1. BÀY MƯU ĐẶT KẾ: LƯU BỊ ĐỌ SỨC VỚI TÀO THÁO

Tinh Hoa Mưu Trí Trong Tam Quốc

Lượt đọc: 346 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
II. ĐẤU TRÍ

❊ ❊ ❊

Tam quốc diễn nghĩa tả ra rất nhiều trận đánh, sự thắng bại của nó tuy do nhiều nhân tố, song mưu trí là then chốt nhất. Trong “Kế biên” của Tôn Tử cũng đưa trí lên hàng đầu những điều kiện mà người làm tướng cần có sẵn. Bởi anh dũng nổi tiếng ba quân tuy rằng cũng lấy lừng thanh thế một thời, nhưng nếu người ấy hữu dũng vô mưu, đến lúc nào đó cũng chẳng tránh khỏi bị sụp đổ. Chỉ có ngồi một nơi tĩnh toán vận trù, mới có thể quyết thắng ở ngoài ngàn dặm. Quan, Vân, Trương ba lần đánh Lã Bố, Hứa Chử mình trần đọ sức với Mã Siêu, Quan Công ra sức đánh lão Hoàng Trung tuy khiến người ta sởn gai ốc nhưng không bằng những cuộc đấu trí gay go giữa Lưu Bị với Tào Tháo, Khổng Minh với Trọng Đạt, Khương Duy với Đăng Ngải v.v... bởi nó chẳng những khiến người ta sướng mắt hả lòng, mà còn giúp người ta sinh khôn sinh khéo, biết một mà dùng ba.

Tác giả Tam quốc diễn nghĩa có lúc muốn làm nổi bật sự mưu trí của Khổng Minh, đặt Lưu Bị vào địa vị đệm lót, nhất cử nhất động của nhân vật này đều do Khổng Minh ở phía sau thao túng, giống như một tên bù nhìn, nhưng nhìn chung tác giả cũng nhào nặn Lưu Bị thành một nhân vật có mưu trí. Có điều nếu không sáng suốt và tế nhị thường không nhìn thấy được, thí dụ cuộc đấu trí giữa ông và Tào Tháo lại đấu rất khéo léo, đến nỗi gian hùng như Tào Tháo cũng bị ông lừa cho hết lần ấy đến lần khác. Nên Tào Tháo thua nhiều mà thắng ít.

“Hai hổ tranh mồi” và “Xua hổ nuốt sói”

Lần đọ sức đầu tiên, là tập trung ở việc đối phó ra sao với Lã Bố. Lưu Bị đóng quân ở Từ Châu tự lãnh Từ Châu sự. Lã Bố thua trận sang hàng, Lưu Bị để người này đóng quân ở Tiểu Bái. Lúc ấy Tào Tháo đã định được Hứa Đô, sợ hai người đồng tâm hiệp sức sẽ thành cái họa tâm phúc, bèn tụ họp mưu sĩ bàn kế đánh lại. Tuân Úc nói: Úc có một kế gọi là “hai hổ tranh mồi”, nay Lưu Bị tuy lãnh Từ Châu, chưa có chiếu lệnh. Minh công có thể tấu trình xin chiếu lệnh thực giao cho Lưu Bị làm Từ Châu mục, và ngầm gửi một lá thư bảo giết Lã Bố đi. Việc mà thành thì Lưu Bị không còn mãnh tướng phò tá, dần dần có thể đánh được, việc không thành Lã Bố tất sẽ giết Lưu Bị, đó là kế hai hổ tranh mỗi” vậy!. “Tháo nghe theo. Lưu Bị được phong quan và khi nhận thư Tào Tháo đã thấy rõ mưu đồ, nhưng lại sợ mất lòng Tào Tháo không dám công nhiên chống lệnh, bèn nói dối sứ giả rằng: “Việc này còn chưa bàn kỹ”, Lưu Bị bèn ngâm báo với Lã Bố, để hắn khỏi nghi ngờ, cùng đồng tâm hiệp sức với mình. Quan, Vân hỏi lý do không giết Lã Bố, Lưu Bị đứng kế nhau, Tào Mạnh Đức đứng cạnh mưu thần là Tuân Úc. Tuân Úc hiến kế cho Tào Tháo: “Có thể ngầm cho người sang hỏi Viên Thuật, báo rằng Lưu Bị đã ngấm dâng biểu, muốn chiếm Nam Quận. Thuật nghe tin, tất nổi nóng mà đánh Lưu Bị. Chúa công bèn minh chiếu đánh Viên Thuật. Hai bên đánh nhau. Lã Bố ắt sẽ có lòng nghỉ kỵ, đó là kế “Xua hổ nuốt sói” vậy”. Tháo cả mừng làm theo kế đó. Lưu Bị được chiếu thư, biết là trúng kế song không dám chống lệnh vua, đành mang quân đi đánh Viên Thuật, để mình Trương Phi ở lại giữ Từ Châu. Vì Trương Phi rượu say lầm lẫn, để Lã Bố đánh úp Từ Châu. Lần đọ sức này Tào Tháo hỏng một kế thắng một kế. Đọ sức lần đầu, hai bên đều kẻ nửa cân người tám lạng.

Lâm nguy không rối loạn – ứng biến tùy cơ

Lần đọ sức thứ hai, là khi “Tào Tháo hâm rượu luận anh hùng”. Tào Tháo và Lưu Bị hâm rượu uống với mơ, luận bàn thoải mái về anh hùng, Lưu Bị giả ngày giả ngô, thuận mồm nhắc tới một vài người, Tháo đều không cho là được. Lưu Bị mới hỏi: “Vậy thì ai xứng đáng?”. Tào Tháo tay chỉ Lưu Bị, sau lại chỉ vào mình và nói: “Anh hùng thời nay duy chỉ có sứ quân và Tháo thôi!”. Lúc đó Lưu Bị đang ngấm bàn mưu với Đổng Thừa để đánh Tào Tháo. Mới nghe lời nói đó, làm gì mà chẳng thất kinh, đũa đang cầm trong tay, bất giác rơi xuống đất. Cử chỉ của Lưu Bị luống cuống như thế, làm gì Tào Tháo chẳng biết mà sinh nghi. Nhưng Lưu Bị quả là một kẻ kiêu hùng, lúc ấy, vừa vặn trời có cơn mưa, sấm sét ầm ầm, Lưu Bị ung dung cúi xuống nhặt đũa, vừa nói: “Ghê thật, sấm sét dữ đến thế!”. Tháo cười nói: “Trượng phu mà cùng sợ sấm à?”. Lưu Bị nói: “Thánh nhân nghe sấm sét còn biến sắc mặt, huống chỉ tôi, làm gì mà chẳng sợ!”. “Nghe sấm to gió lớn tất biến sắc mặt” là câu có từ trong “luận ngữ – hương đảng” nói Khổng Tử gặp mưa bão sấm sét, nhất định sẽ đổi sắc mặt, biểu thị sự kính sợ với trời. Thành nhân còn như thế, không hổ là Lưu Bị, mượn lời của thánh nhân để làm lá chắn, Lưu Bị đã khéo che đậy được nguyên nhân nghe lời nói thất kinh mà rơi đũa, có thể nói là “tùy cơ ứng biến với trình độ như thần”. Tháo dần dần không nghi ngờ Lưu Bị. Lần thứ hai đọ sức giữa Lưu Tào, Lưu Bị đã thắng.

