ác xấu xa, thì có gọi là gian hùng được không? Đổng Trác chỉ có thể gọi là tên kẻ cướp, không xứng với tên gian hùng. Bởi vì gian hùng cũng biết nói điều nhân nghĩa, còn Đổng Trác thì chỉ biết giết người đốt nhà. Hóa ra chỉ có Tào Tháo và Lưu Bị được gọi là hùng”, tuy Tào Tháo bị gọi là gian hùng còn Lưu Bị thì được coi là anh hùng. Nhưng đã đều là “hùng”, thì thường đồng thanh tương ứng. Để giành được thiên hạ, tất là phải chú ý quyền biến mưu lược, mà quyền biến mưu lược với chữ “gian” thường trong đục khó phân, khó mà tách bạch rõ ràng, chẳng hạn những việc của Lưu Bị như Vứt A Đẩu, sai chủ tướng, chơi trò nhảy sông tự tử, trăn trối nhờ săn sóc con, cũng như việc của Tào Tháo như “ba cười một khóc”, đốt thư tín, cắt tóc thay cắt đầu... đều là những trò gian trá, mà sự gian trá đó sao lại giống sự thực đến thế.
Anh hùng và gian hùng có chỗ giống nhau. Kinh Thánh Thán từ lâu đã chỉ ra: Hào Kiệt có cái tài của gian hùng, gian hùng tất có cái khí của hào kiệt. “Một con người thường thường vẫn có thể, “lấy hào kiệt để kiêm anh hùng”, để gian hùng kiêm hào kiệt”. Trong lời bình hồi thứ 55 chuyện Thủy Hử, Diệp Trú khi bình phẩm về Tào Tháo, Lưu Bị, cũng vận dụng quan điểm này. Ông vừa chửi Tào Tháo là tên “đại gian hùng” nhưng cũng không ít lần nói: “Lão Tào là một hào kiệt”. Ở lời bình hồi thứ 22, trong khi ông khẳng định là nhân hậu”, “anh hùng”, cũng thường nói con người này là “gian hùng” là “đại gian trá”. Trong lời bình của mình, Mao Tôn Cương cũng nhiều lần nói Tào Tháo là “gian đến mức đáng yêu”, khen con người này có tài thao lược, có bản sác anh hùng. Đối với bậc nhân quân như Lưu Bị, cũng không dưới một lần vạch ra cái gian trá của ông ta, nói ông ta giả dối đến mức người ta không biết nổi, chỗ giả dối của ông ta chính là chỗ gian trá của ông. Lưu Bị và Tào Tháo tuy rằng có những điểm giống nhau, nhưng hai người không hoàn toàn như nhau, ngay như nói anh hùng và gian hùng cũng có chỗ phân biệt. Cho nên trong lời bình hồi thứ 13, Diệp Trú cũng đã chỉ ra rằng Lưu Bị giống như một gian hùng, nhưng lại không gian hùng thật. Trong lời bình của hồi thứ nhất, lại chỉ ra một cách rõ ràng rằng Tào Tháo có “bản tính” là “gian hoạt”. Mao Tôn Cương cũng chỉ ra, Tào Tháo có “chỗ nào tàn bạo thì là thực, chỗ nào nhân nghĩa thì là giả” (lời bình hồi 33) gian trá là mặt chủ yếu của con người này. Nhưng Lưu Bị có lúc hư vị lạimang tấm lòng kẻ cả, thì nhân nghĩa lại là mặt chủ yếu. Đánh giá là anh hùng hay gian hùng, đương nhiên lấy mật chủ yếu của nó để bàn định.
Hứa Thiệu nói Tào Tháo là “gian hùng của thời loạn” thực ra không phải là nói xấu. Làm cho rõ điểm giống nhau của anh hùng và gian hùng có lợi cho việc đánh giá đúng mức nhân vật Tào Tháo. Bình luận một nhân vật, quyết không thể khẳng định tuyệt đối hay phủ nhân tuyệt đối, mà vừa phải có cách suy xét hai mặt vừa phải có suy xét theo trọng điểm. Bình luận Tào Tháo cũng thế, bình luận các nhân vật khác cũng vậy.
Lưu Bị nói về Mã Tốc
Lưu Bị sắp hấp hối, Khổng Minh và mọi người vào thăm. Lưu Bị nhìn một lượt, thấy em của Mã Lương là Mã Tốc đứng bên, Lưu Bị lệnh cho lui. Mã Tốc lui ra, Lưu Bị hỏi Khổng Minh: “Thừa tướng thấy tài của Mã Tốc thế nào”. Khổng Minh nói: “Người này cũng là bậc anh tài thời nay đấy!” Lưu Bị nói: “Không hẳn thế. Trẫm thấy người này làm thì ít, nói thì nhiều, không dùng được vào việc lớn, thừa tướng hãy xem cho kỹ”. Trong giờ phút hấp hối, Lưu Bị căn dặn Khổng Minh điều này, đủ thấy không phải là thừa. Bởi vì Mã Tốc là phải có học ở Kinh Châu, cùng với Khổng Minh và mọi người theo Lưu Bị vào đất Thục. Mà Tốc tài khí hơn người, hay bàn chuyện bình nghiệp, Khổng Minh rất tâm đắc, coi như con mình; Mã Tốc cũng coi Khổng Minh như bố mình, Lưu Bị e rằng Khổng Minh sẽ trọng dụng Mã Tốc cho nên đã răn đe một cách trịnh trọng như thế.
Lưu Bị thấy Mã Tốc “không dùng được vào việc gì lớn”, bởi vì con người này làm thì ít, nhưng nói ra nhiều”. Mã Tốc thuộc làu bình thư, nhưng lại thiếu kinh nghiệm chiến đấu thực tế, cho nên khi nói chuyện binh nghiệp không tránh khỏi ba hoa khoác lác, không sát hợp với thực tế. Lưu Bị là một lão tướng chốn sa trường từng qua trăm trận đánh, thừa biết rằng chiến tranh là biến hóa khôn lường, phải giỏi trong việc xuất phát từ thực tế, để tuỳ cơ ứng biến, nếu cứ ôm lấy mớ lời lẽ lấy ra một cách lệch lạc và rời rạc trong binh thư để bàn việc dùng binh thì chưa đủ tin cậy được. Triệu Xa là con của Triệu Quát chỉ vì đánh địch trên giấy mà dẫn đến thất bại, bài học ấy Lưu Bị không quên được, cho nên cách nhìn đó của Lưu Bị đối với Mã Tốc không phải là không có căn cứ.
Khổng Minh coi trọng Mã Tốc không phải là mù quáng, Mã Tốc từng nêu cho ông nhiều mưu kế hay. Khi Khổng Minh đánh xuống phía Nam, Mã Tốc đã hiến cho ông kế “đánh vào lòng người”. Khổng Minh bảy lần bắt bảy lần tha Mạnh Hoạch, khiến cho người Nam không ngóc đầu trở lại, chính là nhờ áp dụng phương châm chiến lược này. Thế nhưng Mã Tốc làm một tham mưu thì được, vì chưa có thực tiễn trong thực tế chiến tranh, nếu để gánh một mũi quân thì khó mà làm nổi. Khổng Minh lại giao cho Mã Tốc trọng trách trấn giữ Nhai Đình, đó là chỗ Khổng Minh dùng người chưa thỏa đáng.
