Tôn Tử nói: “Cầm quân, là việc lớn của đất nước. Nơi sinh tử, đường mất còn, không thể không xem xét kỹ” (Kế biên – Tôn Tử binh pháp), lại nói: “Người thiện chiến ngày xưa trước hết phải lấy cái không thể thắng để đối xử với cái có thể thắng trong chiến tranh ( Tôn tử binh pháp – Hình biên). Những trận đánh lớn trong “Tam quốc diễn nghĩa” đều thể hiện lên những tư tưởng chiến lược này. Do chiến tranh như Tôn Tử nói, là “nơi sống chết, là đường mất còn”, các tướng soái giỏi cầm quân đều biểu hiện bằng cách hết sức thận trọng, không dễ dãi đánh bằng miệng, chắc thắng mới đánh. Phàm là người thắng, đều đứng ở chỗ không thua, sau mới thừa dịp, chờ thời cơ tiêu diệt địch.
Năm trận đánh lớn được miêu tả trong “Tam quốc diễn nghĩa “là : Trận Quan Độ, trận Xích Bích, ba là trận đánh ở Di Lăng và hai trận Ngụy diệt Thục, Tấn bình Ngô. Năm trận đánh lớn đó quyết định sự hưng vong của ba nước và sự thống nhất thiên hạ của nước Tấn. Trận Quan Độ là trận Tào Tháo và Viên Thiệu tranh nhau xưng bá, cuối cùng Tào Tháo thắng Viên Thiệu thống nhất được phía Bắc. Trận Xích Bích là liên minh Lưu Bị, Tôn Quyền đánh bại Tào Tháo, hình thành thế chân vạc chia ba. Trận Di Lăng, Ngô thắng Thục thua; nước Thục trượt dài từ chỗ cường thịnh, sắc bén đến chỗ suy yếu, cuối cùng bị nước Ngụy diệt. Lúc đó nước Tấn đã thay nước Ngụy, nước Ngô còn lại cũng thế cô lực cùng, không trốn tránh khỏi số phận bị thất bại. Do năm trận đánh lớn giữ một địa vị quan trọng như vậy, đi sâu vào thảo luận một cách nghiêm túc về lý do thắng bại của nó, là rất có ý nghĩa.
Điểm giống nhau của năm trận đánh lớn này là, người chiến thắng luôn luôn biết chờ thời cơ xuất kích. Ở lúc ban đầu của trận Quan Độ, Tào Tháo và Viên Thiệu mới đầu đều có thắng có thua, hai bên đều thận trọng cân nhắc làm thế nào để đánh bại đối phương, đều không dám dễ dãi, manh động. Tào Tháo kiên trì giữ hai tháng, hết cả lương ăn, định rút quân, nhưng nghe theo kế sách của Tuân Úc cứ giữ để đợi biến, kịp nghe biết tình hình hư thực của Viên Thiệu, nên nửa đêm đã đốt kho lương ở Ô Sào, quân của Viên Thiệu hết lương ăn náo loạn cả lên, quân của Tào Tháo thừa cơ tổng công kích, đại phá được quân Viên Thiệu. Trong trận Xích Bích, dưới sự tham mưu của Khổng Minh, để chuẩn bị hỏa công, Chu Du đã áp dụng hàng loạt mưu kế và biện pháp, khi mọi việc đều sẵn sàng lại gặp gió đông, liền cho lửa thiêu Xích Bích, đại phá được Tào Tháo. Đến trận Di Lăng, Lục Tốn ban đầu rút lui chiến lược, sau đó kiên trì chờ thời cơ diệt địch. Khi Lưu Bị đóng quân ở tán cây trong rừng lập tức tổ chức hỏa công, đốt cho quân Thục hầu như bị tiêu diệt hoàn toàn. Đặng Ngải vượt trộm bến Âm Bình, bề mặt xem ra “dùng mưu hiểm và qua nơi mạo hiểm nhất”, nhưng thực chất là “lập mưu an toàn nhất để đến nơi an toàn nhất” đó là cơ hội tốt nhất nên Đặng Ngải đã bám riết lấy cho dù có phải vượt núi trèo non, qua ngàn nguy hiểm, cũng không hề lui bước, cuối cùng đã qua được Âm Bình đến thẳng Thành Đô. Trận nước Tấn chinh phục nước Ngô, cũng giằng co mấy lần. Dương Tổ từng xin được đánh Ngô, Tấn đế là Tư Mã Viêm cho rằng thời cơ chưa chín muồi nên không tiếp nhận, sau Đỗ Dự thay Dương Tổ làm đô đốc, dâng biểu nêu những mặt có lợi có thể đánh thắng quân Ngô, chỉ ra rằng không thể để mất thời cơ. Tư Mã Viêm nghe theo sách lược của Đỗ Dự cuối cùng chỉ một trận là bình định được nước Ngô.
