Đối với vua chúa trong Tam quốc, hoặc những kẻ nắm chính quyền, thuật lấy lòng người của họ, mỗi người một cách khéo léo riêng: Có người thì theo chính đạo để thu phục nhân tâm; có người thì dùng thủ đoạn để lung lạc nhân tâm; có người dùng quy kế khiến người ta phải quên chết cho mình. Tuy nhiên hoặc lời nói hoặc việc làm, có thực cũng có hư, song đều mê hoặc được người, đoàn kết được người, khiến cho các anh tài đều được dùng cho họ, thể chết trung thành với họ. Nhìn quyền mưu sách lược của họ, khiến người phải vỗ đùi khen hay. Lưu Bị, Khổng Minh, Tào Tháo, Tôn Quyền... có thể nói là những nhà tâm lý hàng đầu.
Tính cách của Lưu Bị, được tác giả Tam quốc diễn nghĩa vốn muốn tả phong cách của kẻ lớn, là một ông vua nhân từ hợp với mong muốn của người. Nhưng có lúc lại tả đến mức hơi giả dối, ông Lỗ Tấn sớm đã chỉ ra rằng: “Lưu Bị trong đôn hậu có giả dối”. Kỳ thực, Lưu Bị trong lịch sử là một nhân vật kiêu hùng có tiếng ở thời đại Tam Quốc, sự mưu lược quyền biến của ông ta không kém gì Tào Tháo. Muốn giành thiên hạ, quyết không thể thật thà đến mức ngu xuẩn như Tống tướng công, nếu không, chỉ có việc bị đánh hoặc là chịu thất bại. Trong trường hợp đặc biệt, đã xảy ra những sự việc bề ngoài và bên trong không giống nhau, là chuyện thường xảy ra và không thể không chế được. Tác giả tả Lưu Bị trong đôn hậu có sự giả dối, là phù hợp với Lưu Bị trong lịch sử với hành vi của con người kiêu hùng này. Một số hành vi và lời nói của ông, nói là giả dối cũng được, nói là tài cản mưu lược cũng chẳng phải là sai, sự đôn hậu và giả dối của ông là sự hỗ trợ giữa bên trong và bên ngoài, đó là nói lên trong sự đôn hậu, có sự giả dối, trong giả dối lại có sự đồn hậu, và nhìn tổng quát lại thì sự đôn hậu là chính, để kết lòng dân, thâu tóm được tướng lĩnh, những điều ông nói ông làm đều là như thế. Tính cách của Lưu Bị rất phức tạp, thuật lấy lòng người của ông cũng không giản đơn, phải phân tích cụ thể, mới thấy được điều kỳ diệu ở trong đó.
Vứt A Đẩu để tỏ lòng yêu tướng
Cuộc chiến đấu ở Dương Trường Bản là cuộc tao ngộ chiến. Thế quân Tào rất mạnh, quân của Lưu Bị ít. Quân Tào ập đến, thế không thể ngăn nổi, đánh cho hàng ngũ quân Lưu Bị tơi bời tan tác. Triệu Vân bảo vệ cho cả nhà Lưu Bị cũng bị lạc mất. Triệu Vân tự nghĩ: “Ta lên trời xuống đất, cũng phải tìm được chúa mẫu và tiểu chúa, nếu không tìm thấy, thì thà chết ở chiến trường”, và thế là lại xông vào giữa đám quân Tào Tháo đông hàng vạn tên, bảy lần xông vào bảy lần ra, cuối cùng đã tìm thấy A Đẩu. Triệu Vân ôm A Đẩu trong lòng, phá tung mấy đợt vòng vây, chặt đổ hai lá cờ lớn, cướp được ba ngọn giáo; đằng trước đằng sau kích thì đâm, gươm thì chém, giết chết trên 50 danh tướng của quân Tào. Triệu Vân đuổi kịp Lưu Bị, đang định nói về việc phá vây cứu tiểu chúa: “Nhờ hồng phúc của chúa công, may mà đã thoát”. Thế nhưng khi sờ đến A Đẩu trong bọc lo lắng nói: “Khi đến đây, công tử còn đang khóc trong bọc, sao lúc này lại không thấy cựa quậy, hay là không giữ được rồi”. Nói xong bèn cởi bọc ra xem, thì ra A Đẩu còn đang ngủ say chưa tỉnh. Triệu Vân vui mừng nói: “May mà công tử không làm sao”, rồi hai tay trao cho Lưu Bị. Lưu Bị đỡ lấy rồi vứt xuống đất nói: “Vì thằng nhãi con này của ta, suýt mất một tướng tài”. Triệu Vân vội cúi xuống ôm lấy A Đẩu lên, khóc và nói: “Vân này dù gan nát óc lầy, cũng không báo đáp được”. Đó chính là đầu đuôi câu chuyện Lưu Bị vứt A Đẩu.
Lưu Bị vứt A Đẩu, có người cho rằng động tác đó là giả dối, là muốn lấy lòng Triệu Vân. Nói giả dối cũng đúng, Lưu Bị chỉ có mỗi đứa con này, không yêu là giả. Nói rằng làm thế để lấy lòng Triệu Vân cũng là thật, một cái vứt như thế, làm cho Triệu Vân vô cùng cảm động, thề “gan nát óc lầy” để báo đáp. Như vậy, Lưu Bị đã đạt được mục đích của việc vứt con. Có điều, Lưu Bị, nghe được hành động anh hùng của Triệu Vân một mình một ngựa cứu ấu chúa, vừa phục cái dũng khí đó, vừa yêu mến sự trung thành, nên mới vứt A Đẩu xuống đất, cũng là xuất phát từ tấm lòng yêu tướng kích động. Mà hành động đó cũng chỉ có Lưu Bị mới làm ra được, những lời lẽ đó cũng chỉ có Lưu Bị mới nói ra được. Nếu như thay vào đó bằng Viên Thiệu, ông ta nhất định sẽ mừng cuống quít vì cứu được con, quên đi một bên cái người đã cứu con mình. Bởi vì tâm tư của ông ta sẽ đặt hết vào đứa con yêu. Viên Thiệu thương con mình mà từ chối lời khuyên của Điền Phong là điều rất tốt nói lên ý đó. Hồi thứ 24 tả Điền Phong vào gặp Viên Thiệu, chỉ thấy ông ta hình thù tiều tụy, khản áo lôi thôi, vội hỏi nguồn cơn, Thiệu nói: “Ta chết mất thôi”. Hỏi thêm mới biết nguyên do là người con nhỏ của ông ta bị bệnh ghẻ lở. Điền Phong đề nghị nhân lúc Tào Tháo đông chính Lưu Bị trống trải tập kích Hứa Xương, Thiệu nói: “Trong năm người con thì người này là đặc biệt nhất, nếu có bề nào, đời ta cũng hết”. Thiệu có tới 5 con, chỉ vì một người con mắc chứng bệnh ghẻ lở con con, mà để mất một thời cơ chiến đấu rất tốt. Thế mà Lưu Bị chỉ có mỗi một con, lại giám vứt xuống đất, để thể hiện lòng yêu đối với mãnh tướng Triệu Vân. Một khôn, một ngu cách nhau một trời một vực.
Vua chúa sáng nghiệp thời xưa, vì giang sơn mà quên nhà. Lưu Bang bị giặc đuổi, để cho xe bớt nặng chạy cho nhanh, đã mấy lần đẩy con ra khỏi xe, quả là lòng dạ độc cha xấu xa! Lưu Bị muốn bày tỏ lòng yêu mãnh tướng, cũng không tiếc gì vứt con xuống đất. Một người muốn yên thân mình, không đáng ca ngợi; một người muốn lấy lòng tướng sĩ, nên cái cách lấy lòng đó khiến người ta phải kính nể.
Nhảy xuống sông để lấy lòng dân
Lưu Bị muốn nhảy xuống sông, là câu chuyện “Lưu Huyền Đức đưa dân qua sông”, ở hồi thứ 41. Tào Tháo sắp đánh Phàn Thành. Lưu Bị tự liệu thấy không địch nổi bèn bỏ Phàn Thành để đến Tương Dương, và sai người thông báo cho dân chúng: “Ai muốn theo thì đi, không muốn thì ở lại”. Dân chúng hai huyện, cùng lớn tiếng hô rằng: “Chúng tôi dù có chết cũng nguyện theo sứ quân”. Ngay hôm đó bảo nhau, khóc lóc mà đi. Họ dìu già đất trẻ, dẫn con trai con gái lũ lượt qua sống, hai bờ sông tiếng khóc nỉ non không dứt. Lưu Bị đứng trên thuyên trông thấy vậy, xúc động nói: “Chỉ vì một mình ta mà trăm họ tự dưng lâm nạn, thì ta còn sống làm gì?” Nói rồi định lao đầu xuống sông tự tử. Tả hữu vội cứu lại. Nghe tin này không ai là không khóc lên đau khổ. Về việc này, Mao Tôn Cương đã bình như sau: “Hoặc nói Huyền Đức định nhảy xuống sông, cũng giống như việc Tào Tháo mua chuộc lòng dân, đều là giả dối. Nhưng cái giả của Tào Tháo, dân chúng biết cả; còn cái giả của Huyền Đức, dân chúng lại không cho là giả. Tuy cùng là giả, song Huyền Đức đã hơn Tào Tháo rất nhiều”... Nói Lưu Bị nhảy xuống sông là giả, thì là giả rất khéo, khiến người ta không biết cái giả của nó, là đã vượt Tào Tháo rất xa. Có thể nói đó là người biết Lưu Bị. Nhưng nếu như chỉ thấy khía cạnh giả của Lưu Bị, mà không thấy khía cạnh thật của nó, thì cũng không thể nói là người biết hết về Lưu Bị.