Chống khống chế cao tay hơn một bậc

Lần đọ sức thứ ba biểu hiện ở khống chế và chống khống chế. Vì Lưu Bị có công với Tào Tháo trong việc bắt Lã Bố, cùng Tào Tháo rút quân về triều. Lưu Bị diện kiến Hiến Đế, nếu xếp đặt theo thế phả, được coi là bậc hoàng thúc. Tuân Úc và bọn mưu sĩ vào gặp Tào Tháo nói: “Thiên tử đã nhận Lưu Bị là hoàng thúc, e rằng không có ích gì cho minh công”. Đối với chuyện này, Tào Tháo đã rắp sẵn mưu sâu, Tháo nói: “Hắn hiện nay nhận là hoàng thúc, ta lấy chiếu của thiên tử ra lệnh, hắn không dám không phục tùng”. Cách nhìn nhận của kẻ gian hùng, quả là có khác người. Tháo để cho Lưu Bị gặp Hiến Đế và bái làm Tả tướng quân, Nghị Thành hầu, chính là để khống chế Lưu Bị chặt chẽ hơn. Lưu Bị cũng biết được dụng ý của Tào Tháo, cho nên từng bước thận trọng, đề phòng Tào Tháo mưu hại. Lưu Bị còn ngấm ngầm cùng với Đổng Thừa định đánh Tào Tháo, bề ngoài thì trồng rau ở sau vườn, tưới mình tưới bón để làm kế ngấm ngầm. Quan, Trương không biết được mưu sâu của Lưu Bị, nên đã trách móc hỏi: “Huynh chẳng để tâm đến việc lớn của thiên hạ, lại đi học lấy việc của kẻ tiểu nhân làm gì vậy?” Lưu Bị nói: “Việc này hai em không biết được”. Lại nghe Tào Tháo nói là một trong hai anh hùng của thiên hạ, Lưu Bị càng cảm thấy nỗi lo và nguy hiểm khi gửi thân ở chốn hang hùm, thế là bèn tìm kế thoát thân. Một hôm, Tào Tháo lại mời Lưu Bị uống rượu, Mãn Bàng đến báo cáo với Tháo: Viên Thiêu phá Công Tôn Toản và đã được quản của Toản, thanh thế rất lớn. Viên Thuật lại quy Đế hiệu cho Thiệu và tự tay đưa ấn tín đến Hà Bắc; đồng thời chỉ ra rằng: “Nếu hai người hợp lực, sẽ khó thu phục, xin thừa tướng hãy kịp ra tay”. Lưu Bị nghe xong thầm nghĩ: “Ta không nhân lúc này tìm cớ thoát thân, thì còn đợi đến lúc nào?”. Bèn đứng dậy nói với Tào Tháo: “Thuật nếu hàng Thiệu, tất phải đi qua Từ Châu. Bị xin đem một đại quân đón ở ngang đường, có thể bắt được Thuật”, Tháo tuy đồng ý, song cũng chưa yên lòng, bèn bảo Chu Linh, Lô Chiêu hai người cùng đi, ngầm kiềm chế Lưu Bị (nhưng hai người này cũng chẳng tích sự gì, sau này bị Lưu Bị tìm cách bỏ xa). Lưu Bị đeo ấn tướng quân, và thôi thúc hành quân. Quan, Trương ngồi trên ngựa hỏi rằng: “Huynh ra quân chuyển này, cớ sao mà vội vàng làm vậy”. Lưu Bị nói: “Ta như chìm trong lồng, như cá nằm trong lưới. Chuyến đi này như cá ra biển lớn, chim bay về rừng, không bị ràng buộc bởi lồng bởi lưới”. Tào Tháo bày mưu khống chế Lưu Bị, Lưu Bị lại dùng kế chống lại khống chế, lần đấu trí thứ ba này, lại là Lưu Bị thắng.

Thống soái lỗi lạc khéo dùng nhân tài, rất được lòng người

Ba lần đọ sức vừa nói ở trên, Lưu Bị thẳng nhiều, thua ít, đủ thấy Lưu Bị có tài trí hơn người. Ai dám bảo Lưu Bị là thật thà đôn hậu? Nhà sử học Trần Đào khi so sánh Lưu Bị với Tào Tháo, đã nói Lưu Bị “cơ mưu quyền biến và thao lược, không tấy Ngụy Vũ”. Nhưng nhà tiểu thuyết La Quán Trung lại có cách nhìn khác, ông tả kế mưu của Tào Tháo nguy mà lộ liễu, tả mưu kế của Lưu Bị khéo mà sâu; ông nhào nặn hình tượng của Tào Tháo gian hùng thâm hiểm và xảo trá, còn Lưu Bị là hình tượng một bậc quân vương nhân từ và mưu trí. Ông hết lời ca ngợi sự tùy cơ ứng biến của Lưu Bị, tả Tào Tháo rất khâm phục con người đó, cho rằng “ngày nay anh hùng trong thiên hạ, duy chỉ có sứ quân và Tháo tôi!”. Điều đó nói lên rằng tác giả cho rằng tài cơ mưu quyền biến của Lưu Bị chẳng thua gì Tào Tháo, và điều đó cũng phù hợp với sự thực lịch sử, không phải là tác giả bịa đặt ra.

Nhà văn La Quán Trung đánh giá con người, có lúc còn trung thực hơn nhà sử học Trần Đào. Trong lịch sử Tào Tháo khi mới đứng lên, có thế lực lớn mạnh của bọn hoạn quan làm hậu thuẫn, địa vị của ông ta cũng bằng vai phải lứa với các chư hầu; mà lúc đó, xuất thân từ nghèo hèn, Lưu Bị chẳng qua chỉ là một tiểu tướng dưới tay của Công Tôn Toản sau này trở thành một trong ba người trụ vững một trong ba nơi. Mà đó hoàn toàn tạo được nên bằng tài cán hơn người. Muốn trở nên một thống soái lỗi lạc, phải có điều kiện là khéo dùng người tài và quyết sách. Lưu Bị có đủ những điều kiện đó, việc ông ta dùng Gia Cát Lượng và áp dụng Long Trung Sách là một thí dụ điển hình. Đặc biệt là ông ta có thể đắc nhân tâm nên lòng người đều hướng theo, bởi vậy mới xưng để được ở Tây Thục. Lưu Bị nếu không là bậc tài trí thì sao được như vậy. Cho nên Tào Tháo coi khinh anh hùng trong thiên hạ, khi Lưu Bị còn phải nương nhờ dưới bóng con người này đã có thể nhìn nhận ra Lưu Bị là một bậc phi phàm, mà đặt ngang hàng với mình. Đó là sự đánh giá của con người có cùng thời đại và lại hết sức hiểu rõ Lưu Bị. Không còn nghi ngờ gì đó là điều đúng đắn và chân thực. Tại làm sao mà trong sự nhìn nhận của mọi người, về mặt cơ mưu, lại thường thường cứ bênh Tào Tháo mà chẻ Lưu Bị, đó là bởi vì: Mưu trí của Tào Tháo lộ liễu, dễ để người ta biết; mưu trí của Lưu Bị thâm hơn, mọi người không thể một lúc mà hé nhìn ra sự huyền diệu trong đó. Thêm nữa tính cách và chiến lược của hai người lại khác nhau, đúng như Lưu Bị từng nói như sau với Bàng Thống: “Nay chỉ người nào so với ta như nước với lửa, đó là Tào Tháo: Tháo thì vội, ta thì khoan; Tháo bạo liệt, ta nhân từ: Tháo gian trá, ta trung thực”. Tào Tháo nóng vội, bạo liệt, gian trá; Lưu Bị khoản thai, nhân từ, trung thực, cho nên trong con mắt mọi người, Tào Tháo là tên gian hùng xảo trá, Lưu Bị là bậc người lớn trung hậu, nhân từ. Sự “cơ quyền cán lược” của ông và bản sắc kiêu hùng nữa, thường thường bị người ta bỏ qua.

2. BIẾT NGƯỜI BIẾT MÌNH; GIA CÁT, TƯ MÃ BÌ CAO THẤP

Trong Mưu công biên – Tôn Tử binh pháp có nói “biết người biết mình, trăm trận không nguy”. Đó là quy luật quan trọng quyết định thắng bại của cuộc chiến. Có điều, “biết người biết mình” mà Tôn Tử nói ở đây, nếu một bên “biết người biết mình” mà bên kia không biết người biết mình, đương nhiên bên biết sẽ thắng. Nhưng nếu cả hai bên đều biết người biết mình, thì ai thắng ai thua là điều rất khó nói, cuộc chiến cũng trở nên cực kỳ phức tạp, rắm rối. Hồi thứ 94 “Tam quốc diễn nghĩa tả “Tư Mã Ý nhanh tay bắt Mạnh Dạt” và hồi thứ 95 tả “Vô Hầu gây đàn đuổi Trọng Đạt”, tức là tả Gia Cát Lượng và Tư Mã Ý trong hoàn cảnh cả hai bên đều biết người biết mình đã triển khai cuộc đấu trí rất đặc sắc. Sách lược của hai bên đúng là bên nào cũng hay cũng khéo, giữa tháng và thua chi sai nhau một bước mà thôi. Trong các trận đánh ở “Tam Quốc diễn nghĩa”, đây mới gọi là cuộc chiến đấu bằng trí lực: chiến tranh thiên biến vạn hóa, chiến tranh không phải do một bên nào sắp đặt ra, mà là do hai bên cùng hoạch định, bất kỳ bên nào cũng không thể nắm trọn phần thắng; mà là trong cái thắng có cái thua, trong cái thua có cái thắng, nó chẳng những thể hiện ra tính phức tạp của chiến tranh và cũng nói lên vẻ nghiêm túc của chiến tranh. Nó là cuộc vật lộn giữa sống và chết, kẻ nào bước lầm một bước là sẽ có nguy cơ bị tiêu diệt ngay. Cuộc chiến tranh bằng đấu trí miêu tả trong hai hồi này, chẳng những phát triển và làm phong phú thêm tư tưởng “biết người biết mình” của Tôn Tử, mà còn có tác dụng để chúng ta vay mượn vận dụng vào trong mọi cuộc cạnh tranh ngày nay.

