Thời kỳ ba nước cùng tồn tại, tuy chỉ vẻn vẹn có ba nước Ngụy, Thục, Ngô, nhưng giữa nước này với nước kia đấu tranh ngoại giao cực kỳ gay gắt, phức tạp và khéo léo. Đi sâu vào xem xét thứ ngoại giao ba cực này, đối với hiện nay cũng có nhiều điều gợi mở.
Lợi hại quyết định xu hướng ngoại giao
Quan hệ giữa nước này với nước kia, thì quan hệ lợi hại là chủ yếu, những quan hệ khác đều là thứ yếu. Giữa nước này với nước kia nếu lợi thì hợp, có hại thì tan, mà xu hướng của quan hệ ngoại giao cũng quyết định bởi quan hệ lợi hại, quan hệ ngoại giao giữa ba nước với nhau cũng như thế.
Khi quân Tào Tháo xuống phía Nam, Lưu Tông phải hàng, diệt Kinh Châu, chĩa mũi nhọn vào Tôn, Lưu. Tôn, Lưu chỉ có sự chọn lựa như sau: Một là đầu hàng, một là liên hiệp chống Tào Tháo, không còn đường nào khác. Vào lúc đó, Tào Tháo mạnh nhất, Tôn Quyền và Lưu Bị thì bất kể bên nào nếu chỉ dựa vào sức mình đều khó có thể chống nổi. Chỉ có hợp lực lại chống Tào Tháo mới có thể tồn tại và mới mong giành thắng lợi. Bởi vậy, khi Tào Tháo xuất chinh xuống phía Nam, Khổng Minh và Lỗ Túc không ai bảo ai, cùng đề ra quyết sách “Lưu, Tôn liên hợp chống Tào”, nó hoàn toàn phù hợp với lợi ích hai bên, cho nên cả Lưu Bị lẫn Tôn Quyền đều vui lòng chấp nhận. Nhưng từ sau trận Xích Bích do giữa Lưu, Tôn lại tồn tại vấn đề Kinh Châu chưa giải quyết, giữa bên này với bên kia rõ ràng là “đồng sàng dị mộng” (nằm cùng giường mà mơ khác nhau) mỗi người đều mang ý nghĩa của mình. Kinh Châu ở thượng du của Đông Ngô, uy hiếp đến an toàn của Đông Ngô; Tôn Quyền chiếm sông để tự giữ mình, không lấy lại Kinh Châu không xong; Kinh Châu còn là đất dụng võ, là nơi hiểm yếu để tiến công Tào Ngụy. Lưu Bị muốn lấy Trung Nguyên ở phía bắc, quyết không thể đem đất này trả lại Tôn Quyền. Điểm yếu chung của Lưu Bị và Tôn Quyền là đều để mất vào lợi ích trước mắt của mình, chỉ cò kè chuyện được mất Kinh Châu mà quên đi kẻ thù chung của họ là Tào Tháo. Bởi vậy Tôn Quyền và Lưu Bị đều lần lượt chỉ biết giải quyết bằng vũ lực. Tào Tháo thì lại lợi dụng mâu thuẫn giữa Tôn, Lưu, tiến hành phân hóa lôi kéo. Giữa Tào, Lưu với nhau không còn khả năng hòa giải, Tào Tháo chỉ có thể bắt tay từ phía Tôn Quyền, bèn giả vờ hứa cắt Giang Nam phong quyền để làm miếng mồi ngầm khiến Tôn Quyền đánh úp Quan Vũ đang thắng lợi tiến quân Phàn Thành, còn mình thì tọa sơn quan hổ đấu. Âm mưu của Tào Tháo rốt cuộc đã được thực hiện, từng một thời làm cho liên minh của Tôn, Lưu tan rã. Kinh Châu bị đánh úp, sau khi Lưu Bị chinh phạt nước Ngô bị bại, Lưu, Tôn xuất phát từ lợi ích chung là chống Tào để giữ mình, lại liên minh lần nữa. Thục, Ngô từ chỗ liên minh trở thành đối địch, lại từ nước đối địch khôi phục lại mối liên minh cũ và Đông Ngô từ chỗ chống Tào đi đến chỗ theo Tào sau lại chống Tào... những sự thực đó đã nói lên đầy đủ rằng: Không có nước đồng minh lâu dài cũng không có nước đối địch mãi mãi, tất cả đều di chuyển theo tình hình lợi hại của các nước.
