Làm bất cứ việc gì dù là chậm là vội đều phải xem tình hình cụ thể mà quyết định. Đáng vội thì vội, đáng chậm phải chậm. Đáng vội mà làm chậm, sẽ bị lỡ việc; đáng chậm mà vội làm, cũng có thể làm hỏng việc. Đó có thể nói là một quy luật khi làm bất kể chuyện gì. Đối với chiến tranh, chậm hay là vội, cũng nên xử trí như thế.
“Binh pháp Tôn Tử” nêu ra quan điểm binh quý ở thần tốc. Tôn Vũ nhấn mạnh sự mau lẹ cơ động trong chiến tranh là điều được nêu ra từ sự tiến công chiến lược thực tế. Cuối thời Xuân Thu, do điều kiện kinh tế giao thông hạn chế, không thể kéo dài thời gian chiến tranh, thời gian cầm cự trong chiến tranh thường rất ngắn, chỉ vài giờ, nhiều lắm chỉ một ngày là kết thúc cuộc chiến đấu. Năm 575 trước Công Nguyên, cuộc chiến đấu ở Yên Lăng giữa nước Tấn và nước Sở “sáng đánh, tối đã xong” đã là những ví dụ hiếm có. Cho nên Tôn Vũ không hề đả động đến tư tưởng hoãn chiến, đánh chậm. Sau thời Chiến quốc, do kinh tế phát triển, chiến tranh bỗng trở nên phức tạp, thời gian cầm cự kéo dài, như cuộc chiến ở Bách Cử giữa nước Ngô nước Sở kéo dài tới mười một ngày; Nước Việt diệt nước Ngô vây thành Cô Tô lâu tới ba năm. Nói chung tiến công chiến lược cần phải thần tốc, nhưng phòng ngự chiến lược lại cần kéo dài thời gian. Đó cũng trở thành những phép tắc thông thường mà các nhà quân sự sau này phải tuân theo. Nhưng trong trường hợp đặc biệt, trong một giai đoạn nào đó của tiến công chiến lược, vẫn cần đánh chậm”. Khi Quách Gia phá Ký Châu, đánh Liễu Đông, lại nêu ra mưu kế “vội thì sẽ hợp, chậm thì sẽ ly” giành được thắng lợi lớn lao là “thứ quân không đánh mà hạ được người”. Trong Tam quốc diễn nghĩa cũng có nhiều thí dụ về “chậm và vội”, rất có ý nghĩa khêu gợi cho mọi người.
Hà Tiến đấu tranh với bọn hoạn quan, do chậm mà phải thua; Đổng Trác nhận chiếu chỉ vào triều, do chậm mà lại thực hiện được âm mưu cướp chính quyền. Cũng là chậm, mà cái khác nhau của nó là như thế.
“Quay ngược mũi giáo, cho người cầm chuôi”
Cuối thời Đông Hán, mâu thuẫn giữa họ ngoại với bọn hoạn quan cực kỳ sâu sắc, hoặc vì lập người thừa kế, hoặc vì tranh quyền, hai bên vật lộn không ngừng. Cuộc nội chiến giữa Hà Tiến với thập thường thị (mười tên hoạn quan) là một thí dụ điển hình. Linh đế ốm nặng, muốn lập hoàng tử Hiệp lên nối ngôi, nghe theo kế của trung thường thị Kiển Thạc, viết chiếu gọi đại tướng quân Hà Tiến vào cung để giết đi. Hà Tiến biết mưu đó, từ chối không vào cung, mà lại lập thái tử Biện, con của em gái ông là Hà hậu lên ngôi vua, cử Viên Thiệu vào cung thanh toán Kiến Thạc. Kiển Thạc bị giết, Hà Tiến nghe theo lời Viên Thiệu, muốn thừa thế giết sạch bọn hoạn quan. Bọn hoạn quan Trương Nhượng nghe tin, hối lộ cho em Hà Tiến là Hà Miêu đi xin xỏ, Hà Hậu bèn ra mặt thể hiện không đồng ý với hành động của Hà Tiến. Hà Tiến dùng giằng chẳng quyết, Viên Thiệu đề nghị: “Hãy chiêu anh hùng chí sĩ bốn phương, kéo quân về kinh, giết hết bọn quan thiến này đi. Lúc này việc vội, không cho phép thái hậu không theo”. Hà Tiến nói: “Kế này hay lắm!” Chủ bạ Trần Lâm phản đối “hịch gọi đại thần bên ngoài vào kinh” cho rằng đó là “nối giáo cho giặc, quay mũi giáo đưa cán cho người, tất sẽ đến tai họa”. Hà Tiến khinh miệt nói: “Đấy là cách nhìn nhận cổ hủ”. Bèn phát hịch đi các trấn, đem quân về kinh. Thứ sử Tây Lương là Đổng Trác được chiếu chỉ, bèn kéo quân về Lạc Dương. Mưu sĩ Lý Nho nói: “Nay tuy phụng chiếu, song ở trong có điều ám muội. Sao không cho người dâng biểu, danh chính ngôn thuận, việc lớn dễ thành”. Trác mừng lắm, bèn dâng biểu, nội dung đại ý nói: “Trộm nghe thiên hạ sở dĩ loạn nghịch liên miên, đều bởi bọn hoạn quan Trương Nhượng khinh nhờn phép nước. Thần nghe nói muốn nước bớt sôi chi bằng rút củi, chích nhọt có đau, mới khỏi nuôi mầm độc. Thần dám dóng trống khua chiêng vào thẳng Lạc Dương, thanh trừ bọn Trương Nhượng. Xã tắc may thay thiên hạ may thay!” Hà Tiến được biểu, bèn cho người đón Đổng Trác ở Thằng Trì. Đổng Trác lại án binh bất động. Bọn Trương Nhượng thấy quán bên ngoài đã tới, bèn bàn kín với nhau: Xin Hà thái hậu vời Hà Tiến vào cung, cho quân mai phục giết đi, bọn Viên Thiệu được tin Hà Tiến bị giết, bèn đem quân vào cung giết sạch hoạn quan. Trong triều loạn to. Lúc ấy Đổng Trác mới chỉnh đốn quân ngũ, vào triều, thừa thế nắm hết quyền bính, trở thành kẻ thống trị thực tế của triều đình nhà Hán.