Kẻ ngu dốt không biết tùy việc, tùy người mà phân tích cụ thể

Trong hồi tả “Tư Mã Ý nhanh tay bắt Mạnh Dạt”, Gia Cát Lượng tuy chưa công khai ra tay, thực ra là tả hai người: ông ta và Tư Mã Ý quay lưng vào nhau mà thi thố tài năng trí lực, từ đó mở ra màn đấu tiên cuộc đấu trí giữa hai người.

Tư Mã Ý đóng quân ở Tây Lạng, Gia Cát Lượng cho rằng đây là trở ngại lớn nhất cho việc đánh Ngụy của ông, bèn dùng kế phần gián của Mã Tốc, làm cho chúa Ngụy là Tào Duệ bãi chức của Tư Mã Ý đuổi về quá. Gia Cát Lượng thấy kế đắc thắng nên rất mừng, lập tức dấy binh bắc phạt. Quân Thục ra quân là thắng, liên tục chiếm ba thành nước Ngụy từ dưới lên trên đều run sợ; Tào Duệ bất đắc dĩ lại phải dùng đến Tư Mã Ý. Lúc ấy Mạnh Đạt nguyên là tướng Thục sau hàng Ngụy, trấn thủ ở Thượng Dung đang ngấm tư thông với Gia Cát Lượng, âm mưu lấy hai kình: Mạnh Đạt lấy Lạc Dương, Gia Cát Lượng lấy Tràng An. Gia Cát Lượng thấy Tư Mã Ý được phục chức thì rất lo sợ, vội biên thư cho Mạnh Đạt nói rằng: “Gần đây nghe tin Tào Duệ phục chức và hạ chiếu cho Tư Mã Ý dấy quân ở hai thành Uyển Lạc, nếu biết ông khởi sự, tất sẽ đến đây trước. Nên ông phải đề phòng, chớ nên coi thường”. Mạnh Đạt xem thư, coi như không có gì xảy ra, còn cười Khổng Minh là hay cả nghĩ; viết thư trả lời như sau: “Thiết nghĩ rằng việc về Tư Mã Ý chẳng cần phải lo. Uyển Thành cách Lạc Dương chừng tám trăm dặm, đến Tân Thành một ngàn hai trăm dặm. Nếu Tư Mã Ý biết Đạt khởi sự, tất phải dâng biểu về tâu chúa Nguỵ. Vừa đi vừa về hơn một tháng. Đạt đã vững thành trì, chư tướng và ba quân đã ở những nơi hiểm yếu – Tư Mã Ý có tới, Đạt đâu có sợ gì, Thừa tướng hãy khoan tâm mà chờ tin thắng trận”.

Cách nhìn với cùng một sự việc, sự đoán định của người khôn với kẻ ngu sai khác nhau xa như thế đó: Mạnh Đạt không biết tùy việc tùy người mà phân tích cụ thể, chỉ dựa vào cách nhìn thông thường, cho rằng Tư Mã Ý có đem quân đến Tân Thành, tất phải tâu chúa Nguy cho phép rồi sau mới hành động, cho nên mới rút ra điều đoán định “Vừa đi vừa về hơn một tháng”. Còn cách nhìn của Khổng Minh lại hoàn toàn trái ngược. Gia Cát Lượng xem xong thư trả lời vứt thư xuống đất, giậm chân nói: “Mạnh Đạt sẽ chết trong tay Tư Mã Ý mất thôi!”. Mã Tốc hỏi tại sao, Gia Cát Lượng nói: “Binh pháp nói: “Đánh vào chỗ không phòng bị, xuất quân lúc bắt tình cờ, ai cho phép nghĩ đến thời gian hơn một tháng? Tào Duệ đã ủy nhiệm cho Tư Mã Ý, gặp giặc thì đánh ngay, việc gì phải chờ tâu? Nếu biết Mạnh Đạt làm phản thì chẳng cần đến mười hôm, quân cũng đã đến kịp, lúc ấy còn trở tay làm sao?” Gia Cát Lượng liền biên thư trả lời Mạnh đạt rằng nếu chưa khởi sự thì chớ cho ai là người đồng sự với mình được biết. Họ mà biết là sẽ thất bại!”.

Tư Mã Ý giương đông kích tây – Mạnh Đạt đưa tay chịu trói

Tư Mã Ý nhận chiếu phục chức bỗng được mật báo việc Mạnh Đạt làm phản, Tư Mã Ý nói: “Thằng giặc này hẳn là tư thông với Gia Cát Lượng, ta phải bắt trước. Gia Cát Lượng hẳn sẽ chột dạ, tự nhiên sẽ lui quân”. Tư Mã Sư nói: “Cha nên viết biểu tâu lên thiên tử”. Ý nói: “Nếu chờ thánh chỉ, đi về mất hơn một tháng thì không kịp mất!”. Bèn truyền lệnh cho quân mà lên đường, một ngày phải đuổi hai ngày đường, ai chậm sẽ chém. Mặt khác lại lệnh cho tham quân Lương Kỳ mang thư hịch ngay đêm đến Tân Thành, bảo Mạnh Đạt chờ để đi đánh giặc, làm thế cho hắn khỏi ngờ. Lương Kỳ đến Tân Thành truyền tướng lệnh của Tư Mã Ý nói: “Đô đốc Tư Mã Ý nay phụng chiếu của thiên tử, dấy quân các đạo để đánh lui quân Thục, Thái Thú hãy tập họp binh mã để chờ lệnh điều động”. Mạnh Đạt hỏi: “Đô đốc chừng nào lên đường?”. Kỳ nói: “Lúc này có khi đã rời Uyển Thành đi Tràng An rồi đó”. Đạt ngầm hí hửng: “Việc lớn của ta chắc là xong”. Đại phàm là áp dụng chiến thuật đánh úp bất ngờ, cần phải ngụy trang cho khéo, để làm tê liệt địch, khiến chúng không phòng bị, tức là ta muốn đánh nó mà nó hoàn toàn không đoán định được rằng ta sẽ đánh nó, thì đánh mới thắng. Tư Mã Ý chính đã làm như thế, ông ta giương đông kích tây, khiến Mạnh Đạt mắc vào tròng. Mạnh Đạt nghe tin Tư Mã Ý rời Uyển Thành đi Tràng An, yên trí rằng Tư Mã Ý không biết việc mình khởi sự, nên mới cho rằng: “Việc lớn của ta sẽ xong” mà hí hửng một mình. Đâu có ngờ là Tư Mã Ý lúc đó đang kéo quân về Tân Thành. Dọc đường, Ý đã thu được lá thư Gia Cát Lượng trả lời Mạnh Đạt, xem xong kinh hãi nói: “Trên đời này cách nhìn của kẻ tài năng đều giống nhau, kế của ta sớm đã bị Khổng Minh vạch trần” cho nên ngày đêm thúc quân hành quân khẩn cấp. Chưa tới mười ngày đã đến Tân Thành. Mạnh Đạt trở tay không kịp, rốt cuộc bị bắt và bị giết.

Tư Mã Ý bắt và giết Mạnh Đạt, mưu chiếm hai kinh của Gia Cát Lượng tan thành mây khói. Nhưng nhìn từ sự thi thố về trí lực, người thua chỉ là Mạnh Đạt, Tư Mã Ý và Gia Cát Lượng đều là kẻ thắng, trí lực của hai người này nửa cân, tám lạng: Hai người đều đoán việc như thần. Gia Cát Lượng cho rằng Ý biết tin Mạnh Đạt khởi sự, tất sẽ mang quân Uyển, Lạc đến trước; Tư Mã Ý thì đoán rằng Mạnh Đạt có làm phản tất sẽ thông mưu với Gia Cát Lượng, hai người không hẹn mà gặp. Gia Cát Lượng nói: “Tào Duệ đã ủy nhiệm cho Tư Mã Ý thấy giặc là đánh, việc gì phải chờ tâu?”. Tư Mã Ý thì nói: “Nếu chờ thánh chỉ, đi về hơn một tháng, sẽ không kịp mất!”. Hai người đều sợ nhau. Gia Cát Lượng thấy Tư Mã Ý được phục chức thì “thất kinh” khuyên Mạnh Đạt “chớ nên xem thường mà manh động”. Tư Mã Ý dọc đường bắt được thư Gia Cát Lượng trả lời Mạnh Đạt cũng “kinh hãi” không ngờ rằng “kế của ta sớm đã bị Khổng Minh vạch trần”. Còn Mạnh Đạt so với Tư Mã Ý và Gia Cát Lượng, cái ngu và cái khôn thật là một vực một trời. Gia Cát Lượng biết Tư Mã Ý được phục chức, khuyên Mạnh Đạt hãy chú ý để phòng”. Mạnh Đạt lại cười Khổng Minh là “cả nghĩ” còn bảo ông “hãy chờ tin thắng trận”. Tư Mã Ý sai sứ bảo Mạnh Đạt chờ điều động và nói dối rằng ý đã đi Tràng An. Mạnh Đạt còn hí hửng nói: “Việc lớn của ta chắc thành”.