Tôi thì tôi cho rằng: Lưu Bị nhảy xuống sông, có giả và có thật. Lưu Bị là một kẻ kiêu hùng, nên không thể giàu tình cảm như thế được, ý chí cũng không thể mềm yếu như thế được để nhìn thấy dân chúng “tự dưng lâm nạn” mà nhảy xuống sông tự sát được. Cái động tác giả đó của ông chỉ là để lấy lòng dân, ông mới làm ra bộ đâm đầu xuống sông mà đã khiến cho “nghe tin này không ai là không khóc lên đau khổ, đã được sĩ phu và dân chúng Kinh Châu ủng hộ. Nói ông thấy dân chúng “tự dưng lâm nạn” mà không đau không xót cũng không đúng. Trong đám anh hùng thời Tam quốc, Lưu Bị là người tương đối thương dân. Khi nhận chức huyện úy An Hỷ “không tơ hào thứ gì của dân, dân đều cảm hóa” (hồi thứ 2). Khi cai trị ở Tân Dã thì “quân dân đều mừng, chính trị đổi mới”, dân chúng ca ngợi ông “Tân Dã mục, Lưu Hoàng Thúc, từ ngày về, dân sung túc”. Sau khi ông dẫn quần chúng vượt sông, quân Tào lại đuổi sang, các tướng khuyên ông hãy bỏ dân lại cho nhẹ gánh mà sớm đến Giang Lăng, Lưu Bị khóc và nói: “người làm việc lớn phải lấy dân làm gốc. Nay người đã theo ta, làm sao nỡ bỏ?” ông đã cùng hàng vạn dân, đi rất chậm rãi cam chịu có thể bị bắt. Do Lưu Bị hiểu được “làm việc lớn phải lấy dân làm gốc”, nên có thể yên dân. mặc dù Lưu Bị yên dân có khía cạnh giả dối, nhưng ở khía cạnh thật, tuy rằng còn có hạn, song ở vào cái thời buổi giết người đầy đồng, giết người ngập thành đó, cũng đáng được khẳng định. Lưu Bị đắc nhân tâm cũng là ở đó.
Đuổi người chính là để giữ người
Lưu Bị đang ở Nhữ Nam, được tin Tào Tháo đi đánh Hà Bắc, bèn đem quân thừa cơ đánh úp Hứa Xương. Tào Tháo được tin, lập tức rút quân về đánh, Lưu Bị thua to, các tướng liều chết xông vào cứu mới thoát. Tàn quân của Lưu Bị chưa tới 1000, cúp đuôi mà chạy, đến Hán Giang lệnh cho tạm hạ trại. Thổ dân ở đây biết là Lưu Bị đến, đem dâng dê rượu, cùng ăn uống ngay trên bãi cát. Lưu Bị thở dài nói: “Chư quân đây đều có tài vương tá, chẳng may cùng đi theo Lưu Bị. Bị gặp lúc quẩn, liên lụy cả đến chư quân. Đến nay không còn chỗ đất cắm dùi, sợ rằng làm lỡ việc chư quân. Các chư quân sao không rời bỏ Bị này mà đi tìm minh chủ, để lấy công danh?”. Nghe vậy, mọi người đều che mặt khóc. Vân Trường khuyên rằng “huynh nói sai rồi, ngày xưa Cao Tổ tranh giành thiên hạ với Hạng Vũ, nhiều lần thua Vũ, sau này chỉ một lần Cửu Lý Sơn thành công mà mở ra cơ nghiệp trăm năm. Thắng bại là chuyện thường tình của nhà binh, sao lại nỡ làm nhụt chí mình”. Đó là tóm tắt câu chuyện Lưu Bị đuổi chủ tướng.
Vào giữa lúc bại trận thế nguy, Lưu Bị đang cần người ủng hộ, để mà qua được bước gian nan, ông vốn muốn làm công tác tư tưởng cho mọi người. Nếu nói những câu “đường đi khúc khuỷu, tiền đồ rạng rỡ v.v... là để động viên mọi người đừng ngại khó khăn, chấn chỉnh lại đội ngũ để giành thắng lợi mới. Nhưng ông không làm thế, mà ngược lại đã than thở bảo mọi người hãy bỏ mình đi mà tìm minh chủ, để cầu công danh, điều đó thật khiến người ta khó hiểu. Đó có phải chăng Lưu Bị đã nhụt chí anh hùng, giảm sút ý chí, từ đó muốn cởi giáp về cày ruộng không làm việc lớn nữa? Hoặc là Lưu Bị quả thật đã thấy mình hỏng rồi, tiếc cho tương lai của chư tướng mà xua đuổi họ đi, để họ tìm một minh chủ khác cho toại nguyện mình? Nếu nghĩ như hai lẽ trên là chưa biết nhìn thấu bụng dạ của Lưu Bị. Lưu Bị vừa không nản lòng nhụt chí, cũng chẳng hề muốn xua đuổi mọi người. Mà sở dĩ ông xua đuổi mọi người, vì biết rằng: Trong giữa lúc bình bại tướng vong, đi cầu mọi người ở với mình, sẽ không kích động được tình lưu luyến của mọi người; ông xuất phát từ chỗ than thân trách phận và tiếc thay cho mọi người, đi đến việc xua đuổi mọi người, để làm cho mọi người đều thấy Lưu Bị yêu mình, từ đó tất cảm kích mà không muốn bỏ đi. Bình thư cũng có nói: “Nếu có muốn lấy, phải cho trước đã”. Lưu Bị là một lão tướng chốn sa trường, hiểu một cách sâu sắc việc khéo léo dùng sách lược này nên đã làm cho mới mẻ thêm dùng để lấy lòng người. Đó cũng lại là sự sáng tạo của Lưu Bị trong thuật lấy lòng người. Vân Trường đi theo Lưu Bị bao nhiêu năm mà vẫn chưa nắm chắc được tâm tư của anh mình lại còn mất công cất lời khuyên giải, thật chẳng khác gì ông thì chẳng, bà thì chuộc. Mãi đến hơn 1000 năm sau, Mao Tôn Cương mới hiểu rõ tâm sự của Lưu Bị như lòng bàn tay, trong lời bình của hồi thứ 31 đã nói đến nơi đến chốn rằng: “Khi Lưu Bị cùng chư tướng uống rượu trên bãi cát, tiếc cho mọi người, đuổi mọi người chính là vì muốn giữ mọi người vậy. Chẳng khác nào khi Cửu Phạm từ Trùng Nhì quay về nước Tấn; từ công từ, biệt công tử chính là muốn giữ công tử vậy. Đuổi là để cho lòng mọi người thêm vững, từ là để cho chí moi người thèm chắc, một đằng hoạn nạn càng sâu, một đằng an lạc đền chôn; một đằng quân an ủi thân một đằng lấy thần kết chúa. Tuy rằng ở hai cục diện, nhưng chỉ là một loại phương pháp mà thôi!”
Chối càng gắt gao, nhận càng chắc chắn
Tào Tháo muốn báo thù cha mà đánh Từ Châu, Từ Châu mục là Đào Khiêm thế yếu không địch nổi, bền thống qua Khổng Dung xin Lưu Bị mang quân đến cứu. Vì Trương Mạo, Lã Bố đang đánh Duyện Châu nên Tào Tháo phải đồng ý hòa giải với Lưu Bị, rút quân về cứu Duyện Châu – Đào Khiêm và dân chúng ở Từ Châu cảm ơn sâu sắc sự ứng cứu của Lưu Bị. Với lý do tuổi già sức yếu không giữ nổi Từ Châu, Đào Khiên, tính nhường vị lại cho Lưu Bị. Lưu Bị một mực từ chối nói: “Khổng Vàn Cứ lệnh cho Bị tôi tới cứu Từ Châu, đó là vì nghĩa. Ngày nay vô cớ lấy làm của mình, thiên hạ sẽ cho Bị là người vô nghĩa”. Đào Khiêm mấy lượt đưa đẩy, song Lưu Bị vẫn không chịu nhận. Dào Khiêm ốm sắp chết. lại lần nữa, muốn nhường Từ Châu, Lưu Bị lại từ chối. Sau khi Đào Khiêm chết rồi, trong quân làm lễ tang, đưa dâng bài ấn lên cho Lưu Bị. Lưu Bị cố từ chối. Ngày hôm sau, dân chúng Từ Châu kéo nhau đến trước cổng phủ khóc và vái rằng: “Lưu Sứ quân nếu không lấy đất này, chúng tôi sẽ không được sống yên lành”. Rồi Quan, Trương khuyên bảo nhiều lần Lưu Bị mới chịu nhận quyền. Lưu Bị nhiều lần từ chối như thế, rồi cuối cùng lại nhận. Như vậy là thật hay là giả.
Nói Lưu Bị từ chối Từ Châu là thật cũng thật. Lưu Bị cứu Từ Châu là một nghĩa cử, nếu Đào Khiêm mới nhường đã nhận, thì chả hóa ra đến để cướp Từ Châu. Sĩ phu và dân chúng Từ Châu nếu không hiểu sự thực, sẽ lầm tưởng là ông thấy người ta nguy khó mà cướp lấy. Như thế người không phục, lòng người càng không phục, Từ Châu sẽ khó mà giặt nổi, có được Từ Châu rồi cũng sẽ mất. Nói Lưu Bị từ chối Từ Châu là giả thì cũng giả. Lưu Bị là con người không chịu được người khác, ông theo Tào Tháo, tính kế để giành lấy; chạy theo Viên Thiệu, là kế quyền nghỉ; dựa vào Lưu Biểu là để thu phục lòng dân mà tụ hợp nhiều người. Vào Tứ Xuyên chi viện Lưu Chương, rồi thay thế luôn. Lưu Bị đối với người như thế, lẽ nào miếng ngon (Từ Châu) đến miệng lại không ăn. Huống chỉ Lưu Bị lúc đó mới chỉ có một chút đất hẹp ở Bình Nguyên khó bề dung thân, bây giờ có một Từ Châu lớn như thế, làm sao mà lại không nhận cho được. Thế nhưng ông từ chối hết lần này lần khác và lấy “nghĩa” ra mào đấu, thực ra là muốn lấy lòng dân chúng Từ Châu. Khi dân chúng Từ Châu kéo nhau đến cửa phủ vái khóc van xin bày tỏ sẽ hết lòng ủng hộ ông, lúc đó Lưu Bị mới chấp nhận. Gọi là chấp nhận để che đậy sự từ chối ban đầu, đúng ra là thực nhận. “Chối càng gắt gao thì nhận càng chắc chắn. Từ trong thâm tâm Lưu Bị đã có tính toán. Chẳng qua người đời không biết mà thôi!