Không nhanh không kín, lý do dẫn đến loạn
Tại sao Đổng Trác lấy sự chậm trễ mà mưu mô lại thành công? Còn Hà Tiến thì vì chậm mà mang hoạ thiệt thân? “Kẻ gian ở bên mình tướng quân định trừ thì phải nhanh phải kín”. Hà Tiến không hiểu lẽ đó, cho nên đã không nhanh, không kín. Vốn dĩ, giết hết bọn hoạn quan chưa hẳn là phương sách thông minh, nhưng đã quyết giết, thì phải ra tay cho nhanh khiến chúng không kịp trở tay, thế nhưng vì bị Hà Hậu ngăn cản nhiều lần, nên Hà Tiến trở nên do dự không dứt khoát, lại gọi binh bên ngoài về triều, mưu mô lại càng lộ liễu. Bởi vì chậm, khiến bọn hoạn quan có thì giờ chống lại; bởi vì bại lộ, bọn hoạn quan và Hà Tiến ở thế một mất một còn, không giết Hà Tiến thì sẽ bị Hà Tiến giết lại, do chậm mà phải đến chỗ chết. Đổng Trác phụng chiếu về triều trừ hoạn quan, tuy không kín không vội, cũng là chậm, thế nhưng lại có mặt khác so với cái chậm của Hà Tiến. Hà Tiến ngấm phát mật chiếu gọi Đổng Trác, tại sao Đổng Trác lại dâng biểu công bố trước thiên hạ việc trừ khử bọn Trương Nhượng? Đã lớn tiếng rằng “giám khua chiêng dòng trống đem quân về kinh, diệt trừ bọn Trương Nhượng”. Vậy làm sao lại án binh bất động ở Thằng Trì? Trong đó có mưu mô cả đấy! Ông ta dâng biểu công khai việc diệt trừ bọn Trương Nhượng, nhưng lại có ý báo cho bọn Trương Nhượng, để chúng có sự chuẩn bị, phản công lại Hà Tiến, gây nên cuộc nội chiến giữa bọn hoạn quan và ngoại tộc nhà vua; Đổng Trác án binh bất động ở Thằng Trì, thực chất là “tọa sơn quan hổ đấu” sau mới thừa lúc rối loạn để vào triều, thao túng triều chính, muốn sao được vậy. Đó chính là lý do Đổng Trác lấy chậm trễ mà thực hiện mưu đồ của mình vậy!
2. CHẬM ĐỂ CHỜ BIẾN: QUÁCH GIA LIỆU ĐỊCH GIÀNH PHẦN THẮNG**
Quách Gia tên chữ là Phụng Hiếu, người ở Dương Dịch, Dĩnh Thủy, là bậc kỳ tài thời Tam quốc. Ông là mưu sĩ của Tào Tháo, theo đuổi chiến chinh mười một năm, không kế nào không thắng, lập được nhiều công to. Tháo đánh bại Viên Thiệu, phá Ký Châu, định Liêu Đông, phần lớn đều nhờ mưu mô của ông này. Trên đường đánh Ô Hoàn, Quách Gia ốm chết, thọ ba mươi tám tuổi. Tào Tháo rất thương xót, nói với bọn Tuân Du rằng: “Tuổi các ngươi cũng bằng trạc tuổi ta, duy có Phụng Hiếu là trẻ nhất. Mọi chuyện trong thiên hạ, ta muốn dặn dò về sau, ai ngờ nửa đời chết yểu, cũng là số mệnh cả!” Sau này thua to ở Xích Bích, trốn chạy trở về, nhớ đến Quách Gia còn khóc thất thanh nói: “Nếu Phụng Hiếu mà còn, quyết không để ta thua to thế này!” Thế đủ biết vì kính phục tài ba của Quách Gia mà Tào Tháo nhớ thương sâu sắc thế.Quách Gia bày mưu tính kế, biết quyết định theo tình hình cụ thể, không câu nệ ở ngẫu nhiên. Tào Tháo đánh Ô Hoàn ở phương Tây, thấy cát vàng mờ mịt, cuồng phong tứ bề, đường đi khấp khểnh, người ngựa đều khó bước, bèn nảy ra ý rút quân về, mới hỏi ý kiến Quách Gia. Quách Gia nói: “Bình quý ở thần tốc. Nay ngàn dặm đến đánh úp người ta, việc quân lương nặng nề mà không có lợi thế, chẳng bằng trang bị gọn nhẹ, cắt đường mà ra, yểm đúng vào chỗ chúng không đề phòng”. Tào Tháo bèn bí mật từ Lư Long Khẩu vượt Bạch Đàn hiểm yếu, đến đúng núi Bạch Lang thì đụng độ bọn Viên Hy, Viên Thượng, Thạp Đốn, với hàng vạn quân kị. Địch luống cuống ứng chiến, quân của Tào Tháo đánh tan quân địch, chém Thạp Đốn, các tướng còn lại đều ra hàng. Viên Hy, Viên Thượng thua chạy về Liêu Đông. Trận đánh này, Quách Gia nhấn mạnh “bình quý ở thần tốc”, nhưng phá Ký Châu định Liêu Đông, lại nêu ra kế sách “lấy cái chậm để chờ biến”.
Phá Ký Châu, định Liêu Đông
Viên Thiệu lâm nguy, lập con út Viên Thượng làm chúa ở Ký Châu, Viên Đàm không phục, vì trước mắt còn kẻ địch lớn hơn, nên tạm im đi mà chưa nổi dậy. Viên Đàm đánh nhau với quân Tào ở Lê Dương bị thua to, cầu cứu Viên Thượng. Thượng không ra quân, định mượn tay Tào Tháo trừ khử đi. Đàm giận lắm, bàn việc hàng Tào Tháo. Viên Thượng e rằng Tào Tháo, Viên Đàm hợp sức lại, thì Ký Châu sẽ nguy, bèn mang đại quân đến Lê Dương cứu Đàm. Đàm nghe tin Thượng tự đến, cả mừng, từ bỏ ý định hàng Tào Tháo. Tháo đóng quân trong thành, Thượng đóng ở ngoài thành, tạo nên thế ỷ dốc. Lúc ấy Viên Hy, Cao Cán cũng đem quân tới đóng quân ở ngoài thành cùng nhau đánh Tào. Tào Tháo chia đường ra mà đánh, Viên Đàm, Viên Thượng, Viên Hy, Cao Cán thua to, bỏ Lê Dương mà chạy. Tào Tháo dàn quân đuổi đến Ký Châu, Đàm với Thượng vào thành cố thủ, Hy và Cán hạ trại cách thành ba mươi dặm, giả phô trương thanh thế. Do anh em nhà họ Viên đồng lòng hợp sức nên quân Tào đánh nhiều ngày mà không phá được. Quách Gia hiến kế, nói: “Anh em họ Viên phế trưởng lập con út, mà giữa anh em với nhau, tranh nhau quyền lực, mỗi người đều có bè phái riêng, lúc vội thì đến cứu nhau, lúc chậm sẽ tranh giành nhau. Chỉ bằng đem quân xuống phía Nam đánh Kinh Châu của Lưu Biểu, để chờ anh em họ Viên có biến, lúc có biến rồi sẽ đánh chỉ một đòn là được”. Tào Tháo nghe theo ý đó bèn mang đại quân tiến về Kinh Châu. Quả không ngoài dự đoán của Quách Gia, quân Tào Tháo vừa rút, hai anh em Viên Đàm, Viên Thượng tranh ngôi nhau, đã đánh lẫn nhau. Viên Đàm không địch nổi, đầu hàng Tào Tháo, muốn nhờ lực của Tào Tháo để diệt Thượng sau đó nhập với quân của Thượng để chống Tào. Tào Tháo tuy biết sự gian trá ấy, nhưng lợi dụng mâu thuẫn anh em họ, bèn đem quân về đánh Ký Châu, Viên Thượng thua trốn đi, Viên Đàm được nắm số quân ấy, muốn lấy lại Ký Châu. Anh em họ Viên cùng lòng hợp lực thì còn khó địch, huống chi Viên Đàm giờ trở thành xoay xở mỗi mình, rốt cuộc bị quân Tào Tháo giết ở Bình Nguyên, thế là Tào Tháo bình được Ký Châu.