Cờ sai một nước, cả ván đều thua

Trong hồi này, Gia Cát và Tư Mã quay lưng lại nhau mà đấu trí. Ở hồi thứ chín mươi lăm, mới là tả hai người công khai đọ sức. Trí lực của hai bên càng được phát huy đầy đủ.

Khi một bên biết người biết mình, một bên không biết người biết mình, cuộc chiến trở nên đơn giản hóa; khi cả hai bên đều biết người biết mình, cuộc chiến trở nên khúc triết ly kỳ, biến hóa vô cùng. Cũng như đánh cờ khi cao thủ đánh với đối thủ xoàng, rất nhanh đi vào nước chiến đấu với nhau, không phải thấy một bước đi một nước, mà đi một nước nghĩ đến mấy nước sau, bên kia đi một nước, bên này đã đoán được mấy bước sau của họ bèn dùng nước mới để phá. Cứ như thế trở đi trở lại, cuộc cờ biến hóa không lường, chẳng những người đánh cờ bị thu hút hết tinh thần vào đó, ngay người xem cũng thấy háo hức muốn xem. Cuối cùng, người thua chẳng qua là đi lầm một nước mà thôi. Hồi thứ chín mươi lăm tả sự đấu trí giữa Gia Cát Lượng và Tư Mã Ý chính là kiểu này.

Sau khi bắt và giết Mạnh Đạt rồi, Tư Mã Ý cùng Trương Cáp đem mười lăm vạn đại quân đi đánh Gia Cát Lượng. Tư Mã Ý cho rằng Gia Cát Lượng bình sinh là người cẩn thận, không dám vội vàng mạo hiểm, không thể qua hang Tý Ngọ đi lấy Tràng An. Nay tất xuất quân ở Tà Cốc để đi lấy Mì Thành. Mà phía Tây Tần Lĩnh, có một con đường, tên là Nhai Đình; cạnh đấy có một thành tên là Liệt Liễu. Hai nơi đó đều là yết hầu của Hán Trung. Gia Cát Lượng lừa Tào Chân không phòng bị, định từ đây tiến vào. Cho nên Ý quyết định cùng Trương Cáp đi lấy Nhai Đình để chặn đường về của địch. Gia Cát Lượng hành quân, quả đúng như Tư Mã Ý đã định liệu, Gia Cát Lượng biết tin đại quân của Tư Mã Ý đánh đến, thất kinh nói: “Nay Tư Mã Ý xuất quân, tất sẽ đánh Nhai Đình, chặn đường yết hầu của ta”. Tư Mã Ý cũng hành quân như trong ý nghĩ của Gia Cát Lượng. Bởi vậy, cuộc quyết chiến ở Nhai Đình là thế không tránh khỏi. Tư Mã Ý có lấy được Nhai Đình hay không, Gia Cát lượng có giữ nổi Nhai Dình hay không nữa, là mấu chốt thắng bại của đôi bên.

Dùng lầm Mã Tốc – đánh giặc trên giấy

Gia Cát Lượng lập tức cho sắp đặt việc chiến đấu bảo vệ Nhai Đình. Tham quân Mã Tốc xin được đánh giữ Nhai Đình, Gia Cát Lượng nói: “Nhai Đình tuy nhỏ nhưng can hệ lại rất lớn. Nếu để mất Nhai Đình, đại quân của ta cũng vứt đi ráo. Ngươi tuy tinh thông mưu lược, song ở đó lại chẳng có thành quách gì vừa không hiểm trở, vô cùng khó giữ”. Mã Tốc cậy thông thuộc binh thư, tự khoe khoang nói: “Nếu có lầm lỡ, cả nhà tôi xin chịu tội”, và lập ra quân lệnh. Vì Mã Tốc từng hiến kế “đánh vào lòng người chinh phục người Nam, lại hiến kế phản gián khiến Tư Mã Ý bị mất chức, Gia Cát Lượng cho rằng con người này có mưu trí, bèn giao cho hắn làm chủ tướng để giữ Nhai Đình; lại cử Vương Bình vốn có kinh nghiệm thực tiễn trong chiến đấu làm phó tướng, dặn đi dặn lại phải cẩn thận giữ chắc vùng đất nhỏ này. Hạ trại phải tìm nơi đường hiểm yếu, khiến quân giặc không thể vội vàng lọt qua. Gia Cát Lượng e hai người có thể sơ xuất nên còn cử Cao Tường đến giữ thành Liệt Liễu để trợ sức. Đồng thời còn gọi Ngụy Diên là đại tướng đem quân bản bộ đi làm quân yểm hộ phía sau, giữ chặt yết hầu Hán Trung. Sự sắp đặt của Gia Cát Lượng, có thể nói là rất đầy đủ đến nơi đến chốn, không cần phải bàn gì thêm, sai lầm duy nhất là dùng nhầm phải Mã Tốc, con người đánh giặc trên giấy. Hắn đã làm trái lời dặn của Gia Cát Lượng là “hạ trại nơi đường hiểm yếu”, mà chỉ biết đi gậm từng câu từng chữ trong binh thư, nào là “đứng thế cao trông xuống, thế tựa chẻ tre, nào là “đặt vào đất chết để rồi sống”, đối với tình thế lúc bấy giờ, tướng địch đến xâm phạm, địa hình của Nhai Đình ra sao lại chẳng hề cân nhắc đến. Vương Bình can ngăn rất vất vả, nhắc đi nhắc lại lời dặn của Gia Cát Lượng là “hạ trại phải tìm nơi gần đường hiểm yếu, cho rằng: “Đóng quân bên đường, xây thành đắp lũy, địch dù có đóng hàng chục vạn cũng khó lọt qua, Mà Tốc vẫn không nghe, kiên trì việc đóng quân trên núi, Vương Bình chỉ ra rằng: “Nếu quân Ngụy ập đến, sẽ vây chặt bốn bề” và đoán thêm “chặn mất đường cấp nước, quân binh chẳng đánh cũng loạn”, Mã Tốc vẫn không thèm để ý, cứ làm theo ý mình, kết quả như Vương Bình đã đoán, đại quân của Tư Mã Ý vừa đến, bèn cắt ngay đường cấp nước, quân Thục chẳng ai đánh cũng loạn, không nghe theo sự chỉ huy của Mã Tốc. Quân Ngụy lấy Nhai Đình một cách nhẹ nhàng.

Mạo hiểm “kế không thành” – Dùng mưu đẩy lùi đại quân

Nhai Đình thất thủ, hoàn cảnh của quân Thục cực nguy. Tư Mã Ý đã đoán được hướng đi của quân Thục sau khi Nhai Đình thất thủ: “Lượng nếu biết cắt đường huyết mạch của Nhai Đình, cắt đường chuyên chở lương thảo, thì miền biên cương Lũng Tây, không được giữ yên, tất sẽ suốt đêm chạy về Hán Trung. Nếu chúng định về, ta đem quân chặn các đường nhỏ mà đánh, có thể toàn thắng; nếu không quay về, ta sẽ chặn hết các con đường nhỏ cho lính canh giữ. Một tháng không có lương ăn, quân Thục sẽ chết đói, Lượng tất bị ta bắt sống”. Đúng như Tư Mã Ý đã dự đoán: con đường sống duy nhất của quân Thục là chỉ còn cách chạy về Hán Trung. Mới nghe tin các thành Nhai Đình, Liệt Liễu đều mất, Gia Cát Lượng giậm chân than rằng: “Hỏng việc lớn mất rồi – Lỗi này là tại ta!”. Liền điều binh khiển tướng bố trí việc rút quân. Khi binh mã các nơi đều sẵn sàng, bỗng có tin báo: Tư Mã Ý đem mười lăm vạn quân ùa đến Tây Thành như gió. Lúc đó, Gia Cát Lượng không còn một tướng tài nào ở bên mình, chỉ có một ít quan văn với hai ngàn năm trăm quân đóng ở trong thành. Thế cho nên các quan đều lo mất mật. Chỉ có Gia Cát Lượng vẫn bình bình ung dung, đặt ra “không thành kế”, vượt khỏi khó khăn. Trước một tòa thành trống rỗng, Tư Mã Ý có trong tay mười lăm vạn quân mà sao không dám vào, lại vội rút quân ra. Đó là vì Tư Mã Ý đã cho rằng: “Lượng bình sinh rất cẩn thận, không dám mạo hiểm làm liều. Nay nếu mở rộng cửa thành, tất là có mai phục”. Gia Cát Lượng cũng biết rằng Tư Mã Ý sẽ biết mình “bình sinh cẩn thận, không mạo hiểm, làm liều” cho nên đã làm ngược lại với “bình sinh rất cẩn thận”, làm một chuyến mạo hiểm, cho nên đã dẫn đến sự nghi ngờ của Tư Mã Ý, không dám liều lĩnh vào thành. Gia Cát Lượng bày ra “không thành kế”, cũng là do tình thế bắt buộc, cũng đúng như ông ta đã nói: “Ta không làm liều, chẳng qua là bất đắc dĩ mà phải dùng”. Với hai ngàn rưỡi quân không thể địch với người ta mười lăm vạn, nếu bỏ thành mà chạy, thì cũng được bao lâu rồi sẽ bị Tư Mã Ý bắt sống. Vào bước đường cùng đánh chẳng được mà chạy trốn cũng không xong, Gia Cát Lượng ngoài việc đặt ra kế này, thật không còn cách nào khác khi Gia Cát Lượng ở vào thế bại như đã định và rất có thể bị bắt, ai biết được rằng chỉ dùng không thành kế mà lui được mười lăm vạn quân địch? Sau này Tư Mã Ý biết rằng Gia Cát Lượng đã bày ra “không thành kế”, liền ngửa mặt lên trời mà than rằng “Ta không bằng Khổng Minh rồi!”.