Nhìn từ nguyên nhân thất bại của kẻ thua, như thất bại của Tào Tháo ở Xích Bích, của Lưu Bị ở Di Lăng, đều chủ yếu là do kiêu ngạo, tự mãn: Tào Tháo thống nhất được phía bắc, lại phá được Mã Siêu, dương dương tự đắc, đối với lực lượng của Lưu Bị và Tôn Quyền, đánh giá không đầy đủ; Lưu Bị thì coi khinh Lục Tốn là thống soái trẻ tuổi của đối phương, cho nên có chút khinh suất. Kiêu binh thì sẽ bại, điều đó là tất nhiên. Viên Thiệu bị phá ở Quan Độ, bởi chỉ giỏi mưu mà không biết phán đoán, nghi cái không đáng nghi, quyết cái không đáng quyết. Nước Thục mất, chủ yếu do Lưu Thiền ngu muội, bất tài. Nước Ngô bị diệt chính là do Tôn Hạo bạo ngược tàn ác.
Về chiến lược, chiến thuật, năm trận đánh này có chỗ giống nhau, có chỗ khác nhau: Tào Tháo đốt Ô Sào và Đặng Ngải vượt sông ở Âm Bình, đều là đánh lén, nhưng Tào Tháo thì vào nửa đêm, nguy trang thành quân địch, hành quân cấp tốc, ngay trong đêm đến thẳng được Ô Sào, làm cho địch không kịp phòng bị. Đặng Ngải thì vượt mọi chông gai hành quân bảy trăm dặm, hết đêm đến ngày ròng rã hơn hai mươi hôm, nhưng lại đi đến chỗ không người, vừa ngắm vượt sông ở Âm Bình, binh lính như trên từ chín tầng mây giáng xuống, khiến cho địch trở tay không kịp. Ba trận đánh lớn như Quan Độ, Xích Bích, Di Lăng, đều áp dụng hoả công, trận Quan Độ thì đốt lương trên đất liền, trận Xích Bích thì đốt thuyền trên sông, trận Di Lăng thì đốt trại trong rừng. Trận nước Tấn bình định nước Ngô thì quân sự, chính trị áp dụng song song khiến cho nước địch quân tâm rệu rã, lũ lượt không đánh mà hàng.
Năm trận đánh lớn, khi người chiến thắng tiến hành phản công thì dùng toàn lực như mãnh hổ vồ mồi, vừa mạnh lại vừa nhanh làm cho địch tan vỡ trên toàn tuyến, quân bại như núi lở, thảm hại vô cùng. Hơn bảy mươi vạn quân của Viên Thiệu chỉ còn sót lại hơn tám trăm quân kỵ rút về Hà Bắc; Tào Tháo từng ba lần cười khẩy mà cũng phải thập tử nhất sinh mới trốn được lên phía bắc, Lưu Bị thì bơ vơ một mình trốn đến thành Bạch Đế, Lưu Thiền, Tôn Hạo lần lượt khiêng áo quan ra hàng.