Vội thì sẽ hợp. Chậm thì sẽ ly
“Vội thì sẽ hợp, chậm thì sẽ ly” đó chính là diệu kế mà Quách Gia dùng để lấy Ký Châu; sau này mưu định Liêu Đông cũng thế. Viên Hy, Viên Thượng bại trận mang mấy ngàn quân kỵ chạy về Liêu Đông. Lúc ấy Tào Tháo ở Ký Châu, án binh bất động. Hạ Hầu Đôn, Trương Liêu vào bẩm báo nói: “Nếu không xuống Liêu Đông, có thể về Hứa Đô. – E Lưu Biểu sẽ sinh lòng”... Tào Tháo nói: “Chờ đem được đầu anh em họ Viên đến, sẽ rút quân về ngay”. Mọi người đều cười thầm, bỗng có tin báo ở Liêu Đông, Công Tôn Khang cử người mang thủ cấp của Viên Hy, Viên Thượng tới. Mọi người đều thất kinh. Sứ giả trình thư lên, Tào Tháo cả cười nói: “Quả không ngoài dự đoán của Phụng Hiếu”. Các quan hỏi tại sao, Tào Tháo liền lấy cho xem bức thư của Quách Gia để lại trước lúc chết, đại ý nói: “Nay nghe Viên Hy, Viên Thượng chạy sang Liêu Đông. Mình công chẳng cần đem quân ra đó. Công Tôn Khang xưa nay vẫn sợ anh em họ Viên thôn tính, nay thấy hai người ấy chạy sang tất sẽ sinh nghi. Nếu đem quân đến đánh họ sẽ hợp sức chống lại, nóng vội không thể hạ được. Nếu chậm lại, Công Tôn Khang và anh em họ Viên tất sẽ thịt lẫn nhau, thế tất sẽ như vậy”. Nguyên khi anh em họ Viên sang hàng, Công Tôn Khang nghi ngờ rồi lại như chím thư cưu đã không biết làm tổ, đến ở nhờ chim thước sau cướp luôn lấy tổ, cho nên đã có ý định nhử vào thành giết đi. Song lại e Tào Tháo dẫn quân xuống Liêu Dông, muốn giữ lại để giúp mình. Cho nên khi anh em họ Viên đến, chỉ vờ ốm không gặp. Sau này dò biết được “Tào Tháo đóng quân ở Dịch Châu, không có ý xuống Liêu Đông”. Công Tôn Khang rất mừng, bèn mời anh em họ Viên vào gặp, sai đao phủ phục sẵn chém láy đầu hai anh em họ Viên, đóng vào hòm gỗ, cho người mang thư đem dâng Tào Tháo. Diệu kế của Quách Gia, đoán sự việc như thần là như thế.
3. BINH QUÝ Ở THẦN TỐC: LÃ MÔNG VỘI LẤY UYỂN THÀNH
Trong phần “đánh vào lòng người”, ở bài “Ly gián quán tâm, Lã Mông nhẹ nhàng chiếm Kinh Châu” ta đã thấy Lã Mông là bậc tướng lĩnh rất mưu trí; chẳng những thế, ông còn là một mãnh tướng nổi tiếng trong ba quân.Phong cách tác chiến của Lã Mông: dũng mãnh, nhanh chóng
Phong cách tác chiến của con người này là nhanh chóng, cơ động, đã quyết chiến là xông lên một mạch, xông mạnh đánh mạnh. Như trận Tôn Quyền đánh Hoàng Tổ, Lã Mông làm tiến bộ tiên phong. Hoàng Tổ lệnh đô đốc Trần Tựu đem quân chống lại. Trần Tựu dẫn một đội chiến thuyền chặn ngang Miên Khẩu, trên chiến thuyền đặt sẵn hàng ngàn tay cung nỏ, lấy chão to nối các chiến thuyền lại trên mặt nước. Lã Mông đem quân đến, trên chiến thuyền nổi trống, tên nỏ nhất tề bắn ra, quân không dám tiến. Lã Mông bèn chọn hàng trăm thuyền nhỏ, mỗi thuyền chở dăm chục tinh binh, hai mươi người chèo thuyền, ba mươi người choàng y giáp, tay cầm mã tấu, không tránh gì tên đá, xông thẳng đến bên chiến thuyền, chặt đứt chão nối làm chiến thuyền ngang ngửa. Lã Mông nhảy xuống thuyền con, tự cầm mộc chắn xông thẳng vào đội thuyền của địch, phóng hỏa đốt thuyền. Đô đốc của địch là Trần Tựu vội nhảy lên bờ, Lã Mông xả thân lao tới trước mặt, nhằm trúng ngực một nhát dao chặt đổ. Quân địch lên bờ tiếp ứng, chủ tướng Đông Ngô nhất tề lên bờ, thế mạnh không cản nổi. Quân Hoàng Tổ thua to. Tướng sĩ thừa thắng tiến quân vào thành, Hoàng Tổ nghe tin Trần Tựu chết trận, bỏ thành mà chạy. Quân Ngô đuổi bắt giết đi. Khi Tôn Quyền biểu công đã nói: “Việc đã cấp, thấy Trấn là phải bắt”. Chỉ một trận giao chiến với địch, đã chém được đầu đô đốc của chúng, Lã Mông tác chiến dũng mãnh, nhanh chóng như thế! Khi lấy Hoàn Thành cũng thế, trận đánh này càng tỏ ra ông ta gan dạ và hiểu biết hơn người.
