Kích trí, là sản phẩm của trí tuệ, nó có rất nhiều công dụng, vừa có thể kích động để người thân của mình phấn đấu vươn lên, lại có thể dùng trong ngoại giao để đạt mục đích của mình, cũng có thể dùng trong khi điều binh khiển tướng, để họ dũng cảm hăng hái xông lên. Dùng được tốt thì coi như việc đã xong một nửa, dùng không tốt thì kết quả ngược lại. Kích trí, Khổng Minh áp dụng khéo nhất, có thể nói là đến mức thần diệu, là một phần quan trọng trong mưu trí của ông ta. Trong “Tam quốc diễn nghĩa”, chỉ có mình Khổng Minh là người biết kích trí mà thôi. Cách thức cửa ông ta là tuỳ việc tuỳ người khác nhau mà có cách kích khác nhau: Có người thì kích vào chỗ đau đớn nhất của họ, như Khổng Minh biết Đại Kiều là vợ của Tôn Sách, Nhị Kiều là vợ của Chu Du, bèn sửa bài phú về đài Đông tước của Tào Thực, để chứng minh rằng Tào Tháo muốn chiếm cả hai nàng Kiều để vui tuổi già, kích cho Chu Du phải nổi nóng đùng đùng, thể “một mất một còn với Tào Tháo”, cầu khẩn Khổng Minh giúp mình cùng chống Tào Tháo. Có người thì dùng quan hệ thiệt hơn để kích, như việc dùng diệu kế trao cẩm nang, để Lưu Bị vạch trần mưu kế của Tôn Quyền định dùng em gái làm mỗi mong hại mình, kích cho Tôn phu nhân đã trở nên căm ghét anh ruột của mình, rồi ra mặt mắng cho bọn quân truy kích phải lui về, dốc lòng theo hẳn Lưu Bị. Có người thì nhằm hẳn vào nhược điểm của họ để mà kích, như lần đầu Khổng Minh điều quân khiển tướng đánh xuống phía Nam, nhưng duy nhất không đả động gì đến Triệu Vân, Ngụy Diên, nói rằng tuy muốn sai họ vào sâu trong lòng địch, nhưng do hai người không am hiểu địa dư nên không dùng; Triệu Vân, Ngụy Diên không phục, bèn thân chinh đi thăm dò địa chỉ, cuối cùng vào sâu trong lòng địch để lập công. Có người thì chuyên kích vào những chỗ họ không phục. Như hai lần Khổng Minh dùng ông lão Hoàng Trung, là hai lần kích động, làm cho lão Hoàng Trung không cam chịu mình là già cả, bèn nêu mưu sâu để ra oai, chiếm được núi Thiên Đăng, chém được Hạ Hầu Uyên. Mỗi lần Khổng Minh kích trí là mỗi lần ra ngón đòn mới.
Khổng Minh kích Chu Du bằng cách sửa bài phú đài đồng tước, là cách kích tuyệt diệu nhất. Lỗ Túc dẫn Khổng Minh vào gặp Chu Du, nói về việc đánh hay hoà. Chu Du giả vờ nói những lẽ mà chủ trương xin hàng; Lỗ Túc thì nêu những lý do cần phải đánh, hai người tranh cãi nhau đỏ mặt tía tai; Khổng Minh chỉ ngồi khoanh tay mà cười nhạt. Chu Du hỏi ý kiến Khổng Minh, Khổng Minh thủng thẳng trả lời: “Tướng quân ra hàng Tào, có thể giữ được vợ yêu, lại trọn vẹn được phú quý”. Lời lẽ thì như tán thành ý kiến của Chu Du, thực tế lại là nhạo báng ông này. Lỗ Túc không hiểu được thâm ý đó lại nổi nóng lên: “Ông lại bảo chúa công tôi quỳ gối đầu hàng giặc hay sao?”. Khổng Minh bèn hiến ra một kế: “Chẳng cần phải giắt dê gánh rượu, cũng chẳng phải nộp đất dâng thành; cũng chẳng phải thân chinh qua sông, chỉ cần cử hai người làm sứ thần, dùng thuyền đưa hai người ấy sang bờ bắc. Tào Tháo được hai người ấy, thì dẫu có hàng triệu quân, cũng sẽ còi giáp cuốn cờ mà rút”.