Dưới đây là những điều bình luận cụ thể cho từng trận đánh.
Giữ vững chờ biến động. Tào Tháo phá Viên Thiệu
Trước ngày quyết chiến ở Quan Độ, mưu sĩ của hai bên đều tiến hành phân tích những nhân tố có lợi, bất lợi để xác định phương châm chiến lược của mình. Mưu sĩ Từ Thụ đã hiến kế cho Viên Thiệu rằng: “Quân ta tuy đông, nhưng không anh dũng bằng bên địch; bên địch tuy tinh nhuệ, nhưng lương thảo lại không bằng quân ta. Bên địch ít lương nên lợi ở đánh nhanh, quân ta lương nhiều nên có ưu thế cố thủ. Nếu chờ được một thời gian thì tin rằng quân địch không đánh cùng tan”. Những người tình khôn hay nhìn nhận giống nhau, mưu sĩ Tuấn Nho cũng bày mưu cho Tào Tháo rằng: “Quân Thiệu tuy nhiều, nhưng không đáng sợ. Quân ta đều là những chiến binh tinh nhuệ, chẳng ai là không thể lấy một chọi mười. Nhưng chỉ lợi khi đánh nhanh. Nếu ngày tháng kéo dài, lương thảo không đủ, sẽ là chuyện đáng ngại”. Đối với quyết sách chính xác đó, thái độ của Viên Thiệu và Tào Tháo lại trái ngược hẳn nhau; Viên Thiệu sau khi nghe mưu kế của Từ Thụ, lại cho rằng như thế là làm giảm quân tâm bèn cấm giữ Từ Thụ trong quân. Còn Tào Tháo khi nghe Tuân Nho nêu kế sách của mình, đã nói: “Lời của người rất hợp ý ta”.
Nắm vững thời cơ, khiến thất thế trở thành ưu thế
Viên Thiệu và Tào Tháo đều muốn đánh nhanh thắng nhanh, nhưng chiến tranh thì thiên biến vạn hoá, đâu có thể theo ý người, hai bên đọ sức mỗi bên đều có thắng có thua, cả hai đều không thể đánh nhanh mà thắng được: từ đánh cấp tốc chuyển sang đánh chiến lược kiên trì. Nhưng tình thế này có lợi cho Viên Thiệu, mà bất lợi cho Tào Tháo. Qua một tháng giao tranh, Tào Tháo quân ít lương cạn, lính tráng mệt mỏi, các quận ở Dự Châu lại bị Viên Thiệu chiêu hàng, quan chức phần lớn đã phân biến, hậu phương rất rối ren; trong khi đó Viên Thiệu quân nhiều lương đủ, hậu phương vững vàng, nếu Viên Thiệu có thể nắm chắc thời cơ này, là chắc chắn có thể đánh bại được Tào Tháo. Thế nhưng giỏi mưu nhưng vụng đoán, nên Viên Thiệu không có kế để bắt kịp thời cơ. Tào Tháo lại nắm được thời cơ khiến thất thế trở thành ưu thế. Cuối cùng đại phá được Viên Thiệu.