Sự thất bại của Mã Tốc, chủ yếu là do “làm thì ít nói thì nhiều”. Đối với việc phòng thủ Nhai Đình như thế nào, cách nhìn của Mã Tốc và phó tướng của mình là Vương Bình khác nhau rất xa. Mã Tốc thì dựa vào binh thư, Vương Bình lấy thực tiễn làm căn cứ. Vương Bình chủ trương: “Đóng quân ngay bên ngã 5 đường, nên lệnh quân sì chặt cây làm lán với ý để ở lâu”. Mã Tốc nói: “Dọc đường lấy đâu ra chỗ hạ trại, đất này một bên là núi, bốn bề lại không liên hệ được với nhau, mà cây cối lại rất nhiều, đó là thế hiểm trời cho, có thể đóng quân ngay trên núi”. Vương Bình nói: “Tham quân sai rồi. Nếu đóng quân dọc đường, đấp nên thành lũy, quân địch dù có đến chục vạn cũng không lén vào được. Nay nếu bỏ con đường hiểm yếu này, đóng quân trên núi, nếu quân ngụy ập đến, vây chặt bốn bể, thì lấy quân đâu mà giữ”. Mã Tốc cười lớn nói: “Rõ là cách nhìn của đàn bà. Binh pháp nói: “Ở trên nhìn xuống, thế như chẻ tre, nếu quân ngụy đến đây, ta sẽ cho nó mảnh giáp không còn”. Vương Bình nói: “Nay mà ở núi này, là vào chỗ đường cùng. Nếu quân ngụy cất đường nước của quân ta, quân sĩ sẽ chẳng đánh cũng rối loạn”. Mã Tốc nói: “Đừng có nói xằng! Tôn Tử nói: Dặt vào đất chết để sau sống. Nếu quân địch chặn hết đường, thì quân Thục lại chẳng quyết tâm tử chiến hay sao? Lấy một chọi mười cũng được. Tôi đã đọc qua binh thư, nhiều việc thừa tướng còn phải hỏi tôi, ông làm sao mà cản được tôi”.
Đối với địa hình Nhai Đình này những lý luận như “Ở trên nhìn xuống , thế như chẻ tre”, rồi “đặt vào đất chết để sau sống” v.v... và đối với kẻ địch này thì chẳng có ai cân nhắc thế. Đây là sự điển hình trong việc lý giải binh pháp một cách giáo điều. Vương Bình thì hoàn toàn ngược lại, bởi con người này dày dạn thực tiễn chiến đấu, có thể căn cứ vào địa hình để bố trí sự phòng thủ, đã kịch liệt phản đối việc bỏ phòng thủ trên đường để trú quân trên ngọn núi trơ trọi, bởi vì có cân nhắc đến khả năng nếu “quân ngụy ập đến, vây chặt bốn phía lại cắt đường nước của ta, chẳng đánh quân ta cũng rối loạn”. Quả việc miêu tả sự tranh luận của Mã, Vương, đã nổi bật lên hình tượng Mã Tốc, con người đánh địch trên giấy, và cũng nêu ra nguyên do thất bại của con người này.
Sai lầm của Mã Tốc là rất nặng nề, bởi mất Nhai Đình, quân Thục rơi vào cảnh rất nguy kịch, nếu Khổng Minh không dùng “không thành kể”, thì sẽ bị Tư Mã Ý bắt sống. Thất bại ở Nhai Đình, Khổng Minh rất ân hận đã dùng lầm Mã Tốc, và càng phục sự sáng suốt của Lưu Bị trong việc nhận biết người.
Từ Thứ bàn về Lưu Biểu
“Lâu nay nghe nói Lưu Cảnh Thăng yêu người thiện, ghét kẻ ác. tôi đến yết kiến xem sao, hóa ra chỉ là hư danh, bởi yêu người thiện mà không biết dùng, ghét kẻ ác mà không dám bỏ. Cho nên tôi để thư chàc mà đi”. Đó là hối thứ 34 tả cảnh Từ Thứ nói với Thủy Kính tiên sinh kh: nửa đêm đến chào ông này. Lưu Biểu là bậc danh sĩ đại quan liêu, rất có tiếng tăm. Đối với người rất biết điều, yêu người thiện, ghét kẻ ác, nhưng nhu nhược và không quyết đoán, giải quyết vấn đề luôn luôn sợ trước hãi sau, nghỉ mặt nọ ngờ mặt kia, do dự rùi răng. Con người này dùng người cũng thế, người có tài năng tuy rất thích nhưng lại không được dùng, kẻ làm việc xấu, tuy ông ta ghét đấy nhưng lại không đổi đi, bởi vậy chỉ đứng yên ở hiện trạng, chẳng làm nên việc gì.
Lưu Bị và Lưu Biểu là chỗ họ hàng trong triều Hán. Lưu Biểu kính phục Lưu Bị là bậc anh hùng, bề ngoài rất thân mật với Lưu Bị, anh anh em em, nhưng trong lòng lại có mối nghi kỵ, không giảm trọng dụng. Cho nên tài cán của Lưu Bị luôn luôn không được phát huy. Lưu Biểu muốn dùng ba tướng của Lưu Bị là Quan Vũ, Trương Phi và Triệu Vân để bảo vệ biên cương. Sái Mạo sợ Lưu Bị thắng thế sẽ không có lợi cho mình, cho nên đã vào mách Sái Phu nhân, nói rằng cứ thế này mãi tất sẽ hoạn nạn. Sái Phu nhân lựa lúc đêm khuya can ngăn bên gối, bảo Lưu Biểu điều Lưu Bị đi chỗ khác. Qua sự xúc xiểm của Sái Phu nhân, Lưu Biểu ngoài thì nói ra miệng rằng Huyền Đức là người nhân từ, nhưng trong lòng vẫn có mối nghi ngờ. Ngay hôm sau bèn để cho Lưu Bị đem binh mã của bản bộ lên đồn trú ở Tân Dã. Khi Tào Tháo đem quân viễn chinh đi đánh Ô Hoàn, Lưu Bị khuyên Lưu Biểu nhân lúc Hứa Đô trống trải, lấy quân dân Hình Tương để đánh lấy, Lưu Biểu lại nói: “Ta tọa cứ một Kinh Châu là đủ, đánh lấy nơi khác mà làm chi?” Ông ta thiếu hẳn ý đồ lớn lao, yên lòng với hiện trạng, đó là một trong những nguyên nhân chính không đi đánh lấy Hứa Đô, nhưng còn một nguyên nhân khác là chưa tin hẳn vào Lưu Bị, không dám buông ra cho ông cầm quân đi đánh. Chính vì thế mà đã để mất đi một thời cơ tốt đẹp. Sau khi Tào Tháo thống nhất phương Bắc, Lưu Biểu biết là Tháo sẽ đánh xuống phía Nam, nên cảm thấy ân hận, nói với Lưu Bị rằng: “Gần đây nghe tin Tào Tháo lại cất quân trở về Hứa Đô, thế ngày một mạnh, tất có ý cướp lại Kinh Châu. Ngày ấy ta ân hận đã không nghe lời hiền đệ, nên mất dịp tốt thế này!” Lúc đó, thiên hạ bị chia sẻ, ngày ngày nổi can qua, tranh giành trung nguyên không chỉ một mình ai, mình không chiếm của người ta, tất sau này bị người ta chiếm lại mình đó là một quy luật của thời loạn. Lưu Biểu làm sao mà đóng lâu dài được ở Kinh Châu. Miếng thịt ngon Kinh Châu sớm muộn gì cũng bị người khác chiếm mất, đó là cái thế tất nhiên.