Chu Du hỏi đến hai người nào, Khổng Minh nói: “Lượng tôi khi còn ở Long Trung, đã nghe Tào Tháo xây một cái đài ở bờ sông Chương, tên là đài Đông Tước, cực kỳ tráng lệ: chọn người đẹp ở trong thiên hạ về cho ở đó. Tào Tháo là đồ háo sắc, từ lâu đã biết Kiều công ở Giang Dông có hai cô con gái, cô lớn là Đại Kiều, cô em là Tiểu Kiều, có sắc đẹp chim sa cá lặn, nguyệt thẹn hoa nhường. Tào Tháo đã thề rằng: “Ta có ý muốn quét bằng thiên hạ, để thành nghiệp đế vương, muốn được hai cô Kiều ở Giang Nam, cho về ở đài Đông Tước để vui lúc tuổi già, thì dù có chết cũng không oán hận”. Nay dù có mang hàng triệu quân, nhòm ngỏ Giang Nam, kỳ thực chỉ là vì hai người con gái”. Chu Du nói: “Tào Tháo muốn được hai cô Kiều, có gì làm chứng cớ?”. Khổng Minh nói: “Con út của Tào Tháo là Tào Thực, tự Tử Kiến, hạ bút là thành văn. Tào Tháo đã lệnh cho làm một bài phú, tên là “Phú vịnh đài Đông Tước”. Ý trong bài phú có nói là họ Tào sau khi giành ngôi thiên tử, sẽ lấy bằng được hai nàng Kiều”. Ngay sau đó liền đọc bài phú ấy lên, đến câu: “bắc hai cây cầu ở bên Đông bên Tây, như cầu vồng trên không” Khổng Minh vừa chơi chữ vừa đọc trệch đi là: “bắt hai cô Kiều nhất ở mé Đông Nam, để vui tuổi già”. Khổng Minh xê dịch mấy chữ làm khác ý câu văn (Nhị Kiều – là hai cây cầu – với nhị Kiều – hai cô Kiều, khác nghĩa song cùng âm, đọc lên thì như nhau – N,D.) Và mang ý đó khoác lên cho hai cô Kiền. Chu Du nghe xong, bực sôi sùng sực, đứng phất dậy, chỉ về phía bắc chửi rằng: “Thằng giặc già kia mày bắt nạt ông quá lắm!” Khổng Minh vội đứng dậy ngăn lại nói: “Ngày xưa giặc Hung Nô xâm lăng bờ cõi, vua nhà Hán còn phải đem con gái gả cho nó để cấu hoà, nay có hai người con gái quê mùa ấy, tướng quân tiếc làm cái gì?” Chu Du nói: “Vậy ra ông còn chưa biết, Đại Kiều là vợ tướng quân Lưu Bá Phù, Tiểu Kiều là vợ của Du đó”. Khổng Minh và làm ra vẻ sợ sệt nói: “Lượng quả là không biết, lỡ mồm lỡ miệng, tôi thật đáng chết!” Du nói: “Ta với thằng giặc già này, thế một mất một còn” và thừa nhận vừa rồi nói ra ý chủ hàng, là muốn thử ý Gia Cát Lượng, và nêu yêu cầu “Khổng Minh trợ giúp một tay để cùng đánh Tào Tháo”. Lẽ ra Khổng Minh đang phải nhờ Chu Du giúp, đến giờ ngược lại, Chu Du lại xin Khổng Minh giúp, mới hay Khổng Mình khéo kích đến mức nào.