Lời dặn dò có dụng ý đặc biệt
Khi Lưu Bị ốm nặng, Khổng Minh và mọi người khóc vái dưới đất, nói rằng: “Mong bệ hạ hãy giữ gìn long thể! Chúng thần nguyện đem hết tài khuyển mã, để báo đền ơn tri ngộ với bệ hạ”. Lưu Bị lệnh cho quân hầu đỡ Khổng Minh dậy, một tay gạt nước mắt, một tay nắm lấy tay Khổng Minh, nói: “Trẫm sẽ chết mất thôi, nay có mấy lời tâm phúc, muốn nói cùng khanh”. Khổng Minh thưa: “Có thánh dụ chi vậy?” Lưu Bị khóc và nói: “Khanh tài gấp mười Tào Phi tất có thể an bang định quốc, cuối cùng sẽ làm nên việc lớn. Con thừa kế của ta phò được thì tốt, nếu nó không có tài, khanh có thể tự làm chúa Thành Đô.” Khổng Minh nghe xong toát mồ hôi lạnh, luống cuống chân tay, khóc lạy dưới đất, nói: “Thần đâu dám không mang hết tài sức của mình, dốc một lòng trung cho đến chết!” Nói xong rập lạy đến chảy máu đầu. Lời dặn dò của Lưu Bị và lời thề son sắt của Khổng Minh, không hề là sự hư cấu của tác giả, mà trong sử sách cũng có chuyện ấy. Người đời sau có nhiều dị nghị về lời dặn dò ấy của Lưu Bị và từ những góc độ khác nhau, đi phân tích lời trăng trối đó. Nhà sử học Tôn Thịnh chỉ ra rằng: “Nếu cho người mình nhờ là kẻ thị phi, nói lời lẽ ấy lại làm cái cớ để họ thoán vị. Những lời giả dối ấy nhờ cậy cho đứa con côi là không nên nói”. “Những lời giả dối” mà Tôn Thịnh nói ở đây là chỉ cái gì, ông lại không nói ra. Trong lời bình, Mao Tôn Cương lại nói: “Hoặc hỏi tiên chủ lệnh cho Khổng Minh tự lấy, là lời nói thật? hay là lời nói giả? Trả lời rằng: Cho rằng thật thì là thật, bảo rằng giả cũng là giả! Muốn cho Khổng Minh làm điều Tào Phi muốn làm, thế nhưng cái nghĩa của nó sở dĩ không dám ra, tất sẽ không nhịn ra. Biết người ta tất không dám cũng sẽ tất không nhịn. Mà khi đã được nghe lời nói đó, tấm lòng phò thái tử của Khổng Minh lại càng tha thiết”. Hai kiểu phân tích nói trên, mới xem qua thấy hơi có lý, nhưng nếu nghiên cứu sâu, thực ra thuộc vào lời của nhà đạo học, tức là chưa đoán nổi bề sâu tâm hồn của Lưu Bị.
Câu “khanh tự lấy đi” có phải thốt ra từ tâm can của Lưu Bị không? Tôi trả lời là không: Cái gọi là “nhường ngôi”, trong xã hội nguyên thủy ở nước ta có thể có, như truyền thuyết vua Nghiêu nhường ngôi cho vua Thuấn. Nhưng từ sau khi bước vào xã hội có giai cấp, trong lịch sử chẳng có một ông vua nào lại vui vẻ tự nguyện nhường ngôi cho kẻ khác. Thời Tam Quốc việc Hiến Đế nhường ngôi cho Tào Phi, Tào Hoán nhường ngôi cho Tư Mã Ý xuất hiện, chẳng qua là Tào Phi, Tư Mã Ý mượn tiếng nhường ngôi để lừa thiên hạ; kỳ thực là những vụ cướp ngôi trơ trẽn và đẫm máu. Đối với hai cuộc “nhường ngôi” này, Tam quốc diễn nghĩa đã vạch trần triệt để. Thế thì Lưu Bị có phải là ngoại lệ không? Không đâu! Lưu Bị muốn để cho con mình là Lưu Thiền nối ngôi một cách thuận lợi, đã từ lâu vắt óc ra sắp đặt công việc này. Lưu Phong là con nuôi của ông ta, con người này anh dũng thiện chiến, tài cán gấp trăm lần Lưu Thiền, mà xét thấy cả đời mình, Lưu Phong tận trung với Thục Hán. “Không ai biết con bằng bố”, Lưu Bị thừa biết tên nô tài ngu dốt A Đẩu không đáng là đối thủ của Lưu Phong; ông ta lo sau khi Lưu Thiền nối ngôi, Lưu Phong không phục, mà gây loạn, bèn kiếm cớ giết đi, tránh điều lo nghĩ về sau. Đến trước lúc chết, việc lệnh cho phò chính đại thần cũng là vắt óc mới nghĩ ra. Đại thần để ông gửi gắm nhờ cậy đứa con côi không chỉ mình Khổng Minh, mà còn với cả Lý Nghiêm. Lý Nghiêm nguyên là người đứng đầu trong quân đội của Lưu Chương, lúc đó giữ chức thượng thư lệnh, địa vị chỉ dưới có thừa tướng Khổng Minh, tự thành một hệ thống trong triều Thục Hán, vốn có một thế lực nhất định, dùng ông này làm phó chính đại thần, có thể còn kiềm chế được Khổng Minh. Mới hay Lưu Bị vừa không muốn giang sơn của họ Lưu phải nhường cho kẻ khác, đối với Khổng Minh cũng chưa tín nhiệm hẳn, nhưng tại sao ông ta lại nói lên câu “khanh tự lấy đi”? Lưu Bị cho rằng Khổng Minh tài trí gấp mười Tào Phi, phò tá Lưu Thiền mà thắng nhiệm, thì điều ông ta lo lắng nhất lại là “khanh tự lấy đi”. Ông biết rằng A Đẩu là kẻ ngu đần, từ đó về sau, quyền bính sẽ vào một tay Khổng Minh, Khổng Minh có muốn thay thế vào đó thì việc dễ như trở bàn tay, nếu Khổng Minh làm thế thật, ông ta chẳng nói “khanh tự lấy đi”, Khổng Minh cũng sẽ lấy đi. Cho nên ông ta nói trước người khác, lấy câu “Khanh tự lấy đi” để cảnh cáo Khổng Minh. Điều đó khiến cho Khổng Minh sợ đến mức “toát mồ hôi lạnh, luống cuống chân tay”. Sợ đến mức trước những cặp mắt trừng trừng của mọi người, xin thề tận trung với Lưu Thiền. Thuật lấy lòng người của Lưu Bị càng ra càng li kỳ, đúng là không hổ thẹn với tên gọi “kẻ kiêu hùng” trong đời.
2. DÙNG CẢ NHO CẢ PHÁP: THUẬT LẤY LÒNG NGƯỜI CỦA KHỔNG MINH
Khổng Minh là danh sĩ đất Kinh Châu, là người chủ trương dùng cả nho cả pháp, cho nên thuật lấy lòng người của ông vừa có khí sắc nền nã của nhà nho, vừa có tác phong nghiêm nghị của pháp gia. Thuật lấy lòng người của Khổng Minh không sâu sắc khó lường như của Lưu Bị, cũng không xảo trá gian ngoan như của Tào Tháo, mà là trong sáng từ đầu đến cuối, tuy có lúc cũng phải dùng mẹo vặt, nhưng cũng không làm mất phong độ thừa tướng.Thi hành pháp chế nghiêm minh
Ích Châu đã định xong, Lưu Bị sai quân sư Khổng Minh thảo ra điển lệ trị nước và hình pháp. Pháp Chính có ý kiến bất đồng về việc này, nói với Khổng Minh: “Xưa Cao Tổ ước pháp ba chương, dân đều cảm cái đức của người. Mong quân sư hãy rộng hình, giảm pháp, để an ủi lòng dân mong mỏi”. Khổng Minh nói: “Quân mới biết một mà chưa thấy hai; nước Tấn dùng pháp bạo ngược, trăm dân đều oán giận, cho nên Cao Tổ mới lấy khoan nhân để đạt được. Nay Lưu Chương mềm yếu, không nêu đức chính, oai của pháp luật không nghiêm túc; đạo quân thần sẽ dần bị thay đổi. Kẻ được sủng ở ngôi, ngôi sẽ tàn; thuận để lấy ân, ân cũng chậm, hết, cho nên, đi đến chỗ tồi tệ, thực cũng do vì thế. Ta nay oai là ở pháp, pháp được thì hành sẽ được biết ơn; hạn chế là ở tước, tước tăng thì thấy vinh. Ân vinh cùng song song, trên dưới đều có tiết tấu đấy là đạo dùng để trị. Pháp Chính bái phục. Pháp Chính sở dĩ bái phục, bởi vì nghe Khổng Minh nói có lý: Dùng pháp có rộng có nghiêm, có thể là tùy thời tùy việc mà có khác nhau, quyết không phải dồn về một lối. Sau sự bạo chính, thì phải thực hiện khoan nhân để cho dân được tu dưỡng cho thêm khỏe. Kế tiếp một nước loạn “không nêu đức chính” thì tất phải nghiêm minh pháp chế, khiến người ta sợ phép nước mà không dám làm bậy, mới có thể đi từ loạn tới trị. Khổng Minh trị Thục tuy chủ trương nghiêm minh pháp chế, nhưng trong khi xử lý những vấn đề cụ thể thì có mạnh, có khoan, hoặc lấy mạnh tề khoan, hoặc lấy khoan tề mạnh, chứ không phải nhất loạt đều dùng hình phạt nặng. Phàm là vi phạm pháp luật, bất kể là ai, Khổng Minh nói chung đều xử lý nghiêm, chẳng hạn như với người thân tựa chân tay như Mã Tốc, quan cao chức trọng như Lý Nghiêm căn cứ vào tình tiết phạm tội cũng đã lần lượt xử chém và bãi quan.