Đối với bọn Sái Mạo và bè đảng bên vợ, Lưu Biểu tuy biết bọn chúng làm điều ác, nhưng cũng chẳng biết làm thế nào. Bọn Sái Mạo ganh ghét người hiền tài, nhiều lần bấy mưu hãm hại Lưu Bị. Lưu Biểu mời Lưu Bị đến họp mặt, Sái Mạo ngầm bàn mưu với Sái Phu nhân, chuẩn bị giết ngay ở quán, Lưu Bị biết việc trốn về Tân Dã. Sái Mạo lại ký tên Lưu Bị viết thơ chống đối trên tường. Lưu Biểu vừa xem qua đã nổi nóng rút kiếm thét: “Ta thể sẽ giết thằng bất nghĩa này”. Nhưng rồi lại nghĩ: “Ta với Lưu Bị chung sống lâu như thế, chưa từng thấy hắn làm thơ bao giờ”. Và bỗng tĩnh ra rằng đây là kế ly gián của người ngoài, bèn đình chỉ việc Sái Mạo lấy quân đi bắt Lưu Bị. Sái Mạo thấy kế này không thành, lại bàn riêng với Sái Phu nhân, nhân việc mời Lưu Bị đến Tương Dương dự hội để giết đi. May có Y Tịch biết việc ngầm báo cho, Lưu Bị mới bỏ tiệc mà trốn đi. Sau này Lưu Bị gửi thư nói với Lưu Biểu việc này, Lưu Biểu nổi giận, gọi Sái Mạo đến trách mắng rằng: “Mày làm gì mà lại dám hại em tao?”, lệnh đem ra chém. Thế nhưng đến khi Sái Phu nhân khóc lóc kêu xin miễn cho Sái Mạo tội chết, Lưu Biểu lại mềm lòng, trách móc rồi xá tội cho. Lưu Biểu cũng thừa biết bè đảng bên vợ mình cũng đủ lông đủ cánh, quân quyền ở Kinh Châu đều nằm hết trong tay họ Sái, “sau tất sẽ loạn”, nhưng chính vì yêu Sái Phu nhân mà sợ Sái Phu nhân, việc gì ông ta cũng bị lôi kéo, cùng không dám đuổi bọn người xấu như Sái Mạo vv... đi. Chính vì “ghét kẻ ác mà không dám bỏ”, để cho bọn Sái Mạo sau này đem dâng Kinh Châu cho Tào Tháo.
Lưu Bị tin Triệu Vân không phản bội mình
Trong trận đại bại ở Đương Dương Trường Bản, Lưu Bị chỉ còn hơn trăm quân, chạy đến lúc trời sáng, không thấy quân địch đuổi theo nữa, mới dừng ngựa nghỉ ngơi. Đang lúc còn chưa hết sợ, bỗng thấy Mì Phương hốt hoảng chạy tới báo: “Triệu Tử Long phản bội đi hàng Tào Tháo rồi”. Lưu Bị mắng ngay: “Tử Long là bạn cũ của ta, đời nào lại phản ta?” Trương Phi nói: “Nay nó thấy ta thế cùng lực kiệt, ra hàng Tào Tháo để được giàu sang chứ gì?”. Lưu Bị nói: “Tử Long từ khi ta làm nạn, lòng như sắt đá, không giàu sang nào lay chuyển được đâu!” Mì Phương nói: “Chính mắt tôi thấy hắn đi theo đường Tây Bắc”. Trương Phi nói: “Để tôi tự đi tìm nó, hễ mà thấy nó, tôi chỉ đâm một nhát cho chết!”. Lưu Bị nói: “Đừng nghi ngờ lầm như thế! lại chẳng thấy anh hai của chú đã diệt Nhan Lương, Văn Sú đó sao? Tử Long đi lần này, tất có chuyện gì đó. Ta đoán Tử Long tất không bỏ ta đâu”. Về việc Tử Long ra hàng Tào Tháo, Mi Phương nói là tận mắt nhìn thấy, Trương Phi thì bảo “tại ta thế cùng lực tận”, đều có căn cứ đều có lý, nhưng Lưu Bị lại tin chắc rằng Tử Long quyết không phản bội mình. Sự thực đã chứng minh, Lưu Bị quả là rất biết người. Tử Long không phải là đi hàng Tào Tháo mà là đi tìm chúa mẫu và ấu chúa mà thôi. Trong quá khứ, Tử Long cũng chẳng có một lịch sử trung thành với chúa. Trước khi đi theo Lưu Bị, Tử Long đã hai lần đổi chúa. Hắn vốn là người dưới trướng của Viên Thiệu, không lâu sau bỏ Viên Thiệu, dựa vào Công Tôn Toản. Sau lại bỏ Toản đi theo Lưu Bị. Tuy rằng trước đó Tử Long đã hai lần đổi chủ, nhưng bỏ Lưu Bị theo Tào Tháo là điều không thể có. Tại sao mà Lưu Bị lại tin Tử Long không phản lại mình? Đúng như Lưu Bị đã từng nói: “Tiểu Long đã từng chung hoạn nạn với ta” cho nên tin rằng hắn quyết không thể theo Tào Tháo. Hoạn nạn mới thấy lòng người, trong cơn hoạn nạn là lúc thử thách người rõ nhất. Lưu Bị quen biết Tử Long ở chỗ Bắc bình thái thú Công Tôn Toản. Lúc đó Lưu Bị quân ít, thế yếu, chức quan chẳng qua chỉ là bình nguyên tướng, thuộc sự quản lý của Công Tôn Toản, thế mà Triệu Tử Long lại bỏ Công Tôn Toản tương đối có quyền thế để theo Lưu Bị, một quan nhỏ là bình nguyên tướng, là bởi vì Triệu Tử Long với Lưu Bị cùng chung chí hướng. Tử Long thuộc phái trung với nhà Hán, cách chọn chúa của con người này là xem có trung với nhà Hán hay không rồi mới quyết. Tử Long đã “vì thấy Thiệu không có lòng trung quân cứu quốc” nên đã theo Công Tôn Toản. Và cũng tưởng rằng Công Tôn Toản là bậc anh hùng, nhưng sau này, qua hành vi cụ thể, thấy đó chẳng qua cũng chỉ như bọn Viên Thiệu mà thôi, cho nên rất lấy làm hối hận. Và khi gặp Lưu Bị, qua chuyện trò đã thấy rất tâm đầu ý hợp, vì Lưu Bị là lớp hậu duệ của nhà Hán, trung thành với nhà Hán. Lưu Bị cũng tỏ ra kính yêu Tử Long, mới gặp đã có tình cảm quyến luyến không rời. Chính vì Tử Long và Lưu Bị có cùng mục tiêu, cho nên mới cùng chung hoạn nạn với Lưu Bị. Cũng vì Tử Long có lòng “như sắt đá”, trong bất kể tình huống nào đều không lay chuyển, trung thành với Lưu Bị từ đầu đến cuối.
Gia Cát Cẩn biết con
Con của Gia Cát Cẩn là Gia Cát Khác, người cực kỳ thông minh, giỏi ứng đối. Khi mới lên 6, được theo cha đi dự tiệc ở Đông Ngô. Tôn Quyền thấy Gia Cát Cẩn mặt dài, bèn lệnh cho người dắt đến một con lừa, dùng phấn viết lên mặt lừa mấy chữ “Gia Cát Tử Du”. Mọi người cười ồ lên. Khác bước lên phía trước, giật lấy phấn thêm vào hai chữ thành “Lừa của Gia Cát Tử Du”. Mọi người ngồi đó không ai là không kinh ngạc. Tôn Quyền mừng lắm, bèn thưởng cho con lừa. Từ đó, Khác được Quyền rất yêu quý. Lục Tốn, Gia Cát Cẩn ốm chết, mọi việc lớn nhỏ đều do một tay Khác lo liệu, sau làm quan đến thái phó. Tôn Quyền chết, Khác đã nắm mọi quyền hành của Đông Ngô. Khi Gia Cát Cẩn còn sống, thấy sự thông minh của Khác phát tiết ra ngoài, và Khác tuy được Tôn Quyền trọng dụng, Gia Cát Cẩn hết sức lo lắng, than rằng: “Thằng con này không giữ được nhà”. Quả thật là chẳng ai biết con mình bằng cha.