Quyết sách ban đầu của Tào Tháo cũng là sai lầm. Vì lính đã mệt, lương đã cạn, ông ta muốn bỏ Quan Độ để rút về Hứa Xương, nhưng dùng dằng không quyết, còn biên thư gửi đến Hứa Xương để hỏi Tuân Úc. Úc đã biên thư trả lời và chỉ ra chỗ sai lầm nếu rút quân về Hứa Xương và nêu ra quyết sách “đón thời cơ chờ địch có biến” và nói: “Thừa tôn lệnh, giải quyết mối nghi ngờ giữa tiến và lui. Ngu ý tôi thấy rằng phần đông quân lực của Viên Thiệu tập trung vào Quan Độ, muốn cùng minh công sống mái một phen, chúa công lấy cái mạnh nhất đánh với cái yếu nhất, nếu không hơn hẳn được và áp chế họ, sẽ bị họ thừa thế, đây là kế lớn của thiên hạ. Quân Thiệu tuy nhiều, nhưng đều không dùng được. Với sự sáng suốt và uy vũ của chúa công, hướng nào cũng được! Nay quân ta tuy ít không như Sở Hán ở giữa Huỳnh Dương và Thành Cao. Chúa công nay vạch đất ra mà giữ, chặn lấy họng họ khiến họ không tiến được, tình thế cùng cực, tất sẽ có biến. Đó mới là lúc dùng kế dùng quân đặc biệt, chớ nên để lỡ, mong chúa công suy xét kỹ”.
Tào Tháo được thư cả mừng, lệnh tướng sĩ hết sức cố thủ. Nếu Tào Tháo không dùng sách lược của Tuân Úc mà lui về Hứa Xương, Viên Thiệu thừa thế truy kích, tất sẽ đánh bại Tào Tháo. Sau này Tào Tháo cũng thừa nhận, không có mưu của Tuân Úc thì dứt khoát là sẽ bị thất bại. Tuân Úc đã uốn nắn lại sai lầm của Tào Tháo là rút về Hứa Xương, nhưng dùng kế dùng quân đặc biệt (dùng kỳ) như thế nào, thì lại cần Tào Tháo phải suy nghĩ lấy, còn “tình thế cùng cực, tất sẽ có biến”, không những bên phía Viên Thiệu như thế, bên phía quân Tào Tháo sao mà lại cũng không như thế, vấn đề là ở chỗ ai có thể nhìn ra cái sự “biến” của đối phương, xuất “kỳ” mà giành thắng lợi. Tào Tháo vì lương ăn đã cạn, vội viết thư sai người đem đến Hứa Xương để giục lương, không ngờ bị mưu sĩ của Viên Thiệu là Hứa Du chặn đường bắt được, Hứa Du bèn đến gặp Viên Thiệu, hiến kế rằng: “Tào Tháo đóng quân ở Quan Độ, cầm cự với ta đã lâu, Hứa Xương tất sẽ trống trải. Nếu ta chia một cánh quân lừa lúc đêm tối đánh úp Hứa Xương, thì có thể lấy được Hứa Xương cũng như có thể bắt được Tào Tháo. Nay Tào Tháo lương thảo đều đã cạn, đúng là lúc có thể nhân thời cơ này, hai phía cùng đánh tới. Những cái “biến” của phía Tào Tháo đã rõ ràng. Kế của Hứa Du, không phải là không “kỳ”, nhưng Viên Thiệu lại không nhìn ra được cái “biến” đó, lại cũng không tận dụng cái “kỳ” đó của Hứa Du, ngược lại cho rằng “Tào Tháo rất nhiều quỷ kế, thư này là kẻ du dịch của hắn”, bởi thế mà đã bỏ lỡ mất thời cơ tốt đẹp. Sau này Hứa Du bị Viên Thiệu ép, phải hàng Tào Tháo và đã hiến kế rằng: “Viên Thiệu có nhiều xe lương thực đều để ở Ô Sào, giao Thuần Vu Quỳnh coi giữ, Quỳnh mải rượu chè không phòng bị. Chúa công có thể chọn tinh binh giả xưng là Tưởng Kỳ là tướng của Viên Thiệu đến đó giữ lương, lừa dịp đốt cháy hết xe lương của họ, và không đến ba ngày, quân của Thiệu tất sẽ loạn”. Tình hình cụ thể của quân đội Viên Thiệu do Hứa Du cung cấp, được Tào Tháo dựa vào lời của Tuân Úc là: “Tình thế đã cùng cực, tất sẽ có biến, đó là lúc dùng kế dùng quân đặc biệt (dùng “kỳ”), xin chớ để lỡ”, kịp thời bám chắc lấy cái “biến” trong quân đội Viên Thiệu, lại dùng cái “kỳ” của Hứa Du, quyết đoán kịp thời, thần chỉnh dẫn quân đi đốt kho lương ở Ô Sào. Tin này truyền đi, phía Viên Thiệu quân tâm xáo động, quân Tào Tháo thừa cơ xuất kích, đánh cho quân Viên Thiệu thua to, giết hơn tám vạn quân. Viên Thiệu khản áo tả tơi dẫn tám trăm quân kỵ còn sống sót tiến về Hà Bắc. Trận Quan Độ đã đặt nền móng cho việc Tào Tháo thống nhất phương Bắc.