Khổng Minh lấy pháp luật trị nước Thục, không có nghĩa là nhân trị không còn tồn tại. Trong cả một xã hội phong kiến, nói chung pháp trị là về bên ngoài, nhân trị là cái lõi bên trong, bởi vì vua chúa phong kiến tức là quốc gia, tức là pháp luật, mọi điều quyết định đều do ý chí của vua chúa. Ngay cả như pháp luật do họ đặt ra, nếu không hợp ý họ, một đạo thánh chỉ là có thể lật nhào. Nếu ai dám xúc phạm long nhan theo luật pháp tội không đáng chết, quân chủ muốn họ chết, họ không thể không chết. Quyền lực của quân chủ vượt lên tất cả, đúng là có thể muốn làm gì thì làm. Ngay nhân từ như Lưu Bị cũng không là ngoại lệ. Ông đã giết oan Bành Dạng là việc đủ nói lên điều đó. Bành Dạng nguyên ở với Lưu Chương, do có người đặt điều nói xấu mà bị cạo trọc đầu đi đày. Lưu Bị vào Ích Châu, Bành đề nghị sách lược lấy Ích Châu, rất được Bàng Thống tán thưởng. Lưu Bị cũng thấy lạ vì tài của Bành Dạng, đề bạt lên làm trị trung tòng sự. Sau vì sơ suất nhỏ bị điều làm thái thú Giang Dương. Bành Dạng do vậy sinh bất mãn, lại vừa lúc Mã Siêu quy hàng Thục bất đắc chí hai người có lúc gặp gỡ nhau, có lời phàn nàn trách móc. Bành Dạng vì phải điều đi xa, trong lòng buồn bực, đi tìm Mã Siêu tán chuyện. Siêu hỏi: “Khanh có tài đáng được nâng đỡ, chúa công rất coi trọng, sợ khanh đáng với Khổng Minh, bọn Hiếu Trực cùng nhau gạt đuổi, đành đến một quận nhỏ xa xôi, có phải thất vọng cho bao người không?”. Dạng nói: “Lão già lẩm cẩm, nói lại làm gì?” Mà Siêu sợ liên lụy đến mình nên báo cáo thực với Lưu Bị. Thế là Bành Dạng bị bắt tống giam, ở trong ngục Bành Dạng biên thư cho Khổng Minh để thanh minh, thừa nhận bảo Lưu Bị là “lão già lẩm cẩm” là sai lầm, và nói đó là câu lỡ miệng khi say rượu. Còn như câu “nội, ngoại” nọ kia, chẳng qua chỉ là nói nếu trọng dụng Bành Dạng và Mã Siêu, có thể hiệp lực cùng Lưu Bị đánh bại Tào Tháo, ngoài ra không có ý gì khác”. Câu nói “nội, ngoại” của Bành Dạng, không thể nói là muốn mưu phản. Còn câu nói là “lão già lẩm cẩm” cũng chỉ là lời phê bình Lưu Bị – ông tướng già lẩm cẩm, không biết dùng người mà thôi. Thư của Bành Dạng gửi Khổng Minh đã cặn kẽ trấn tĩnh, nói hết nỗi lòng, không biết Khổng Minh đọc xong có cảm nghĩ gì, có điều, ngay như ông có đồng tình với Bành Dạng cũng chẳng giải quyết được gì. Bởi Bành Dạng đã xúc phạm đến long nhan, trong cơn tức giận, Lưu Bị đã đem Bành Dạng ra chém đầu với tội phản nghịch. Cái chết của Bành Dạng là do nhân trị, chứ nếu pháp trị, thì làm gì đến nỗi phải tội chết. Nhân quân hiền tướng trị nước vẫn còn xảy ra án oan. Nếu như bạo quân, gian tướng nắm chính quyền thì án oan nhiều đến đâu ta có thể đoán mà biết. Trong thời đại phong kiến nhân trị tức “trẫm” trị, không biết có bao nhiêu người hàm oan không cãi được, có bao nhiêu người bị oan uổng đến chết! Nhân trị, ôi đáng sợ thay!
Đánh vào lòng là chính
Vì Man Vương nhiều lần xâm lăng biên giới và muốn làm sao cho yên hậu phương để lợi cho việc Bắc phạt, Khổng Minh bèn quyết định kế sách đánh xuống phía Nam. Khi cùng Mã Tốc bàn kế sách chinh phục Man Vương. Mã Tốc nói: “Nam Man có đặc điểm của nó là đất xa, núi hiểm, không phục được lâu; dẹp nó hôm nay, ngày mai lại trỗi dậy. Đại quân của thừa tướng tới đó, tất là sẽ dẹp được, nhưng ngày rút quân, tất sẽ dùng để đánh Tào Phi ở phía Bắc; quân Man mà biết bên trong ta trống, thì sự phản công của nó tất sẽ rất nhanh, mà đạo dùng binh thì phải “đánh vào lòng là chính, đánh vào thành là phụ; đánh bằng tâm là chính, đánh bằng quân là phụ”. Mong thừa tướng hãy nghĩ đến thu phục lòng chúng là đủ”. Khổng Minh reo lên, nói: “Trẻ vậy mà hiểu thấu tận tâm can ta vậy!” Điều đó muốn nói hai người không mưu mà hợp. Khổng Minh bèn quyết định sách lược đánh xuống phía Nam là: “Đánh vào lòng là chính”. Thực ra người Nam phản loạn, chỉ cần một đại tưởng đem quân đi là có thể dẹp được. Nhưng muốn triệt để giải quyết tận gốc vấn đề này, không thể không đánh vào lòng người. Có điều đánh thành dễ, đánh vào lòng người mới khó, cho nên Khổng Minh cần thân chinh cẩm quân. Cho nên ông cũng không ngại gian khổ, bảy lần bắt bảy lần thả với Mạnh Hoạch, cuối cùng vị Man Vương quật cường, ngoan cố này đã tâm phục, khẩu phục, rơi nước mắt mà nói với Khổng Minh rằng: “Thừa tướng có oai trời, người Nam không dám trỗi lại nữa!” Khổng Minh bèn trao trả tất cả đất đai đã chiếm giữ, lệnh cho Mạnh Hoạch mãi mãi làm động chúa. Từ đó, Mạnh Hoạch và bè đảng của hắn cũng như người Nam hết sức cảm động, suốt đời Khổng Minh người Nam quả không trỗi lại nữa.
Khổng Minh đánh vào lòng người để xoa dịu Nam Man, đó chính là thượng sách để dẹp yên Nam Man. Trong lịch sử Trung Quốc, hoặc là do chính sách áp lực, hoặc là do vơ vét quá đáng, hoặc là do có người khởi sự lên, giữa các dân tộc thường xảy ra va chạm, khi mâu thuẫn quá căng thẳng, thường nổ ra chiến tranh. Thế mà các thế lực thống trị phong kiến, lại chỉ dùng và lưc tiến hành trấn áp hòng làm cho các dân tóc ít người phần đó khuất phục. Sau khi chiến tranh thắng lợi, chỉ biết chia quản ra đồng giữ, rồi đặt quan để cai trị. Đóng quân thì phải trưng thu lúa gạo, thu lúa gạo thì tăng thêm gánh nặng đóng góp của dân chúng. Đặt quan hệ thì phải dùng pháp luật, dùng pháp luật thì phải có từ ngục, và nhân dân tất oán giận. Như thế sẽ ấp ủ những mâu thuẫn mới, và cuối cùng sẽ lại có một ngày căng thẳng lên. Thế cho nên chiến tranh giữa các dân tộc mài chẳng lúc nào ngừng. Khổng Minh sau khi đánh xuống phía Nam và đắc thắng, không đóng quân, chẳng đặt quan và cũng không hề chiếm đất, vẫn để người Nam tự trị. Như thế nên chẳng những Mạnh Hoạch khám phục trong lòng, người Nam còn mang ơn mang huệ. Chính vì tâm phục nên họ không trỗi dậy nữa. Thế là chẳng cần đến một người lính một mũi tên nào mà biên cương yên hàn, các dân tộc hòa hợp với nhau. So sánh hai loại chính sách dân tộc với nhau, mới thấy được hiệu quả đánh vào lòng người của người Khổng Minh thế nào, mới biết được sự khéo léo của thuật lấy lòng người của Khổng Minh.
Lấy chữ tín làm gốc
Người không có lòng tin không đứng vững được. Mình đã giữ được chữ tín, thì người khác mới tin. Nếu mình không giữ chữ tín, người khác tất sẽ không tin. Chẳng những người bình thường với nhau cần như thế. Người làm chúa của một nước, làm chủ một đội quân lại càng phải cấn như thế. Người làm chúa không giữ chữ tín, dân trong nước sẽ không có cách nào nghe theo, thống soái không giữ chữ tín, ba quân khó mà chỉ huy. Khổng Minh có thể lấy chữ tín làm gốc, nên lệnh ra là tất sẽ làm theo, cho nên mới chỉ huy như ý, người người mới mang hết sức ra được. Trận đánh ở Dữu Thành, chính nhờ vậy mà Khổng Minh mới xoay chuyển được từ nguy thành an và giành đại thắng. Tháng 2 mùa xuân năm Kiến Hưng thứ 9, Khổng Minh lại mang quân đi đánh Ngụy. Tướng Ngụy là Tư Mã Ý vì thất bại mấy lần nên cố thủ không ra đánh. Khổng Minh đóng quân ở Dữu Thành không biết làm sao được. Một hôm, Dương Nghi vào trong trướng nói: Trước đây thừa tướng có cho lệnh đại bình cứ một trăm ngày đổi một lượt, hiện còn 8 vạn quân, trong đó có 4 vạn đáng ra được đổi đỉ”. Khổng Minh nói: “Đã có lệnh thì cho thực hành ngay”. Trong quân biết tin này, người nào người nấy gói ghém hành trang để lên đường. Bỗng nghe báo Tôn Lễ đem 20 vạn quân Ung, Lạng đến “trợ chiến để đánh úp Kiếm Các, Tư Mã Ý tự mang quân đến đánh Dữu Thành”. Thục bình không tên nào là không kinh hải. Dương Nghi vào báo cáo với Khổng Minh: “Quân Ngụy tiến đánh rất gấp, thừa tướng cố để số quân sắp thay phiên đó lại, để đánh địch, chờ số quân mới lên thay, rồi sau sẽ thay. Khổng Minh nói: “Không được, ta dùng binh mệnh tướng, lấy chữ tín làm gốc, đã có lệnh trước rồi sao có thể mất lòng tin được. Vả lại số quân Thục sắp được về đều đã có sự sắp đặt của họ để về, cha mẹ vợ con họ tựa cửa mong chờ, nay ta dù có gặp nạn, cũng quyết không nên giữ họ”. Sau truyền lệnh ngay cho số binh lính sắp ra đi, sẽ đi ngay trong ngày. Đông đảo binh lính nghe nói vậy, đều hò lớn lên rằng: “Thừa tướng ra ân như thế cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ không về nữa, nguyện quyết đem thân mình, đi giết quân Ngụy, để đền ơn thừa tướng”. Khổng Minh nói: “Các ngươi đã đến lượt về nhà, còn ở lại đây sao được?” Đông đảo binh lính đều muốn ra trận, không ai muốn về nhà. Khổng Minh nói: “Các ngươi muốn cùng ta đi đánh có thể ra ngoài thành hạ trại ở đó, chờ cho quân Ngụy đến, không để cho chúng kịp thở, phải ra tay đánh ngay, đó là thế “lấy kẻ nghỉ ngơi để đánh người mệt mỏi đó. Quân lính vui vẻ ra ngoài thành, bày trận đợi sẵn. Quân Tây Lương từ xa đến, người mỏi, ngựa chồn, đang muốn hạ trại nghỉ ngơi, bị quân Thục ập đến, người người dũng mãnh xông lên, giết cho quân Ung Lạng thây chết đầy đồng, máu chảy thành suối. Quân Thục thắng to.
