1. TỪ YẾU THÀNH MẠNH: LƯU BỊ ĐƯỢC KHỔNG MINH MÀ KHÁ LÊN

Tinh Hoa Mưu Trí Trong Tam Quốc

Lượt đọc: 258 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
I. SÁCH LƯỢC CON NGƯỜI

❊ ❊ ❊

Biết dùng được người, ba nước đứng vững vàng, không biết dùng được người, nước mất nhà tan. Sự hưng vong của Tam quốc, tuy có nhiều nguyên nhân về chính trị kinh tế, nhưng cũng còn có quan hệ chặt chẽ tới việc có dùng được người hay không. Cuối đời Đông Hán, anh hùng hào kiệt tranh giành lẫn nhau, chư hầu 18 trấn lần lượt diệt vong mà Tào Tháo, Lưu Bị, Tôn Quyền sở dĩ vươn dậy được, đứng vững ba chân kiềng, chủ yếu là nhờ biết dùng người. Còn những người kế thừa sau Tam quốc thì hoàn toàn ngược lại, đều không giỏi trong việc giao việc cho người hiền, cất nhắc người có năng lực, kết quả bị nước Tấn diệt.

Mới hay sách lược con người quan trọng thế nào.

Trong hồi thứ 35, có một đoạn đối thoại về cách dùng người: Thủy Kính tiên sinh lần đầu gặp Lưu Bị, thấy khí sắc không vui liền nghĩ đến cảnh ngộ khó khăn của Lưu Bị, bèn hỏi: “Tôi từ lâu đã biết tiếng minh công, cớ sao ngày nay lại buồn đến thất thần như thế?”. Lưu Bị nói: “Đường đời lắm nỗi gian truân cho nên mới thế”. Thủy Kính nói: “Không sao. Đó là tướng quân chưa có người kế cận mà thôi”. Lưu Bị nói: “Bị tuy bất tài, song văn thì có Tôn Cán, My Trúc, Giản Ung, võ thì có bọn Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân hết lòng phò tá, tận lực trung thành”. Thủy Kính nói: “Quan, Vân, Triệu, khẳng định là vạn người khó địch, nhưng tiếc thay là chưa có người dùng họ. Còn như Tôn Càn, My Trúc là bọn người bạch diện thư sinh, chưa có tài kinh bang tế thế”. Lời của Thủy Kính tiên sinh đã nói rõ lên một tư tưởng quan trọng của việc dùng người: Có người tài rồi, không có nghĩa là biết dùng người; không giỏi trong việc dùng người tài thì không phát huy được tác dụng của nhân tài. Ông ta nói Lưu Bị “chưa có người kế cận” là chưa có bậc đại tài sử dụng các nhân tài, tức là thiếu một người tài tính toán cho toàn cục, cũng tức là có tài “kinh bang tế thế”. “Đường đời lắm nỗi gian truân” của Lưu Bị đã chứng tỏ lời của Thủy Kính tiên sinh là đúng.

Từ nghịch cảnh bước ra thuận cảnh

Ngày “Đào viên kết nghĩa”, ba anh em Lưu Bị đã chung một lời thề: “Đồng tâm hiệp lực, cứu khốn phò nguy, ở trên là đền ơn nước, dưới là yên cho dân”. Mặc dù họ ôm ấp một chí hướng lớn lao, nhưng vẫn không được như sở nguyện. Tuy các hổ tướng Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân quên chết tận lòng trung, Tôn Càn, Giản Ung v.v... cũng mang hết sức mình, nhưng vẫn chẳng ăn thua gì, vẫn long đong lận đận, sống dưới trướng người khác. Ông đã phải chuyển khắp các chiến trường, qua muôn ngàn gian khổ, mới giành được Từ Châu làm chỗ trú chân, nhưng rồi lại bị Lã Bố lấy mất. Đành phải phụ thuộc Tào Tháo, vì chán ghét sự đối xử tàn ác của Tào Tháo bèn tìm kế thoát thân, mượn cớ đánh Viên Thuật để về chiếm lại Từ Châu. Sau bị Tào Tháo đánh bại, để giữ yên thân lại phải theo Viên Thiệu. Vì Quan Công giúp Tào, chém Nhan Lương, Văn Sú, suýt bị Viên Thiệu giết. Sau lại dựa vào Lưu Biểu và bị Sái Mạo và Sái Phu nhân ngấm ngầm thanh toán, suýt phải bỏ mạng. Tình hình lúc đó của Lưu Bị quả là bi đát và tồi tệ nên ông đã cảm thấy “ngày tháng kéo dài cái già đến bên mà công chưa thành danh chưa toại” bất giác thấy thế mà buồn, thở ngắn than dài. Vậy mà khi được Khổng Minh giúp đỡ, đã vui mừng mà ví như “cá được gặp nước”. Cá không có nước, một bước cũng không xong. Cá đã có nước thì tha hồ vùng vẫy. Từ đó Lưu Bị từ nghịch cảnh bước được ra thuận cảnh: Liên hợp với Đông Ngô, đánh bại được Tào Tháo: lấy được Kinh Châu, Ích Châu, xưng đế ở Tây Thục. Khổng Minh làm sao mà có lực lượng xoay chuyển được càn khôn như thế?

Quyết sách chờ thời cơ mà hành động

Khi không có cách gì tìm hiểu được quy luật phát triển của sự vật khách quan thì con người chẳng làm được cái gì. Nếu đi đúng với quy luật phát triển con người sẽ trở nên chủ động, có thể thay trời đổi đất. Nhân vật kiệt xuất có tác dụng lớn lao được trong lịch sử không phải đâu là họ có ba đầu sáu tay, hoặc tiên tri tiên giác, mà là vì họ có thể xuất phát từ thực tế, căn cứ vào tình thế khách quan lúc bấy giờ, thực sự cầu thị vạch ra một quyết sách chiến lược đúng đắn. “Long trung sách” của Khổng Minh được ra đời như thế. Muốn tìm hiểu tác dụng kiệt xuất mà Khổng Minh đã gây nên được thì phải bắt đầu nghiên cứu từ “Long trung sách”. Vậy nó là cái gì? Đó là một đoạn đối thoại quan trọng giữa Khổng Minh và Lưu Bị khi Lưu Bị tam cố thảo lư cũng là quyết sách của Khổng Minh nêu ra cho Lưu Bị để giành lấy thiên hạ. Khổng Minh chỉ ra rằng “Nay Tào Tháo có hàng triệu quân lính, ép thiên tử để lệnh chư hầu, cho nên không thể đua tranh được. Tôn Quyền hùng cứ Giang Đông đã ba đời, đất hiểm trở, dân lại chịu theo, loại này chỉ có thể nhờ để viện giúp chứ không thể chiếm lấy được”. Chỉ có Kinh Châu, Ích Châu là có thể lấy được. “Nếu vượt quá được hai châu Kinh, Ích, giữ lấy địa thế hiểm trở của nó; phía tây hãy giảng hòa với các bộ tộc, phía nam nâng đỡ Di Việt, bên ngoài liên kết với Tôn Quyền, bên trong chỉnh đốn lại chính sự, đợi khi thiên hạ có biến, sẽ lệnh cho một tướng mang quân Kinh Châu tiến theo hướng Uyển Lạc, còn tướng quân thân chinh đem quân từ Ích Châu ra Thái Châu, dân chúng lại không mang của ngon vật lạ ra đón tướng quân sao? Nếu được thế, đại nghiệp sẽ thành, cơ đồ nhà Hán sẽ khá lên vậy”. Vì hàng loạt nguyên nhân chủ quan và khách quan, nguyện vọng “cơ đồ nhà Hán sẽ khá lên” của Khổng Minh tuy không được thực hiện, nhưng quyết sách liên hiệp với nước Ngô chống Tào Tháo, lấy hai Châu Kinh, Ích, chờ thời cơ mà hành động... trong quá trình thực tiễn đã được chứng minh là chính xác, nó đã khiến cho nước Thục yếu kém đã đứng vững lâu hàng nửa thế kỷ cho nên được mệnh danh là “thiên cổ kỳ sách”. Khổng Minh còn chưa ra khỏi lều cỏ đã dự kiến điều thiên hạ chia ba, thật không hổ thẹn là một nhà chiến lược biết nhìn xa thấy rộng. Và việc ông có thể chế định ra “Long trung sách” chứng tỏ là với tình thế của thiên hạ lúc đó ông có sự tìm hiểu sâu sắc và toàn diện, đã phân tích kỹ lưỡng các tập đoàn chính trị cho nên đã làm rõ được đối tượng cần đánh và lực lượng cần đoàn kết, xác định được mục tiêu phấn đấu trước mắt và lâu dài.