Thực thà là cha quỷ quái
Có hai loại sứ giả ngoại giao: một loại kiểu thành thực; một loại kiểu xảo trá, hai loại sứ giả kiểu ngoại giao này đều cần có trí tuệ, người không có trí tuệ thì không làm được sứ giả. Bởi vì ngoại giao là rắc rối phức tạp, hơi không cẩn thận hoặc thiếu trí khôn, là sẽ bị mắc hợm, khiến nhà nước bị thiệt thòi. Nói kiểu thành thực và kiểu xảo trá ai hơn ai thì khó mà kết luận ngay được. Đối với nước đối địch, đấu tranh giữa nước này nước kia là một mất một còn, không thể nói thành thực được, chỉ có thể lấy xảo trá để đối với xảo trá; đối với nước nọ với nước bạn hoặc nước hợp tác với mình, thì cần phải nói đến thành thực, nếu không giữa nước nọ với nước kia sẽ thiếu tin tưởng, khó mà hợp tác với nhau được. Sự chia rẽ về sau giữa nước Ngô và nước Thục, đó là một trong nhiều nguyên nhân.
Tính cách đôn hậu, thành thực của Lỗ Túc, trong khi xử lý quan hệ đối ngoại đã có những biểu hiện rất đầy đủ. Sau khi làm cho Lưu, Tôn liên minh chống Tào, dưới bất cứ tình hình nào, Lỗ Túc đều giữ vững chính sách đối ngoại này, đến chết vẫn không thay đổi. Lỗ Túc sở dĩ làm như vậy, vì khi xử lý quan hệ đối ngoại, ông có một nhãn quan chiến lược. Ông cho rằng chỉ có củng cố khối liên minh Thục Ngô, nước Đông Ngô mới đứng vững được ở Giang Đông để giành thiên hạ. Mà quan hệ giữa nước Ngô nước Thục thì giống như môi với răng; môi hở thì răng lạnh. Chính là vì xuất phát từ quan điểm chiến lược đó, trong việc đối xử với Khổng Minh và thái độ trong vấn đề giải quyết Kinh Châu, giữa Lỗ Túc và Chu Du trái ngược lẫn nhau. Chu Du muốn hại Khổng Minh, Lỗ Túc lại ra công bảo vệ; Chu Du muốn dùng vũ lực giải quyết vấn đề Kinh Châu, Lỗ Túc kiên trì chủ trương hiệp thương để giải quyết. Khi Lỗ Túc còn sống, mặc dù Tôn, Lưu trong việc tranh giành Kinh Châu, mâu thuẫn đầy rẫy, nhưng vì có Lỗ Túc điều đình từ bên trong, liên minh hai bên vẫn được giữ vững, việc đó đối với nước Thục nước Ngô đều rất có lợi hơn là chia rẽ, cho nên cũng giành phần thắng. Lỗ Túc là người thực thà thực quá hóa ngu, lần nào cũng chịu thiệt, Khổng Minh thắng Lỗ Túc nhiều lần. Nhìn bề ngoài hình như là thế, Tam quốc diễn nghĩa cũng viết với ý như thế. Để lấy lại Kinh Châu, Lỗ Túc ba lần đi đàm phán. Từ sau khi Nam Dương bị Khổng Minh dùng kế lấy mất, trong cơn nóng giận, Chu Du chuẩn bị đem quân cùng