Sau khi Gia Cát Khác nắm hết quyền bính quân sự chính trị, quyền cao át cả chúa; chúa Đông Ngô là Tôn Lượng thấy vậy, trong lòng rất lo lắng, luôn muốn trừ khử đi, nhưng còn chưa có dịp. Gia Cát Khác điều quân ra nghênh chiến với quân xâm lăng nước Ngụy, sau khi giành được thắng lợi ở Đông Hưng, bị chiến thắng làm mụ đầu óc, không biết tự lượng sức mình, thừa thắng đem quân chiếm trung nguyên, kết quả là thất bại và bị thương.
Khác sợ rằng người ta sẽ kêu ca, bèn trước hết tìm ra lỗi lầm của các quan chức, nhẹ thì điều ra biên cứ, nặng thì chém đầu bêu ngoài chợ. Thế là quan lại trong ngoài chẳng ai không sợ sệt. Sau lại lệnh cho tướng tâm phúc là Trương Ước, Chu Ân quản ngự lâm quân. Tôn Tuấn vốn trước nay vẫn quản ngự lâm quân thấy vậy cả giận, tâu lên Tôn Lượng rằng “sẽ có lòng phản trắc”, nên sớm trừ đi. Tôn Lượng bèn thết tiệc triệu về, giữa buổi tiệc đem giết đi. Cả nhà già trẻ lớn bé cũng đều bị chém.
Quách Gia liệu địch giành thắng lợi
Tìm hiểu địch, là khâu quan trọng để giành thắng lợi. Quách Gia là một mưu sĩ rất ghê gớm, ông ta đoán sự việc như thần, nêu ra được nhiều sách lược kỳ lạ, chính vì ông có thể bắt đầu từ việc nghiên cứu địch, nhận thức địch và xuất phát từ thực tế của phía mình, tiến hành so sánh để xác định chiến thuật chiến lược, cho nên đã làm được đến mức “biết người biết ta, trăm trận không thua”.
Trước trận quyết chiến ở Quan Độ, Viên Thiệu lớn mạnh hơn Tào Tháo. Tào Tháo muốn thống nhất miền Bắc, tất sẽ phải quyết chiến với Viên Thiệu, nhưng Tào Tháo giận vì lực lượng không được như ý muốn, bèn hỏi Quách Gia tìm sách lược gì hay. Quách Gia nói: “Sự vô địch của Lưu, Hạng, điều đó ai cũng biết. Cao Tổ chỉ dùng trí mà thắng, Hạng Vũ tuy mạnh, cuối cùng cũng bị bắt. Nay Thiệu có mười cái bại, chúa công có mười cái thắng. Quân Thiệu có mạnh, cũng không đủ để ta phải sợ. Viên Thiệu nhiều lễ nghi phiền phức, chúa công thì thể nhiệm tự nhiên, đó là thắng về đường lối; Thiệu lấy điều nghịch để hoạt động, chúa công lấy thuận để lôi cuốn, đó là thắng về nghĩa. Từ thời Hoàn Công, Linh Công đến giờ, chính trị mất là do rộng rãi quá. Thiệu thì lấy khoan dung, chúa công thì uốn nắn mạnh mẽ, đó là thắng về mặt trị. Thiệu ngoài thì rộng rãi, nhưng trong thì đố kỵ. Những người được cất nhắc phần lớn là họ hàng, chúa công ngoài giản lược, nhưng trong rất sáng suốt, dùng người do tài năng, đó là thắng về đức độ; Thiệu nhiều mưu, nhưng thiếu quả quyết, chúa công đắc sách là nhất định làm, đó là thắng về mưu; Thiệu chuyên thu danh dự, chúa công lấy lòng thành đãi người, đó là thắng về đức; Thiệu lo chỗ gần mà quên chỗ xa, chúa công lo đủ mọi chỗ, đó là thắng về lòng nhân; Thiệu nghe xiểm nịnh nghi hoặc rối loạn, chúa công nghe thấm mà không làm theo, đó là thắng về sự sáng suốt; Thiệu phải trái lẫn lộn, chúa công đức độ nghiêm minh, đó là thắng về văn; Thiệu rất hám hư thế, không biết về binh yếu, chúa công lấy ít thắng nhiều, dùng binh như thần, đó là thắng về võ. Cứu cùng có mười cái thắng này, muốn đánh bại Thiệu là chuyện không khó”. Quách Gia nêu ra thuyết “mười cái thắng mười cái bại”, đã kiên định lòng tin ở chiến thắng cho Tào Tháo, sau này quả là ở trận Quan Độ, đánh cho Viên Thiệu thua to.
Tào Tháo trước khi đánh Ô Hoàn, Tào Hồng và mọi người lo Lưu Bị, Lưu Biểu thừa cơ trống trải đánh vào Hứa Đô, lấy đó làm lý do chống lại cuộc viễn chinh. Thế nhưng, Quách Gia cho rằng Lưu Biểu quyết không thể đánh úp vào Hứa Xương, nói rằng: “Lưu Biểu chỉ biết ngồi bàn. Tự biết tài mình không chế ngự được Lưu Bị, giao trọng trách thì lại sợ không thể khống chế được, giao trách nhiệm nhẹ nhàng quá, thì Lưu Bị không giúp mình” cho nên đã chủ trương Tào Tháo đi đánh Ô Hoàn, và nói “Tuy bỏ trống nước đi viễn chinh, chúa công không phải lo”. Sau này quả đúng như lời Quách Gia nói, Lưu Biểu án binh bất động. Tào Tháo tây đánh Ô Hoàn, đánh bại Thạp Đốn, giành thắng lợi cuối cùng trong việc thống nhất phương Bắc.
Khổng Minh bàn về nhận biết người
Khổng Minh có một luận văn về nhận biết người. Ông cho rằng con người là rất phức tạp, tốt xấu xen kẽ nhau, tình hình chẳng ai giống ai: Hoặc là ngoài thì đôn hậu nhưng trong lại xảo trá; hoặc là ngoài thì khiêm tốn cung kính, nhưng trong lại hiểm ác; hoặc là ngoài thì gan dạ nhưng trong nhút nhát; hoặc là ngoài thì tích cực nhưng trong lại không trung thành... cho nên nhận biết người không phải dễ. Bởi vậy chọn lựa cất nhắc nhân tài, trước hết phải chuyên tâm khảo sát, tìm hiểu con người đó. Ông căn cứ vào kinh nghiệm dùng người của mình là muốn nhận biết một con người phải khảo sát theo bảy mặt sau là: chí, biến, thức, dũng, tính, liêm, tín. Tức là: thứ nhất: Hỏi điều phải trái để biết cái chí của họ. Hai là dồn họ để họ biện bạch mà xem cái biến của họ. Ba là hỏi về mưu kế để biết cái thức của họ. Bốn là nói cho họ biết hoạn nạn, tai họa để xem cái dũng của họ. Năm là cho uống rượu say để xem cái tính của họ. Sáu là cho gần mới lợi để xem cái liêm của họ. Bảy là hẹn họ để xem cái tín của họ.