Dựa vào hình thế mà vạch mưu lược

“Long trung sách” được Khổng Minh vạch ra vào năm Kiến An thứ 20 tức năm 207 công lịch. Năm ấy, hình thế lớn của thiên hạ là: ở phía Bắc, Tào Tháo dựa vào địa vị đặc biệt hơn hẳn của mình là ép thiên tử, lệnh chư hầu, lần lượt tiêu diệt các thế lực quân phiệt của Lã Bố, Viên Thuật, Đào Khiêm, Viên Thiệu v.v... về căn bản đã thống nhất được phương Bắc. Con người này trong tay với hàng triệu quân, là kẻ mạnh nhất của Trung Quốc thời bấy giờ. Tháng 2 mùa xuân năm ấy, Tào Tháo đã truyền đi lệnh Đinh Dậu, nói rằng: “Thiên hạ tuy còn chưa yên, ta đã cùng các bậc hiền sĩ đại phu cùng định”. Điều đó nói lên rằng Tào Tháo quyết ý đánh xuống phía Nam. Ở vùng Đông Nam, Tôn Quyền kế nghiệp cha anh đã 7 năm, sau khi trấn áp một cách tàn khốc những cuộc phản kháng của dân tộc Việt, chính quyền được củng cố về cơ bản, lại thêm có Trường Giang hiểm trở, lại được sự ủng hộ của các thổ tộc ở Ngô Quận do Cố Ung, Lục Tốn đứng đầu. Rồi lại biết cất nhắc người có tài, sắp xếp người có năng lực nên được sự phò tá của những bậc văn võ toàn tài như Chu Du, Lỗ Túc, lực nước ngày càng lớn mạnh. Lúc đó, thế lực của Tôn Quyền chỉ dưới có Tào Tháo mà thôi. Ở vùng Tây Nam, Lưu Biểu ở Kinh Châu, Lưu Chương ở Ích Châu đều là một bọn bất tài khó mà chống lại nổi Tào Tháo, sớm muộn gì rồi cũng bị người ta thôn tính. Chỉ có Lưu Bị, tuy ký thác cho Lưu Biểu, nhưng rất được lòng người, nên hào kiệt ở Kinh Châu đều quy thuận, sự thực, ông đã là đại biểu của thế lực mới vươn lên ở vùng Kinh Châu, vốn có thực lực nhất định. Rất rõ ràng, lúc đó đứng vững để tranh thiên hạ chỉ còn ba người là Tào Tháo, Tôn Quyền và Lưu Bị mà thôi. Mà trong ba người đó Tào Tháo có thế lực mạnh nhất, Lưu Bị muốn chống lại Tào Tháo, chỉ còn cách liên minh với Tôn Quyền. Cho nên sự liên minh giữa Lưu – Tôn để chống Tào, là tình thế tất nhiên. Lúc đó, Khổng Minh đã “cày cấy săn bắn ở Nam Dương” 12 năm trời rồi. Nhưng vì Kinh Châu là đầu mối giao thông quan trọng giữa Đông Tây và Nam Bắc và là yết hầu quân sự lúc đó, đã cung cấp cho ông điều kiện có lợi để quan sát không khí chính trị. Ông thường xuyên cùng Thạch Quảng Nguyên, Từ Nguyên Trực, Mãnh Công Uy v.v.. luận sử tiến, bàn chính sự. Trước khi Lưu Bị “Tam cố thảo lư” (ba lần thăm lều cỏ), qua nhiều con đường, ông đã tìm hiểu tình hình, tiến hành phân tích nghiên cứu, nên với tình thế thiên hạ lúc đó, ông đã tính kỹ trong bụng. Cho nên tới lúc Lưu Bị cúi mình xin hỏi, ông đã có thể nêu ra một quyết sách chiến lược đúng đắn – “Long trung sách”.

Đi đúng nước cờ mấu chốt

Ví như người đánh cờ, đi đúng một nước mấu chốt, cả ván cờ sẽ sống động lên. Nước cờ mấu chốt ấy mà đi sai, thì sẽ bị động suốt cả ván. Đối với việc hình thành và phát triển của nước Thục, “Long trung sách” của Khổng Minh chính là nước cờ mấu chốt. Từ khi chế định ra được một quyết sách chiến lược chính xác đó, đã khơi dậy đầy đủ những nhân tố tích cực tiềm tàng bên trong tập đoàn của Lưu Bị, đã phát huy mạnh mẽ được trí lực của các loại nhân tài, bởi vậy mà liên tục giành thắng lợi. Mà tác dụng của sách lược đó cũng tức là kết tinh trí tuệ của Khổng Minh. Thế mới hay Lưu Bị được Khổng Minh là việc có ý nghĩa quyết định như thế nào với sự phát triển của sự nghiệp của ông ta.

Cảnh ngộ khác nhau giữa lúc Lưu Bị chưa có Khổng Minh và sau khi có Khổng Minh đã tăng thêm những nội dung gì đối với nghệ thuật dùng người? Đại phàm là muốn làm nên nghiệp lớn, cần phải có các loại người tài, nhưng quan trọng hơn là cần phải có nhân tài nắm được toàn cuộc, có tầm mắt chiến lược. Lưu Bị cũng là người biết dùng người, mặt mạnh của ông trong việc dùng người là biết người hiền, tập hợp được người hiền, tin tưởng người hiền, thế nhưng dùng nhân tài như thế nào thì lại không được như mặt mạnh, bởi vì ông thiếu cái tài trí của một người biết ngồi tính toán ở một nơi để quyết thắng ở ngoài ngàn dặm, cho nên tuy có sự dũng mãnh của Quan, Trương, Triệu Vân mà cũng không tránh được nhiều phen thất bại.

Dùng trí mưu để thu phục chư tướng

Khổng Minh mới là người vừa biết để mắt vào việc lớn, lại vừa biết bắt tay từ việc nhỏ, tức là vừa có quyết sách chiến lược lại vừa có sự “tính toán thần diệu” ngoài dự đoán của người khác. Tài trí của ông ta làm cho bộ đại tướng ngũ hổ Trương, Quan, Mã, Triệu, Hoàng như hổ mọc thêm vuốt, càng thể hiện được vai trò. Trương Phi nguyên là một gã võ biền, xưa nay chưa hề biết dùng kế, chỉ biết ỷ vào sức khỏe. Ông ta là người nhanh thì làm việc nhanh, dám dùng roi đánh Đốc Bưu, nhiều lần lôi cả “gia nó ba họ” nhà Lã Bố ra, lại còn tính nát rượu bét nhè, say rượu quay ra đánh cấp dưới, đến nỗi mất toi cả Từ Châu. Sau này dưới sự lãnh đạo của Khổng Minh, ông ta thay đổi, không còn thô lỗ nữa mà trong cái thô thiển đã có cái tế nhị tỉ mỉ, đã biết khôn khéo thả Nghiêm Nhan, để cho 45 nơi quan ải do Nghiêm Nhan nắm giữ đều theo nhau quy thuận, đã biết giả say để lừa Trương Cáp, dùng mưu lấy ải Ngõa Khẩu. Trong sách không có nói là do Khổng Minh dạy cho, nhưng dưới sự chỉ huy của ông, thì hiển nhiên là phải có quan hệ đến việc sắp đặt của Khổng Minh. Hoàng Trung không phục cũng nhờ sự đôn đốc qua phép kích tướng của Khổng Minh, dám ghé vai gánh nặng, dùng mưu chiếm núi Thiên Đăng, dũng cảm chém Hạ Hầu Uyên. Trí tuệ của Khổng Minh đã phục được chư tướng, đến như Quan Vũ coi thường tất cả, trước mặt ông cũng phải trở nên len lét một bề, cúi đầu mà nghe lệnh, bởi thế mới điều động được ba quân, theo hướng quạt lông ngỗng của ông chỉ, tiến thẳng về phía trước để giành thắng lợi.

Ngàn quân dễ kiếm nhưng một tướng khó tìm; nghìn tài dễ kiếm nhưng toàn tài thì khó tìm. Làm thế nào để trong đám người tài đó chọn được ra nhân tài có tài nhìn toàn cục, đó là một khâu mấu chốt để đạt được sự thành công trong sự nghiệp, cũng là một vấn đề học vấn rất lớn trong nghệ thuật dùng người.

2. THỐNG NHẤT PHƯƠNG BẮC: TÀO THÁO NGHE THEO SÁCH CỦA TUÂN ÚC

Tào Tháo thống nhất phương Bắc trở nên người hùng của một thời, tuy do thời cơ tạo thành, nhưng tài thao lược giỏi giang của con người này cũng là một nguyên nhân chủ yếu để ông ta giành được thắng lợi. Mà một trong những biểu hiện về tài thao lược của ông ta là giỏi dùng người. Cho nên nhân tài các nơi lũ lượt về theo Tào Tháo, như sao sáng quần tụ quanh mặt trăng. Họ đã bày mưu hiến kế, lập nên những chiến công không thể phai mờ cho Tào Ngụy. Trong đó phải nói đóng góp của Tuân Úc là to lớn nhất, Tào Tháo có thống nhất được phương Bắc, xưng hùng ở Trung Quốc được thực ra cũng nhờ vào quyết sách của Tuân Úc.