Đã có lệnh, cần phải đổi quân, đó là lề thường trong việc dùng binh. Thế nhưng 20 vạn quân của địch sắp ập đến một lúc. Tám vạn quân Thục, phải thay phiên nhau hết một nửa, còn lại có 4 vạn, làm sao mà địch nổi. Vậy mà lúc đó Khổng Minh vẫn kiên quyết “lấy chữ tín làm gốc”, kiên quyết đổi quân, đó là lẽ làm sao. Dương Nghi yêu cầu tạm dừng đổi quân, là tính toán một cách thật thà; Khổng Minh kiên quyết cho lính thay phiên, là có sự tính toán riêng rất huyền diệu. Bởi vì ông hiểu rằng, đã đến lượt đổi quân, và đã truyền lệnh rồi thì phải thi hành, vả lại quân sĩ nhớ nhà lòng mong mỏi như tên bắn, nếu cố tình giữ lại. tất sẽ chẳng có bụng dạ nào mà chiến đấu, đánh thì cùng sẽ thua. Chẳng thà giục họ về, để họ biết ta giữ chữ tín, hoặc ta gia ân cho họ, tất sẽ không chịu về ngay, đồng lòng chiến đấu đến cùng. Tâm lý học nghiên cứu tâm lý binh lính của Khổng Minh có thể nói là đã đến nơi đến chốn, thuật lấy lòng người của Khổng Minh, quả là cao hơn người khác một cái đầu.
Mời tướng không bằng kích tướng
Khổng Minh dùng Hoàng Trung chính là nhờ chữ kích. Ông cho rằng với vị lão tướng này nếu không kích ông, có dùng lệnh để đi đánh địch thì cũng khó thành công. Hoàng Trung vừa có dũng vừa có mưu, tuổi tuy già nhưng không chịu già, ở đâu cũng tỏ ra mình khỏe và hiếu thắng. Khổng Minh đã tóm được đặc điểm này để kích ông, càng kích càng thấy ông hăng hái xông lên, tranh thủ giành thắng lợi để chứng minh rằng cây đao quý của mình không già. Khổng Minh hai lần dùng Hoàng Trung, cả hai lần đều kích, mới khiến cho “Lão Hoàng Trung dùng kế chiếm núi Thiên Đãng” (hồi 70). “Lấy nghỉ đánh mệt mỏi anh dùng chém Hạ Hầu Uyên” (hồi 71) giành được chiến thắng huy hoàng. Danh tướng nước ngụy Trương Hạp tấn công Hà Manh quan rất gấp, Khổng Minh định dùng Hoàng Trung đón đánh, bèn nói trừ phi đi Hán Trung gọi Trương Phi, người khác không phải là địch thủ của Trương Cáp. Hoàng Trung cương quyết xin được đi đánh. Khổng Minh hỏi thế thì dùng ai làm phó tướng và nói người già thì không được, nhưng Hoàng Trung lại lấy lão tướng Nghiêm Nhan. Mặc cho người khác cười họ là hai ông già nhưng hai ông già đã ngầm quyết tâm lập kỳ công, để phục lòng mọi người. Hai ông già đã mật bàn mưu kế, lần lượt dùng kế “hai mũi giáp công” và “kế kiêu binh” đánh bại Trương Cáp lấy lại Thiên Đãng sơn. Lúc ấy Lưu Bị muốn cử Hoàng Trung đi lấy Định Quân sơn, Khổng Minh lại kích động nói; phải gọi Quan Công đến mới có thể địch được. Hoàng Trung kiên quyết đòi đi bằng được, Khổng Minh bèn cử Pháp Chính đi phò trợ, cuối cùng đã giết được Hạ Hầu Uyên.
Nước không kích không thành sóng, người không kích động không thành tài. Bao nhiêu anh hùng hào kiệt trong lịch sử, chẳng đã chính vì dựa vào chữ “kích” này mà làm nên bao kỳ tích kinh thiên động địa đó sao. Có điều, đối với những kẻ không hề biết động lòng trước bất cứ việc gì, không có chút tình cảm xúc động nào, có kích đi nữa cũng khó gây nên một phản ứng gì. Bởi vậy nguyên nhân bên ngoài luôn phải thông qua nguyên nhân bên trong mới gây được tác dụng. Nếu Hoàng Trung chịu là già, Khổng Minh sẽ không làm cách “kích”, vì ông ta không chịu là già, Khổng Minh “kích” lên mới có hiệu quả, cho nên không phải tướng nào Khổng Minh cũng kích, mà kích tùy người. Cách kích tướng của Khổng Minh là một trong những mẹo hay trong thuật lấy lòng người.
3. QUỶ TRÁ CAO SÂU: THUẬT LẤY LÒNG NGƯỜI CỦA TÀO THÁO
Mao Tôn Cương trong Cách đọc Tam Quốc chí khi đánh giá Tào Tháo đã chỉ ra rằng: “Lịch sử còn ghi, gian hùng nối tiếp nhau, nhưng đủ khôn ngoan để lôi kéo nhân tài và lừa thiên hạ thì chưa ai bằng Tào Tháo”. Câu nói ấy, quả đúng là đã nêu rõ được bản chất của Tào Tháo. Cái gọi là “khôn ngoan” nói ở đây, còn có ý là xảo trá, mà Tào Tháo xảo trá với người ta thì đúng là thứ nhất trong thiên hạ. Sở dĩ ông ta có thể “lôi kéo nhân tài và lừa được thiên hạ”, chính là dựa vào hai chữ “xảo trá”. Khóc, cười, giận, chửi vốn là sự biểu lộ tình cảm của con người, nhưng chuyện khóc cười giận chửi của Tào Tháo lại được khéo dùng theo cách khác, việc khác, việc khóc – cười – giận – chửi của ông ta là tuyệt chiêu trong thuật lấy lòng người. Có lúc ông ta cũng nói đến nghĩa khí, biểu hiện rất khoan hồng đại lượng, những cũng khác với mọi người, nó mang sẵn một diệu pháp lấy lòng người. Cho nên thuật lấy lòng người của Tào Tháo đúng là rất độc đáo.Đáng khóc lại cười, đáng cười lại khóc
Hồi thứ 57 tả Tào Tháo sau khi bị đánh bại ở trận Xích Bích, trên đường trốn chạy dở trò “ba cười một khóc”, đã tả cá tính xảo trá của ông ta thật là lâm ly, đến nơi đến chốn. Khi ông chạy đến phía tây Diểu Lâm, nhìn thấy cây cối rậm rạp, núi non hiểm trở, bèn ngồi trên mình ngựa, ngẩng mặt lên trời cười mãi không thôi, mọi người hỏi duyên cớ, ông ta nói rằng: “Cười Chu Du vô mưu, Gia Cát Lượng thiếu khôn ngoan. Nếu phải tay ta dùng binh lúc đó, ta sẽ cho phục sẵn ở đây một đội quân, xem nó sẽ ra sao?” Chưa dứt lời, hai bên tiếng trống dồn vang, lửa cháy lên ngút trời. Triệu Vân dẫn quân từ trong bụi cây xông ra, các tướng đánh chí tử, Tào Tháo mới thoát chết. Chạy đến đường cái ở Nam Di Lăng, người đói, ngựa chồn, bước đi không nổi, Tháo lệnh cho tạm nghỉ chân, ngồi dưới tán rừng thưa, ông ta lại ngửa mặt cười lớn. Mọi người hỏi nguyên cớ, Tháo nói: “Ta cười Gia Cát Lượng và Chu Du rốt cuộc mưu trí còn chưa đủ. Nếu như ta dùng binh, thì cũng tại chỗ này, cho phục sẵn một đội quân mã, lấy kẻ nghỉ ngơi đánh lại người mệt mỏi, bọn ta có may mà sống sót cũng không khỏi bị thương nặng, họ không nghĩ đến chuyện này, nên ta thấy nực cười”. Đang nói dở dang, bỗng Trương Phi dũng mãnh xông tới, Tháo vừa thấy đã lên ngựa chuồn thẳng, các tướng đánh thục mạng mới thoát, nhưng nhiều người đã bị thương, cúp đuôi mà chạy, trời lạnh đất cóng, đường sa lầy lội, khi đi đến đường Hoa Dung, đã chẳng còn lại được bao nhiêu. Thế mà ở trên mình ngựa, Tào Tháo lại vung roi cả cười, mọi người hỏi duyên cớ, Tháo nói: “Người ta đều bảo Chu Du với Gia Cát Lượng lắm mưu nhiều kế, riêng ta thấy, cuối cùng họ chỉ là một lũ bất tài. Nếu ở đây cho mai phục một lũ quân, thì bọn ta chỉ đành chịu bó tay”. Lời nói chưa dứt, một tiếng pháo nổ vang hai bên chừng năm trăm tay dao, đi đầu là đại tướng Quan Vân Trường, tay cầm thanh long đao, ngồi trên mình ngựa Xích Thố chặn ngang đường. Nếu Quan Vân Trường không nhớ đến cái ơn xưa, thì chắc chắn đầu Tào Tháo sẽ lìa khỏi cổ. Lần trốn chạy này, tình cảnh của Tào Tháo thật là bi thảm, đây chính là lúc ông ta phải cất tiếng khóc mới phải. Vậy mà tại sao trong mỗi lúc rơi vào ác cảnh, ông ta lại cất tiếng cười vang. Kỳ thực “ba lần cười” này đều là cố rặn ra mà cười, dụng ý là ở chỗ làm giảm uy phong của địch, tăng sĩ khí cho mình. Ông ta cười cái bất tài của địch để phò cái sáng suốt của mình, để hà hơi tiếp sức cho quân sĩ, tăng thêm dũng khí cho họ để mà vượt qua khó khăn. Thế nhưng, Tào Tháo thoát khỏi miệng hùm, được Tào Nhân đón vào Nam quận, mở tiệc tẩy trần, lúc ấy ông ta lại ngửa mặt khóc rống lên. Trước cử chỉ khác thường này, ngay các mưu sĩ cũng chẳng hiểu ra sao, bèn hỏi nguyên cớ. Tào Tháo thương xót nói: “Ta khóc Quách Phụng Hiếu vậy! Nếu Phụng Hiếu còn, quyết không để ta phải đến nỗi này.” Nói rồi lại ôm ngực khóc: “Ôi Phụng Hiếu! Đau xót thay Phụng Hiếu! Tiếc thay Phụng Hiếu!” Các mưu sĩ bấy giờ mới vỡ lẽ và đều hổ thẹn. Đối với tiếng khóc của Tào Tháo, Mao Tôn Cương đã vạch ra cái khéo léo của nó thật đến nơi đến chốn: “Tào Tháo lần trước khóc Điển Vi, lần sau lại khóc Quách Gia. Tiếng khóc tuy giống nhau, nhưng khóc cái gì thì lại khác nhau. Tiếng khóc khóc Điển Vi là để chư tướng phải cảm động, tiếng khóc Quách Gia là để cho các mưu sĩ phải hổ thẹn. Lần trước khóc, còn hơn là khen thưởng; lần sau khóc còn quá roi đòn, chẳng ngoa khi bảo rằng nước mắt gian hùng có thể thay cho giấy mực, lại cũng có thể dùng làm roi vọt, cái gian của kẻ gian hùng thật là gian đến mức đáng yêu”. Đáng khóc lại cười, đáng cười lại khóc, chỉ có kẻ gian hùng mới cười lên được như thế, khóc lên được như thế. Cái gian của gian hùng là gian ở đó. Sự khóc cười của họ không như sự khóc cười của người thường, mà nó đều là thuật lấy lòng người của họ.