Binh quý ở thần tốc, địch trở tay không kịp
Do Tào Tháo đã lấy Tây Xuyên, nên Lưu Bị e rằng sẽ xâm phạm Đông Xuyên, nên cắt ba quận thuộc Kinh Châu cho Đông Ngô, nhờ Tôn Quyền lấy Hợp Phì, để hăm dọa Tào Tháo xuống phía Nam; Tôn Quyền vì Tào Tháo ở Hán Trung, cũng muốn thừa thế lấy Hợp Phì, bèn họp chư tướng để bàn bạc. Lã Mông hiến kế nói: “Nay Tào Tháo lệnh cho Thái Thú là Chu Quang, đóng quân ở Uyển Thành, khẩn hoang cấy lúa, nộp thóc về Hợp Phì, để tăng mạnh quân lương. Nay có thể tiến đánh Uyển Thành rồi sau lấy Hợp Phì”. Sách lược lấy Uyển Thành trước của Lã Mông nêu ra là chính xác, vì Tào Tháo cho quân bám ruộng ở Uyển Thành, mục đích là để tăng thêm lương thảo, cho thêm nhiều quân đi đánh Đông Ngô, nếu cắt đường lương thực, Hợp Phì thiếu lương ăn, có đánh mới dễ, mà chủ yếu hơn là phá vào mưu mô chuẩn bị lương thực để đánh Đông Ngô của Tào Tháo. Tôn Quyền bằng lòng với kế sách này, bèn để Lã Mông làm tiên phong, tự dẫn các tướng làm trung quân. Quân Đông Ngô áp sát chân thành. Chu Quang thái thú Uyển Thành một mặt sai người đi Hợp Phì cầu cứu, một mặt cố thủ trong thành không ra. Tôn Quyền đến chân thành thấy vậy, trên thành tên bắn như mưa, trúng cả vào cờ hiệu của Tôn Quyền. Về đến trại, Tôn Quyền hỏi các tướng: “Làm thế nào lấy được Uyển Thành?” Đồng Tập nói: “Có thể sai quân sĩ đắp gò lên mà đánh”. Từ Thịnh nói: “Có thể làm thang máy, cầu vồng từ trên nhìn xuống mà đánh” Lã Mông nói: “Những cách đó phải mất nhiều thì giờ, quân cứu viện của Hợp Phì mà đến thì không sao lấy được ! Nay quân ta mới đến, sĩ khí còn đang hăng, có thể nhân đà hăng hái, xông vào công kích. Sớm ngày hôm sau tiến quân, giờ ngọ giờ mùi là phá được thành”. Tôn Quyền nghe theo. Ngày hôm sau, canh năm đã cơm nước xong xuôi, ba quân cùng tiến, trên thành tên đá bắn xuống tơi bời. Lã Mông thân chinh dóng trống, chư tướng lao lên quên chết, binh lính nhất tề xông tới, vung đao chém chết Chu Quang, số còn lại phần lớn ra hàng, lấy được Uyển Thành mới có giờ thìn. Trương Liêu dẫn quân đi đến nửa đường, tiêu mã về báo Uyển Thành đã mất, Liêu vội cho quân quay về Hợp Phì. “Binh quý ở thần tốc” nếu không phá nhanh Uyển Thành, quân cứu viện của Trương Liêu đến kịp, thì sẽ như Lã Mông đã nói: “Không sao lấy được!”.
Cái đạo của việc dùng binh, là biến hoá vô cùng hoặc vội, hoặc chậm, tuỳ thế mà định. Lã Mông lấy vội để phá Uyển Thành, nếu chậm thì không thể lấy được. Quách Gia lấy chậm phá Ký Châu, định Liêu Đông, nếu mà vội thì lại rất khó bình định, bởi vì thế khác nhau, hiệu quả của kế sách cũng không giống nhau. Đi sâu vào nghiền ngẫm nguyên nhân của chậm và vội, mới tìm ra bí quyết của nó.
4. NGOÀI CHẬM TRONG VỘI: GIA CÁT ÚP TRẦN THƯƠNG
Khi Khổng Minh ra khỏi Kỳ Sơn lần thứ hai đánh thẳng lấy Trấn Thương, bởi vì có Xích Chiêu trấn giữ, đánh nhiều lần không hạ nổi, vì có cứu binh của quân Ngụy tới, đành lại phải rút quân về Hán Trung. Sau lại biết Tôn Quyền đồng ý đem quân đánh nước Ngụy, lại tái xuất Trấn Thương. Trước hết, ông cho người đi tiêu thám. Có tin báo về: “trong thành Trấn Thương, Hách Chiêu ốm nặng”. Khổng Minh nói: “Việc lớn xong rồi!”. Bèn lệnh Ngụy Diên, Khương Duy lĩnh năm ngàn quân, hẹn ba ngày dẫn binh đến đánh Trần Thương, lại gọi Quan Hưng, Trương Bào ghé tai thì thầm như thế như thế.Thừa tướng thật là thần kế
Khương Duy, Ngụy Diên dẫn quân đến chân thành Trấn Thương nhìn lên, chẳng thấy một lá cờ hiệu nào, lại không có cả lính báo canh. Hai người vừa kinh vừa nghi, không dám đánh vào thành. Bỗng thấy một tiếng pháo nổ trên mặt thành, bốn phía cờ xí dựng lên, chỉ thấy một người quấn khăn cầm quạt lông mặc áo đạo sĩ gọi lớn: “Hai người các ngươi đến chậm rồi!”. Hai người nhìn lên, thì ra Khổng Minh. Họ vội vàng xuống ngựa phủ phục dưới đất nói: “Thừa tướng thật là thần kế”. Khổng Minh lệnh cho mở cửa vào thành, nói với hai người: “Ta nghe tin Hách Chiêu ốm nặng, bèn lệnh cho các ngươi ba ngày đem quân lấy thành, đó chỉ là để yên lòng người mà thôi. Ta lại lệnh cho Quan Hưng, Trương Bào tự đi lấy quân ngầm đưa vào thành, ta cũng lần vào trong đó, chờ ban đêm lên đến chân thành, để cho chúng không điều được quân. Quân ta đã cho người lẻn vào thành đốt lửa, hò la tương trợ, làm cho quân Ngụy nhốn nháo lo sợ. Quân không có chủ tướng, tất sẽ tự loạn. Ta nhân đó mà lấy thành, dễ như trở bàn tay. Binh pháp nói rằng: “Xuất quân vào chỗ địch không để ý, đánh vào chỗ chúng không phòng bị chính là như thế đó”.
Thì ra Khổng Minh, Quan Hưng và Trương Bào đem quân đến chân thành, đúng vào lúc Hách Chiêu ốm nặng, còn đang rên rỉ, bỗng được bác quân Thục đến chân thành, Chiêu vội lệnh cho lên thành chống giữ. Những người tế tác được Khổng Minh ngầm bố trí trước đã đốt lửa ở các cửa thành, trong thành trở nên náo loạn. Hách Chiêu nghe tin sợ đến chết. Quân Thục ùa cả vào thành.