Tuân Úc được Lưu Bị khen ngợi

Khi vừa thấy Tuân Úc về theo mình, Tào Tháo đã đánh giá rất cao: “là Tử Phòng của ta vậy”. Thời Ngụy Tấn nam bắc triều, trào lưu bình chọn nhân vật rất thịnh hành, nhiều người nhờ vậy mà người đời biết tên biết tiếng, những sự tích đó phần lớn được ghi trong “Thế thuyết tân thoại”. Căn cứ để họ bình chọn nhân vật là cái gì? Tại sao mà lại có nhiều lời đúng vậy? Điều này đáng để ta phải đi sâu nghiên cứu. Bởi dùng người phải bắt đầu từ sự biết người, không biết người thì khó dùng được người đó. Thời Tam quốc, đám anh hùng giành giật Trung nguyên đều hiểu được, muốn đánh được thiên hạ, phải có người tài cho nên số lớn đều khiêm nhường nhìn xuống, để lôi cuốn được nhân tài về cho mình. Mà dùng nhân tài, thì trước hết phải hiểu cái tài của người đó rồi mới tùy tài mà chọn dùng. Tào Tháo nói Tuân Úc là “Tử Phòng của ta” không phải là câu nói thốt ra từ ấn tượng, hoặc “Úc là người khéo ăn khéo ở” hoặc “biết ăn biết nói”, mà là sự kết luận bằng quá khứ của người này vậy. Tam quốc diễn nghĩa không cung cấp những tư liệu về mặt này. Nhưng trong “Tam quốc chí – Ngụy Thư – Tuân Úc truyện” của Trần Thọ lại có lời ghi chép nói rất rõ: Trước khi người này đi theo Tào Tháo, tài trí đã được người đời coi trọng. Hà Ngung ở Nam Dương đã tán thưởng Tuân Úc là “có tài Vương Tá”. Ông đoán việc cũng rất trúng: Đổng Trác gây loạn, vì chống lệnh cha, Tuân Úc bỏ quan về quê, người cha nói rằng: “Dĩnh Xuyên là đất tứ chiến đó, thiên hạ có biến, thường có binh lính va chạm, cần phải đi ngay, không được ở lâu”. Người làng xã phần lớn quyến luyến quê cũ, do dự không đi, Tuân Úc bèn dẫn cả họ nhà mình chuyển đến ở Ký Châu. Về sau quả nhiên Dĩnh Châu thành đất “tứ chiến”, dân chúng phần lớn bị nạn, riêng họ hàng Tuân Úc là được yên lành. Sau khi chiếm cứ được Ký Châu, Viên Thiệu rất coi trọng Tuân Úc, tiếp đãi như thượng khách, nhưng “Tuân đoán Thiệu không làm nên việc lớn”, bèn bỏ Thiệu theo Tào. Sau này kết cục của Viên Thiệu đúng như dự đoán của Tuân Úc. Hai việc kể trên cũng đủ nói lên rằng Tuân Úc có một tài trí hơn người. Tào Tháo ca ngợi là “Tử Phòng” cũng không phải là quá lời. Sau khi sang với Tào Tháo, lúc đầu Tuân Úc là Tư Mã của Tào Tháo, sau này làm chức Thượng thư lệnh của nhà Hán. Tào Tháo có quyết sách quan trọng gì chưa đưa ra, đều hỏi ý kiến Tuân Úc; ngay cả khi “thái tổ” (chỉ Tào Tháo) tuy đi chinh phạt bên ngoài việc quân việc nước đều ở một tay Tuân Úc. Tuân Úc có nhiều kế lạ, không kém gì Tử Phòng của nhà Hán. Theo lời chú thích của Bùi Tùng về “Tam quốc chí” – “Úc biết truyện” có ghi rằng: “Úc là thượng thư lệnh, thường trình bày sự việc bằng sách vở, sau này bị đốt hết cho nên kế hay mưu lạ không thấy hết được.” Tuy “không thấy hết” nhưng ông cũng nêu ra cho Tào Tháo được ba quyết sách lớn, trong sử sách có ghi. Tam quốc diễn nghĩa cũng miêu tả rất trung thực.

Rễ sâu gốc vững mới chế ngự được thiên hạ

Thời kỳ đầu Tào Tháo khởi sự, binh lực còn chưa nhiều, đất chiếm được cũng mới chỉ có Duyện Châu. Tào Tháo định dấy quân đi đánh Từ Châu, lúc này Đào Khiêm đã chết, Lưu Bị lãnh Từ Châu Mục, thực lực của ông cũng không kém, Tào Tháo muốn đánh vào Từ Châu cũng không phải chuyện dễ”, và người từng bị Tào Tháo đánh bại là Lã Bố cũng không cam chịu, tuy đóng quân ở Sơn Dương, song Lã Bố vẫn nhòm ngó Duyện Châu như hổ rình mồi. Nếu Tào Tháo mà đánh Từ Châu, Lã Bố tất sẽ nhằm lúc trống trải đó mà đánh trộm, cho nên Tuân Úc cương quyết phản đối. Ông đã vào và khuyên can rằng: “Xưa Cao Tổ giữ Quan Trung, Quang Vũ chiếm Hà Nội, đều là do rễ sâu gốc vững mà chế ngự thiên hạ, tiến thì đủ thắng địch, thoái cũng đủ để cố giữ, cho nên tuy có khó nhưng cuối cùng được việc lớn. Minh công vốn có Duyện Châu từ đầu, và Hà, Tế là những nơi quan trọng, giống như Quan Trung ngày trước. Nay nếu đi lấy Từ Châu, nếu giữ lâu thì không đủ quân, ở lại ít ngày hơn thì Lã Bố sẽ thừa cơ tiến đánh, sẽ không còn Duyện Châu nữa. Nếu không lấy được Từ Châu, lúc ấy minh công sẽ đi đâu về đâu cho yên. Nay Đào Khiêm tuy đã chết, ở đây đã có Lưu Bị giữ. Dân chúng ở Từ Châu vốn đã phục Lưu Bị, ắt sẽ giúp Bị tử chiến. Minh Công bỏ Duyện Châu để lấy Từ Châu, là tham bát bỏ mâm, vứt gốc mà lấy ngọn, lấy yên mà đổi nguy vậy. Xin hãy suy cho chín”. Lời của Tuân Úc, quả là lời vàng đá, từ chỗ nhỏ mà thấy điều lợi hại. Cho nên Tào Tháo thán phục một cách sâu sắc lời nói đó và bỏ việc đánh Từ Châu, quay ra củng cố Duyện Châu trước, để mong được phát triển. “Sâu rễ bền gốc để tề thiên hạ”, chẳng những Cao tổ, Quang Vũ do vậy mà “cuối cùng lo được nghiệp lớn”; Tào Tháo làm theo sách này cũng ngày thêm lớn mạnh. Tuân Úc đã tổng kết ra kinh nghiệm giành thiên hạ bằng “rễ sâu gốc vững” của hai triều Hán; chẳng những nêu ra cho Tào Tháo quyết sách chiến lược đúng đắn; đó cũng là một quy luật cần tuân theo để “giành nghiệp lớn”.