Ra oai trước sau mới kết ơn
Hồi 19 có đoạn tả chuyện Tào Tháo thu hàng Trương Liêu:
“Lại nói, võ sĩ giải Trương Liêu đến, Tháo chỉ vào Liêu nói:
– Thằng cha này trông mặt quen quá!
Liêu nói:
– Phải, đã gặp nhau trong thành Bộc Dương, chẳng lẽ quên rồi sao?
Tháo cười mà hỏi rằng:
– Thế ra mày còn nhớ à?
– Chỉ thấy đáng tiếc! – Liêu đáp.
Tháo hỏi: “Tiếc cái gì?”
– Tiếc hôm ấy lửa chẳng cháy to lên, để đốt cho chết mày là tên giặc nước!
Tào Tháo nổi giận, mắng:
– Tên bại tướng này lại dám làm nhục ta à? – Rồi rút gươm ra cầm tay, định tự tay giết Trương Liêu. Liêu chẳng hề kinh sợ, còn chìa cổ ra chờ chém. Lúc đó, Huyền Đức đã giữ tay Tào Tháo lại, Vân Trường quỳ ngay xuống trước mặt. Huyền Đức nói:
– Người này vốn có lòng son sắt, chính là nên dùng.
Vân Trường cũng nói:
– Tôi vốn biết Văn Viễn (Trương Liêu) là người trung nghĩa, tôi xin lấy mạng mình đảm bảo.
Tào Tháo vứt kiếm cười nói:
– Ta cũng biết Văn Viễn là người trung nghĩa nên đùa vậy thôi! – Nói rồi tự tay cởi trói cho Trương Liêu, rồi cởi áo của mình khoác cho Trương Liêu và dìu lên ghế ngồi. Liêu thấy vậy cảm phục và xin hàng. Từ trong mẩu chuyện này, chúng ta thấy chỉ trong nháy mắt, Tào Tháo đã đổi ra hai bộ mặt. Một đầy sát khí, một lại tươi cười. Đúng là “muốn giết thì tự tay rút gươm, không giết thì cởi áo mời ngồi. Nổi giận tăng thêm một lần, yêu mến cũng tăng thêm một lần. Quyền thế của gian hùng, gian không ai bì” (lời bình của Mao Tôn Cương).
Kỳ thực “giận và yêu” của Tào Tháo, chẳng qua chỉ là phiên bản của “ân và uy cùng dùng” trong thuật lấy lòng người thời xưa, tức là ra oai trước rồi kết ơn sau. Kiểu lấy lòng người này sau cũng được Trương Phi học tập. Trương Phi bắt sống được Nghiêm Nhan, muốn Nghiêm Nhan đầu hàng, Nghiêm nói: “Chỉ có làm tướng quân không đầu, chứ không có tướng xin hàng”. Trương Phi nổi giận, hô tả hữu vào chém. Nghiêm Nhan quát lớn: “Thằng giặc kia! Muốn chém thì chém, nổi nóng cái nỗi gì?” Trương Phi cảm động trước khí phách anh hùng đó, bèn tự tay cởi trói; cúi đầu vái xin tha lỗi, Nghiêm Nhan cũng cảm động trước ân nghĩa đó, bèn hàng. Trương Phi cởi trói cho Nghiêm Nhan và Tào Tháo cởi trói cho Trương Liêu, quả là giống nhau. Có phải là Trương Phi cũng học Tào Tháo hay không, chưa ai biết được. Nhưng Tào Tháo cởi trói cho Trương Liêu và Trương Phi cởi trói cho Nghiêm Nhan, là bởi vì Trương Liêu, Nghiêm Nhan đều có dũng khí, hạng người ấy thật đáng dùng. Tào Tháo có thể cởi trói cho Trương Liêu, vì Tào Tháo là gian hùng; Trương Phi cởi trói cho Nghiêm Nhan, vì Trương Phi là anh hùng. Gian hùng với anh hùng tuy có khác nhau, nhưng về tính cách lại có chỗ giống nhau. Những hảo hán tươi cười không sợ chết thì ghét người ham sống sợ chết. Như khi Lã Bố bị Tào Tháo bắt sống, vừa xin Tào Tháo tha cho, lại nhờ Lưu Bị nài nỉ giúp, mặc cho Lã Bố tìm trăm cách cầu xin, Tào Tháo vẫn đem giết. Còn Tào Tháo cởi trói cho Trương Liêu hình như là do bị khí khái anh hùng của Trương Liêu làm khuất phục. Tào Tháo có thể dùng được Trương Liêu, chứng tỏ ông ta nhanh mắt nhận biết con người. Trương Liêu cũng do Tào Tháo cất nhắc mà trở thành danh tướng của nước Ngụy.
Khí độ “đốt thư từ”
“Biết người biết mình, trăm trận không nguy”, đó là một quy luật giành thắng lợi trong chiến tranh. Mà muốn “biết người biết mình”, thì trước hết phải tìm hiểu được tình hình của đối phương; cho nên ba nước Ngụy, Thục, Ngô đều trăm phương ngàn kế đặt cài gian tế ở nước đối địch. Hai nước Ngụy và Thục đã từng dùng kế phản gián với nhau, những kế phản gián đó sở dĩ được thành công, đều phải thông qua gian tế để thi hành. Cho nên giữa các nước với nhau, trong mi có ta, trong ta có mi, đã trở thành một bí mật công khai. “Lô cốt thường bị phá từ trong ra”, cho nên phát hiện và trừ khử gian tế là điều mà thống soái các nước đều rất coi trọng. Có điều, đối với việc xử lý gian tế là một vấn đề hết sức phức tạp. Nếu như quá nhẹ dạ, dễ gây nên lầm lẫn, oan uổng cho người tốt mà lại để sống mắt kẻ xấu, như vậy làm suy yếu một lực lượng của mình, làm tăng thế lực của địch. Trong việc xử lý gian tế, Tào Tháo có một cách độc đáo. Sau khi phá Viên Thiệu, thu được hàng loạt thư tín của bọn thuộc hạ của mình tư thông với Viên Thiệu, có người khuyên ông ta hãy xử lý nghiêm khắc với bọn này ông không đồng ý, nói: “Lúc ấy thế lực Viên Thiệu lớn thế, đến quả nhân đây còn khó giữ nổi mình, huống chỉ người khác”, bèn lệnh đem đốt hết những thư tín đó đi. Tào Tháo tại sao không xử lý nghiêm với những người ấy, mà lại áp dụng biện pháp khoan hồng độ lượng như thế nhỉ. Bởi vì Tào Tháo làm như vậy sẽ có hai mỗi lợi: Một là sẽ tránh gây nên lầm lỡ. Tào Tháo vừa đã nắm vững danh sách những “kẻ đã tư thông với địch, đối với bọn người này, ông ta đã có dự tính trong bụng, hiểu được sẽ phải đối xử thế nào với họ. Như thế với họ Tào Tháo đã nắm được quyền chủ động. Bây giờ ông chưa xử lý, sau này sẽ dần dần xử lý. Vả lại những người này tư thông với địch, về tội có người nhẹ người nặng, không thể cào bằng đi được, nếu như cùng trấn áp một loạt, thì diện liên lụy sẽ rộng ra, gây nên sự rối loạn trong nội bộ. Hai là, không làm yếu lực lượng của mình. Lúc ấy, thiên hạ còn chưa ổn định, còn đang là lúc dùng người; Tào Tháo khoan dung như thế, sẽ khiến cho những người đã tư thông với địch phải chịu ơn mang đức, có khả năng sẽ hối hận với sai lầm trước đây.
Nếu đem so sánh việc xử lý gian tế giữa Tào Tháo và Viên Thiệu, lại càng thấy thuật lấy lòng người của Tào Tháo là cao minh. Hứa Du do bắt được thư giục lương của Tào Tháo, biết quân của Tào đã cạn lương thực, đề nghị chia quân đánh úp Hứa Xương bằng hai mũi. Đó là một thượng sách. Nếu như Viên Thiệu làm theo, có thể thắng lợi hoàn toàn. Gặp lúc Thẩm Phối có thư báo ngầm rằng Hứa Du khi ở Ký Châu đã dung túng cho con cháu tham ô, Viên Thiệu giận lắm, rồi thêm sự xét đoán chủ quan nói Hứa Du “có quan hệ với Tào Tháo trước đây, muốn được hối lộ, đã làm gian tế cho Tào Tháo, định lừa hại quân ta”, bèn đuổi Hứa Du đi. Đem sự xét đoán cá nhân coi là thực, chụp cho Hứa Du cái mũ “gian tế” Hứa Du quả đúng là bị oan uổng. Từ xưa đến nay, những án oan xuất hiện, chẳng phải chính là do sự xét đoán chủ quan gây nên đó sao. Mà Viên Thiệu đã cho Hứa Du là “gian tế” lại không xử lý đi, lại còn đem đuổi đi, đó quả thực là ép người ta phải hàng Tào Tháo. Do Hứa Du bày cho Tào Tháo kế đốt kho lương, đẩy Viên Thiệu đến thất bại. Viên Thiệu xử lý “gian tế” một cách nhẹ nhàng như thế chẳng những oan uổng cho người tốt mà mình cũng bị xui xẻo. Cách đốt thư tín của Tào Tháo, nếu so với cách này quả thật là cao tay hơn nhiều.