Sau khi thống nhất được phương Bắc, Tào Tháo liền bắt tay chinh phục phía Nam, kế hoạch chiến lược là: Trước hết chiếm cứ Kinh Châu, thuận đà xuôi xuống phía Đông, đánh vào sườn của quân Đông Ngô, rồi lại sang hướng Tây đoạt lấy vùng Ích Châu giàu có, để thống nhất thiên hạ. Tháng bảy năm Kiến An thứ 13 (năm 208 công nguyên) Tào Tháo thân chinh cầm quân đánh xuống phía Nam, đánh úp Kinh Châu. Theo “Tam quốc chí – Ngụy thư – Giả Dực truyện” ghi chép thì: Sau khi Lưu Tông lấy Kinh Châu hàng Tào Tháo, mưu sĩ Giả Hủ đề nghị với Tào Tháo: lợi dụng tài nguyên giàu có của Kinh Châu, để quân dân nghỉ ngơi, củng cố những vùng mới chiếm đóng, như thế chẳng cần cất quân cho mệt mà ép được Đông Ngô đầu hàng. Do dễ dàng lấy được Kinh Châu bắt được hàng quân trên tám vạn người, quân số tăng lên tới hơn hai mươi vạn, Tào Tháo bỗng nảy sinh tư tưởng kiêu căng khinh địch, quyết định thừa thắng tiến quân Giang Đông, gửi một bài hịch cho Tôn Quyền nói: “Nay nắm cả triệu hùng binh, hàng ngàn tướng giỏi, muốn cùng đọ sức với tướng quân ở Giang Hạ nhầm đe dọa, để ép Tôn Quyền chưa đánh đã hàng.
Kiêu binh khinh địch tất sẽ thua
Dưới thanh thế lớn mạnh của địch, trong nội bộ quân Ngô, xảy ra bất đồng ý kiến quanh việc đánh hay hoà. Số chủ trương đầu hàng vì chỉ qua bề ngoài, thấy quân của Tào Tháo lớn mạnh. Chu Du lại nhìn từ bản chất thấy được nhược điểm của quân đội Tào Tháo là già trái nhưng non hạt. Ông đã chỉ ra cho Tôn Quyền thấy Tào Tháo ra quân phen này phạm vào mấy điều cấm kỵ của nhà binh: “Phía bắc chưa yên ổn, Mã Đằng, Hàn Toại là những mầm hậu họa, mà Tào Tháo đã vội đánh xuống phía Nam, đó là điều kỵ thứ nhất. Quân miền bắc không quen thủy chiến, Tào Tháo bỏ yên ngựa cầm mái chèo, đọ sức với Đông Ngô, đó là điều kỵ thứ hai. Giữa lúc mùa đông lạnh giá, ngựa không rơm cỏ, đó là điều kỵ thứ ba. Dưa quân ở miền Trung xa xôi xuống vùng sông hồ, không hợp thủy thổ, sinh ốm đau nhiều, đó là điều kỵ thứ tư”. Được sự gợi ý của Khổng Minh, Chu Du đã nhằm đúng tâm lý nghi ngờ lo sợ trước việc Tào Tháo tự xưng có hàng triệu quân, chỉ ra rằng: “Chúng đưa quân từ miền Trung, chẳng qua chỉ mười lăm mười sáu vạn, mà lại đã mệt mỏi, số được của Viên Thiệu, cũng bảy tám vạn mà thôi và cũng còn hồ nghi chưa phục hẳn. Với số quân đông nhưng lại ốm yếu và hồ nghi như thế, số lượng cho rằng có nhiều, cũng chẳng đáng