Vâng lệnh vua để phục vụ nguyện vọng mọi người

Do Tào Tháo nghe theo sách lược “Sâu rễ vững gốc để chế ngự thiên hạ”, đóng quân lại Sơn Đông để dưỡng tinh thần dồn tinh nhuệ, làm cho quân mạnh tướng khỏe, lúc đó Lý Thôi, Quách Dĩ hỗn chiến, dân chúng bị vạ lây, Hiến đế cũng chịu khổ, qua bao lưu lạc đó đây, lại phải xa giá trở về Lạc Dương. Tào Tháo biết tin này, lập tức triệu tập các mưu sĩ để bàn luận. Tuân Úc bàn rằng: “Xưa Tấn Văn Công thu nạp Nhương Vương, các chư hầu đều phục tùng Hán Cao tổ vì nghĩa đế mà phát tang, làm cho thiên hạ quy tâm. Ngày nay thiên tử như vậy, tướng quân hãy nhân lúc này dấy nghĩa binh trước, hầu thiên tử để theo nguyện vọng của mọi người, đó là một sách lược hay. Nếu không lấy sớm, người khác sẽ lấy trước ta”. Tào Tháo nghe xong mừng lắm, quyết định hôm sau ra quân. Tuân Úc là phái trung với nhà Hán, sở dĩ ông về theo Tào Tháo chính vì Tào Tháo đã có một cử chỉ anh hùng là vì nước trừ gian; ông ta khuyên Tào Tháo “vâng lệnh thiên tử để theo nguyện vọng mọi người”, cũng chính là từ tấm lòng trung với nhà Hán. Còn Tào Tháo áp dụng sách lược này là vì muốn “ép thiên tử lệnh chư hầu”. Trước đó, Điền Phong cũng có đề nghị tương tự với Viên Thiệu, nhưng Viên Thiệu lại không tiếp thu, còn Tào Tháo thì có thể tiếp nhận được quyết sách này, đủ thấy Tào Tháo sáng suốt hơn Viên Thiệu rất nhiều. Lúc đó, Vương triều Đông Hán chỉ có tiếng mà không có miếng, thế nhưng “con sâu có chết cũng còn cố bò”, quần thần nhà Hán còn nhiều người chưa quên Hán, ngay như những kẻ cát cứ thì phần lớn bề ngoài vẫn “tôn Hán”. Do anh hùng hào kiệt đánh lẫn nhau, người chết đói đầy đường do vậy lòng người đã nghĩ sẵn rồi. Cho nên khi Tào Tháo giương ngọn cờ “tôn Hán” lên, để tiến hành cuộc chiến tranh thống nhất, không những chỉ lệnh được chư hầu, mà còn được lòng người. Hai vua Hoàn Công, Linh Công lần lượt hai lần gây cái họa dẹp bè đảng, sĩ tộc bị hại thảm khốc nhất, cho nên kẻ sĩ ghét nhất hoạn quan. Tào Tháo lại xuất thân từ gia đình hoạn quan. Cho nên bị sĩ tộc khinh ghét, ông ta muốn lôi kéo kẻ sĩ là một việc rất khó. Nhưng từ khi ông “vâng thiên tử để theo nguyên vọng mọi người”, tình hình bắt đầu có thay đổi, kẻ sĩ lần lượt quy thuận. “Vật giống nhau thì gần, người chia ra từng đàn”. Trọng dụng người thế nào thì đem lại được những người như thế, được Tuân Úc tiến cử, những người tài trí như Quách Gia, Tư Mã Ý đã lần lượt ngả theo. Mới vẻn vẹn có mấy năm, số nhân sĩ mà Tào Tháo lôi kéo được đã vượt xa Tôn Quyền, Lưu Bị. Tào Tháo áp dụng quyết sách của Tuân Úc, chẳng những nắm chắc được quyền chủ động về chính trị, mà còn được sự ủng hộ mạnh mẽ của sĩ tộc, điều đó đã tạo một điều kiện thuận lợi để ông thống nhất phía Bắc.

Giữ chắc Quan Độ để đợi biến

Trận quyết chiến ở Quan Độ là giờ phút sống mái quyết định ai thắng ai thua giữa Tào Tháo và Viên Thiệu. Tào Tháo giữ Quan Độ từ đầu tháng 8 đến cuối tháng 9, quân lực ngày một hao, lương thực không tiếp tế lên được, nên có ý muốn bỏ Quan Độ đề về Hứa Xương, nhưng còn ngần ngừ chưa quyết, bèn viết thư sai người đem về Hứa Xương hỏi ý kiến Tuân Úc. Tuân Úc biên thư trả lời, đại ý nói rằng: “Nghĩ rằng Viên Thiệu biết tập trung đông đảo ở Quan Độ, muốn cùng mình công quyết thắng bại một phen, chúa công lấy cái yếu nhất làm cái mạnh nhất, nếu không chế ngự được, tất sẽ bị người thừa thế. Đây là cơ hội lớn trong thiên hạ. Quân Thiệu tuy đông, nhưng không thể dùng. Với sự sáng suốt và võ lực của chúa công, hướng nào mà không ổn được? Nay quân ta tuy ít, không giống thế giằng co như Hán, Sở ở Huỳnh Dương. Chúa công vạch đất ra mà giữ, chặn lấy yết hầu không cho chúng tiến lên được, khi nào thế kiệt, tất là sẽ có biến, đây là lúc dùng kế lạ, chớ để lỡ thời cơ” Tào Tháo được thư cả mừng, lệnh cho tướng sĩ ra công cố thủ. Quả nhiên “khi nào thế kiệt, tất sẽ có biến”, do nội bộ Viên Thiệu lục đục, Hứa Du sang hàng Tào, dâng kế sách đốt kho lương của địch. Tào Tháo bèn đem tinh binh đến Ô Sào để cướp lương, làm cho quân tâm của Viên Thiệu rối loạn, thế là thừa cơ đánh mạnh, quân Thiệu thua to. Nếu Tào Tháo không nghe lời Tuân Úc, bỏ Quan Độ để về Hứa Xương. Viên Thiệu thừa lúc trống trải mà truy kích, Tào Tháo tất sẽ thua. Đối với việc này, về sau Tào Tháo cũng thừa nhận. “Nếu rút khỏi Quan Độ, Thiệu sẽ dóng trống đưa quân lên; thành hình thế lấn át, không thể chống đỡ nổi”.

Thành một trong ba nhà chiến lược

Tuân Úc không giống như Khổng Minh, Lỗ Túc đã vẽ ra cho Lưu Bị, Tôn Quyền kế sách lớn giành thiên hạ. Nhưng ba sách lược lớn của ông: “rễ sâu, gốc vững để chế ngự thiên hạ”, “vâng lệnh thiên tử để theo nguyện vọng mọi người”, và “giữ Quan Độ để đợi biến” thuộc phạm trù chiến lược là việc lớn quan hệ tới việc sống hay còn, hưng thịnh hay suy đồi của Tào Ngụy. Sự đóng góp của nó cũng chẳng kém gì “Long trung sách” của Khổng Minh đối với nhà Tây Thục, “sách trên giường” của Lỗ Túc với Đông Ngô. Cho nên tôi xếp ông ngang hàng với Khổng Minh, Lỗ Túc đưa lên là một trong ba nhà đại chiến lược thời Tam quốc cũng chính vì lẽ đó. Vả lại ba chiến lược lớn đó của Tuân Úc, nếu không phải vào tay người có tài thao lược như Tào Tháo cũng không áp dụng được. Chúa ngu độn không thể dùng kỳ tài, minh chúa mới biết dùng người giỏi xưa và nay đều thế.

3. ĐỨNG VỮNG NẺO GIANG ĐÔNG: TÔN QUYỀN THEO CHIẾN LƯỢC LỖ TÚC

Sau ngày Tôn Quyền nối nghiệp cha anh trấn giữ Giang Đông, khéo biết dùng người tài, cất nhắc người có năng lực, cho nên nhân tài lũ lượt theo về, Lỗ Túc là một trong số đó. Lỗ Túc là do Chu Du tiến cử, Chu Du nói con người này “bình sinh thạo việc kiếm cung kỵ xạ”, “lòng đầy thao lược, bụng sẵn cơ mưu”, là văn võ song toàn. Sau khi về theo Tôn Quyền, Lỗ Túc rất được vị nể. Một hôm các quan đều đã lui hết, Tôn Quyền giữ Lỗ Túc lại uống rượu, tối đến cùng ngủ một giường. Nửa đêm, Tôn Quyền hỏi Lỗ Túc:

– Ngày nay nhà Hán nghiêng ngả bốn mặt rối ren. Quả nhân nối nghiệp cha anh để lại, nghĩ rằng đây là việc ngang với Hoàn Công, Văn Công, ông định dạy ta điều gì?

Lỗ Túc nói:

– Túc thiết nghĩ nhà Hán không thể phục hưng được. Tào Tháo không thể dùng quân mà trừ ngay được. Phải dùng quân kế. Chỉ còn cách đứng vững ở Giang Đông này, ngắm thiên hạ mà lựa kế. Nay thừa lúc phương bắc nhiều vụ việc: Tiễu trừ Hoàng Tổ, tiến phạt Lưu Biểu, dựa vào thế hiểm Trường Giang mà trấn giữ. Sau đó kiến hiệu đế vương để giành thiên hạ. Đó là nghiệp của Cao Tổ vậy.

Tôn Quyền nghe xong cả mừng, khoác áo đứng dậy tạ. Bởi vì sách lược này chỉ bàn trên giường, cho nên trong sử mới gọi là “sách trên giường”. Vì Lỗ Túc hiến “sách trên giường” nên được Tôn Quyền coi trọng. Lão thần Trương Chiêu ra sức phản đối, cho rằng Lỗ Túc “chưa đủ khiêm tốn”, “trẻ người non dạ”, không thể dùng được. Tôn Quyền không vì những lời lẽ đó của Trương Chiêu mà xa lánh Lỗ Túc, mà ngược lại, càng thêm kính trọng.