Khổng Minh đúng là đã căn cứ vào bảy điều để nhận biết người, để khảo sát và cất nhắc các nhân tài. Khổng Minh dùng người rất nhấn mạnh đến “chí” và “biến” của người đó, như đã nói Tưởng Uyển “gửi chí ở lòng trung”, nói Phí Vĩ là “trí lự trung thuần”, Khương Duy là “nhạy bén trong quân sự”, “lòng mang nặng nhà Hán”... đều là những kết luận rút ra sau khi đã khảo sát về mặt “chí”, “biến”, rồi từ đó giao những trọng trách trong quân sự hay chính trị. Khổng Minh biết người đó rồi mới dùng người đó. Những người ông đã chọn dùng như Tưởng Uyển, Phí Vĩ, Khương Duy v.v... đều trở thành rường cột cho hậu triều của nước Thục. Vì Khổng Minh còn lấy liêm để khảo sát nhân tài, thuộc hạ của ông phần lớn đều là những nhân sĩ thanh liêm. Lại như việc Khổng Minh chọn Đặng Chi đi sứ sang Đông Ngô, là sau khi đã “hỏi về mưu kế để xem về “thức” – (hiểu biết)” rồi mới quyết định. Hồi thứ 85 tả Khổng Minh đang cân nhắc cử người đi sứ Đông Ngô để nhắc lại mối liên minh Thục – Ngô, định cử Đặng Chi, nhưng chưa biết kiến thức của người này ra sao, bèn cho mời đến, hỏi: “Nay ba nước Ngụy, Thục, Ngô đứng riêng ba cõi. Muốn dẹp hai nước để thống nhất trung hưng thì nên đánh vào nước nào trước?” Chỉ nói: “Theo ngu ý của tôi, nước Ngụy tuy là giặc của nhà Hán, thế của chúng rất lớn, khó có thể lay chuyển ngay, mà phải đánh dần; nay chúa thượng vừa mới lên ngôi báu, lòng dân chưa yên, nên liên hiệp với Đông Ngô, kết nghĩa răng môi, trước là rửa thù xưa cho tiên đế sau nữa đây là kế lâu dài. Chưa được hỏi qua xem ý của thừa tướng thế nào?” Khổng Minh cười lớn nói: “Ta mong mỏi từ lâu, chưa được người này, đến nay mới được đấy”. Vì ý nghĩa quan trọng của việc liên kết với Đông Ngô mà Đặng Chi hiểu được, khiến Khổng Minh cho rằng “Nay mới được người này”. Đặng Chi đi sứ Đông Ngô quả là không làm nhục sứ mạng của mình, khiến cho nước Thục nước Ngô lại lên tiếng liên minh để chống lại Tào Tháo.
Bảy điều để nhận biết người của Khổng Minh đối với việc dự đoán nhân tài ngày nay vẫn còn nguyên ý nghĩa gợi mở của nó.
4. BIẾT TIẾN HIỀN LÀ NGƯỜI HIỀN: CHUYỆN VẶT VỀ TIẾN HIỀN
Ba nước Ngụy, Thục, Ngô nhân tài đông đảo, tuy rằng nói do các bậc chúa của họ giỏi trong việc dùng người, nhưng cũng còn do người tiến cử người hiền. Muốn tiến cử được, trước hết phải có tài “bá nhạc”, nếu không nhận biết được người hiển, thì không thể tiến cử được người hiển. Thứ đến là phải có công tâm, không sợ người mình tiến cử rồi sẽ vượt mình. Có một số người chính vì lo rằng người khác sẽ đứng trên mình, từ đó sinh ra ghen tài ghét hiển; hạng người đó không những không tiến hiển được, mà thường còn hại hiền. Cho nên người tiến hiến được, cũng là người hiền. Trong Tam quốc có nhiều chuyện vặt trong việc tiến hiền.Thủy Kính khéo tiến cử Khổng Minh
Tiến hiến cũng là một nghệ thuật, nếu phương pháp không đúng, thì lực sẽ bất tòng tâm, không đạt được mục đích tiến hiến. Thủy Kính tiến cử Khổng Minh rất đáng để người đời chiêm nghiệm, cách tiến hiến của ông rất khéo, nói là tiến cử người hiền, nhưng lại không chỉ tên; nói là tiến cử tùy tiện cũng không đúng, thực ra là rất công phu.
Hồi thứ 35 tả Lưu Bị nhận lời đi Tương Dương dự tiệc, giữa chừng Y Tịch báo tin Sái Mạo muốn hại Lưu Bị; Lưu Bị vội lên ngựa trốn vội theo hướng Tây, sau khi ngã ngựa qua suối, may mắn lại gập Thủy Kính tiên sinh đang ở ẩn. Mới nhìn qua khí sắc, Thủy Kính đã đoán được là ông này đang đi lánh nạn, và chỉ ra rằng cho đến nay Lưu Bị vẫn hồn xiêu phách lạc vì “tả hữu chưa kiếm được người”. Ông lại nói: “Ngày nay thiên hạ kỳ tài đều ở đây, ông đến mà tìm”. Rõ ràng là Thủy Kính có ý tiến cử người hiền cho Lưu Bị. Ông mới nói chung chung “thiên hạ kỳ tài đều ở cả đây”, ám chỉ rằng ở đây có “kỳ tài”, nhưng lại không chỉ rõ là ai cụ thể, để khêu gợi nguyện vọng cầu hiền của Lưu Bị. Quả nhiên, Lưu Bị vội hỏi ngay: “Bậc kỳ tài đó ở đâu, và là ai vậy?”. Thủy Kính nói: “Phục Long, Phượng Sồ được một trong hai người là có thể yên được thiên hạ!”. Thủy Kính cũng chẳng chỉ rõ ra. Phục Long, Phượng Sồ là người thế nào, nhưng đã nói rõ với Lưu Bị: Phục Long, Phượng Sồ không phải là người hiền tầm thường, mà là bậc đại hiền, chỉ được một người đã có thể “yên được thiên hạ”. Một người ghê gớm như vậy, làm gì mà Lưu Bị chả muốn tìm, vội hỏi: “Phục Long, Phượng Sồ là ai vậy?”. Thủy Kính xoa tay cười nói: “Được, được!”. Lúc đó vẫn còn chưa chỉ rõ tên, lại còn cố ý chần chừ. Lưu Bị lại hỏi nữa, Thủy Kính bèn nhìn quanh và nói với Lưu Bị: “Hãy cứ nghỉ tạm lại đây một đêm” rồi hãy hay. Bậc “kỳ tài” ấy, rõ ràng gây cho Lưu Bị sự suy nghĩ. Cứ tơ tưởng đến con người ấy rồi bỗng xuất hiện cảnh “Trăng đi, bóng hoa động, nghỉ người ngọc đến gần”, đang đêm Lưu Bị nghe thấy ở phòng bên có tiếng người nói chuyện với Thủy Kính, bèn nghĩ rằng người này không phải là Phục Long thì cũng là Phượng Sồ, ngủ không ngon giấc, cho đến khi trời sáng, bèn sốt sắng đi gặp Thủy Kính, hỏi tên họ cái người nói chuyện đêm qua. Thủy Kính cũng chẳng bảo đó là Từ Thứ, lại chỉ cười nói: “được, được!” Lưu Bị lại hỏi: “Phục Long, Phượng Sồ là ai vậy?”. Thủy Kính lại cười nói: “được, được!” Thủy Kính rất hiểu những điều sâu xa của tâm lý học, ông ta úp úp mở mở mấy lần giới thiệu biệt danh và tài trí của bậc kỳ tài đó, nhưng vẫn cứ không nói rõ tên, mà chỉ cười nói: được, được, để Lưu Bị trông mong hết lần này đến lần khác, và càng muốn biết tên người đó mà không được biết, lại càng muốn gặp người ấy. Như vậy, bậc “kỳ tài” đó, tuy chưa được biết tên đã cắm rễ sâu vào trong trí óc của Lưu Bị.