Biết mình biết người, trăm trận không nguy

Những cuộc đấu trí giữa Gia Cát Lượng và Tư Mã Ý, đã thêm một nội dung mới cho khoa học quân sự và nghệ thuật quân sự. “Biết người biết mình, trăm trận không nguy” là luận đoán nổi tiếng trong “binh pháp Tôn Tử”, là một quy luật quan trọng quyết định sự thắng bại của cuộc chiến. Như trong trận Quan Độ, Viên Thiệu chẳng hiểu một chút gì về tình hình của bên địch. Tào Tháo sắp hết lương án mà ông ta cũng chẳng hề hay biết. Khi Hứa Du bất thư Tào Tháo giục lương, biết Tào Tháo sắp hết lương ăn, đề nghị “hai đường đánh vào”. Viên Thiệu lại nghi rằng Tào Tháo bày mưu, từ chối không dùng đề nghị trên. Về sau Hứa Du buộc phải đầu hàng, báo cáo với Tào Tháo tình hình nội bộ của quân Thiệu, và dâng kế “cướp lương Ở Sào”. Tào Tháo nắm rõ tình hình địch, thân chỉnh đi đốt kho lương Ô Sào, quân địch hết lương ăn rối ren lên, Tháo thừa cơ xuất kích, đại thắng quân Viên Thiệu. Trong trận Xích Bích, Tào Tháo không nắm được tình hình địch, ngược lại còn luôn nhận được những tình báo giả, cho nên nhiều lần trúng kế của Chu Du. Chu Du thì do nắm được tình hình địch, nên đã chỉ huy được như ý, khiến quân địch lọt vào biển lửa. Trong trận đánh ở Di Lăng, Lưu Bị đã không biết mình lại chẳng biết người, tự khoe rằng: “Trấm cấm quân già đời rồi, thế mà lại không bằng đứa trẻ ranh”. Lục Tốn thì lại “biết người” như thuộc lòng bàn tay, bởi vậy mà khiến cho Lưu Bị hành động theo cái gậy chỉ huy của mình, cuối cùng, chỉ một mỗi lửa gần như đốt cháy hết quân Thục. Trong ba trận đánh ấy đều được tiến hành trong trường hợp một bên biết người biết mình, đương nhiên là trăm trận đều không nguy. Nhưng cả hai bên đều biết người biết mình cả, thì cuộc chiến trở nên biến hóa khôn lường, ai thắng ai thua, thật khó mà đoán định, thắng hay thua thường thường quyết định ở quyết sách nhất thời có chính xác hay không. Trận Nhai Đình, Tư Mã Ý biết người biết mình, ông ta đoán Gia Cát Lượng tất sẽ xuất quân từ Nhai Đình để lấy Mì Thành, nên đã quyết định lấy Nhai Đình để chẹn yết hầu bên địch, quyết sách đó là hoàn toàn chính xác. Gia Cát Lượng cũng là biết người biết mình, ông ta vốn đoán rằng Tào Chân không phòng bị, nên từ Nhai Đình đi lấy Mì Thành, sau biết Tư Mã Ý đến đánh, đoán hắn sẽ lấy Nhai Đình, thế là lập tức bố trí trận đánh bảo vệ Nhai Đình. Bất kể là nhìn từ mặt chiến lược hay chiến thuật, quyết sách của Gia Cát Lượng cũng là chính xác. Cho nên nói rằng trận đánh ở Nhai Đình, cả Tư Mã Ý và Gia Cát Lượng đều là biết mình biết người, quyết sách hai bên đều không lầm, mà việc thất thủ Nhai Đình lại là do Gia Cát Lượng dùng người không thỏa đáng. Sau khi Nhai Đình thất thủ, Gia Cát Lượng lại bày ra “không thành kế” để làm lui mười lăm vạn quân của Tư Mã Ý, không phải Tư Mã Ý không biết người, ông ta rất hiểu về Gia Cát Lượng là “Lượng bình sinh rất cẩn thận, không làm liều, mạo hiểm”. Gia Cát Lượng dùng “không thành kế”, không chỉ vì Tư Mã Ý bẩm sinh rất cẩn thận và đa nghi, và cũng biết rằng Tư Mã Ý cũng biết mình “cẩn thận, không làm liều” cho nên mới cố làm liều, mạo hiểm. Thứ kế sách đặc biệt áp dụng trong trường hợp đặc biệt này, ngoài sự dự đoán của Tư Mã Ý, nên mới thành công. Mao Tôn Cương trong lời bình hồi thứ một trăm mười một nói đại ý là: Biết mình mà đoán định được người cũng biết mình, biết người mà có thể biết người cũng đoán định được mình cũng biết người, thế mới thực sự là biết mình biết người. Đó là sự ghi chú vào luận điểm “biết mình biết người” của Tôn Tử, cũng là khái quát cuộc đấu trí giữa Tư Mã Ý và Gia Cát Lượng. Thêm nữa là chỉ có thực sự “biết mình biết người”, mới có thể “trăm trận không nguy”. Cũng như Tư Mã Ý do có thể đoán là Mạnh Đạt sẽ ngầm tư thông với Gia Cát Lượng, và cũng biết Tư Mã Ý sẽ đoán định mình và cũng đoán định hữu trọng, mỗi chỗ nên có không những kế để ngăn giữ mà đánh được người, đất nước ta mà yếu với Gia Cát Lượng, phân phó và phát triển chiến tư tưởng quân sự “Biết người biết mình” của Tôn Tử.

3. SO TÀI ĐẤU TRÍ: ĐẶNG NGẢI, KHƯƠNG DUY ĐỌ ĐƯỢC THUA

Khi Khương Duy và Đặng Ngải đọ sức với nhau, hai người đều nắm được mẹo trong binh pháp Tôn Tử: hoặc “gần mà làm ra xa hoặc xa mà làm ra gần”, hoặc “thấy khỏe thì tránh đi, hoặc thân thì làm cho ly tán” ra để đạt tới mục đích là “đánh vào chỗ không phòng bị, xuất kỳ vô ý”. Tam quốc diễn nghĩa tả sự đấu trí so tài giữa hai người này thật là mỗi người khéo mỗi vẻ.