Lưu Bị, Khổng Minh quyết một phen sống mái. Lỗ Túc kiên quyết phản đối, nói: “Nếu tự ta thôn tính lẫn nhau, quân Tào Tháo sẽ tìm chỗ hở mà đánh, thế đó rất nguy.” Tự động yêu cầu ra phía trước nói bằng lý lẽ. Nếu nói không thông suốt, động binh chưa phải chậm. Trong khi đàm phán, Khổng Minh nêu ra: Kinh Châu vốn là cơ nghiệp của Lưu Biểu, nên do con trai ông là Lưu Kỳ trấn giữ. Nếu Lưu Kỳ không có mặt, thì đừng nói đến đàm phán. Lỗ Túc thấy rằng Lưu Kỳ bệnh đã rất nặng, chỉ qua được nửa năm nữa là cùng, chắc sẽ chết, bèn đồng ý với “hiệp nghị”. Nếu Lưu Kỳ mất, Kinh Châu trả về Đông Ngô. Lưu Kỳ ốm chết, với danh nghĩa phúng viếng, Lỗ Túc đòi lại Kinh Châu. Khổng Minh lại lần lữa, nói hãy để tạm mượn Kinh Châu, chờ sau khi lấy được Tứ Xuyên, mới trả lại Kinh Châu. Vì phải nghĩ đến toàn cục, nên Lỗ Túc lại bằng lòng. Lỗ Túc bèn hỏi Chu Du, Chu Du nói toạc ra rằng: “Danh nghĩa là mượn đất, thực chất là không trả.” Lỗ Túc lại cho rằng: “Lưu Bị không phụ ta.” Suy bụng ta ra bụng người, đúng là một người thật thà! Chu Du nhìn nhận rõ hơn, nói: “Lưu Bị là bậc anh hùng. Gia Cát Lượng là đồ gian hoạt, sợ không giống như bụng ngài đâu.” Quả nhiên, sau khi lấy được Tứ Xuyên; Lưu Bị, Khổng Minh lại vẫn lần lữa. Lúc ấy Lỗ Túc đã qua đời, không thể có ảnh hưởng gì với Tôn Quyền. Tôn Quyền rốt cuộc phải dùng vũ lực giải quyết Kinh Châu. Liên minh Thục, Ngô cùng cáo chung một cách quyết liệt. Lấy lại Kinh Châu, chiếm cứ thế Trường giang, chờ thời cơ giành thiên hạ, đó là quốc sách mà Lỗ Túc đặt ra cho Tôn Quyền nhưng để ủng cố liên minh Thục, Ngô, ông chủ trương giải quyết vấn đề Kinh Châu bằng phương pháp hòa bình, cho nên mấy lần nhượng bộ. Còn Khổng Minh thì lại láu cá lần lữa hết lần này lần khác. Mới nhìn qua Lỗ Túc có vẻ hơi ngu đần, kỳ thực là ngu của kẻ rất khôn. Còn Khổng Minh tuy khôn khéo, láu cá nhưng là sự xảo trá. Khổng Minh làm như vậy thì không thể được lòng tin của nước đồng minh, chẳng những làm cho mâu thuẫn hai bên không được giải quyết mà lại ngày một sâu sắc thêm, kết quả là “Quan Vũ hủy hoại; Tỷ Quy cũng chẳng còn” thật là một hành động thiếu thông minh. Trong việc xử lý quan hệ giữa các nước đồng minh thì nên xảo trá hay nên thành thực thì hơn? Hiển nhiên là thành thực hơn, cho nên hình tượng một sứ giả có tầm mắt chiến lược của Lỗ Túc càng trở nên cao đẹp.