Đợi đến sau khi Từ Thứ tiến cử Gia Cát, Thủy Kính tiên sinh mới đến tận nhà thăm Lưu Bị. Lưu Bị hỏi: “Trước lúc ra đi, Nguyên Trực tiến cử Gia Cát Lượng ở Nam Dương, không biết người này thế nào?”. Lúc ấy Thủy Kính tiên sinh mới giới thiệu tình hình cụ thể của Gia Cát Lượng, nói: “Khổng Minh với bốn người: Thôi Châu Bình ở Bác Lăng, Thạc Quảng Nguyên ở Dĩnh Xuyên, Mạnh Công Uy ở Nhữ Nam và Từ Nguyên Trực đều là bạn thân. Bốn người này đều tính anh thuần phác, duy có riêng Khổng Minh là có tài thao lược. Thường rung đùi ngâm vịnh và chỉ bốn người nói: “Các ông tiến thân có thể đến thứ sử, quận thú”. Mọi người hỏi chí hướng của Khổng Minh thế nào, ông chỉ cười mà không đáp lời. Hàng ngày thường so mình với Quản Trọng, Nhạc Nghị tài sức ấy không thể đo được. Có lúc Quan Vũ ở bên, không đồng ý nói: “Khổng Minh tự so với hai người ấy, liệu có quá hay không?” Thủy Kính đáp “theo như tôi thấy, không nên so bì với hai người ấy, tôi muốn so với hai người nữa kia!”. Quan Vũ hỏi hai người nào, Thủy Kính nói: “Có thể so với Khương Tử Nha xây dựng nhà Chu tám trăm năm, và Trương Tử Phòng dựng cơ nghiệp thịnh vượng bốn trăm năm của nhà Hán. Mọi người đều kinh ngạc. Thủy Kính tiên sinh tiến cử Khổng Minh, lần trước tiến cử suông, lần này mới tiến cử thực. Lần trước tả người này một cách trừu tượng, lần này giới thiệu cụ thể về năng lực của Khổng Minh. Tiến cử người như thế, quả là đã nghĩ hết cách, đủ thấy việc tiến cử một con người trịnh trọng thế nào. Việc đó cũng buộc Lưu Bị phải trịnh trọng câu hiền, sau này Lưu Bị “ba lần thăm lều cỏ”, thực ra cũng chính vì sự trịnh trọng tiến cử của Thủy Kính tiên sinh.
Từ Thứ quay ngựa tiến cử Gia Cát
Không phải người có lòng thì không tiến cử được người: hoặc là tận tài tận sức của mình với người, hoặc là vì giúp người thành sự, hoặc là báo đền ơn đức của người. Từ Thứ có hai trong ba thứ đó: ông tiến cử Khổng Minh vì cảm kích trước tình cảm quyến luyến của Lưu Bị, muốn tiến cử người hiền để ông này sớm thành việc lớn.
Từ mẫu bị Tào Tháo giam cầm, Tháo cho giả tay mẹ viết thư gọi Từ Thứ quay về, Lưu Bị hết sức khâm phục tài năng của Từ Thứ, không muốn xa nhau, nhưng với “tình mẫu tử trời sinh”, đành dứt lòng yêu mến để Từ Thứ quay về. Hôm sau mở tiệc tiễn đưa, Lưu Bị tiến hết đoạn này sang đoạn khác, hai người lưu luyến không rời, nhỏ lệ mà chia tay. Lưu Bị đau đáu nhìn theo, lại bị rừng cây che khuất. Lưu Bị đã dùng roi ngựa chỉ vào mà nói: “Ta muốn chặt hết rừng cây nọ”. Mọi người hỏi nguyên cớ vì sao, Lưu Bị nói: “Vì nó vướng mắt ta nhìn theo Từ Nguyên Trực”. Tình lưu luyến thổ lộ ra bằng lời nói. Đang lúc đứng nhìn bỗng thấy Từ Thứ kế ngựa quay trở lại và ghìm cương nói với Lưu Bị: “Tôi lòng rồi tựa bòng bong, quên mất một điều: trong vùng này có một bậc kỳ tài, ở trại Long Trung cách thành Tương Dương hai mươi dặm, sứ quân khá đến đấy mà tìm”. Lưu Bị hỏi: “So với tiên sinh tài đức người đó thế nào?”. Từ Thứ nói: “Tôi mà so với người ấy chẳng khác gì ngựa tối so với kỳ lân, quạ đen sánh với chim loan chim phượng”. Lưu Bị hỏi họ tên, Từ Thứ nói: “Người này ở quận Lang Nha, họ Gia Cát Lượng, tự Khổng Minh. Người này là bậc kỳ tài nhất thời nay, sứ quân khá mau mau đến gặp. Nếu người này chịu phò tá, thì không lo gì thiên hạ không bình định”. Đến lúc này, Lưu Bị mới biết Phục Long mà Thủy Kính tiên sinh nói đến chính là Khổng Minh.
Từ đó thấy rằng hậu đãi hiền tài, kẻ hiền mới lại tiến cử cho người hiền. Nếu không, người hiền cũng tránh đi không dám tiến cử người hiển khác. Từ Thứ từng theo Lưu Biểu, thấy Lưu Biểu là người vô dụng, vội để thư cáo biệt, không ngờ đâu lại tiến cử Khổng Minh. Từ Thứ chia tay Lưu Bị, mặc dù đường về lòng muốn bay đi, nhưng cảm động sâu sắc trước tình lưu luyến của Lưu Bị, nên mới nghĩ ra Khổng Minh. Bởi vậy, muốn người ta tiến hiến phải bắt đầu từ việc hậu đãi người hiền, trọng dụng hiến sĩ, sau sẽ tìm ra hiền sĩ khác.
Khổng Minh hết lòng tiến cử Bàng Thống
Phàm người bằng vai phải lứa với mình, tiến cử lên không phải dễ. Thời Chiến quốc, Bàng Quyên với Tôn Tẫn cùng học binh thư của Quý Cốc Tử. Tôn Tẫn học giỏi hơn Bàng Quyên. Bàng Quyên làm tướng nước Ngụy, ghen ghét tài năng của Tôn Tẫn, tìm mọi cách để làm giảm thế của Tôn Tẫn. Thuần Vu Khôn nước Tề sang sứ nước Ngụy mang cả Tẫn về, lấy làm quân sư. Sau này nước Ngụy đánh nước Tề, Tôn Tẫn bày kế vây Bàng Quyên, Quyên trí cùng phải tự vẫn. Do Tôn Tẫn nổi tiếng trong thiên hạ mà Bàng Quyên ghen ghét tài năng, hai người hóa ra hại ngay chính mình. Khổng Minh khắc hẳn Bàng Quyên. Bàng Thống cùng nổi tiếng như Khổng Minh, cho nên Thủy Kính tiên sinh đã bình luận về hai người này là: “Phục Long, Phượng Sồ, được một trong hai người là có thể yên được thiên hạ”. Mới hay là tài trí của Bàng Thống cũng chẳng kém gì Khổng Minh. Thế nhưng Khổng Minh chẳng hề đem lòng ghen ghét. Mà còn hết lòng tiến cử với Lưu Bị, tỏ ra hết sức quan tâm.