Nhận rõ kẻ thù chính

“Sách trên giường” đưa ra vào năm Kiến An thứ 5 tức là năm công nguyên thứ 200, lúc đó “phương bắc nhiều vụ việc”. Hai tập đoàn quân sự lớn của Tào Tháo, Viên Thiệu đang chuẩn bị quyết chiến. Viên Thiệu có binh lực mạnh hơn Tào Tháo; Tào Tháo cũng chưa có đủ điều kiện quyết thắng. Lỗ Túc lại có thể đoán định kẻ thù chính của Đông Ngô là Tào Tháo, đó là việc rất sáng suốt. Ông chủ trương nhân khi Tào Tháo không có sức mà với xuống phía Nam, chiếm lấy Kinh Châu rồi “dựa vào thế hiểm Trường Giang mà trấn giữ”. Bởi vì Kinh Châu ở phía thượng lưu của Dương Châu, nếu sau này để Tào Tháo chiếm giữ mất Kinh Châu, tiền tuyến của Đông Ngô sẽ bị uy hiếp nặng nề. Nếu chiếm giữ Trường Giang lâu dài, dựa vào thể hiểm của con sông dài này sẽ giữ được an toàn cho Đông Ngô, sau đó thừa cơ mà giành thiên hạ. Sự phân tích của Lỗ Túc là thực sự cầu thị, hoàn toàn phù hợp với tình thế lúc đó, là quyết sách tốt nhất Đông Ngô có thể tiếp nhận được. Sách lược này sau này là quốc sách của Đông Ngô, Tôn Quyền có thể hùng cứ ở Giang Đông, đứng vững chân kiềng, thực ra cũng dựa vào đó.

Kiên trì liên minh để chống Tào

Để thực hiện mưu đồ chính trị, Lỗ Túc đã phấn đấu không mệt mỏi. Những quyết sách chiến lược mà ông bày ra cho Tôn Quyền cũng đều lấy “sách trên giường” làm chỗ dựa. Sau khi Tào Tháo thống nhất phía Bắc, đã quyết chí đánh xuống phía Nam. Mâu thuẫn nam bắc bắt đầu căng thẳng. Khổng Minh, Lỗ Túc đã lần lượt dự kiến thiên hạ chia ba, bởi vậy xử lý mối quan hệ tay ba Tào, Tôn. Lưu như thế nào là một đầu đề quan trọng cần phải suy nghĩ ngay vào lúc bấy giờ. Do Tào Tháo ở thế mạnh nên nếu Tôn, Lưu muốn đánh lại thì ngoài cách liên minh, không còn đường nào khác. “Người tinh khôn thấy việc từ lúc mới manh nha”, hai nhà chiến lược lỗi lạc Khổng Minh, Lỗ Túc không ai bảo ai, cùng nêu ra chủ trương Tôn, Lưu liên minh chống Tào. Sau khi Lưu Tông lấy Kinh Châu hàng Tào, cả vùng Giang Đông xôn xao nhốn nháo hẳn lên, các mưu sĩ như bọn Trương Chiêu đều muốn hàng, chỉ có Lỗ Túc là kiên trì chủ chiến, và trình bày với Tôn Quyền lý do: mọi người khác có thể hàng Tào, riêng tướng quân không thể hàng Tào, khiến cho Tôn Quyền hết sức cảm động, nói: “mọi người bàn luận, làm quả nhân hết hy vọng, Tử Kính mới nói ra đại kế, cũng giống ý kiến ta. Đó chính là trời mang Tử Kính ban cho ta vậy”. Dưới sự bày đặt và chạy vay của Lỗ Túc, đã đôn đốc cho Lưu, Tôn liên minh chống Tào, và cuối cùng đánh bại Tào Tháo, giành được thắng lợi vẻ vang trong trận Xích Bích. Khi Lỗ Túc từ tiền tuyến trở về, Tôn Quyền và chư tướng ra nghênh đón, Tôn Quyền nói: “Quả nhân xuống ngựa ra đón đủ làm rạng rỡ cho khanh chứ?” Lỗ Túc nói: “Nguyện cho uy đức của bậc chí tôn được lan ra bốn biển, trên khắp chín châu, khắc thành đế nghiệp, muốn cho yên mọi bể mà vời đến Túc, đáng rạng rỡ lắm chứ!” Mới hay cái chí khí phi phàm!

Lỗ Túc từ đầu đến cuối kiên trì liên minh Tôn-Lưu để chống Tào, cho đến chết vẫn không rời. Vì Lỗ Túc hiểu được rằng: Hai phía Tôn Lưu có quan hệ khăng khít như răng với môi, môi hở thì răng lạnh, cho nên ông không giống Chu Du, chỉ biết xuất phát từ lợi ích trước mắt của đất nước, trăm phương nghìn kế phá bỏ liên minh. Cũng không như Khổng Minh, tìm mọi mưu kế kéo dài việc trao trả Kinh Châu, làm tăng thêm mâu thuẫn hai bên... mà là vừa kiên trì lợi ích của đất nước, vừa giữ vững được liên minh Tôn Lưu. Bởi vậy ông chẳng những nhìn xa hơn Chu Du, mà cũng còn sáng suốt hơn Khổng Minh.

Mượn Kinh Châu tiến cử nhân tài

Để chiếm trọn Trường Giang, giữ an toàn cho Đông Ngô, Lỗ Túc phải ba lần đi đòi lại Kinh Châu và tranh giành bằng lý lẽ. Tuy đối phương mấy lượt dùng kế để từ chối, ông vẫn kiên tâm chờ đợi để tránh đụng độ can qua. Thậm chí để kéo dài thời gian, Khổng Minh còn bày cho Lưu Bị lập văn bản “Tạm mượn Kinh Châu”, ông cũng bị dỗ dành ký tên bảo lãnh. Khi gặp gỡ Quan Vũ, ông cũng nhẹ nhàng khuyên bảo, chỉ ra rằng mượn Kinh Châu chỉ là để cho Lưu Bị có chỗ trú chân, nay “đã được Tây Xuyên còn chiếm cả Kinh Châu”, là “tham mà bạc nghĩa”. Tam quốc diễn nghĩa tả cuộc gặp gỡ này là “Quan Vân Trường một đao tới hội”, tả Quan Vũ với dáng oai phong lẫm liệt, Lỗ Túc thì bị tả quá ư ngờ nghệch. Sự thực trong lịch sử thì không thế, mà là Lỗ Túc đã đến gặp Quan Vũ, ông đã dùng lời lẽ nghiêm nghị để trách quở, Quan Vũ chẳng còn lời nào đối lại. Còn như bảo “Tạm mượn Kinh Châu” là Lỗ Túc mắc lừa Khổng Minh thì sự thực lịch sử cũng chưa hẳn là như thế. Theo “Tam quốc chí – Ngô Thư – Lỗ Túc truyện” ghi lại thì: “Sau trận Xích Bích, Bị gặp Quyền xin làm đô đốc Kinh Châu, Lỗ Túc đã khuyên Quyền cứ cho mượn, để cùng chống Tào”. Ghi chú của Bùi Tùng trong “Hán Tấn Xuân Thu” rằng: Lã Phạm khuyên giữ Lưu Bị, Lỗ Túc nói “Chớ nên! Tướng quân tuy có thần võ trên đời, nhưng uy lực của Tào Tháo cũng rất lớn, giờ mới đến Kinh Châu, tín còn chưa chan hòa, hãy nên cho Bị mượn là để vỗ về họ, tăng thêm thù địch cho Tào Tháo mà mình thêm vây cánh, đó là thượng kế vậy! “Quyền lập tức làm theo”. Mới hay việc cho mượn Kinh Châu vốn là ý riêng của Lỗ Túc nữa, là để “thêm thù cho Tháo, thêm bạn cho mình”, để cùng nhau chống Tào. Chẳng những thế, Lỗ Túc còn tiến cử nhân tài cho Lưu Bị. Lỗ Túc tiến cử Bàng Thống cho Tôn Quyền, không được trọng dụng, ông lo rằng Bàng Thống sẽ hàng Tào Tháo, bèn khuyên Thống theo Lưu Bị và biên thư tiến cử, và dặn rằng: “Nay công phò Huyền Đức, tất theo lệnh hai họ Tôn, Lưu, không công kích nhau mà hợp lực phá Tào”. Mới hay, những việc Lỗ Túc làm, đều là phục tùng cho sách lược chiến lược liên minh Tôn Lưu để chống Tào. Bởi vậy, khi Lỗ Túc còn sống, hai nước Ngô, Thục căn bản là hòa hợp. Việc đó đối với hai nước chỉ có lợi, có hại chăng là chỉ với Tào Tháo, khiến Tào Tháo không thực hiện được sách lược “chia ra để lấy”, trước khối liên minh ấy, chẳng làm nên trò trống gì. Trong việc nước Ngô nước Thục cùng đứng được với Tào Ngụy ở thế chân kiềng, thì sự đóng góp của Lỗ Túc chẳng kém gì Khổng Minh.