Giả trương thanh thế, người lai, mình vãng

Khương Duy ba lần đánh Trung Nguyên, đại bại Vương Kinh, tiến quân Địch Đạo thành, Đặng Ngải đến cứu viện, vờ đặt cờ trống dọa lui Khương Duy. Khương Duy lui quân đóng ở Chung Đề, Đặng Ngải và Trấn Thái đóng quân ở Ung, Lương v.v... Trấn Thái mời tiệc để Đặng Ngải ăn mừng nói: “Khương Duy trốn chạy đêm, lực của hắn đã cạn, không dám nữa”. Ngài cười nói: “Ta đoán quân Thục lại ra là có năm lẽ: Quân Thục tuy có lui, nhưng cũng ở thế thừa thắng; quân ta thực chất vẫn là thua yếu, hắn tất ra là một lẽ. Quân Thục đều do một tay Khổng Minh huấn luyện, là thứ quân tinh nhuệ, dễ dàng điều khiển; tướng của ta thay đổi xoành xoạch, quân lại huấn luyện chưa kỷ. Địch sẽ ra là lẽ thứ hai. Người Thục lại lấy thuyền hành quân, quân ta thì đi trên bộ, sự mệt mỏi và nhàn nhã khác nhau, Địch đạo, Lũng Tây, Nam An, Kỳ Sơn bốn chỗ đều là đất thủ chiến; người Thục hoặc là giương Đông kích Tây; chỉ Nam đánh Bắc. Quân ta cần phải chia nhau ra thủ giữ; quân Thục nhập vào một nơi rồi kéo đến, lấy số quân đó mà đương với quân ta đã phải chia làm bốn. Địch sẽ ra, là lẽ thứ tư. Nếu Quân Thục từ Nam An, Lũng Tây, tất sẽ lấy ngô bắp của người Khương làm thức ăn, nếu xuất từ Kỳ Sơn, ắt có lúa mạch để ăn: chúng sẽ ra, đó là lẽ thứ năm”. Thế là ở tất cả các nơi hiểm yếu, đều đóng doanh trại để đề phòng bất trắc. Quả không ngoài sự đoán định của Đặng Ngải. Cũng như vậy, Khương Duy cũng cho rằng quân Ngụy có “năm điều bất lợi”, quân Thục có “năm điều lợi”, cho nên đánh Ngụy có “năm khả năng thắng”. Sự nhìn nhận của bên này bên kia đều giống nhau; bởi đều tiến hành phân tích từ tình hình thực tế của cả hai bên. Khương Duy dẫn quân tiến đánh Kỳ Sơn, thấy quân Ngụy đã cắm được chín doanh trại, thế như con rắn lớn, đầu đuôi hỗ trợ được nhau, biết nước Ngụy có chuẩn bị sớm từ trước và đoán Đặng Ngải tất sẽ ở đó. Thế là cho tướng vờ trương thanh thế ở đó, tự mình ngầm đem quân đi đánh lấy Nam An. Đặng Ngải thấy quân Thục mấy ngày liền không đón đánh, mỗi ngày năm lượt đưa quân ra khỏi trại, đi hoặc là 10 dặm, hoặc là mười lăm dặm rồi lại về. Ngải đứng ở trên cao nhìn xong, vội vào trong trướng nói với Trấn Thái: “Khương Duy không ở đây, tất là đi lấy Đồng Đình, đánh úp Nam An rồi! Ngựa ra vào trại chỉ có mấy con này, thay đổi giáp mãng đi, ra ra vào vào thăm dò, ngựa của nó đều mệt mỏi, chủ tướng tất là kẻ bất tài”. Bèn cử Trần Thái sau khi phá xong trại địch, lại chặn đánh quân Thục, còn mình thì dẫn quân đi mai phục ở Nam An. Kết quả là bị Đặng Ngải ở phía trước và phía sau đánh kẹp lại, Khương Duy thua to, chạy trốn về Hán Trung. Trong trận đánh này, Đặng Ngải đoán ra “năm điều tất phải ra của Khương Duy, Khương Duy cũng đoán được “năm cái có thể thắng” khi đánh quân Ngụy, hai bên không hẹn mà gặp nhau ở điểm này. Nhưng Đặng Ngải đoán Khương Duy ra là đúng như ra, còn Khương Duy đoán đánh quân Ngụy thắng mà không thắng, đó chẳng qua là những cái mà Khương Duy liệu đoán tới thì Đặng Ngải đã liệu đoán trước, nên Ngài sớm có sự đề phòng, làm cho Khương Duy không thể phát huy đầy đủ điều kiện của “năm cái có thể thắng”. Khương Duy thấy địch đã có sự chuẩn bị, đã tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu, áp dụng cách “xa mà coi như gần” (Binh pháp Tôn Tử – ND) vờ trương thanh thế ở Kỳ Sơn, nhưng thực ra lại đánh Nam An. Đặng Ngải hiểu sâu binh pháp, đã nhìn ra kế hư thực của địch, đã tương kế tựu kế đánh lại.

Khương Duy đánh Trung Nguyên lần thứ sáu, đã chiến đấu với Đặng Ngải ở Kỳ Sơn, Đặng Ngải lại sinh một kế: tự mình sau khi dẫn quân đánh úp Kỳ Sơn, lại cho người đưa chiến thư khích Khương Duy hôm sau đấu trận pháp. Đặng Ngải không am hiểu lắm về “bát trận”, nên vừa đấu trận đã thua to, nhưng tại sao lại hẹn đấu trận? Khương Duy đã biết có sự dối trá trong đó, phê thư trả lời cho xong, rồi nói với chủ tướng: “Ta theo mật thư mà Võ Hầu đã truyền, cách biến đổi của trận này có ba trăm sáu mươi lăm kiểu, theo độ số quanh trời. Nay họ thách ta đấu trận pháp, thì có khác gì mia rìu qua mắt thợ, nhưng trong này tất có mưu mẹo gì đó, các ông có biết không? Liêu Hóa nói: “Đây chắc hẳn là họ nhử ta đấu trận pháp; nhưng sẽ dẫn quân đánh úp phía sau ta đó!”. Khương Duy cười nói: “Chính hợp với ý ta!”. Nói rồi lập tức sai Trương Dực, Liêu Hóa dẫn một vạn quân đi mai phục ở phía sau. Đặng Ngải giương Đông kích Tây, kết quả là quay về mai phục, bị Trương Dực, Liêu Hóa giáp kích từ hai phía, quân Ngụy thua to. Ngải cố sống cố chết đánh bật ra, mình bị bốn vết thương. Tư Mã Vọng đấu trận thua to chạy về. Hai người bàn nhau kế sách lui quân. Vọng nói: “Gần đây chúa Thục là Lưu Thiến, yêu dùng tên Hoàng Hạo là hoạn quan, ngày đêm ham mê với rượu và gái. Ta dùng kế phản gián để triệu Khương Duy về, thế mới giải được mối nguy này”. Đặng Ngải bèn cho “gián điệp” mang vàng bạc châu báu vào Thành Đô kết thân với Hoàng Hạo, rồi phao tin đồn nhảm, nói rằng Khương Duy oán giận Thiên Tử, chẳng bao lâu nữa sẽ hàng Ngụy. Thế là ở Thành Đô, ai ai cũng đều nói như nhau. Hoàng Hạo tâu lên hậu chúa, lập tức đã sai người đi ngày đi đêm đòi Khương Duy về Triều. Đặng Ngải đánh không thắng nổi Khương Duy, lại dùng cách “Thân thi làm ly tán” để đánh lui quân Thục.

Đánh vào chỗ nó không phòng bị - Ra quân lúc nó không ngờ

Đặng Ngải và Khương Duy đều rất giỏi trong việc “đánh vào chỗ nó không phòng bị và ra quân lúc nó không ngờ”. Vận dụng rất khéo, mỗi người đều có mặt kỳ diệu của mình. Lần thứ tám đánh Trung Nguyên, Khương Duy không xuất quân từ Kỳ Sơn mà lại từ Diêu Dương. Tiêu Tham về báo, Tư Mã Vọng nói với Đặng Ngải: “Khương Duy nhiều mưu mẹo, biết đâu lại chẳng vờ đánh Diêu Dương mà thực là lấy Kỳ Sơn!”. Đặng Ngải nói: “Lần này Khương Duy ra Diêu Dương thực đây, trước đến nay, Khương Duy nhiều lần đều đánh vào chỗ có lương của quân ta. Nay Diêu Dương là nơi không có lương. Duy đoán rằng ta chỉ giữ Kỳ Sơn, không phòng giữ Diêu Dương, cho nên đến đánh chiếm ở đó. Nếu đánh được thành này, tích trữ được lương thảo, liên kết với người Khương để tính kế lâu dài. Bèn rút hết quân ở Kỳ Sơn cùng Tư Mã Vọng chia quân làm hai ngả, lần lượt mai phục ở trong và ngoài thành Diêu Dương. Quân Thục chợt đến, Tư Mã Vọng và Đặng Ngải sẽ trong ngoài giáp công, đánh mạnh vào quân Thục. Khương Duy biết ngụy quân đều ở chỗ này, bèn ngầm cử Trương Dực, dẫn một cánh quân lấy Kỳ Sơn, còn mình thì dẫn quân giao chiến với Đặng Ngãi. Ngày hôm sau lại dẫn binh ra thách chiến. Đặng Ngải án binh bất động. Khương Duy lệnh cho quân sĩ ra chửi mắng, Đặng Ngải nghĩ “Người Thục bị ta giết cho như thế mà lại không hề rút quân, thế tất chúng sẽ đánh úp vào Kỳ Sơn” rồi lại giao cho Đặng Trung giữ thành, còn mình thì đem quân đi cứu Kỳ Sơn. Vào giữa canh hai Khương Duy nghe ngoài trại tiếng reo hò ầm ĩ, tiếng trống, tiếng tù và dậy cả một vùng trời, có người báo Đặng Ngải dẫn tỉnh binh đánh đêm. Các tướng đều định ra, Khương Duy ngăn lại. Bởi Đặng Ngải ngày thì án binh bất động, đến đêm mới khiêu chiến, Khương Duy đoán đó là việc vờ đánh đêm nhưng thực tế sẽ thừa thế đi cứu Kỳ Sơn, bèn dẫn ba ngàn quân lại trợ giúp Trương Dực, Đặng Lương trốn được. Đặng Ngải kinh hoàng, bỗng nghe tiếng hô dậy đất, tiếng trống và tù và vang trời và thấy quân Ngụy ào ào rút lui. Tả hữu báo tin: “Đại tướng quân Khương Bá Ước đánh đến đây”, Trương Dực thừa thế thúc quân lên phối hợp. Hai phía giáp công, đánh tan quân Ngụy. Đặng Ngải thua trận ấy bèn rút quân lên nằm im ở Kỳ Sơn. Khương Duy lệnh cho quân sĩ vây chặt bốn phía. Sau nghe hậu chúa nghe lời xiểm nịnh, định cho người thay Khương Duy, bảo Khương Duy về triều. Để tránh hậu họa, Khương Duy xin ra đóng quân, làm ruộng ở Đạp Trung để đồ kế sau này. Cuộc giao chiến Thục Ngụy đến đây chấm dứt và mở đầu cuộc chiến tranh nước Ngụy đánh lại nước Thục.