Lấy đánh giả che đậy đánh thật
Khổng Minh lần này đánh Trấn Thương, một là bí mật, hai là thần tốc. Lúc ấy Quách Duy đã biết Hách Chiêu ốm nặng, định cho Trương Cáp đến thay. Để che mắt bưng tai địch, Khổng Minh dùng chiến thuật ngoài chậm trong vội. Bảo Ngụy Diên, Khương Duy đi đánh thành, là lệnh công khai bên ngoài, cố ý để mọi người đều biết, nhưng không vội còn hẹn những ba ngày, thực ra là đánh giả, để mê hoặc quân địch; còn ông cùng Quan Hưng, Trương Bào ngầm trong đêm lẻn đến đánh thành, bí mật nhưng cấp tốc, đó mới là đánh thật. Vì có mật mà vội, mà cấp tốc, đánh úp bất ngờ mới, khiến cho Trương Cáp mang ba ngàn quân đến thay Hách Chiêu, còn chưa kịp tới, Khổng Minh đã phá xong thành.
VII. HƯ THỰC
Tôn Tử binh pháp – Hư thực biên có nói: “Kẻ thiện chiến, đến được người mà người không đến được mình” có ý nói, những tướng lĩnh giỏi giang, có thể điều động được địch, mà không bị địch điều động mình. Tư tưởng quân sự đó, xưa nay vẫn được các nhà quân sự đánh giá cao. Trong cuốn “Lý vệ công vấn đối” cũng chỉ ra rằng: “Binh pháp có hàng trăm bài ngàn câu, cốt yếu của nó không ngoài ý là đến được người mà người không đến được mình”. Có làm như thế được, mới nắm được quyền chủ động trong chiến đấu, làm cho kẻ địch phải hành động theo cây gậy chỉ huy của mình, mới có thể xé lẻ được địch ra, để lấy ít thắng nhiều, lấy yếu thắng mạnh. Mà muốn làm được như vậy, Tôn Tử cho rằng ra quân ở nơi chúng phải đến”, “đánh vào nơi chúng không giữ”, “đánh vào nơi nó tất đến cứu”, “tránh chỗ thực, đánh chỗ hư”, đánh chỗ hư tức là chỗ yếu, mà có đánh được vào chỗ yếu hay không, tức là có biết nguy trang, lừa địch hay không. Tôn Tử nói cách nguy trang (thị hình) tức là phải đạt đến mức “không có tiếng”, “không có hình”, mới có thể che đậy đến mức làm cho địch có tai như điếc, có mất như mù, không nghe thấy tiếng, cũng chẳng nhìn thấy hình. Còn phía mình ngược lại phải mắt tinh, tai thính, hiểu rành rẽ sự động tĩnh của địch, cho nên mới “chỉ huy” được địch.Tam quốc diễn nghĩa đã phát huy đầy đủ quan điểm nói trên của Tôn Tử, mà còn cụ thể hoá, hình tượng hoá lên đến mức sinh động. Phàm là người chiến thắng, thảy đều có liên quan tới việc “nguy trang” khéo. Khổng Minh vận dụng quan điểm này, tuỳ việc tuỳ người mà có sự khác nhau. Ông ta biết Tào Tháo hiểu được cách “thực với cái hư, hư với cái thực” ở trong bình pháp, bèn dùng cách “thực với cái thực”, tức là đốt lửa ở đấy, phục binh cũng ở đấy, khiến Tào Tháo trúng kế ở Hoa Dung. Nhưng trong một lần rút quân, lại dùng cách tăng bếp, khiến cho Tư Mã Ý ngộ nhận rằng tăng bếp tức là có thêm quân, nên không dám đuổi theo. Kỳ thực, tăng bếp là thật, thêm quân là giả, để khôn ngoan đến như Tư Mã Ý mà còn bị ông ta lừa được. Tào Tháo đánh úp Bạch Mã thì lại vờ làm cái việc “đánh vào chỗ địch tất phải cứu”, tức là sau khi tiến quân đến Diên Tân, giả vờ đánh úp Viên Thiệu, Thiệu buộc phải chia quân ra, Tháo liền lập tức tiến thẳng từ Diên Tân về Bạch Mã, đánh vào nơi không phòng bị, chém được Nhan Lương, giải vây cho Bạch Mã. Còn Tư Mã Ý phá quân Công Tôn Uyên, thì lại áp dụng chiến thuật “đánh vào chỗ địch sẽ đến”, bởi tướng giữ thành Liêu Đông cố thủ không ra đánh, Tư Mã Ý giả vờ đánh vào sào huyệt cũ của địch, buộc tướng giữ Liêu Đông đem quân về cứu, kết quả là trúng vào trận phục kích, thua thảm hại.
1. TÍNH ĐƯỜNG HOA DUNG: GIA CÁT CHƠI TRÒ HƯ THỰC
“Hư tức là thực, thực tức là hư” đó là cách dùng quen thuộc của các nhà quân sự, nhưng Khổng Minh đó là nó với một sự phát triển mới, khiến cho nhà mưu lược quân sự lỗi lạc Tào Tháo lường không hết mà bị trúng kế.“Thực tức là thực”
Khổng Minh tính kế ở Hoa Dung, đã không dùng cách “hư tức là thực”, cũng chẳng theo cách “thực tức là hư”, mà là dùng ngay cách “thực tức là thực” để lừa Tào Tháo.
Liên quân Lưu Bị, Tôn Quyền đánh bại Tào Tháo ở Xích Bích, Khổng Minh lập tức điều binh khiển tướng đánh chặn ngang đường, duy nhất không nói gì đến Quan Công, Quan Công xin được ra đánh, Gia Cát Lượng nói: “Nay quân Tào Tháo bị thua, thế tất sẽ đi đường Hoa Dung, nếu để cho túc hạ đi, tất sẽ thả cho hắn đi, bởi thế “không dám mời đi đánh”. Quan Công bèn làm giấy cam đoan nói: “Nếu Tào Tháo không lên bằng đường ấy, thì tính sao?” Khổng Minh nói: “Tôi cũng làm giấy cam đoan với tướng công”. Quan Công mừng lắm, Khổng Minh nói: “Tướng quân nên tìm trên đường hẻm Hoa Dung có trái núi nào cao, chất rơm cỏ củi khô đốt một đống lửa, nhử cho quân Tào Tháo đến”. Quan Công nói; “Tào Tháo nhìn thấy khói lửa, biết là có quân mai phục, làm sao mà nó chịu đến?” Khổng Minh cười nói: “Sao lại chẳng nghe nói về “hư hư thực thực” trong binh pháp? Tào Tháo biết dùng binh, chỉ có thế mới lừa được hán. Khi hắn thấy lửa khói, sẽ nói đó là vờ trương thanh thế”, tất nhiên sẽ đến theo đường này, Tướng quân không được nể nang. Quan Công dẫn tướng lĩnh, mang theo Quan Bình, Chu Thương và năm trăm tay đao, đến mai phục tại đường Hoa Dung.