Giữ nghiêm kỷ luật “cắt tóc thay đầu”
Câu chuyện “cắt tóc thay đầu” được kể như sau: Tháng tư mùa hạ năm Kiến An thứ ba, trên đường đi đánh Trương Tú, Tào Tháo thấy lúa ven đường đã chín, mà dân chúng thì do có lính đến, đã chạy trốn đi cả không dám về thu hoạch. Tháo sai người đi các nơi chỉ dụ cho người nhà và các quan sử đóng giữ ở các nơi biết: “Ta phụng chiếu thiên tử, đem quân đi đánh bọn phản nghịch, trừ hại cho dân. Nay vào giữa lúc lúa chín, bất đắc dĩ phải dấy binh. Các tướng lớn nhỏ, phàm có đi qua ruộng lúa mạch mà dẫm vào lúa, đều phải tội chém đầu. Quân pháp rất nghiêm, dân chúng không nên kinh hãi và nghi ngại”. Tháo cưỡi ngựa đang đi, bỗng một con chim cút kinh sợ vụt bay lên, con ngựa chột giật mình, nhảy đại vào ruộng lúa, giẫm nát một khoảng lớn lúa mạch. Tháo vội rút gươm sẵn mang bên mình, định tự tử. Mọi người xúm tới ngăn lại. Theo Quách Gia nói: trong sách “Xuân Thu” có ghi thì “pháp luật không áp dụng với vua chúa”, nhưng Tào Tháo vẫn dùng gươm cắt tóc của mình, ném xuống đất nói: “Cắt tóc tượng trưng cho cắt đầu”, sai người mang những món tóc đó truyền đi trong ba quân rằng: “Thừa tướng dẫm nát lúa mạch, lẽ ra cắt đầu theo lệnh, nay cắt tóc để thay”. Thế là ba quân bỗng xôn xao kinh ngạc, không ai là không nghiêm chỉnh chấp hành quân lệnh. Đối với việc “cắt tóc thay cho cắt đầu” của Tào Tháo, người đời sau phần nhiều cho rằng đây là một mẹo giả dối của Tào Tháo để lấy lòng quân lòng dân, đúng là như vậy. Thế nhưng có điều Tào Tháo dùng biện pháp quyền biến như thế cũng rất hợp sở nguyện. Thử hỏi Tào Tháo tự vẫn vì phạm vào luật do mình đề ra thật, thì có cần như thế không? Ở cuối đời Đông Hán, anh hùng cát cứ, phần lớn là làm bậy làm bạ, coi thường pháp luật, cướp bóc của dân để nuôi béo mình, có ai đã vì thế mà tự trách mình, thế mà Tào Tháo có thể “cắt tóc thay cắt đầu”, đó là việc hiếm thấy và đáng quí. Nó nói lên rằng kỷ luật quân đội của Tào Tháo nghiêm minh, tự mình phạm pháp cũng không bỏ qua, để giành thắng lợi trong chiến tranh và thống nhất thiên hạ, Tào Tháo chẳng những đi khắp nơi để lôi kéo nhân tài để dùng cho mình còn hết sức tranh thủ thu phục nhân tâm. Bởi vì ông ta hiểu được rằng “lòng dân là gốc nước”, cho nên mỗi lần xuất quân, ông đều nghiêm minh kỷ luật, để đề phòng sự quấy nhiễu dân chúng. Thế nhưng con người xuất thân quyền quý “tử thế tam công” như Viên Thuật thì hiểu sao cho được điều này, cho nên kỷ luật quân đôi của ông không nghiêm, đi đến đâu cũng vơ vét của dân. Bảy đạo quân mà ông sai Trương Huân đem đi đánh Từ Châu, dọc đường vừa đi vừa cướp bóc. Cho nên Trần Đăng coi 7 đạo đại quân đó của Viên Thuật là “bảy đống cỏ mục” cũng có căn cứ của nó. “Bảy đống cỏ mục” bị liên quân của Là Bố, Lưu Bị chưa đánh đã tan. So sánh hai tướng Tào Tháo và Viên Thuật, ai là người giỏi dùng binh chẳng phải là nhìn qua đã thấy rồi sao. Viên Thuật vừa không biết trị tướng trị quân, lại tham lam vơ vét, cho nên bị người ta đánh bại là chuyện đương nhiên; Tào Tháo biết trị tướng trị quân lại yêu dân, đem quân đi phần nhiều là thắng cũng là điều tất nhiên dễ hiểu, thuật điều binh khiển tướng, lèo lái quân sĩ của Tào Tháo đúng là có chỗ hơn người.
Phong tước tặng vàng
Tào Tháo có thể lôi kéo được nhân tài và làm cho họ quên thân cho mình, là vì ông có hai thứ “pháp bảo”, một là phong tước, hai là tặng vàng. Bởi vì trong xã hội phong kiến, người muốn trung thành suốt đời với chủ không gì ngoài danh và lợi. Mà việc phong tước, tặng vàng của Tào Tháo vừa hay đã thỏa mãn được hai dục vọng nói trên của họ. Nên khi Tào Tháo đã đưa ra hai thứ “pháp bảo” đó, không ai không vui lòng quy phục dưới cờ. Đương nhiên thuật lấy lòng người bằng “phong tước táng vàng” này không phải là sáng tạo độc đáo của Tào Tháo, vị Hán Cao tổ Lưu Bang xuất thân từ đình trường kia ngay từ khi tranh thiên hạ với Hạng Võ đã sớm hiểu được bí quyết đó. Trấn Bình thích vàng, ông đã đáp ứng đấy đứ: Hàn Tín muốn làm Tề Vương thì khắc ấn Tề Vương trao cho. Cho nên cập bài một văn một võ này đã vui lòng tận tuy suốt đời. Còn địch thủ của ông là Hạng Võ lại không hiểu được điều đó, ngài Tây Sở Bá Vương này sống hơi keo kiệt, sên sơ không dám phong tước cho người khác, cho nên thuộc hạ không muốn hết lòng, có lẽ đó cũng là một trong nhiều nguyên nhân. Tào Tháo là một kẻ sĩ rất quen thuộc với những bài học lịch sử này, ông không những biết thu hút người, mà còn biết làm đến mức “xanh vốn từ lam lại thắm hơn lam”, vận dụng cách phong tước tặng vàng vô cùng khéo léo, vượt xa cả những người đi trước. Chẳng hạn như việc ông ta lung lạc, mua chuộc Quan Vũ đã thể hiện đầy đủ tài năng của ông về mặt này.
Tào Tháo sau khi tiếp thu ba điều hẹn ước để Quan Vũ về hàng, đã đãi ông này rất hậu: tặng cho 10 cô gái đẹp, ba ngày một tiệc nhỏ năm ngày một tiệc lớn, lên ngựa thì đưa vàng xuống ngựa thì đưa bạc. Sau khi chém Nhan Lương lập công, đã phong cho Hán thọ đình hấu, có thể nói làm tất cả những gì làm được để lôi kéo. Nhưng sau khi biết anh mình đang còn, Quan Vũ đã lập tức gói vàng treo ấn, đề thư lại từ biệt rằng: “Ơn nay tuy hậu, nghĩa cũ khó quên”, “Vẫn còn chút ơn chưa báo nguyện sẽ gặp nhau mai ngày và đã qua ngũ quan trảm lục tướng mà đi.
Tại sao mà cái “pháp bảo” “phong tước tặng vàng” của Tào Tháo lại không thiêng nữa? Đó chính là vì cái “nghĩa” trong vườn đào kết nghĩa khiến Quan Vũ “khó quên”, Tào Tháo vốn cho là “pháp bảo” đó của mình là vô địch, nào ngờ bị “nghĩa” khí đó thổi tan. Vậy nhưng hai “pháp bảo” đó của ông không phải hoàn toàn mất thiêng. Trước hết là Quan Vũ cảm động bởi sự hậu đãi của ông ta và nguyện sẽ báo đến và đã chém Nhan Lương, Văn Sú rồi về sau còn thực hiện lời nói của ông là “Còn ơn xưa chưa báo; nguyện sẽ gặp nhau mai ngày”, trên đường Hoa Dung, đành vi phạm quân lệnh, có chết thà luôn Tào Tháo.
4. QUAN TÂM ĐẾN NƠI ĐẾN CHỐN: THUẬT LẤY LÒNG NGƯỜI CỦA TÔN QUYỀN
Thuật lấy lòng người của Tôn Quyền, cũng có chỗ hơn người của nó, tức là biết quan tâm, đoàn kết mọi người. Điều này tuy không mới lạ. nhưng là phép cơ bản để lấy lòng người. Tôn Quyền có lúc cùng chơi trò xảo trá dùng để lấy lòng người, nhưng do không khéo léo nên dễ bị người ta vạch trần, đang lành làm ra què, như chuyện “đền cả em gái lại mất cả quân” chẳng hạn.Trong Sử ký – Ngô Khởi liệt truyện có ghi: “Khởi là bậc tướng, nhưng chuyện ăn chuyện mặc, chỉ như một người thấp nhất trong quân lính, nằm không cần chiếu, đi lại không ngồi ngựa, tự mang lương thực cùng chia sẻ nỗi khó nhọc với binh lính. Binh lính có người mọc nhọt, Khởi đã hút mủ ra cho. Mẹ của người lính nghe vậy liền khóc. Có người nói: “Con bà là lính, mà tướng quân hút mủ ra cho nó, khóc làm cái gì?”. Người mẹ nói: “Không phải thế! Năm xưa Ngô công hút cho bố nó, bố nó đánh giặc không quay gót, dân chết với địch. Ngày nay Ngô công hút mủ cho con, tôi không biết rồi con sống chết ra sao cho nên tôi khóc”. Ngô Khởi khéo cầm quân, bởi đã được lòng tướng sĩ, quản lính mọc nhọt độc, ông đã lấy miệng hút mủ ra cho, nên hai bố con người lính được “tướng quân hút nhọt của mình” đều nguyện một lòng chết vì ông. Câu chuyện đó được người đời sau truyền tụng, liệt vào loại yếu thuật dùng binh.
Tôn Quyền hiểu sâu sắc cách dùng bình ấy, cho nên rất quan tâm đến tướng sĩ, coi như tình ruột thịt. Tướng sĩ cũng vì thế mà lấy cái chết để báo đến. Châu Thái sả thân để hộ vệ cho ông, ông đã thân thiết vỗ về Châu Thái, chính là một thí dụ điển hình.