Chọc vào chỗ đau nhất
Đặc điểm của Khổng Minh kích Chu Du là bắt đầu từ chỗ đau đớn nhất. Đại Kiều là chị dâu của Tôn Quyền; Nhị Kiều là vợ của Chu Du, chuyện này ai cũng biết. Mà khôn ngoan như Khổng Minh, đi sứ Đông Ngô làm gì lại chẳng hiểu tình hình của nước này; vả lại bao lâu nay ông ẩn dật ở Long Trung, gần kề Đông Ngô, làm gì có chuyện không biết gì. Ông khéo léo sửa ý của bài Phú, đọc hai cây cầu thành hai cô Kiều, rõ ràng là có ý kích động. Và sự kích động ấy càng khiến cho Chu Du với Tào Tháo càng tỏ ra thù oán thề một mất một còn và đã nói ra ý đồ chân thực của mình là quyết tâm chống lại Tào Tháo, thế là mục đích kích trí của Khổng Minh đã đạt được rồi. Còn như việc bảo Tào Tháo muốn lấy hai cô Kiều, tuy nói rằng Khổng Minh chơi chữ, sửa “hai cây cầu” thành “hai cô Kiều”, thế nhưng nói giả thì bảo là giả, bảo thật cũng là thật. Bởi Tào Tháo vốn là đồ háo sắc, để thỏa mãn dục vọng của riêng mình thì bất chấp hậu quả, như đã từng lấy vợ của chú hàng tướng Trương Tú để hành lạc, đưa đến cái nạn ở Dục Thủy. Nếu như Tào Tháo mà chiếm được Giang Đông thì số phận hai nàng Kiều sao mà thoát khỏi được. Cho nên thơ của Đỗ Mục mới có câu rằng: “Chu lang chẳng gặp gió đông, một nền Đồng Tước khóa thân hai Kiều”. Đó không còn là lời suy diễn, mà suy từ lẽ đời, tất nhiên sẽ phải như thế.
2. BỊ KÍCH TRÍ: THƯỢNG HƯƠNG MẮNG QUÂN TRUY KÍCH
Chồng lại kích vợ, có lẽ là chuyện mới lạ, ấy thế nhưng Huyền Đức đã kích như thế mà mắng cho bọn lính truy kích phải lui, mà khiến cho phu nhân khỏi phải chịu sự sắp đặt của Tôn Quyền, từ đó dốc hẳn một lòng đi theo Huyền Đức.Vừa khóc vừa kích, khách má đào mắng bọn lính truy kích
Huyền Đức và phu nhân Tôn Thượng Hương lấy danh nghĩa tế tổ ở bờ sông, lừa được Ngô Quốc Thái đồng ý, vội vã rời xa Nam Từ. Vừa mới trốn được đến cửa khẩu Sài Tang; nào ngờ Chu Du cũng sợ rằng Huyền Đức bỏ trốn, sớm đã cho Từ Thịnh, Đinh Phụng ở sẵn đây chặn đường. Triệu Vân vội bóc xem cẩm nang thứ ba, dâng lên Huyền Đức, Huyền Đức xem xong, vội lại trước xe khóc nói với Tôn phu nhân: “Trước đây Ngô Hầu đồng mưu với Chu Du đem phu nhân gả cho Lưu Bị, thực không phải vì nghĩ cho phu nhân, mà là muốn giam lỏng Lưu Bị để lấy Kinh Châu. Lấy được Kinh Châu rồi, tất là giết Lưu Bị. Hôm qua nghe Ngô hầu muốn hại, nên tôi lấy cớ Kinh Châu có nạn để tìm kế trở về. May được phu nhân không nỡ bỏ tôi, mới cùng nhau đến được nơi này. Nay Ngô hầu lại lệnh cho người đuổi theo sau; Chu Du thì đem quân chặn đường phía trước. Ngoài phu nhân ra, chẳng còn ai gỡ được nạn này”. Phu nhân biết được thực tình, làm gì chả nổi giận, nên đã bực tức nói: “Anh tôi đã chẳng coi tôi là tình thân ruột thịt, thì tôi còn mặt nào mà nhìn thấy nhau nữa, mối nguy này hôm nay, âu là cứ để mặc tôi tự lo”. Thế là dục mọi người đẩy xe lên trước, cuốn rèm lên, gọi Từ Thịnh, Đinh Phụng, mắng rằng: “Các ngươi định làm phản hay sao?” Hai tướng vội vàng xuống ngựa, dạ dạ vâng vâng, đến trước xe bẩm rằng: “Chúng tôi đâu dám làm phản, chẳng qua là theo lệnh của Chu đô đốc, đem quân đến đây chờ Lưu Bị”. Phu nhân nói rằng đã theo lệnh của mẹ của anh để về Kinh Châu, rồi quay ra chửi mắng Chu Du thậm tệ, và lệnh cho đẩy xe lên phía trước. Từ Thịnh, Đình Phụng nghĩ bụng: “Mình là người bên dưới, đâu dám cãi lại, chống cự với phu nhân”. Lại thấy Triệu Vân vẻ mặt hằm hằm, đành phải hô quân dừng lại nhường đường rộng ra cho xe qua.