Nói tóm lại, Khổng Minh cũng như Lỗ Túc, là người khêu gợi ra và giữ gìn mối liên minh giữa nước Thục, nước Ngô, thành tựu ngoại giao của họ rất huy hoàng. Đang giữa mùa thu Lưu Bị lâm vào tình trạng nguy kịch, ông xin được lệnh đi nước Ngô, làm sứ giả môi giới, khẩu chiến với đám nho sĩ, kích trí Chu Du, Tôn Quyền, dùng trí tuệ hơn người và bàn tay dàn xếp lôi kéo đã thuyết phục người nước Ngô, cùng nhau liên minh đánh bại Tào Tháo. Chính vì vậy mới dẫn được tới việc Lưu Bị lấy được Kinh Châu, Ích Châu, xưng đế ở Tây Thục. Sau khi liên minh Ngô Thục bị phá vỡ, Khổng Minh cử Đặng Chi đến nước Ngô, trấn thuyết mọi điều lợi hại. Thục Ngô lại tuyên bố liên minh. Đó là nguyên nhân chủ yếu để Thục Ngô cùng đứng vững với Tào Ngụy gần một nửa thế kỷ.
Hai thái độ, hai hiệu quả
Tam quốc diễn nghĩa còn nhào nặn nên hai loại hình tượng sứ giả là không tự ty không tự cao và mù quáng tự cao. Đã là một sứ giả, điều tối kỵ là tự ty và kiêu ngạo. Tự ty thì bị người ta khinh rẻ, kiêu ngạo thì khiến người ta có ác cảm, chỉ có không tự ty, tự cao mới là thái độ cần có của một sứ giả. Hai loại hình tượng không tự ty tự cao và huyênh hoang tự cao của sứ giả trong Tam quốc diễn nghĩa đều được miêu tả so sánh rất sinh động. Nhân thời cơ Lưu Bị qua đời, chúa nước Ngụy là Tào Phi dấy binh chia năm lộ đánh nước Thục, trong đó có một lộ là lính Đông Ngô. Đông Ngô trông đợi, chậm không ra quân. Sau khi Khổng Minh bày kế cho lui bốn lộ quân, cử Đặng Chi đi Đông Ngô, biến kẻ địch thành bạn bè, cùng đánh quân Ngụy. Tôn Quyền biết Đặng Chi tới, bàn bạc với quần thần. Trương Chiêu cho rằng đây là kế lui quân của Khổng Minh nên cử Đặng Chi làm thuyết khách, đề nghị rằng trước khi người này nói chuyện, hãy để sẵn vạc dầu đợi đấy, trách bằng chuyện Lịch Tự Cơ thuyết Tề, xem người này sẽ đối đáp ra sao. Tôn Quyền làm theo ý đó, lệnh cho bắc vạc dầu, để võ sĩ đứng hai bên tả hữu, người nào tay cũng cấm kích, kiếm, búa chùy, đứng từ ngoài vào đến điện chờ sẵn Đặng Chi bước vào. Đặng Chi xốc áo hiên ngang bước vào, mắt nhìn thấy dầu trong vạc đã sôi, võ sĩ hai hàng sát khí đằng đằng, nhưng cũng chẳng hề kinh sợ. Cận thần dẫn tới trước rèm, Đặng Chi vòng tay mãi mà không vái, Tôn Quyền ra lệnh phải chào thậm chí dọa bỏ vạc dầu, Đặng Chi vẫn không quỳ gối, mà còn trách mắng Tôn Quyền: Ta là nho sinh nước Thục, đến đây cùng vì điều lợi hại của nước Ngô. Thế mà nỡ đem quân lính với vạc dầu ra để chống lại một sứ thần sao? Tôn Quyền nghe vậy hoảng hốt, vội truyền lui quân sĩ, mời Đặng Chi lên điện, ngồi bàn bạc thoải mái. Đặng Chi cũng vì vậy mà nói hết những mặt tốt, nếu bỏ Ngụy liên minh với Thục, Tôn Quyền lúc đó mới quyết tâm liên kết với nước Thục và cử Trương Ôn cùng Đặng Chi vào nước Thục để giao hảo. Trương Ôn đến nước Thục, Khổng Minh mở tiệc khoản đãi, Trương Ôn tự thấy đắc chí, trong khi chuyện trò tỏ ra ngạo mạn. Hôm sau, phía chủ mở tiệc đưa tiễn. Trong bữa tiệc, Tần Mật giả say ngồi xen vào. Trương Ôn thấy lạ, tỏ ý khinh Tần Mật, muốn trổ tài của mình, đã nêu ra những câu hỏi kỳ quái như: “Trời có đầu không?”, “Trời có mắt không”, “Trời có chân không”. “Trời có tai không?”, “Trời có họ không?” để vặn Tần Mật. Tần Mật không cần suy nghĩ, trả lời rất trôi chảy và có căn cứ hẳn hoi, khiến mọi người rất kinh ngạc. Đến khi Tần Mật dùng lẽ trời để hỏi lại, Trương Ôn không trả lời được câu nào, lúng túng xấu hổ, nhưng cũng rút ra được bài học, bèn rời mâm tiệc và nói: “Không ngờ nước Thục lại lắm người tài giỏi thế.”