Phượng Sồ tiên sinh quả là danh bất hư truyền. Hồi thứ bốn bảy tả sự xuất hiện của con người này thật khác người thường: “Muốn phá Tào Tháo, phải dùng hỏa công đó là mưu sách không hẹn mà nên của Khổng Minh và Chu Du, nhưng trên mặt sông rộng, một thuyền bị cháy, các thuyền khác tản ra, muốn đốt hết các thuyền địch, là một việc khó. Bàng Thống đã khéo léo dựa vào sự tiến dẫn của Tưởng Cán, ngay trong đêm đến gặp Tào Tháo, hiến kế liên hoàn, để cho chiến thuyển của Tào Tháo bị cháy sạch. Kế liên hoàn của Bàng Thống cũng không kém gì kẽ “mượn gió đông của Khổng Minh”. Tuy lập được công lớn nhưng Bàng Thống vẫn không được Đông Ngô tin dùng, mãi cho đến hồi thứ 57, sau khi Khổng Minh đến cửa Sài Tang làm lễ viếng Chu Du, lúc chào Lỗ Túc ra về đang sắp bước xuống thuyền chợt thấy mé sông có một người mặc áo khăn đạo sĩ tới nắm lấy tay Khổng Minh cười lớn: “Người đã làm Chu Du tức đến chết, nay còn đến viếng tang, rõ ràng là khinh rẻ Đông Ngô không còn ai nữa chăng?”. Khổng Minh nhìn người đó, hóa ra là Phượng Sồ tiên sinh Bàng Thống, Khổng Minh cũng cười lớn, giắt tay nhau lên thuyền cùng hàn huyên tâm sự. Hai người vốn là bạn cũ của nhau. Khổng Minh gửi lại cho Bàng Thống một bức thư và dặn rằng: “Tôi đoán rằng Tôn Quyền sẽ không trọng dụng được ông. Nếu có gì không vừa ý, có thể tới Kinh Châu cùng nhau phò Huyền Đức. Người này khoan dung đức độ, tất sẽ không phụ công học hỏi của ông”. Sau đúng như lời Khổng Minh dự đoán, Tôn Quyền không dùng Bàng Thống, nên Thống bèn theo Lưu Bị. Lúc đầu, Lưu Bị cũng nhìn mặt mà chọn người, không trọng dụng Bàng Thống, sau này Trương Phi đi tìm hiểu mới biết Thống là bậc đại tài, bèn về báo với Lưu Bị, cũng vừa dịp Khổng Minh vừa đi án sát bốn quận mới về lại hết lời ca ngợi Bàng Thống tài giỏi và chỉ ra: “Sĩ Nguyên không phải tài tầm thường, học giỏi gấp mười tôi”. Lưu Bị dần dần phong Bàng Thống làm phó quân sư trung lương tướng, cùng bàn bạc mưu lược với Khổng Minh.
Bàng Thống theo Khổng Minh đi lấy Tứ Xuyên. Khổng Minh dâng thư lên Lưu Bị mượn cớ xem sao trời khác lạ mà nhắc Lưu Bị nên cẩn thận. Lưu Bị theo lời dặn của Khổng Minh, bảo Bàng Thống về giữ Bối Quan. Thống cười vang, nói: “Chúa công bị Khổng Minh mê hoặc rồi, ông ta không muốn Thống một mình lập công lớn nên mượn lời đó để làm chúa công sinh nghi trong lòng”. Vì nóng vội lập công, Bàng Thống đã không nắm kỹ tình hình địch, bèn chia hai ngả cùng Lưu Bị tiến quân, cuối cùng bị chết trong làn mưa tên của địch ở gò Lạc Phượng. Khổng Minh biết tin Thống bỏ mình, đã khóc rống lên vì “chúa ta mất một cánh tay”. Khổng Minh yêu Bàng Thống, vậy mà Bàng Thống lại lầm trách Khổng Minh. Một là tấm lòng thừa tướng, một là mối nghi của mưu sĩ, nó xa cách nhau đến thế. Và Khổng Minh khóc than Bàng Thống đủ thấy được lòng yêu mến và tiếc thương người hiền của ông thế nào.
Hám Trạch lấy cả nhà bảo lãnh cho Lục Tốn
Tiến cử người hiền không phải chuyện dễ dàng. Có người hiền lại cần phải có người tiến cử, nói lên rằng người hiền ấy còn chưa được mọi người biết đến, bởi vậy mà tiến cử người hiền tất nhiên sẽ gặp nhiều trở lực. Lúc đầu Hám Trạch tiến cử Lục Tốn cũng xảy ra tình trạng này. Để báo thù cho em, Lưu Bị dốc toàn lực đi đánh nước Ngô, thế mạnh vô cùng, người Giang Nam đều lo đến vỡ mật. Tôn Quyền lấy việc trả Kinh châu, dâng phu nhân để cầu hoà cũng không được, tỏ ra lo lắng, luống cuống cả tay chân. Hám Trạch tâu lên rằng: “Nay có một cây cột chống trời, tại sao không dùng?” Quyền vội hỏi đó là ai, Trạch nói: “Xưa nay mọi việc lớn ở Đông Ngô, đều do một tay Chu Lang; sau này Lỗ Tử Kính thay thế; Tử Kính chết rồi, quyết cho Lã Tử Minh; Nay Tử Minh tuy mất, hiện có Lục Bá Ngôn ở Kinh Châu. Người này tuy tiếng là nho sinh, nhưng thực ra rất có tài thao lược. Theo như ý của thần, cũng chẳng kém Chu Lang, nếu chúa thượng dùng được, phá Thục tất là được. Nếu như có sai, thần nguyện sẽ cùng chịu tội”. Quyền nói: “Không phải lời Đức Nhuận, quả nhân lỡ mất mấy việc lớn”. Trương Chiêu nói: “Lục Tốn tuổi còn trê, chưa được kính nể, e ràng các tướng không phục; mà nếu không phục ắt sinh loạn, và sẽ lỡ việc lớn”. Bộ Trắc cũng nói: “Tài của Tốn chỉ kham nổi một quận; nếu giao cho việc lớn, không thích hợp với hắn!”. Hám Trạch liền hô lớn: “Nếu không dùng Lục Bá Ngôn, ắt Đông Ngô sẽ hết! Thần nguyện đem cả nhà ra đảm bảo “Quyền nói: “Quả nhân cũng được biết Lục Bá Ngôn là bậc kỳ tài, ý ta đã quyết, các khanh chớ nhiều lời”. Để cho văn võ đều phục tùng sự chỉ huy của Tốn, bèn cho lập đàn thụ kiếm, bái Lục Tốn làm đại đô đốc.
Lục Tốn chưa có danh vọng cho nên bị các bậc đại thần quen sắp xếp thứ bậc theo tuổi tác như Trương Chiêu, Cố Ung, Bộ Trắc coi thường. Muốn tránh khỏi lâm vào sụp đổ, Hám Trạch cho rằng không Lục Tốn thì chẳng còn ai, bèn “đem cả nhà ra đảm bảo”, đủ thấy ông ra sức tiến hiến như thế nào để tăng thêm lòng tin của Tôn Quyền trong việc dùng Lục Tốn. Trong hoàn cảnh địch áp sát bốn bể, chọn ai làm thống soái, là mấu chốt sự mất còn của Đông Ngô. Hám Trạch có thể nói là có tầm nhìn rộng. Và Lục Tốn cũng không phụ sự tiến cử đó. Chàng thư sinh “bụng chứa đầy thao lược”, “không chịu lộ ra ngoài” này, không đếm xỉa đến tâm lý nóng này vội vàng nghênh chiến của các lão tướng, mặc kệ cho quân địch chửi rủa, mà đã tránh mũi sắc bén của địch, kiên quyết cố thủ để chờ thời, cuối cùng một đêm dùng lửa đốt sạch hơn 40 trại địch, Lưu Bị chỉ thoát được một mình trốn vào thành Bạch đế.
Tuân Úc tiến hiền sĩ cho nước Ngụy
Tào Tháo vì xuất thân ở gia đình hoạn quan, nhiều sĩ phu coi khinh, cho nên buổi ban đầu Tháo lôi kéo nhân tài gặp nhiều khó khăn. Từ sau khi Tuân Úc sang hàng Tào Tháo, do Tuân Úc tiến cử nên các loại nhân tài mới lục tục đi theo. Trong “Úc liệt truyện” do Bùi Tùng chú dẫn có ghi: “Những người do Tuân Úc tiến cử mà sau làm nên khanh tướng có đến hơn chục người. Trong đó có Tư Mã Ý, Tuân Du, Chung Dao, Trần Quần, Hi Lự, Hoa Hâm, Vương Lãng, Tuần Duyệt, Đỗ Tập, Tân Tỳ, Triệu Nghiêm v.v... Quách Gia, Hí Chí Tài, Đỗ Kỳ v.v.. cũng do Tuân Úc tiến cử mà sau này nổi tiếng.