Người đẹp dứt lòng theo anh hùng
Phu nhân đã đồng ý chạy trốn, có bọn đuổi theo đã nhờ phu nhân ra mặt đuổi chúng lui là được rồi, làm sao Khổng Minh còn bảo Huyền Đức dùng trí để kích thêm? Phu nhân tuy bằng lòng trốn đi, nhưng hoàn cảnh của thị hoàn toàn khác với Huyền Đức. Nàng suy cho cùng vẫn là em gái của Ngô hầu, to chuyện lắm thì cũng đến quay về là cùng, chẳng có gì là ghê gớm cho lắm; nhưng Huyền Đức, nếu như quay về Đông Ngô, cho rằng có được Quốc Thái che chở, không lo ngại gì cho tính mạng, nhưng từ đó sẽ bị giam lỏng, không còn có ngày mở mặt mở mày. Không những chỉ vì cho lui quân địch, cũng còn là vì muốn cho phu nhân dứt lòng đi theo Lưu Bị, như thế thì cần phải nói rõ sự thực, dùng lời lẽ để mà kích. Phu nhân lấy Huyền Đức, thật là trai anh hùng sánh với gái thuyền quyên, đương nhiên là mới nhìn thấy nhau đã ý hợp tâm đầu, nhưng phu nhân tại sao lại phải lấy Lưu Bị, trong cả quá trình, nàng bị bưng bít, không biết rằng anh nàng đã dùng nàng làm miếng mồi thơm trong giao dịch về chính trị, mà còn cho rằng đây là ơn huệ của ông anh với cô em gái. Huyền Đức một khi đã nói ra sự thực, anh nàng đã chẳng coi nàng là ruột thịt nàng còn mặt nào mà gặp mặt được nữa, như thế làm cho nàng càng kiên quyết đứng về phía Huyền Đức, cơn giận dữ mắng cho lui bọn đuổi theo càng mãnh liệt, bọn Từ Thịnh, Đinh Phụng càng không dám ho he. Mà việc Huyền Đức khích phu nhân chính là Khổng Minh xui khiến cho nên bảo rằng Khổng Minh dùng trí kích phu nhân cũng được.
3. BỊ GHẺ LẠNH: TRIỆU, NGỤY PHÁ BA TRẠI
Người ta thường nói: mời tướng không bằng kích tướng. Trận đầu khi Khổng Minh đánh xuống phía Nam, chính là đã dùng trí để kích Triệu Vân và Ngụy Diên để giành thắng lợi.Dùng trí kích, hổ tướng vào sâu trong lòng địch
Khổng Minh mang đại quân đến “Man Vương” Mạnh Hoạch đã cử nguyên soái Kim Hoàn Tam Kết của động thứ nhất, nguyên soái Huân Trà Na của động thứ hai, nguyên soái A Hội Nam của động thứ ba ra nghênh chiến. Khổng Minh biết quân sĩ của ba động tới bèn gọi các tướng nghe lệnh, nói: “Nay quân Man chia ba đường đánh tới, ta muốn lệnh cho Tử Long, Vân Trường đi, nhưng hai người này không thuộc địa hình, nên chưa giám dùng!”. Thế là lần lượt cử Vương Bình, Mã Trung, Trương Dực, Trương Nghi (trong Tam quốc diễn nghĩa – Phan Kế Bính dịch là Trương Ngực – ND) ra đòn đánh. Duy không hề điều động đến Triệu Vân, Ngụy Diên. Hai người thấy vậy, tỏ ra hậm hực. Khổng Minh nói: “Ta không phải không muốn dùng hai người, nhưng sợ các ngươi vào sâu chỗ hiểm nguy, bị quân man rợ nó lừa, thì quân ta mất nhuệ khí. Triệu Vân nói: “Thế liệu chúng tôi biết rõ địa hình, thì tính sao?”. Khổng Minh nói: “Các người vẫn nên cẩn thận”. Hai người ra về, Triệu Vân mời Ngụy Diên tới trại của mình bàn bạc: “Hai người chúng ta là tiên phong mà lại bảo không thuộc địa hình mà không chịu dùng. Nay toàn dùng bọn sinh sau đẻ muộn, bọn ta lại không xấu hổ lắm sao?”. Thế là hai người liên đến gần trại địch, bắt sống mấy tên giặc, dùng rượu thịt khoản đãi, sau khi do thám được tình hình ba trại, lúc đêm khuya, đánh úp vào trại chính của nguyên soái Kim Hoàn Tam Kết, chặt được đầu của hắn, sau lại chia quân chiếm hai trại kia. Khi Ngụy Diên đánh đến sau trại của nguyên soái Huân Trà Na (Tam quốc diễn nghĩa dịch là Đổng Trà Na, nguyên bản này là chữ Huân – ND), quân của Vương Bình đã đến phía trước trại. Hai bên giáp công, quân Nam thua to. Nguyên soái Huân Trà Na tìm đường chạy trốn. Khi Triệu Vân đánh đến đằng sau trại của nguyên soái A Hội Nam, Mã Trung cũng đánh đến phía trước trại, trước sau cùng áp tới, quân Nam cũng thua to, A Hội Nam lợi dụng lúc rối ren chạy thoát. Các cánh thu quân, về gặp Khổng Minh.