Bắt cua trong giỏ ở Hoa Dung
Trên đường chạy trốn, Tào Tháo lần lượt bị các tướng do Khổng Minh sai khiến là Triệu Tử Long, Trương Dực Đức chặn đánh, thương vong nặng nề, cúp đuôi mà chạy, vừa thoát khỏi quán truy kích, bỗng thấy trước mặt có một con đường không biết đi đường nào, Tháo bèn hỏi quân sĩ của mình: “Đi đường nào gần?” Quân sĩ nói: “Đường lớn khá phẳng, nhưng xa hơn năm mươi dặm, đường nhỏ đi đến Hoa Dung thì gần hơn được trên năm mươi dặm, chỉ có điều đất hẹp đường hiểm trở, gập ghềnh khó đi”. Tháo cho người lên núi ngắm, về báo “bên núi ở đường nhỏ có nhiều chỗ có khói bay, đường lớn lại chẳng thấy động tĩnh gì”. Tào Tháo bèn bảo tiến quân đi theo đường nhỏ. Các tướng nói: “chỗ có khói bay, tất có bình mã, tại sao lại đi theo đường này?” Tháo nói: “Thế há chẳng nghe bình thư nói “hư tức là thực” hay sao. Gia Cát Lượng lắm mưu, nên đã cho người đốt lửa trên núi, khiến quân ta không dám đi trên con đường núi ấy, hắn sẽ cho quân mai phục trên con đường lớn chờ ta. Ta đã lường kỹ rồi, không đời nào trúng kế họ”. Các tướng đều ca ngợi: “Thừa tướng tính thật khéo, không ai bì kịp!”, bèn cho quân đi đường Hoa Dung. Dọc đường, người đói, ngựa chọn, đường nhỏ gập ghềnh, lại đúng gặp mưa, lấy lội không tả hết, bước đi thật khó khăn, bị rơi xuống vực sâu không biết bao nhiêu mà kể. Đi được vài dặm, ba phần người ngựa đã mất hai, chỉ có hơn ba trăm người theo kịp. Qua đoạn hiểm trở, đường đã hơi bằng phẳng, Tào Tháo những tưởng đã thoát được sự truy kích của đối phương, đang tự khoe mình là sáng suốt, bỗng đâu một tiếng pháo nổ vang. Bên phía Tây năm trăm tay đao dàn ra, đi đầu là đại tướng Quan Vân Trường, tay cầm thanh long đao, mình ngồi ngựa xích thố, chặn ngay ngang đường. Tào Tháo thấy vậy, mất hồn mất vía, hai bên giáp mặt chiền chiền. Nếu như Vân Trường không nhớ đến tình xưa mà để cho quay về, phen này Tào Tháo cầm chắc là bị bắt.
Gia Cát Lượng mưu trí tính toán trận Hoa Dung, có thể nói là thần diệu tuyệt vời, sự vận dụng chiến thuật hư thực vừa tuyệt vừa lạ. Giống như Mao Tôn Cương khi bình luận hồi thứ năm mươi đã viết: “Như Khổng Minh liệu định Tào Tháo ở Hoa Dung. Đốt lửa ở chỗ này, phục binh ở chỗ khác, là việc làm của người tinh khôn, mà địch cũng biết thế. Còn đốt lửa ở chỗ này, rồi phục binh cũng ở đấy, đó là việc làm của kẻ thiếu tinh khôn nhưng lại không nằm trong dự tính của địch. Tào Tháo quá hiểu về phép hư thực của quân sự, nhưng lại không hiểu Khổng Minh cũng hiểu phép hư thực của quân sự, nên đã hành động theo đúng như sự tính toán của Khổng Minh”.
2. PHÂN RÕ THẾ ĐỊCH: TÀO THÁO ĐÁNH ÚP BẠCH MÃ
Hồi thứ hai mươi lăm, Tam quốc diễn nghĩa tả cảnh “Cứu Bạch Mã Tào Tháo giải vây”, vì tác giả muốn nêu bật cái thần dũng của Quan Công chém Nhan Lương, nên không tả việc Tào Tháo đã lập mưu phân chia thế địch, đánh úp Bạch Mã như thế nào. Kỳ thực trong lịch sử, trận đánh này của Tào Tháo là trận đánh đẹp.Giương đông kích tây
Cuối đời nhà Hán, vào năm Kiến An thứ năm, Tào Tháo chống nhau với Viên Thiệu ở Quan Độ. Viên Thiệu đã sai Quách Đồ, Đôn Vu Quỳnh, Nhan Lương tiến công Bạch Mã, còn Viên Thiệu thì dẫn quân đến Lê Dương, để sẽ vượt sông. Thái Thú Đông quận Lưu Diên cáo cấp, lúc đó vào tháng tư, đầu mùa hạ, Tào Tháo lên Bắc cứu Lưu Diên, Tuân Do hiến kế với Tào Tháo: “Nay quân ít không địch nổi, phải chia thế chúng ra mới được. Ông đến Diên Tân nếu như đánh vào phía sau quân vượt sông Thiệu tất sẽ tiếp ứng sang phía Tây, sau sẽ dùng khinh kỵ đánh úp Bạch Mã, đánh vào chỗ chúng không phòng bị, là có thể bắt được Nhan Lương”. Tào Tháo nghe làm theo kế đó. Viên Thiệu nghe tin Tào Tháo đem quân để vượt sông đánh vào sau lưng mình, quả nhiên vội vàng rút quân về cứu. Tào Tháo bèn điều quân đến Bạch Mã, Nhan Lương không kịp trở tay, bị Quan Vũ chém chết. Tào Tháo giải vây được cho Bạch Mã.
Chia thế người, còn mình không chia
“Chia thế người, còn mình không chia” là câu trong binh pháp Tôn Tử: “Chia thế người, còn ta không chia” tức là ta nguyên vẹn còn địch thì bị phân chia: “Ta nguyên vẫn là một, địch bị xé ra làm mười, như thế là lấy mười đánh một, tức là ta đông mà địch ít, có thể lấy số đông để thắng số ít”. Tào Tháo trước khi đánh Bạch Mã quân lính ít hơn bên địch. Giả tập kích vào sau lưng địch, làm cho quán địch bị xé lẻ, chia quân ra để giữ. Cho nên đến khi đánh Bạch Mã đã biến thành ta đông địch ít, lấy nhiều đánh ít nên thắng.
Tào Tháo ngày thường rất hay đọc “binh pháp Tôn Tử”, và cũng là người đầu tiên chỉnh lý và chú giải “bình pháp Tôn Tử. Trong lời “tựa Tôn Tử ông đã ca ngợi “Binh pháp Tôn Tử”, nói: “Tôi xem nhiều binh thư, chiến sách, Tôn Vũ viết rất sâu!” Tào Tháo là nhà quân sự lỗi lạc thời Tam quốc, mà sở dĩ ông trở thành nhà quân sự lỗi lạc, là có liên quan đến việc ông đọc thuộc nhiều binh thư, chiến sách, nhất là việc đi sâu nghiên cứu “binh pháp Tôn Tử”. Chúng ta cũng có thể từ trong mưu lược tác chiến của ông phần lớn đều có căn cứ từ binh pháp Tôn Tử.