Nhân tài phải có người biết tài thưởng thức

Trong lịch sử, nhân vật lỗi lạc sở dĩ thực hiện được chí hướng của mình, hoặc là có gặp cơ duyên, hoặc được gặp minh chủ. Hàn Tín ở nước Sở, chẳng ai biết đến tên; sau quay sang với Lưu Bang, mới được thi thố tài năng. Cũng như vậy, Lỗ Túc mà không gặp Tôn Quyền thì “sách trên giường” chắc cũng chẳng ra đời được và Lỗ Túc cũng chẳng có tên tuổi gì. Cho nên có Bá Nhạc mới biết thiên lý mã, người biết dùng tài mới nhìn ra bậc đại tài. Cho nên nói rằng có đại tài cố nhiên là rất ghê gớm, nhưng biết dùng tài cũng là rất ghê gớm. Tôn Quyền, biết nhìn nhận, vừa nghe xong “sách trên giường” của Lỗ Túc, mới tán thưởng mạnh mẽ vậy. Rồi khi nghe lý do chủ chiến của Lỗ Túc, mới cho rằng: “đúng giống với ý ta”. Cũng chính vì quân thần tương đắc là xây dựng trên cơ sở nhận thức giống nhau, cho nên những tin đồn bịa đặt của Trương Chiêu, không ảnh hưởng chút nào sự tin tưởng của Tôn Quyền với Lỗ Túc. Có một sự tin tưởng đầy đủ mới phát huy đầy đủ được tác dụng của nhân tài, ngược lại, thì dù có đại tài sẽ bị mai một đi. Lỗ Túc sở dĩ được trở thành danh tướng một thời và có thể phát huy đầy đủ tác dụng của một nhà chiến lược lỗi lạc, chẳng phải chính là được sự tin tưởng và ủng hộ đầy đủ của Tôn Quyền đó sao.

4. CHUYỂN DỊCH CHÍNH QUYỀN: TÀO SẢNG NGÙ NGỜ, QUYỀN VỀ HỌ TƯ MÃ

Chúa Ngụy Tào Nhuệ lâm nguy, đã phó thác cho Tào Sảng, Tư Mã Ý phò tá người con thơ 8 tuổi là Tào Phương. Vì tranh quyền nhau, Tào Sảng và Tư Mã Ý vật lộn, đấu đá nhau kịch liệt. Tào Sảng ngờ nghệch đương nhiên không phải là đối thủ của Tư Mã Ý gian hoạt, kết quả là mang cái họa chết cả họ. Và chính quyền Tào Ngụy cũng nằm trong tay họ nhà Tư Mã, làm cơ sở cho Tư Mã Viêm chiếm đoạt triều Ngụy sau này.

Kẻ đã dùng không phải là người

Để củng cố chính quyền, bọn thống trị phong kiến đều không từ một thủ đoạn nào để thanh trừ kẻ đối lập. Tào Tháo tuy nổi tiếng được là nhờ biết dùng người, những ai không theo ý mình thì đều bị giết. Sau khi quyết định đưa Tào Phi lên làm Thái Tử, Tào Tháo đã không ngần ngại thanh trừ cả bè đảng của Tào Thực, dọn sạch đường cho Tào Phi lên kế vị. Tào Phi sau khi cướp đoạt nhà Hán, các văn võ đại thần phần lớn là người tâm phúc họ Tào, cho nên chính quyền Tào Ngụy được củng cố vững vàng. Đến đời thứ ba của Tào Ngụy, tức là khi Tào Nhuệ lên nối ngôi, các công thần đa số đã chết, mà thế hệ sau của họ lại chỉ là bọn công tử bột, đần độn, bất tài, chỉ biết ăn uống chơi bời. Tào Sảng là một con người như thế. Hắn dựa vào dư âm của cha mình là Tào Chân, được Tào Nhuệ trọng dụng. Khi Tào Nhuệ ốm nặng, lại muốn tìm nhân tài trong tôn tộc họ Tào, kết quả lại rơi vào tay Tào Sảng. Mới hay, thế hệ thứ ba của họ Tào toàn là những hạng người đần độn như thế nào. Được sự gợi ý của người tâm phúc của mình là Hà Yến, Tào Sảng đã nắm phần quan trọng của binh quyền, thế là với danh nghĩa coi “Tư Mã Ý đức cao vọng trọng” xin chúa Ngụy “thăng làm thái phó”. Địa vị của thái phó tuy hơi cao hơn thái úy, nhưng không nắm binh quyền. Tào Sảng xin phong cho Tư Mã Ý làm thái phó thực chất là tước bớt binh quyền trong tay ông. Tào Sảng còn để cho người tâm phúc của mình thống soái các cánh quân, tự nó nói lên rằng binh quyền đều thuộc vào tay mình. Và sau khi Sảng đã nắm được binh quyền, cho rằng có thể không còn lo chi nữa, bèn cùng với tâm phúc của mình ra sức dâm lạc, việc ăn mặc đi lại của y, xa xỉ hào hoa không kém gì triều đình.

Lấy “thâm” trị “đần”, được chính quyền

Tư Mã Ý là con người vừa rất có tài trí lại rất thâm hiểm. Ông ta phò tá họ Tào bốn đời, phò chính hai lần. Bọn thống trị họ Tào đều bị ông ta mê hoặc bởi những biểu tượng giả tạo, đều cho ông ta là người tâm phúc, ngay cả đến bậc gian hùng biết nhìn nhận con người là Tào Tháo mà cũng bị ông ta lừa. Sau khi bị bãi bỏ binh quyền, Tư Mã Ý liền thác bệnh nằm lỳ, hai người con cũng từ chức ngồi chơi, để chờ cơ lật lại. Khi Tào Sảng cử người mới được bổ nhiệm làm thứ sử Kinh Châu là Lý Thắng đến chào từ biệt nhằm thám thính sự hư thực của Tư Mã Ý, Tư Mã Ý sớm đã biết ý đồ đó, bèn bỏ mũ xõa tóc, trùm chăn ngồi trên giường, còn lệnh cho hai cô gái hầu đỡ lưng, rồi mới mời Lý Thắng vào phủ. Khi tiếp chuyện, ông nói lẫn nói lộn, ông chẳng bà chuộc, còn giả vờ điếc, bảo rằng nghe không rõ lời của người nói chuyện. Người hầu dâng thuốc, ông bèn cứng miệng ra, thuốc trào cả xuống áo, rối làm ra tiếng nghẹn ngào nói: “Ta nay mắc bệnh già chỉ một sớm một chiều là chết. Con thứ hai ta còn dại, mong ông dạy giúp, nếu có gặp đại tướng quân, xin hãy trông nom hai con ta...” Nói xong nằm ra giường thở hổn hển. Lý Thắng về nói lại với Tào Sảng, Sảng mừng lắm, nói: “Lão già này mà chết, ta chẳng còn phải lo gì nữa”. Đó đúng là giọng ngu của người ngu. Tư Mã Ý thấy Lý Thắng về rồi, bèn gọi hai con lại nói: “Lý Thắng về chuyến này báo lại tin tức, Tào Sảng không nghi gì ta nữa. Chỉ chờ nó ra ngoài thành đi săn bắn, là có thể lấy được”. Quả nhiên, chỉ vài hôm sau, Tào Sảng cùng ba em và người tâm phúc là Hà Yến v.v... cùng bọn cấm binh do y tổng quản, bảo vệ cho chúa Ngụy đi săn bắn. Tư Mã Ý chỉ trông cho Tào Sảng ra khỏi thành là lập tức làm đảo chính, khống chế trại lính, sau đó đem quân ra ngoài thành đồn trú ở Lạc Thành, giữ lấy cầu phao. Trí nang Hoàn Phạm của Tào Sảng tìm cách ra ngoài thành cáo biến. Tư Mã Ý biết được, kinh sợ nói: “Trí Nang, lộ rồi, biết làm sao bây giờ?”

Thái úy Tương Tế nói: “Ngựa què ăn đậu vãi, loại ấy tất vô dụng” ý nói con ngựa tồi chỉ liếm láp quanh máng, ví với người bất tài chỉ tham sống an thân, thiếu chí hướng và mưu lược cao xa. Hoàn Phạm sau khi gặp Tào Sảng, đề nghị dùng ngoại binh để chinh phạt Tư Mã Ý. Tiếp đó Tư Mã Ý lại cho người báo với Tào Sảng: Chỉ tước lấy binh quyền của y, không có ý gì khác. Ngay đêm ấy, tả hữu của Tào Sảng cân nhắc mãi mà không dám quyết, từ chiều tối khóc lóc cho đến tảng sáng, vẫn còn hồ nghi. Hoàn Phạm vào trong trướng giục: “Chúa công suy nghĩ suốt một ngày một đêm, làm sao mà không quyết nổi?” Tào Sảng nói: “Ta không khởi binh, tình nguyện sẽ bỏ quan, làm một người giàu có là đủ rồi!” Phạm khóc lớn: “Ba anh em nhà ngươi thật ngây thơ như lợn như nghé”. Và như thế là Tào Sảng bị Tư Mã Ý lừa dụ về thành, với tội mưu nghịch đem chém hết ba anh em Tào Sảng cùng bè đảng và tru di tam tộc. Trong cuộc đấu đá tranh quyền một mất một còn như thế mà Tào Sảng vẫn còn ảo tưởng sau khi nhường binh quyền ra rồi về “sống giàu sang”. Ngu đến như thế, chết cũng đáng đời. Đời sau của họ Tào ngu đần như thế thì họ Tư Mã lên thay cũng là chuyện tất nhiên.