Lại như Triệu Tư và Hình Trinh cũng là hai loại sứ giả có loại hình khác nhau như thế. Lưu Bị đánh nước Ngô, Tôn Quyền cầu hòa không được, Triệu Tư tình nguyện đi thuyết phục Tào Phi là chúa nước Ngụy, để đánh úp Hán Trung, đánh ép quân Thục. Tôn Quyền mừng lắm, liền viết biểu xưng thần, lệnh Triệu Tư làm sứ giả. Quân chủ xưng thần, Triệu Tư lại vâng lệnh đi cầu cứu người, xử lý không đúng mức, dễ mất quốc thể. Thế nhưng Triệu Tư vẫn thuyết phục được chúa nước Ngụy và còn được kính trọng. Khi hội kiến Tào Phi. Phi hỏi: “Ngô hầu ai là chúa?” Tư khoe chúa của mình “là một vị chúa thông minh, nhân trí, anh hùng mưu lược”. Khi giải thích ý đó, đến từ “lược” đã giải thích rất khéo với ý là “cúi mình trước bệ hạ, đó là lược vậy”, tức là nói người có mưu lược thì cũng có mưu quyền, đã che đậy được cái việc Tôn Quyền hạ mình xưng thần khá nhục nhã đó đi. Phi lại hỏi tiếp: “Trẫm muốn chinh phạt nước Ngô, được chứ?” Tư không chịu hèn, nói: “Nước lớn có quân đi chinh phạt, nước nhỏ sẽ có sách chống lại.” Phi lại hỏi:” Nước Ngô có sợ nước Ngụy không?” Tư cứng cỏi đáp: “Quân có hàng triệu, nhìn sông như ao, có gì mà đáng sợ.” Phi lại nói: “Sứ giả đi khắp nơi, không làm nhục lệnh chúa, khanh có thể làm được việc đó.” Phi tuy có nhận Tôn Quyền thần thuộc, nhưng vẫn không phát binh mà muốn “tọa sơn quan hổ đấu”. Chỉ phong cho Tôn Quyền làm Ngô Vương và ban thưởng, sau đó lại sai Hình Trinh cùng đi với Triệu Tư sang để phát thưởng. Hình Trinh đến nước Ngô, Tôn Quyền sai trăm quan ra ngoài thành nghênh tiếp. Cậy mình là thiên sứ của nước đàn anh, huênh hoang tự cao, vào cổng không thèm xuống xe, bị Trương Chiêu nghiêm giọng trách mắng: “Lễ không có điều nào không kính trọng, phép không điều nào là không nghiêm túc, nếu quá kiêu căng, chẳng lẽ Giang Nam thiếu dao để trị hay sao?” Hình Trinh vội vàng xuống xin vào gặp Tôn Quyền. Những mẩu chuyện trên, đã khắc họa cái vẻ không tự ti không tự cao của Đặng Chi, Triệu Tư và vẻ tự cao tự đại của Trương Ôn, Hình Trinh một cách rất hình tượng. Thái độ không tự ty không tự cao, không làm nhục lệnh chúa, khiến người ta khâm phục. Trương Ôn, Hình Trinh thì ngạo mạn nên bị nếm đòn nhục nhã.