3. DÙNG NGHI BINH: KHỔNG MINH THẮNG TÀO THÁO
Tào Tháo rất đa nghi, Khổng Minh bèn dùng nghi binh để đánh thắng. Núi Định Quân bị cướp, Hạ Hầu Uyên bị chém, Tào Tháo đem đại quân đến để báo thù. Hai quân cầm cự cách nhau một dòng Hán Thuỷ.Tào Tháo biết binh pháp mà không biết quỷ kế
Huyền Đức và Khổng Minh đến xem tình thế. Khổng Minh thấy ở đầu Thượng lưu của Hán Thủy có một trái núi đất, có thể mai phục được cả ngàn quân, bèn về doanh căn dặn Triệu Vân: “Ông hãy mang năm trăm người, mang theo trống và tù và, mai phục ở núi đất; hoặc là nửa đêm, hoặc là lúc hoàng hôn, hễ thấy trong trại ta pháo nổ: Pháo nổ một lượt, dóng trống một lượt, chỉ đừng ra quân”. Tử Long nhận kế ra đi. Khổng Minh ở trên núi cao ngắm quan sát. Ngày hôm sau, quân của Tào Tháo đến để khiêu chiến, trại quân Thục chẳng có người nào ra, cung nỏ cũng chẳng bắn ra. Quân Tào tự quay về. Đêm khuya hôm ấy, Khổng Minh thấy bên trại lính của Tào Tháo đã tắt đèn, quân sĩ đã đi nghỉ, bèn phóng pháo hiệu. Tử Long nghe được, lệnh cho đồng loạt dóng trống, nổi tù và. Quân Tào kinh hoảng, chỉ nghỉ là bị cướp trại; vội vàng ra khỏi trại, chẳng thấy một ai. Lúc sau lại về trại ngủ tiếp. Pháo hiệu lại nổ, tiếng trống tiếng tù và, tiếng hò reo vang trời, vách núi đội trở lại, làm quân Tào Tháo cả đêm không ngủ. Liên ba đêm như thế, quân của Tào Tháo kinh hãi. Tào Tháo cũng thấy sợ, nhổ trại lui về sau hơn ba mươi dặm, cắm trại lại ở nơi đồng không. Khổng Minh cười nói: “Tào Tháo tuy biết binh pháp, nhưng không biết quỷ kế, liền nói với Huyền Đức tự vượt Hán Thủy, hạ trại quay lưng xuống nước, Huyền Đức hỏi kế gì, Khổng Minh nói: “Hãy cứ thế, cứ thế!” Tào Tháo thấy Huyền Đức cắm trại quay lưng xuống nước trong lòng sinh nghi, sai người đến hạ chiến thư. Khổng Minh phê hẹn hôm sau quyết chiến.
Tào Tháo đa nghi. Lấy nghi binh để thắng
Ngày hôm sau, hai quân gặp nhau ở ngã năm trước núi Ngũ Giới, dàn thành trận thế. Đại quân của Tào Tháo hò hét xông tới. Quân Thục chạy về phía Hán Thủy, vứt bỏ hết cả doanh trại; ngựa xe, quân khí vứt đầy đường. Tào Tháo thấy quân Thục hạ trại lính quay lưng ra phía sông Hán Thủy trong lòng sinh nghi, nay lại thấy vứt bỏ lừa ngựa, khí giới lòng càng thêm nghi. Bèn hạ lệnh: “Người nào lấy một thứ gì cũng đều bị chém, rút quân hoả tốc”. Quân Tào vừa quay đầu, cờ hiệu của Khổng Minh phất lên: Trung quân Huyền Đức lãnh bình ào ra, Hoàng Trung bên tả áp tới, Triệu Vân ở bên hữu đánh sang. Quân Tào Tháo vỡ tan hoang, bỏ chạy. Khổng Minh cho quân đuổi suốt đêm. Tháo truyền lệnh cho quân về Nam Trịnh. Nhưng chưa rút đến nơi đã thấy bốn năm chỗ có lửa cháy. Nguyên là Trương Phi, Ngụy Diên có Nghiêm Nhan đến thay giữ Lăng Trung, nên đã chia quân hai ngả đánh đến; trước hết lấy được Nam Trịnh. Tháo rụng rời chân tay, cấm cổ chạy về ải Dương Bình. Đại quân của Huyền Đức đuổi đến tận nơi, an ủi động viên dân chúng xong Huyền Đức hỏi Khổng Minh: “Tào Tháo chuyến này đến đây, sao mà thua nhanh thế?” Khổng Minh đáp: “Tháo ngày thường có tính đa nghi. Tuy biết dùng binh, nhưng đa nghi thì hay thua, ta dùng nghi binh cho nên được”.
Phàm là dùng nghi binh, phải lường trước những cái đối phương có thể nghi để mà nghi, sau lại phải lường những cái phía ta có thể nghỉ ngờ địch để sau dùng. Quân Tào bị đốt ở Bác Vọng, bị thua ở Tân Dã, bị đánh ở Ô Lâm, trúng kế ở Hoa Dung đều là do quỷ kế của Khổng Minh, cho nên khi đối trận với Khổng Minh, hễ một chút gió lay ngọn cỏ, đều nghi thế nọ, ngờ thế kia. Khổng Minh biết Tào Tháo đa nghi lại hiểu sâu binh pháp nên dùng binh pháp để làm nghi, trước hết dùng hư binh để cho phía địch liên trong ba đêm tình thần không yên, nhằm đoạt cái thế; tiếp đến cắm trại quân quay lưng xuống sông, bỏ ngựa xe khí giới để nghi binh, làm cho địch phải rút, rồi thừa thế mà đánh theo, khiến cho chúng tan vỡ, cuối cùng giành toàn thắng. Khổng Minh quả thật là con người nhiều quỷ kế.