Khổng Minh tính sát ma quỷ cũng khó dò
Triệu Vân mang thủ cấp của Kim Hoàn Tam Kết dâng lên để báo công. Mọi người đều nói: “Huân Trà Na, A Hội Nam đều vứt cả ngựa leo núi trốn mất, bởi vậy mà không đuổi kịp hắn”. Khổng Minh cười lớn nói: “Hai người đó, ta đã bắt được cả rồi!”. Triệu Vân, Ngụy Diên cùng các tướng đều không tin. Một lát sau Trương Nghi giải Huân Trà Na, Trương Dực giải A Hội Nam vào. Mọi người thảy đều kinh ngạc. Khổng Minh nói: “Ta xem bản đồ của Lã Khải, đã biết từng trại của chúng ở đâu, cho nên đã nói kích Tử Long, Văn Trường để hai người vào sâu nơi trọng điểm, trước hết phá trại Kim Hoàn Tam Kết, sau chia quân đánh phía sau hai trại kia, cho Vương Bình, Mã Trung đi tiếp ứng. Ngoài Tử Long và Văn Trường ra không ai đảm đương nổi việc này. Ta lại đoán A Hôi Nam, Huân Trà Na thế nào cũng lén theo đường tắt trốn lên núi, nên sai, Trương Nghi, Trương Dực đón đường, lệnh cho Quan Sách đi tiếp ứng, để bắt hai tên này.
Triệu Vân, Ngụy Diên đều là hổ tướng, Khổng Minh muốn trao cho nhiệm vụ nặng nề tức là luồn sâu vào sau lưng địch để đánh úp trại địch. Nhưng mới đến đất của người Nam, địa hình còn chưa thuộc, nếu tiến quân mù quáng, tất sẽ xảy ra chuyện không hay. Cho nên Khổng Minh mới tỏ ra lạnh nhạt, không cử hai người đi đánh trận, lại nói rõ rằng rất muốn dùng hai người, nhưng do họ không rõ địa hình, cho nên chưa giám dùng. Đó thực ra là muốn hai người tự đi nắm tình hình địch, sau mới có thể vào sâu trong lòng địch. Kích như thế, quả nhiên kích trúng vào nhuệ khí của hai người, khiến họ chủ động tìm cách nắm tình hình địch, làm rõ địa hình, lại thêm có Vương Bình, Mã Trung do Khổng Minh cử đến cùng phối hợp, hành động một lượt mà phá được ba trại. Khổng Minh tính sát, thật là ma quỷ cũng khó dò.