5. CẮT DÂNG TÂY THỤC: LƯU THIỀN SỦNG HOẠN QUAN HOÀNG HẠO

“Thân với hiền thần, xa lũ tiểu nhân, đó là điều sở dĩ làm cho Tiên Hán hưng thịnh; thân với tiểu nhân, xa lánh hiền thần, điều sở dĩ làm cho Hậu Hán ngả nghiêng. Khi tiên đế đang còn, mỗi lần bàn việc này với thần, không lần nào là không căm ghét Hoàn, Linh”. Đó là bài “biểu trước lúc ra quân” của Khổng Minh, đã tổng kết nguyên nhân hưng vong của triều tiên, hậu Hán, dùng để răn nhủ Lưu Thiền, đúng là ý nặng tình sâu, lời thật, lòng tha thiết. Vậy mà Lưu Thiền lại chẳng thân với hiền thần xa bọn tiểu nhân để hưng thịnh nhà Hán như Khổng Minh mong muốn; mà là thân bọn tiểu nhân, xa lánh hiền thần, đi vào vết xe đổ của Hoàn Công, Linh Công thuở trước, cắt dâng sơn hà của nước Thục.

A Đẩu đần độn bất tài

Lưu Thiền là một vị hôn quân hiếm có, là một “A Đẩu” bất hủ. Nói cho công bằng, Lưu Thiền cũng chưa phải xấu hẳn. Y thật thà đến thảm hại, đần độn hết chỗ nói. Khi Khổng Minh chấp chính, y theo lời dặn của người cha là Lưu Bị rằng: “Phải coi thừa tướng như cha”. Vả lại thực quyền ở tay Khổng Minh, y chẳng nghe cũng phải nghe. Khổng Minh bươn chải với quốc gia đại sự, suốt ngày áo đẫm mồ hôi, ăn không ngon, ngủ chẳng yên. Lưu Thiền ngược lại chẳng phải lo nghĩ gì, ăn no ngủ kỹ, thích gì được nấy. Đương nhiên là y không vùi đầu ngủ cả ngày, gặp khi quốc gia hữu sự, có lúc y cũng ra điều lo lắng. Như sau khi Lưu Bị qua đời, Tào Ngụy thừa cơ dấy binh năm hướng xâm lăng đất Thục. Vì lúc này Khổng Minh đóng cửa không ra ngoài, y chẳng biết làm thế nào cho phải, cuống lên đi ra đi vào, sau này y đến tướng phủ thăm Khổng Minh, y cũng chưa thật yên tâm, khi Khổng Minh dấy binh đấu trận với Tư Mã Ý liên tục thắng lớn, đang muốn thừa thắng lấy luôn cả Trường An, y đã trúng kế phản gián của Tư Mã Ý, nghe theo tin đồn rằng Khổng Minh tự ỷ vào công lớn, sớm muốn gì tất cũng thoán đoạt; Hoạn quan vì thế mới bày kế sách cho y, y bèn sai sứ triệu Khổng Minh phải ngày đêm về triều. Khổng Minh phụng chỉ về thành và hỏi y vì cớ gì mà lại gọi về, y không sao trả lời được. Lúc lâu sau, mới nói: “Trẫm lâu không gặp mặt thừa tướng, trong lòng rất nhớ, cho nên gọi về chẳng có chuyện gì khác”. Đúng là lời nói ngu của kẻ ngu, ngu không để đâu hết. Có điều, nói tóm lại, khi Khổng Minh còn sống, vẫn còn là người hiền đương đạo, tiểu nhân lánh xa, trên căn bản, Lưu Thiền vẫn nghe lời Khổng Minh, bọn hoạn quan không dám ra mặt xía vào nội chính. Sau khi Khổng Minh ốm chết ở Ngũ Trượng Nguyên tình hình dần dần có thay đổi, nhất là sau khi hiền tướng Tưởng Uyển, Phí Vĩ v.v... lần lượt qua đời, y đã bị bọn tiểu nhân như Hoàng Hạo lèo lái, chìm trong tửu sắc, không thiết việc triều chính, chính sự, quân sự thành một mớ lộn xộn.

Tiểu nhân lộng quyền, tướng khó hành động

Khương Duy hiểu sâu binh pháp của Khổng Minh, là “cột chống trời” ở cuối đời nước Thục, là một con người có lòng trung dạ sắt gan vàng, ông đã kế thừa chí lớn của Khổng Minh, chín lần đánh Trung Nguyên, tuy không thắng lớn, nhưng cũng làm cho địch kinh sợ, để cho chúng không dám nhòm ngó Tây Thục. Khi Khương Duy còn đang tắm máu xông pha ngoài tiền tuyến, vây khốn danh tướng Đặng Ngải của nước Ngụy, bỗng liên tục nhân được ba bức chiếu thư của hậu chúa giục phải rút quân. Thì ra hậu chúa đã nghe lời xiểm nịnh của Hoàng Hạo. “Khương Duy mấy lần đánh trận chẳng lập được công, có thể lệnh Diêm Vũ đến thay”. Diêm Vũ là người thế nào? Hắn chẳng hề có chút công cán gì, chỉ vì a dua với Hoàng Hạo mà dần được trọng tước, làm quan đến hữu tướng quân. Hoàng Hạo vốn muốn dùng Diêm Vũ để thay thế Khương Duy, sau lại biết Đặng Ngải giỏi dùng binh, sợ rằng Diêm Vũ sẽ không phải là địch thủ của hắn, lại lui việc đó lại. Sắp đặt một đại tướng mà như trò đùa thế, lúc bỏ lúc dùng, toàn ở một hoạn quan làm chủ, đúng là một tên chúa ngu vượt cấp. Khương Duy về, được biết việc này, vào gặp tâu hậu chúa nói: “Hoàng Hạo gian ngoan chuyên quyền, là thập thường thị của Linh đế. Bệ hạ gần có thể răn Trương Nhượng, xa để nhắc nhở Triệu Cao. Sớm giết người này đi, triều đình tự nhiên thanh bình, Trung Nguyên mới có thể khôi phục.” Hậu chúa cười nói: “Hoàng Hạo lại muốn gạt tiểu thần đi, cho có chuyên quyền, rồi cũng chẳng làm được gì”. Vì không giết được Hoàng Hao, Khương Duy sợ rằng sẽ bị y hãm hại, cho nên đã nghe lời Khước Chính, lãnh quân đến Đạp Trung và trụ lại để tăng thêm thực lực, dần sẽ tổ chức tiến công. Từ xưa đến nay, chúa ngu chấp chính, tiểu nhân lộng quyền, đại tướng có ở ngoài cũng khó lập được công. Xưa “Lạc Nghị phạt Tề bị gàn trở, Nhạc Phi phá địch bị xúc xiểm phải quay về”. Khương Duy lẽ nào lại là ngoại lệ.

Mất Tây Thục là lẽ tất nhiên

Lưu Thiền đần độn hết chỗ nói, Hoàng Hạo thì chuyên quyền làm bậy, Tây Thục, Khương Duy lập tức đem quân từ Đạp Trung về để chống cự và dâng biểu xin cử tỉnh binh chia nhau ra giữ nơi hiểm yếu là Dương An Quan và cầu Âm Bình, và còn chỉ ra rằng: Mất hai nơi này, không giữ được Hán Trung. Trong giờ phút nguy kịch, Lưu Thiền lại đi nghe lời Hoàng Hạo, gọi sư bà vào điện để hỏi chuyện lành dữ, bà này mang lốt “thổ thần Tây Xuyên”, nói bậy bạ những là “Bệ hạ đang vui hưởng thái bình, hỏi chuyện ấy làm gì? Vài năm sau cương thổ của nước Ngụy cũng sẽ về tay bệ hạ. Bệ hạ khỏi phải lo buồn”. Từ đó Lưu Thiền tin vào lời lẽ sư bà, dần dần không tin lời Khương Duy. Ngày ngày chỉ ở trong cung yến ẩm hoan lạc. Khương Duy nhiều lần lập biểu cáo cấp, đều bị Hoàng Hạo ỉm đi. Bởi vậy làm cho Chung Hội dễ dàng lấy Dương An, Đặng Ngải thì vượt trộm Âm Bình; Khương Duy tuy đang cùng các tướng tử thủ Kiếm Các, để Chung Hội phải bối rối, không tiến lên được, thế nhưng Đặng Ngải đã xông thẳng đến Thành Đô. Lưu Thiền lúc ấy mới hớt hải ra trận, Khương Duy dù có sức vá trời cũng chẳng làm gì nổi.