4. DỤ CHO ĐỊCH ĐỘNG: TRỌNG ĐẠT PHÁ CÔNG TÔN
Trong “Hư thực biên”, Tôn Vũ có nói: “Nếu ta muốn đánh, địch tuy luỹ cao hào sâu, không thể không đánh với ta, thì hãy đánh vào chỗ nó tất phải ra cứu Tư Mã Ý phá Công Tôn Uyên chính là dùng chiến thuật “đánh vào chỗ nó tất phải cứu”.Tính nhầm đối thủ
Thái thú Liêu Đông Công Tôn Uyên mang năm vạn quân đánh vào Trung Nguyên. Tào Duệ cử Tư Mã Ý mang bốn vạn quân mã bộ tới để dẹp. Ý lệnh cho Hồ Tôn làm tiên phong, dẫn quân tiền bộ đến Liêu Đông hạ trại trước. Tiêu mã phi báo về cho Công Tôn Uyên. Uyên lệnh cho Ty Diễn, Dương Tộ chia quân tám vạn đóng ở Liêu Đông. Ty Diễn và Dương Tộ bàn rằng: “Nếu quân Ngụy tới đánh, thì đừng nên giao chiến vội. Chúng từ xa ngàn dặm tới đây, lương thảo không đủ đưa lên kịp, khó mà giữ lâu được, hết lương ăn thì sẽ phải rút; chờ cho đến lúc chúng rút, sau đó mới xuất kỳ binh để đánh, là có thể bắt được Tư Mã Ý. Xưa Tư Mã Ý chống nhau với quân Thục, cố thủ Vị Nam, Khổng Mình cũng giữ quân trong trại, nay tình hình cũng như thế”. Thế là vây ngoài hai mươi dậm, thật là chặt chẽ.
Đánh vào nơi nó phải ra cứu
Hồ Tôn lệnh cho người báo với Tư Mã Ý, Ý cười nói: “Giặc không đánh với ta, là muốn làm mỏi mệt quân ta, ta đoán số quân của giặc phần lớn ở đây, sào huyệt chúng tất sẽ rỗng, chỉ bằng ta hãy bỏ đây, đến thẳng Tương Bình; giặc tất sẽ phải về cứu, ta sẽ chặn ngang đường, tất sẽ toàn thắng”. Bèn cất quân đi đường tất đến thẳng Tương Bình. Ty Diễn được báo: “Quân Ngụy đến phía nam rồi” vội kinh hoàng nói: “Chúng biết ta Tương Bình ít quân, nên đánh úp vào đại bản doanh. Nếu như mất Tương Bình, chúng ta giữ đây cũng vô ích”, bèn nhổ trại rút về phía sau, lập tức có thám mã báo về với Tư Mã Ý. Ý cười nói “chúng trúng kế ta rồi”. Bèn lệnh cho Hạ Hầu Bá, Hạ Hầu Uy mỗi người mang một cánh quân mai phục ở bờ sông Liêu Thủy. Nếu quân của Trương Liêu đến, hai cánh đều xuất quân. Kết quả là Ty Diễn, Dương Tộ rơi vào ổ phục kích và bị thua to chạy đến Thủ Sơn vừa vặn gặp quân của Công Tôn Uyên tới bèn hợp đánh tiếp với quân Ngụy, lại thua to, bèn chạy vào trong thành Tương Bình, đóng cửa cố thủ không ra. Tư Mã Ý vây chặt ba mặt, còn một mặt bủa lưới chờ. Công Tôn Uyên hết lương ăn, muốn hàng cũng không được, phá vây chạy ra, cuối cùng bị chém chết.
5. TĂNG THÊM BẾP: KHỔNG MINH CHẶN QUÂN NGỤY
Khổng Minh bốn lần xuất Kỳ Sơn, đấu trận đại thắng Tư Mã Ý, còn đang muốn thừa thắng tiến quân, nào ngờ hậu chúa trúng kế phản gián của Tư Mã Ý, nghi Khổng Minh muốn thoán vị, bèn hạ chiếu lệnh Khổng Minh rút quân về triều. Khổng Minh không rút thì mang tiếng là lừa chúa, đành phải theo chiếu chỉ, lui quân.Rút quân lại tăng bếp nhằm nghi binh với địch
Khương Duy hỏi: “Nếu đại quân rút đi, Tư Mã Ý thừa thắng đánh vào, thì chống làm sao?”. Khổng Minh nói: “Ta nay có rút quân cũng chia quân ra năm đường để rút. Hôm nay rút trại này trước, giả thử trong trại có một ngàn quân, thì đào lên hai ngàn bếp, ngày mai làm ba ngàn bếp, ngày mốt làm bốn ngàn; mỗi ngày rút quân, tăng bếp lên mà đi”. Dương Nghi nói: “Tôn Tẫn bắt Bàng Quyên, dùng biện pháp tăng quân giảm bếp, nay thừa tướng rút quân, vì cớ gì lại thêm bếp?”. Khổng Minh nói: “Tư Mã Ý giỏi dùng binh, biết ta rút quân, tất nhiên sẽ đuổi theo. Nếu trong lòng nghĩ ta có nghi binh, tất sẽ đếm số bếp, thấy số bếp tăng từng ngày, sẽ không biết quân có rút hay không rút, sẽ nghi ngờ mà không dám đuổi. Ta từ từ mà rút, để khỏi phải hao binh tổn tướng”. Bèn lệnh cho rút quân.
Tư Mã Ý chỉ biết đi đếm bếp nên đã trúng kế
Tư Mã Ý được báo binh mã của quân Thục đều đã rút đi. Nhưng còn e Khổng Minh nhiều mưu kế, không dám đuổi theo, tự dẫn hơn trăm quân kỵ đến doanh trại quân Thục xem tình hình cụ thể, bảo quân sĩ đếm số bếp, rồi về trại. Ngày hôm sau lại sai quân lính đi tới trại kia, tra ba số bếp, về báo lên rằng: “Bếp ở trong trại, so với trước tăng thêm một ít”. Tư Mã Ý nói với các tướng: “Ta đoán Khổng Minh nhiều mưu kế lắm, nay quả có thêm quân tăng bếp, ta mà đuổi theo, tức là trúng kế; chỉ bằng cứ rút về, sau tính cách khác”. Thế là rút quân về không đuổi theo nữa. Khổng Minh chẳng mất một người nào, kéo quân về Thành Đô. Ngày hôm sau, thổ dân ở Xuyên Khẩu vào bảo với Tư Mã Ý rằng khi Khổng Minh rút quân, không thấy thêm quân, chỉ thấy tăng bếp. Ý ngửa mặt than rằng: “Khổng Minh làm theo cách Ngu Dực, lừa được ta rồi!”
Ngu Dực là Võ đô thái thú thời Đông Hán. Quân Khương từng chặn Ngu Dực ở Trấn Thương, Hào Cốc. Ngu Dực đã dùng biện pháp tăng bếp lên hàng ngày, mê hoặc đối phương, khiến chúng không dám đuổi theo, cuối cùng đánh bại quân Khương. Trong lịch sử, chưa từng thấy ghi chép việc Khổng Minh tăng bếp làm lui quân Ngụy. Tác giả Tam quốc diễn nghĩa muốn mượn việc Ngu Dực tăng bếp, và dùng biện pháp vay mượn để tô vẽ thêm, để nói lên cái khéo léo của Khổng Minh khi rút quân để thể hiện cái trí của nhân vật này.