Cuộc đọ trí giữa Đặng Ngải với Khương Duy, đã khêu gợi cho chúng ta những gì? Trong đó điều quan trọng nhất là cần phải có tài ứng biến. Bởi sự vật khách quan là luôn không ngừng biến đổi, người ta không thể suy nghĩ mãi bằng cái đầu cứng trơ như đá hoa cương, mà phải có tài trí để ứng biến để thích nghi với tình hình đã thay đổi, nếu không thì sẽ đi đến đâu đụng đầu đến đó, thậm chí còn bị thua to. Nhất là trong chiến tranh, tài ứng biến lại càng quan trọng. Nếu hai bên đều có tài ứng biến thì lúc đó lại xem ai liệu đoán được đúng và đi trước một bước, ai nhanh thì thắng, chậm thì thua. Cuộc đấu trí giữa Đặng Ngải với Khương Duy là như thế. Như trên đã nói, khi Khương Duy đánh Trung Nguyên lần thứ ba, đã căn cứ vào tình hình quân Thục lúc đó mà liệu đoán quân Thục có “năm điều có thể thắng”, thế nên mới đem quân đến Kỳ Sơn. Thế nhưng, chiến tranh vốn không phải do một bên nào sắp đặt, mà là do hai bên đều hoạch định ra, mi có cách gì mới thì ta lại có cách đối phó lại. Đặng Ngải sớm đã đoán được quân Thục có “năm lẽ lại ra cho nên có đề phòng trước. Khương Duy ra quân vừa thấy bên địch có sự chuẩn bị, liền lập tức thay đổi phương án tác chiến: giả trương Thanh Thế ở Kỳ Sơn, song ngầm đem quân lấy Nam An. Nhưng Đặng Ngải cũng không hề lạc quan mù quáng về chuyện đoán trúng việc ra quân của Khương Duy, mà tiến quân từng bước, quan sát từng nơi, khi không thấy quân Thục ra thách đánh, chỉ cho một ít quân trở ra trở về thăm dò, mà dáng ngựa có vẻ mệt mỏi, cho nên đoán “chủ tướng tất là tay bất tài” và đoán rằng Khương Duy thế tất là không ở đó mà là đi đánh úp Nam An, bèn cho quân và đánh quân Thục, còn mình thì gấp rút đem quân đi mai phục ở Nam An, cho nên đã đánh bại quân Thục. Hai bên đoán nhau đều chuẩn xác, lại đều giỏi tùy cơ ứng biến. Nhưng sở dĩ Đặng Ngải thắng, vì sớm biết được hành động của Khương Duy. Vả lại, với những thay đổi của sự vật khách quan, người ta không thể biết hết được, cho nên mới có câu: “Một nghìn điều khôn thế nào cũng có một điều dại”. Thế thì Đặng Ngải làm sao mà đoán gì cũng trúng, huống hồ Khương Duy cũng vào loại khôn, hai bên tài trí như nhau. Bởi nếu bên nào có một sơ hở hoặc sai sót ở một khẩu nào đó, sẽ rất dễ bị phát hiện và sẽ bị bẻ gãy. Lần thứ sáu đánh Trung Nguyên, Khương Duy sở dĩ đánh bại Đặng Ngải bởi trong khi Khương Duy thắng Đặng Ngải về đấu trận pháp, đã dẫn tới một ý nghĩ là: “Mình thành thạo trận pháp” Đặng Ngải sao lại “múa rìu qua mắt thợ”. Cho nên mới đoán rằng Đặng Ngải bề ngoài đấu trận pháp, trong thì ngấm đánh Kỳ Sơn, thế là bèn đem quân phục kích và đánh bại. Lần thứ tám Khương Duy đánh Trung Nguyên, tài ứng biến của đôi bên lại được đổi mới: Đặng Ngải đoán Khương Duy thế nào cũng ra quân ở Diêu Dương nên sớm đã chia quân ra hai ngả để mai phục, Khương Duy hành quân đúng như sự liệu đoán đó, cho nên bị đánh thua nặng. Vậy nhưng quân Thục vẫn không lui, hôm sau Khương Duy lại ra thách đánh, Đặng Ngải liền đoán ngay ra “tất sẽ chia quân ra đánh úp Kỳ Sơn”, bèn án binh bất động, nửa đêm giả trương thanh thế dẫn quân ra đánh để thừa thế cứu Kỳ Sơn. Từ trong việc ngày nghỉ đêm đánh đó, Khương Duy đã biết rằng ở đó chỉ là đánh vờ, mà thực là đi cứu Kỳ Sơn, nên đã ngăn không để các tướng ra đánh, dẫn quân đi cứu quân Thục ở Kỳ Sơn, hai mặt giáp công, đánh bại Đặng Ngải. Qua đó thấy rằng trong cuộc đấu trí giữa Đặng Ngải với Khương Duy, điểm giống nhau của kẻ thắng là: vừa ước đoán tình thế một cách chuẩn xác, lại có tài ứng biến, mới khôn trước hơn người. Chẳng những chiến tranh mới như thế, mà các cuộc cạnh tranh khác trên đời này cũng đều như thế.

4. KỲ PHÙNG ĐỊCH THỦ: DƯƠNG TỔ, LỤC KHÁNG ĐỀU TRỔ TÀI

Đọc đến hồi cuối cùng của “Tam quốc diễn nghĩa” (hồi một trăm hai mươi) nói về chuyện giao hoan giữa Dương Tổ và Lục Kháng, đúng là “khiến người ta thấy nhẹ đầu óc, dịu tai mắt cảm như đang ở đường rậm mà đi ra đường quang, không khí binh đao trôi theo năm tháng” (lời của Mao Tôn Cương) các hồi trước, tả hai quân cẩm cự nhau, mang hết tài hết sức, quyết liễu sống chết, thế mà hồi này lại tả hai đội quân của Dương Tổ, Lục Kháng báo ơn báo đức lẫn nhau, hai bên biếu rượu tặng thuốc cho nhau, cứ y như là bạn thân chơi với nhau, thật là áng văn nằm mơ cũng chẳng thấy.

Trấn đông tướng quân Lục Kháng theo lệnh của chúa nhà Ngô là Tôn Hạo, đóng quân ở Giang Khẩu để nhầm lấy Tương Dương. Lục Kháng là con thứ của Lục Tốn, túc trí đa mưu, nhiều nét mang tác phong như bố mình. Lúc ấy nước Tấn đã diệt nước Thục, thế của nó không còn giống như xưa, đánh nước Tấn cũng chưa phải lúc, cho nên ông ta chủ trương giữ biên cương, yên lòng dân là thượng sách, nên án binh bất động ở Giang Khẩu. Danh tướng của nước Tấn là Dương Tổ theo lệnh chúa của mình đóng giữ Tương Dương, đợi cho nội bộ nước Ngô có biến, mới thừa thế diệt đi. Vì tướng đóng Giang Khẩu là Lục Kháng nên Dương Tổ không dám manh động. Ở nơi biên cương, ông ta muốn lấy đức để thu phục người Ngô nào đến hàng mà muốn xin về, cũng cho về ngay, còn cho giảm bớt số quân đồn trú tuần phòng, lấy người ra khai khẩn hàng tám trăm công ruộng (một công bằng một trăm mẫu). Khi mới đến ở đấy, lương không đủ trăm ngày. Đến cuối năm đã có thóc trữ đủ dùng hàng chục năm, khiến quân dân no cơm ấm áo, rất được lòng dân. Dương Tổ ở trong quân thường chỉ khoác áo cừu đơn giản, đai thất rộng rãi, không mặc giáp mão bao giờ. Quân hộ vệ bên mình chỉ trên chục người.