3. KHÔNG CAM CHỊU GIÀ: HOÀNG TRUNG TỎ OAI PHONG
Khổng Minh hai lần dùng Hoàng Trung, cũng chủ yếu nhằm vào chữ “kích”. Ông cho rằng với vị lão tướng này, nếu không kích thì tuy có vâng lệnh đi đánh cũng khó thành công. “Hoàng Trung già bày kế đoạt Thiên Đăng Sơn” (hồi thứ bảy mươi) và “lấy nhàn đánh mỏi, chém Hạ Hầu Uyên (Hồi thứ bảy mươi mốt) đều là chuyện hai lần Khổng Minh kích Hoàng Trung.Kích lần đầu, đánh thua Trương Cáp
Trương Cáp đánh ải Hà Mạnh, Mạnh Đạt thua to, cáo cấp về Thành Đô. Khổng Minh tập hợp chư tướng để bàn bạc. Pháp Chính chủ trượng chọn ngay một tướng đi đánh Trương Cáp, Khổng Minh cười nói: “Chỉ trừ có đến Lãng Trung gọi Trương Phi, người khác khó gánh vác nổi”. Hoàng Trung không chịu nổi, đòi được đi đánh Khổng Minh nói: Hoàng Trung già e rằng không phải là đối thủ của Trương Cáp. Hoàng Trung nghe vậy, tóc bạc dựng cả lên, nói: “Hoàng Trung này tuy già, cũng còn giượng nổi cùng ba tạ, gân cốt cũng còn sức dư ngàn cân, chẳng lẽ lại không đánh nối thằng thất phu Trương Cáp sao?” Khổng Minh lại kích thêm nói: Tướng quân tuổi ngót 70, sao lại chẳng già? Hoàng Trung hậm hực rảo bước xuống thềm, vớ cây đại đao trên giá múa tít như bay; lại vớ lấy cung treo trên vách kéo gẫy liền hai cái. Khổng Minh vẫn hỏi “Tướng quân muốn đi thì lấy ai làm phó tướng?”. Nói là già không được, thì Hoàng Trung chọn hẳn người già, nói: “Lão tướng Nghiêm Nhan, có thể đi cùng tôi!”. Không chỉ có Triệu Vân đứng cạnh đó nói rằng lệnh cho hai ông già đi địch với Trương Cáp là trò đùa. Tướng giữ ải Hà Manh là Manh Hoạch, Hoắc Tuấn thấy hai ông tướng già đem quân đến, cũng cười Khổng Minh không biết đều binh khiển tướng. Lão Hoàng Trung thấy tình hình ấy, lại kích lão tướng Nghiêm Nhan, nói: “Ông có thấy mọi người động tĩnh gì không? Họ cười hai chúng ta già, hôm nay ta hãy lập kỳ công để mọi người phải phục”. Thế là hai ông già bàn mưu tính kế: Hoàng Trung dùng quân chính diện đón đánh Trương Cáp; Nghiêm Nhan đem quân luồn phía sau giáp công, cuối cùng đánh bại Trương Cáp. Tiếp đó lại dùng kế kiêu binh để lấy núi Thiên Đăng.
Kích lần thứ hai, đao chém Hạ Hầu Uyên
Lúc ấy Lưu Bị bảo Hoàng Trung đi lấy núi Định Quân, Khổng Minh lại kích lần nữa, nói rằng tướng giữ thành Hạ Hầu Uyên tính thông thao lược, rất hiểu về binh cơ, phải gọi Quan Công đến mới có thể địch được. Hoàng Trung bực dọc nói: “Xưa Liêm Pha già tám mươi tuổi, còn ăn một đấu gạo, mười cân thịt, chư hầu nghe tiếng đều sợ dũng khí của ông, không dám bén mảng đến biên giới nước Triệu, huống chỉ Hoàng Trung chưa tới bảy mươi”. Khổng Minh bèn cử Pháp Chính cùng đi. Dưới sự hiệp trợ của Pháp Chính, Hoàng Trung lại lập được kỳ công. Khí phách anh hùng của lão tướng Hoàng Trung chém Hạ Hầu Uyên, đã được tả rất sôi động: Hoàng Trung chiếm Đốc Sơ, Hạ Hầu Uyên ra đánh. Mặc cho bọn chúng chửi mắng đủ cách Hoàng Trung vẫn không ra đánh đợi cho quân Tào Tháo mệt mỏi, nhuệ khí đã giảm, số lớn đã xuống ngựa ngồi một nơi, Pháp Chính lúc ấy mới phất cờ – ngay sau đó “tiếng trống, tiếng tù và nổi dậy, Hoàng Trung một mình một ngựa, lao nhanh xuống núi, thế mạnh như đất lở trời long. Hạ Hầu Uyên trở tay không kịp, bị Hoàng Trung đuổi sát dưới cờ và hét lên một tiếng vang như tiếng sấm, Hạ Hầu Uyên chưa kịp đỡ thì lưỡi đao quý của Hoàng Trung đã giáng tới từ đầu tới vai, lìa ra làm hai khúc”.