Những người nói trên, có tác dụng quan trọng trong việc phát triển của sự nghiệp của Tào Ngụy. Tuấn Du theo Tháo xuất chinh, vạch nhiều mưu lạ, trong việc bình định Ký Châu, công của Tuấn Du chỉ dưới có Tuân Úc. Khi mới xây dựng nước Ngụy, ông được phong là thượng thư lệnh. Tư Mã Ý thì là trụ cột của nước Ngụy ở thời kỳ cuối. Khi cầm cự với Khổng Minh ở Thái Châu, Tư Mã Ý cho quân bám ruộng để cố thủ, làm tiêu hao sinh lực địch, khiến Khổng Minh không nhích lên được bước nào, ốm chết ở Ngũ Trượng Nguyên và cáo chung.
Tuân Úc tiến cử nhân tài không câu nệ thứ bậc, căn cứ vào tài năng từng người mà cử vào từng việc. Quách Gia là người mưu trí nên tiến cử làm mưu sĩ, cho nên phát huy được mặt mạnh của ông ta. Đỗ Kỳ “hơi kiêu và thiếu học hỏi”, nhưng lại có tài “tiên hạ địch quan trung nên tiến cử trấn thủ Hà Đông. Mười sáu năm ở đó, ông ta có nhiều công trạng, dân chúng chăm cày cấy, nhà nhà no đủ, dân chúng chẳng ai phàn nàn.
Tuân Úc có thể tiến hiền, bởi vì ông ta biết người. Tào Tháo cho rằng Tuân Úc nhìn nhận người “lâu càng thấy tin, ta suốt đời không quên”. Chỉ có Bá Nhạc mới hay thiên lý mã, Tuân Úc chẳng những là “Tử Phòng” của Tào Tháo và cũng là “Bá nhạc” của Tào Tháo. Tào Ngụy người tài đông đảo tuy là do Tào Tháo biết dùng người, nhưng cũng rất có quan hệ tới việc tiến cử hiền tài của Tuân Úc.
Hiền sĩ Đông Ngô tiến cử lẫn nhau
Sau khi Tôn Quyền kế nghiệp cha anh giữ Giang Đông, biết tiến cử và cất nhắc hiền sĩ, khiến cho hiền sĩ ở Đông Ngô tiến cử lẫn nhau, mới tập trung đông đảo được nhân tài xung quanh mình, cùng hiên ngang đứng vững với Tào, Lưu.
Tôn Quyền từng gạn hỏi Chu Du về sách lược giữ Giang Đông. Du nói: “Từ xưa đến nay được người thì khá lên, mất người thì lụn bại. Như ngày nay, nên kiếm người sáng suốt biết nhìn xa thấy rộng phò tá cho, thì mới ổn định được Giang Đông”. Quyền nói: “Tiên huynh có dặn lại: Việc trong thì nhờ Tử Bố, việc bên ngoài thì dựa vào Công Cẩn”. Chu Du khiêm tốn nói: “Du này bất tài, e rằng phụ lại sự gửi gắm sở cây đó”, bèn tiến cử Lỗ Túc để phò tá Tôn Quyền. Lỗ Túc đã hiến cho “sách trên giường”, và Tôn Quyền đã tiếp nhận thành quốc sách, nó có tác dụng chỉ đạo, trong việc bảo vệ Giang Đông và đứng vững thế chia ba. Sau này Chu Du ốm nặng, đã để di chúc tiến cử Lỗ Túc sẽ thay mình, Lỗ Túc lại tiến cử Gia Cát Cẩn với Tôn Quyền, cho rằng Cẩn học rộng tài cao, Quyền cử làm thượng thư. Cần khuyên Quyền đừng thông với Viên Thiệu mà thuận Tào Tháo, sau đó lừa dịp mà chiếm lấy. Sách này trái ngược với sách lược của Tôn Sách. Trước khi bị đâm chết, Tôn Sách định thông với Viên Thiệu để chống Tào. Đó là sách lược “xa thì giao hảo gần thì tấn công”. Vì lúc ấy Tào Tháo với Viên Thiệu đang chống nhau ở Quan Độ, Sách định đánh úp Hứa Xương, đón Hiến đế. Còn Cẩn thì chủ trương “đừng thông với Viên Thiệu mà thuận với Tào Tháo” bởi thời thế mỗi lúc mỗi khác. Lúc đó chính quyền mới của Tôn Quyền còn chưa ổn định, không đủ sức chống Tào, cho nên “tạm thuận”. Thái thú Trương Hoành lại tiến cử Cổ Ung, con người này nghiêm nghị chính đại, tính vốn ít nói, nhưng nói là trúng. Sau này làm thừa tướng, là cánh tay đắc lực của Đông Ngô. Do đông đảo hiền sĩ tiến cử lẫn nhau, Tôn Quyền được người hiền phò tá, uy danh lừng lẫy Giang Đông, rất được lòng dân sở cậy.
Dương Tổ lâm nguy tiến Đỗ Dự
Dương Tổ là danh tướng của nhà Tấn. Ông ta nghe tên tướng nhà Ngô rất khéo dùng binh là Lục Kháng bị bãi binh quyền. Chúa nhà Ngô là Tôn Hạo ngày càng bạo ngược, mất hết lòng dân, cho rằng đây là dịp rất tốt để đánh nhà Ngô, bèn sai người về Lạc Dương dâng biểu xin đi đánh nước Ngô, chúa nhà Tấn không cho. Đến lúc chúa nhà Tấn đồng ý đánh nước Ngô, lúc này Dương Tổ tuổi già nhiều bệnh tật, không đủ sức gánh vác nhiệm vụ. Lúc Dương Tổ hấp hối; chúa nhà Tấn đến tận nhà thăm hỏi, và tỏ ra rất ân hận, nói: “Trẫm vô cùng ăn năn đã không dùng sách lược đánh Ngô của Khanh. Ngày nay lấy ai nối chí cho Khanh?” Tổ rưng rưng nước mắt nói: “Thần chết mất, nhưng cũng không dám không thành thực rằng: hữu tướng quân Đỗ Dự có thể tin cậy được, nếu có đánh Ngô cần phải dùng người này”.
Tấn chúa theo lời Dương Tổ, phong Đỗ Dự làm trấn nam đại tướng quân đô đốc Kinh Châu sự, nuôi quân dạy dân ở Tương Dương, chuẩn bị đánh Ngô. Đỗ Dự là một nho tướng với dân luôn thành thực thương yêu, lại chăm chỉ hiếu học, thích đọc nhất là “truyện xuân thu” nên lúc nằm lúc ngồi luôn mang bên mình, mỗi lần đi đâu đều sai người mang “tả truyện” đi trước ngựa, cho nên người lúc ấy nói ông là “nghiện tả truyện”. Ông viết ra sách “xuân thu kinh truyện tập giải”. Do có đi sâu nghiên cứu về lịch sử các nước thời xuân thu, nên rất giỏi dùng binh: Sau khi ông gánh trách nhiệm đánh Ngô, thế mạnh như chẻ tre người Ngô chưa bị đánh đã lũ lượt ra hàng. Cuối cùng diệt được Ngô làm cho nước Tấn thống nhất được thiên hạ. Dương Tổ tiến cử Đỗ Dụ có thể nói là được người, bởi vậy đã thực hiện được chí hướng của mình là đánh đổ nhà Ngô.
Dương Tổ yêu thích việc tiến cử hiền sĩ, nhưng lại đem đốt bản tấu tiến cử người hiển của mình đi, không cho ai biết. Tấn chúa hỏi nguyên do, Tổ nói: “Bái quan ở công triều, tạ ơn ở nhà riêng, thần không muốn như thế”. Tiến cử người mà không để người ta biết, nói lên rằng Dương Tổ tiến cử người hiền là vì việc công chứ không vì cá nhân, đủ thấy phong cách cao cả của con người này.