Dương Tổ lấy đức thu phục người, rất được lòng dân

Một hôm, bộ tướng vào trong trướng bẩm báo: “Tiêu Mã về đưa tin, quân Ngô rất trễ nải có thể nhân lúc nó không phòng bị mà đánh úp, tất là thắng lớn”. Dương Tổ cười, nói: “Các ngươi chớ có coi thường Lục Kháng, con người này túc trí đa mưu, ngày nào chúa nước Ngô lệnh đi đánh chiếm Tây Lăng, hắn đã chém Bộ Xiển và hàng chục tướng tài, ta đến cứu còn không kịp. Người này mà làm tướng, ta chỉ nên giữ là hơn, chờ đến lúc nội bộ chúng có biến, mới hòng đánh họ được. Nếu không lựa thời lựa thế mà khinh tiến, có ngày tự chuốc lấy thất bại!” Một hôm khác Dương Tổ dẫn các tướng đi săn. Dương Tổ hạ lệnh “Quân ta không được vượt qua biên giới”. Các tướng được lệnh, chỉ dám săn vây trong đất Tấn, không phạm vào biên giới nước Ngô. Lục Kháng thấy vậy, thốt lên rằng: “Quân của tướng Dương Tổ có kỷ luật như thế thì không thể xâm phạm được!”. Đến tối thì cả hai bên đều lui quân. Dương Tổ về đến bản doanh rồi cho xem xét các con thú săn được, thấy con nào người Ngô bắn bị thương trước, đều cho mang trả. Người Ngô đều vui mừng, báo tin với Lục Kháng, Kháng cho mời những người mới đến vào, hỏi: “Chủ soái các ngươi có hay uống rượu không?” Người này đáp: “Nếu có rượu ngon, cũng đôi khi uống.” Kháng cười: “Ta đây sản có một vò rượu, để cũng đã lâu. Nay đem gửi một vò sang để tỏ tình thân hữu cuộc đi săn hôm qua”. Những người đó về gặp Dương Tổ nói lại hết những điều Lục Kháng hỏi họ và việc gửi rượu tặng. Dương Tổ cười nói: “Họ cũng biết ta hay uống rượu ư?” Bèn cho mở vò lấy rượu uống. Bộ tướng Trần Nguyên nói: “Trong đó sợ có gì gian trá, Đô đốc xin đừng uống vội!”. Dương Tổ cười nói: “Lục Kháng không phải là con người nỡ bỏ thuốc độc, không cần phải nghi ngại” bèn nghiêng vò rót uống. Từ đó hai bên thường cử người thăm hỏi nhau. Một hôm, Lục Kháng cử người sang thăm Dương Tổ. Tổ hỏi: “Lục Tướng quân chẳng hay có được bình yên không”. Người đó nói: “Chủ soái tôi ốm nằm mấy ngày, không ra ngoài”. Tổ nói: “Ta đoán bệnh ấy cũng giống như ta, ta đã có sẵn một ít thuốc bào chế rồi, hãy đưa cho tướng quân dùng thử”. Người đó mang thuốc về gặp Lục Kháng. Các tướng thấy vậy nói: “Dương Tổ vốn là kẻ thù của chúng ta, thuốc này chưa hẳn là thuốc tốt”. Lục Kháng nói: “Làm gì có chuyện Dương Thúc Tổ hại người thế được! Các ngươi không cần phải nghi ngờ”. Rồi lấy thuốc uống. Vài hôm sau khỏi bệnh, các tướng đều đến mừng. Lục Kháng nói: “Họ chuyên làm điều nhân đức, ta thì chuyên bạo ngược, rồi họ sẽ không đánh mà cũng khuất phục được ta. Từ nay mỗi bên chỉ nên giữ lấy biên cương của mình, chớ nên cầu cái lợi nhỏ”.

Người khéo dùng binh không dễ dãi đánh giặc miệng

Câu chuyện kể trên, về căn bản phù hợp với sự thực lịch sử. Dương Tổ, Lục Kháng đều là nho tướng, hai người đều túc trí đa mưu, hai bên đều kính nể lẫn nhau, cho nên khi cầm cự ở biên cương đều không dám manh động, dễ dãi. Dương Tổ từng được nếm đòn lợi hại của Lục Kháng. thế nên khì bộ tướng vào báo “quân Ngô trễ nải rệu rã đề nghị “thừa dịp chúng không phòng bị mà đánh”, Dương Tổ không bằng lòng. Lục Kháng là danh tướng, làm sao lại có thể bảo vệ biên cương mà để quân sĩ “trễ nải rệu rã”. Hiển nhiên đó chỉ là kế nhử địch. Dương Tổ cũng là danh tướng, đương nhiên không bao giờ trúng kế của Lục Kháng, cho nên đã nhắc nhở rằng “Người này mà làm tướng, thì chúng ta chỉ nên tự giữ, chờ cho nội bộ họ có biến, mới có thể tính được. Nếu không cân nhắc thời thế mà tiến quân một cách dễ dãi, thì đó là tự chuốc lấy thất bại. Phàm là những người giỏi dùng bình, không bao giờ đễ dãi đánh giặc mèng. không đánh trận nào không chắc chắn, mà luôn luôn thừa cơ có thể thắng mới đánh. Dương Tổ cũng thế, mà Lục Kháng cũng vậy. Lúc bấy giờ nước Thục đã mất, chỉ còn có nước Ngô, nhưng lại đã nước cùng dân quẫn, không thể nào tiến quân được lên phía Bắc nên Lục Kháng mới án binh bất động, để giữ vững biên cương và yên lòng dân. Còn Dương Tổ tỏ ra nhân đức với dân nước Ngô, giao hoan với Lục Kháng ở biên giới, là có mưu sâu và biết nhìn xa, là phục tùng mục đích chiến lược của mình, chắn kiến non một thế kỷ, tại làm sao chẳng ai chinh phục được ai, trong đó, một nguyên nhân tối quan trọng là: lòng dân quy phục, tướng sĩ dốc lòng. Cho nên Tào Tháo, Tào Phi không thể xuống phía đông để lấy Tây Xuyên, Lưu bị, Tôn Quyền cũng chẳng thực hiện được mưu đồ bắc phạt của mình. Mà sở dĩ nước Thục suy vong, là do Lưu Thiền ngu muội, dân chúng khốn khổ, tướng sĩ muốn dốc lòng cũng không có nơi sở cậy.

Được dân thì thịnh – Mất dân thì suy

Dương Tổ là nhà quân sự lỗi lạc của nước Tấn, là người biết tổng kết bài học kinh nghiệm lịch sử và hiểu một cách sâu sắc một chân lý “được dân thì thịnh, mất dân thì suy”. Cho nên sau khi ông ta trấn thủ Tương Dương, một mặt tăng cường bám ruộng, để quân dân no cơm ấm áo, được cả quân cả dân ủng hộ, mặt khác gia ơn gia đức cho dân, cho thuốc tướng Ngô là để lấy lòng họ, và đây thực chất là muốn làm tan vỡ lòng quân lòng dân nước Ngô, cũng là một cuộc “đánh vào lòng người”, là tư tưởng cao nhất, sáng suốt nhất để đánh nước Ngô. Lục Kháng cũng thừa biết dụng ý của Dương Tổ, cho nên nói: “họ chuyên lấy đức, ta chuyên hung bạo, sẽ có ngày họ không đánh mà khuất phục được ta”. Đó là lời nói lo cho đất nước của Lục Kháng. Dương Tổ gia ơn gia đức cho người Ngô, trong khi chúa cửa nước Ngô là Tôn Hạo lại ngày càng bạo ngược với dân chúng nước Ngô, cho nên về sau bị nước Tấn diệt là việc đã nằm trong dự liệu. Dương Tổ do ốm chết mà không kịp đánh nước Ngô, nhưng tư tưởng gia đức cho người Ngô, đã được người ông ta tiến cử là Đỗ Dự kế thừa, bởi vậy làm cho người Ngô lũ lượt không đánh mà hàng. Từ đó thấy rằng, muốn giành thắng lợi trong chiến tranh, trước hết phải tranh thủ được sự ủng hộ của lòng dân, thứ đến là đừng trông mong ở sự ăn may, không đánh trận khi chưa nắm chắc chấn. Đó chẳng những là nhân tố quyết định giành thắng lợi trong chiến tranh, mà còn là nhân tố quyết định sự thành công của mọi sự nghiệp khác.

Nguyễn Bá Thính dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.