Trận đánh ở Nhu Tu, Tôn Quyền bị quân Tào vây hãm, tình thế rất nguy cấp. Châu Thái biết tin đã xông lên đánh vào tìm Tôn Quyền, Châu Thái đánh trước, Tôn Quyền phía sau, đột phá được vòng vây. Sau khi phá vây, không thấy Tôn Quyền, Châu Thái lại vào giữa vòng vây, lại tìm được Tôn Quyền. Châu Thái dấn vào giữa làn cung nỏ của địch, che chắn cho Tôn Quyền mình bị đâm hàng chục chỗ, tên xuyên thủng cả áo bào, cuối cùng cứu được Tôn Quyền. Nếu không có Châu Thái liều chết để cứu, Tôn Quyền dứt khoát sẽ chết. Tôn Quyền cảm động trước ơn cứu mạng của Châu Thái, bèn mở tiệc úy lạo. Trong bữa tiệc, Quyền tận tay bưng rượu, vỗ vào lưng Châu Thái, nước mắt giàn giụa, nói: “Khanh hai lần cứu quả nhân, không tiếc gì tính mạng, bị thương hàng chục chỗ, thân mình xây xước, quả nhân làm sao mà không đối xử với khanh như ơn ruột thịt, ủy thác cho khanh trọng trách trong việc quân. Khanh là bậc trọng thần, quả nhân với khanh sẽ cùng chung vinh nhục sướng khổ có nhau”. Nói xong, bảo Châu Thái cởi áo ra cho chư tướng cùng xem: thịt da sưng tấy sây sát như dao cắt, chằng chịt khắp mình. Tôn Quyền vỗ về Châu Thái như vậy, thực ra đã nêu một tấm gương làm bài học cho các tường mang hết sức ra tận tụy với ông. Đối với tướng sĩ, Tôn Quyền quả đã quan tâm đến nơi đến chốn, chẳng hạn đối với bệnh tình của Lã Mông đã tận tay săn sóc, khi Chu Nhiêm ốm đã mời thầy, đưa thuốc, những điều đó làm cho tướng sĩ cảm động rất sâu sắc cho nên suốt đời mình, Tôn Quyền làm cho nước Ngô trên dưới một lòng, sướng khổ có nhau để đất nước Đông Ngô vững như bàn thạch.
Khéo ăn ở với tướng sĩ là yếu thuật để lấy lòng quân sĩ, điều này không phải người nào cũng hiểu được. Trương Phi chính là một mãnh tướng không biết đường đối xử với tướng sĩ, mỗi lần uống say ông đều đánh đập tướng sĩ, gây nên một hậu quả rất tai hại. Vì say nên đánh đập Tào Báo, làm mất Từ Châu. Vì nóng vội với mối thù của anh, trong cơn say đã đánh mạt tướng Phạm Cương, Trương Đạt, dẫn đến việc bị cắt đầu.
Trương Phi không khéo ăn ở với tướng sĩ, nên không khéo được đến cùng; Tôn Quyền khéo ăn ở với tướng sĩ, nên đã thành đại nghiệp. Cho nên lấy lòng quân cũng phải lấy cho đúng cách, không nên coi thường.
Không nhắc hiềm thù cũ – biến thù thành bạn
Vì thiên hạ không nhắc hiểm thù cũ, Tào Tháo có lượng khoan hồng đó, Tôn Quyền cũng có tấm lòng như thế. Tào Tháo “già mồm xảo biện”, tuy ông ta tin Trương Tú, nhưng Trương Tú lại không hết lòng đi theo. Tôn Quyền không thù chuyện cũ của Cam Ninh, nên đã chuyển được thù thành bạn, khiến Cam Ninh từ chỗ tử thù với nhau, biến thành “tử đảng” của nhau, đồng tâm hiệp lực phụng sự Tôn Quyền, cho đến nay vẫn được truyền tụng như một giai thoại. Tại sao Tào Tháo không làm cho Trương Tú hết lòng theo mình được, mà Tôn Quyền lại khiến cho bọn Cam Ninh tận lòng trung với mình? Bởi Tào Tháo lối xử với người xuất phát từ quyền lực, vì thế mà không đắc được nhân tâm, còn Tôn Quyền đối xử với người lòng thành thực, nên thu phục được nhân tâm. So sánh việc lấy lòng người giữa Tôn Quyền và Tào Tháo, chỉ nói về mặt này, Tôn Quyền hơn hẳn Tào Tháo.
Tôn Quyền và Hoàng Tổ đánh nhau trên sông, quân của Tổ nhiều lần thất bại. Bộ tướng của Tôn Quyền là Lăng Tháo thừa thắng đuổi theo, bị bộ tướng của Tổ là Cam Ninh dùng tên bắn trúng, Hoàng Tổ được thoát thân. Sau này Cam Ninh quy hàng, Tôn Quyền không chấp hận thù cũ nên đã hậu đãi. Tôn Quyền nghe theo kế sách của Cam Ninh, đã lấy được Giang Hạ, bắt sống Hoàng Tổ và mở tiệc mừng công. Trong bữa tiệc, con của Lăng Tháo là Lăng Thống rút gươm đứng dậy, chĩa thẳng vào Cam Ninh, Quyền vội vàng ngăn lại, nói với Thống rằng: “Hưng Bá bắn chết cha của khanh, hai bên đều vì chúa của mình, không được phép không mang hết sức mình. Hôm nay đã là người trong một nhà, sao lại nỡ nhắc đến thù xưa, mọi sự phải nể mặt ta”. Lăng Thống ngửa mặt khóc rống lên nói: “Thù không đội trời chung, làm sao lại không báo”. Quyền khuyên can đến mấy lần, Lăng Thống vẫn hằm hè nhìn Cam Ninh. Để tạm tách hai người ra, để tránh thù ghét nhau, Tôn Quyền bèn cử Cam Ninh đi giữ Hạ Khẩu, sai thăng Lăng Thống lên làm thừa liệt tướng quân, Thống đành chịu ngậm hờn mà dừng lại. Do Cam Ninh cảm ơn huệ của Tôn Quyền và được ông dạy dỗ, cũng muốn tìm cách giải nỗi oan sau này. Trong trận đánh ở Nhu Tu, Lăng Thống vừa ngồi lên ngựa, bị một mũi tên ngầm bắn tới, con ngựa lồng đứng dựng lên hất Lăng Thống ngã xuống đất. Tướng địch xách thương đến để đánh. Lúc đó chỉ thấy tiếng dây cung reo lên, một mũi tên bắn ngã tướng địch, Lăng Thống mới được thoát nạn. Lăng Thống được cứu sống trở về trại, Tôn Quyền nói: “Người bắn tên cứu khanh, chính là Cam Ninh đó”. Lăng Thống bèn cúi đầu vái nói với Ninh: “Không nghĩ rằng ông lại có thể gia ân như thế”. Từ đó đã kết nên tình sinh tử với Ninh, không làm gì ác nữa. Cam Ninh, Lăng Thống đã hiệp lực trung thành với Tôn Quyền, lập được nhiều kỳ công.
Lịch sử đã chứng minh, một tập đoàn, hay một quốc gia, nội bộ đoàn kết cục luyến tiếc ôm mộng. Nói cho đến bốn chữ, binh suy lực lượng. Viên Thiệu tuy chiếm cứ một vùng rộng đến bốn châu, binh nhiều lương đủ, tướng dũng mưu sâu, nhưng vì nội bộ lắm bè nhiều phái chia năm bè bảy bối, cuối cùng tự chuốc lấy diệt vong. Tôn Quyền chẳng những biết đoàn kết mọi người, mà còn biết quên thù bớt oán, biến thù thành bạn đối với thuộc hạ, bởi vậy tập hợp được lòng người, lực lượng lớn mạnh lên. Ông có thể đứng vững được ở Giang Đông, thiết nghĩ đó cũng là một nguyên nhân mấu chốt nhất.
Mượn nhân duyên để chế phục người
Tôn Quyền so sức với người khác, thua thảm hại nhất là việc lấy em gái mình ra làm mồi, nhử cho Lưu Bị vào Ngô để đòi lại Kinh Châu, nào ngờ giả mà hóa thật. Rồi lại nghĩ dùng em gái để khống chế Lưu Bị, có biết đâu em gái mình lòng lại hướng ra ngoài, chạy theo Lưu Bị, kết quả là để cho ông anh “vừa mất em gái lại toi cả lính”. Việc đó khiến Tôn Quyền tức đến điên đầu. Thật đúng là phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Câu chuyện này ở hồi thứ 54 và 55 của Tam quốc diễn nghĩa, tác giả tả rất lý thú.
Thế nhưng sự thật lịch sử lại không hoàn toàn như thế, Tôn Quyền gả em gái cho Lưu Bị là xuất phát từ tự nguyện. Theo sử ghi chép trong “Tam quốc chí – Thục Thư – Tiên chủ truyện” thì “Kỳ ốm chết, cấp dưới đẩy tiên chủ lên hàng Kinh Châu mục, Quyền thấy sợ, gả em cho “vững tình hòa hảo”. Hiển nhiên, gả em có “vững tình hòa hảo”, tức là mong thông qua em gái mình để củng cố sự liên minh, cùng nhau chống lại Tào Tháo, đồng thời lại có thể làm cho em gái từ bên trong khống chế Lưu Bị. Lưu Bị cũng phát hiện thấy, cho nên cũng nêu cao cảnh giác với Tôn Thượng Hương. Trong cuộc đấu tranh ba nước, tất cả đều phục tùng chính trị, Lưu Bị cũng quyết không thể vì kết thân gia với Tôn Quyền mà từ bỏ yêu cầu chính trị. Khi giữa hai bên nảy sinh sự mâu thuẫn sâu sắc về chính trị thì hôn nhân cũng tuyên bố chấm dứt. Muốn dùng hôn nhân để khống chế người khác, chẳng qua chỉ là chỉ biết nghĩ về mình mà thôi. Thời Tam quốc, cái kiểu kết nhân duyên vì mục đích chính trị rất thịnh hành, nhưng đã có đám nào đạt đến mục tiêu chính trị. Chẳng hạn như Tôn Sách bình định Giang Đông rồi, Tào Tháo cho rằng “Sư tử khó mà tranh chấp”, để kết tình hòa hảo với Tôn Sách, bèn đem con gái của em gả cho em út của Tôn Sách là Tôn Khuông. Vậy mà Tôn Sách cũng không vì thế mà mãi mãi hòa hảo với Tào Tháo, khi Tào, Viên đọ sức nhau ở Quan Độ, ông ta đã ngấm vạch ra kế sách để chiếm Hứa Đô, đón Hán đế, mới chịu từ bỏ khi bị thích khách giết giết. Ở thời xưa hôn nhân cũng chưa thấy “vững tình hòa hảo” mà mỗi lần đều vì nước địch. Thời Xuân Thu, Thần Doanh gả sang nước Tấn mà Tần lại thay chân Tấn, Liêu Cơ gả cho Tần, mà Tấn thì cắt đứt ngoại giao với Tần.
Tam quốc diễn nghĩa tả Tôn Quyền muốn dùng hôn nhân để khống chế Lưu Bị mà không đạt mục đích. Tuy có sai lệch đôi chút so với sự thật lịch sử nhưng đã vạch trần bộ mặt thật của các cuộc hôn nhân phục tùng chính trị.