6. NƯỚC MẤT NHÀ TAN: TÔN HẠO BÃI DANH TƯỚNG LỤC KHÁNG**

Cuối triều phong kiến, đa số đều do tiểu nhân lộng quyền, hiền thần thì bị tai ương, nguyên nhân diệt vong đa số bắt nguồn từ đó. Nước Thục đã vậy, nước Ngô cũng thế. Ngẫu nhiên mà được cả đôi, Lưu Thiền thì sủng tín hoạn quan Hoàng Hạo; Tôn Hạo thì sủng tín Trung thường thị Sầm Hôn. Lưu Thiền, Tôn Hạo tuy tính cách mỗi người mỗi khác, nhưng cái cách dùng người của họ thì lại giống nhau như đúc: Lưu Thiền đần độn nên bị Hoàng Hạo sắp đặt; Tôn Hạo “thức thời và thông minh” nhưng đối với người lại hung bạo, tàn sát người trung lương, khiến cho người thân ly tán, chúng thần phản loạn, người còn lại cho hắn dựa dẫm chỉ còn một nhóm nịnh thần như bọn Sầm Hôn mà thôi. Mà bọn người này thì văn dốt võ nát, việc tốt không làm, việc xấu làm hết, việc thành chẳng có mấy, nhưng việc bại thì đếm không hết. Chẳng những thế về sự bạo ngược thì Tôn Hạo vượt xa Lưu Thiền, sự độc ác của Sầm Hôn còn tệ hại hơn Hoàng Hạo, dưới sự câu kết của bạo quân, nịnh thần, triều chính còn nát hơn nước Thục, dân nước Ngô còn khổ hơn dân nước Thục, nước yếu, dân nghèo đã đến cực điểm. Sau khi nước Thục suy vong, nội chính nước Ngô thối nát đến thế, cho nên ngày tận số của nó có thể đếm trên đầu ngón tay.

Tàn bạo ngu muội mất giang sơn

Trong lịch sử, có những tập đoàn thống trị phong kiến, có thể thủy chung, được coi là minh chúa; có người thì không thế, đầu thì thiện nhưng cuối lại ác, trở thành bạo quân. Tôn Hạo chính là dạng bạo quân loại này. Trong Tam quốc chí do Bùi Tùng chú giải, phần “Giang Biểu truyện” có viết: “Hạo lúc mới lập đã phát chiếu dụ, lo cho sĩ dân, mở kho lẫm, cứu nghèo khó, thả cung nữ gả cho người chưa có vợ, cầm thú nhốt trong vườn thượng uyển cũng được thả ra. Lúc đó đã từng được coi là minh chúa”. Thế nhưng, sau khi địa vị của hắn đã được củng cố, hắn đắc chí vừa lòng, càng ngang ngược thậm tệ có ai can ngăn liền bị chém đầu. Tôn Hạo được hai người là thừa tướng Bộc Dương Hưng và tả tướng quân Trương Bố vực lên đế vị. Sau hai người này thấy việc làm của Tôn Hạo như thế hết sức hối hận và đã có lời can ngăn. Tôn Hạo nổi giận, đem chém cả hai, thậm chí còn diệt cả ba họ. Thừa tướng Vạn Úc, tướng quân Lưu Bình, đại tư nông Lâu Huyền thấy Hạo vô đạo, đã thẳng thắn khuyên can, cũng đều bị giết. Do thế mà quần thần ngậm miệng, không ai dám can ngăn. Trước sau hơn 10 năm, hắn đã giết trên 40 trung thần. Hạo còn đắm say dâm sắc, cung thất có hàng ngàn vẫn còn chọn nữa. Cung nữ có ai không vừa ý, thì hoặc là vạc mặt, hoặc là khoét mắt, tàn nhẫn vô cùng. Lúc ra lúc vào, hắn đều mang theo năm vạn quân thiết kỵ thần dân lo sợ, không ai dám ho he.

Hạo còn có tính tự cao háo công trạng, nên rất hiếu chiến. Hắn định đánh nước Ngụy để thống nhất thiên hạ, bèn gọi thuật sĩ Quảng Thượng để hỏi lành dữ. Thượng nói: “Bệ hạ gặp điềm lành: Tuổi Canh Tý, sẽ được vào Lạc Dương.” Hắn đã coi lời của ông thầy bói là thật, bèn quyết chí đánh Ngụy. Mới hay con người Tôn Hạo, đã tàn ác lại ngu đần. Trung thừa Hoa Hạch khuyên hắn “trước hãy tu đức để yên dân”, đã bị hắn đuổi đi. Thế là Hạo lệnh cho trấn đông tướng quân Lục Kháng đem bộ binh đồn trú cửa sông, để chiếm Tương Dương. Lục Kháng là danh tướng nước Ngô. Danh tướng nước Ngụy trấn thủ ở đây là Dương Tổ biết người này túc trí đa mưu nên cứ giữ mà không ra đánh. Lục Kháng cũng vì biết Dương Tổ giỏi dùng binh nên cũng không dám khinh suất. Cho nên hai người đều lo phần mình để giữ yên biên cương. Tôn Hạo lệnh cho Lục Kháng cấp tốc tiến quân, Lục Kháng dâng sớ nói tình trạng quân Tấn chưa thể đánh được, khuyên Hạo hãy tu đức để bớt tội, lấy yên bên trong làm đầu, đừng nên làm những việc hiếu chiến. Tôn Hạo cho rằng Kháng đã chống lệnh nên nổi giận, giáng xuống chức tư mã, lệnh tả tướng quân Tôn Dực ra thay để cầm quân. Tôn Dực là kẻ bất tài, không đáng làm địch thủ của quân Tấn. Chưa lo nội chính mà đã đi đánh bên ngoài, chưa có kẻ nào thoát khỏi thất bại. Cho nên những người thức thời ở Đông Ngô đã sớm liệu đến việc “giang sơn gấm vóc của Đông Ngô, không bao lâu sau sẽ vào tay kẻ khác mất”.

Mất nhân tâm, thiên hiểm biến đường bằng

Trường Giang từ xưa đã được coi là thiên hiểm. Mà sở dĩ nó có thể trở thành thiên hiểm được vì có nhân dân ở phía sau làm chỗ dựa. Nếu không có nhân dân hiệp lực, nó chẳng qua chỉ là một con “lạch nhỏ” một bước cũng qua. Khi Tôn Quyền hùng cứ Giang Đông, nước giàu quân mạnh, trên dưới một lòng, quân dân hiệp lực, Tào Ngụy coi Trường Giang là con đường đáng sợ. Tào Tháo với Tôn Quyền đối trận ở Nhu Tu, thấy quân Ngô chiến thuyền mạnh mẽ, quân ngũ chỉnh tề, sợ mà than rằng: “Sinh tử đáng như Tôn Trọng Mưu”, biết không thể thắng được, bèn rút quân. Chúa Ngụy là Tào Phi dẫn quân đến Quảng Lăng, đứng bên này nhìn sang, thấy quân Ngô lính khỏe ngựa to, cũng kêu lên rằng: Ngụy dẫu có trăm vạn võ sĩ, cũng chẳng dùng được. Người và vật Giang Nam như thế, chưa thể lấy được. Cha con Tào Tháo kinh sợ Đông Ngô như thế bởi vì đã có chuyện răn từ trước đó. Tào Ngụy xâm phạm biên giới Đông Ngô, phần lớn đều kết thúc bằng thất bại. Mà không thể xâm phạm Đông Ngô vì chính lòng dân quy phục, cho nên đã dựng nên tường đồng vách sắt. Cho đến khi Tôn Hạo nối ngôi, tàn sát hiền thần, bóc lột vơ vét của dân, nhân tâm đã ly tán, cam chịu “ta với mày cùng chết”. Cái hiểm trở của Trường Giang, không có con người trấn giữ, đã mất đi tác dụng thiên hiểm của nó. Thần dân nước Ngô căm ghét tên Sầm Hôn đến tận xương tủy, quân phía Bắc gần đến, cận thần đều cho rằng “mỗi họa hôm nay chính là tội của Sầm Hôn”. Không đợi Tôn Hạo bước ra, hàng trăm người đã ào vào trong cung chém nát Sầm Hôn vằm thịt hắn ra. Do nhân dân chán ghét chúa nước Ngô, cho nên tướng Đỗ Dự của nhà Tấn cầm quân đi đánh phía Nam, tuy có bị sông lớn cắt ngang, cũng vẫn có thể vượt qua. Quân dân Giang Nam chưa đánh đã hàng, còn lại trơ trọi có mình Tôn Hạo, đành làm như Lưu Thiền tự trói mình mà ra hàng quân Tấn.

Nguyễn Bá Thính dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.