sợ. Du chỉ cần năm vạn quân, cũng đủ sức tự phá được”. Quyết sách chiến lược và sự phân tích chính xác tình hình địch của Chu Du rốt cuộc đã củng cố thêm quyết tâm của Tôn Quyền chống lại Tào Tháo. Có được sách lược chính xác rồi, lại còn cần phải có biện pháp chiến thuật chính xác, mới có thể chiến thắng được kẻ địch. Được sự giúp đỡ của Khổng Minh, Chu Du đã dùng hết mọi mưu mô, bố trí sắp đặt kỹ lưỡng; và trước khi có đủ điều kiện để chiến thắng kẻ địch, quyết không ra quân một cách dễ dãi. Trước hết Chu Du đã qua việc “Tưởng Cán trộm thư” khiến Tào Tháo đã chém đầu thủy quân đô đốc Sái Mao, Trương Doãn; tiếp đó dùng khổ nhục kế của Hoàng Cái và Hám Trạch trá hàng lừa Tào Tháo; và lợi dụng sự trá hàng của Sái Trung, Sái Hòa, tương kế tựu kế để hai người này đưa tin tình báo giả tạo, khiến quân Tào Tháo luôn luôn mắc lừa. Muốn làm sao thiêu cháy hết mọi tàu thuyền của địch, lại làm cho Bàng Thống hiến ra lên “liên hoàn kế”.
Hoả thiêu Xích Bích – đại phá quân Tào
Lúc đó “mọi sự đã sẵn sàng, chỉ còn thiếu gió đông”. Gió đông vừa nổi lên, đại quân Chu Du lập tức xuất kích. Đầu tiên là hai mươi chiếc thuyền của Hoàng Cái xông thẳng vào giữa thủy trại của Tào Tháo, lúc ấy gió đông thổi mạnh, thuyền lướt như bay. Tào Tháo biết là thuyền của Hoàng Cái, cười nói: “Công Phúc sang hàng, đúng là trời giúp ta rồi!”. Nào ngờ chiếc thuyền đi trước bốc lửa, lửa theo sức gió, gió bốc lửa lên, khói dâng ngút trời, hai mươi chiếc thuyền lướt vội như tên, đâm vào thủy trại, thuyền bè trong trại của Tào Tháo phút chốc bốc cháy hết, lại bị xích sắt giằng lại với nhau, không trốn đi đâu được. Bên kia sông pháo nổ, bốn mặt hỏa thuyền áp tới. Nhìn mặt Tam Giang lửa cuốn gió bay, đỏ rực một vùng, lộng trời thấu đất. Quân Tào Tháo bị chết cháy chết chìm vô số, số còn lại xông qua khói lửa trốn ra bốn phía. Tào Tháo được chư tướng cứu xuống thuyền, hốt hoảng kéo tàn quân theo đường bộ đi lối Hoa Dung triệt thoái về Giang Lăng. Liên quân của Lưu, Tôn tiến cả hai đường thủy bộ, đuổi một mạch đến Nam Quận. Từ đó bắt đầu hình thành thế chân vạc của ba nước.
Mới đầu Tào Tháo xuống thẳng Giang Nam với thế mạnh như Thái sơn đè đầu; nhưng Chu Du và mọi người không hề run sợ trước sự lớn mạnh nhất thời của quân đội Tào Tháo, đã nêu ra quyết sách chiến lược và sự phân tích tình thế một cách chính xác, lại giỏi nắm lấy thời cơ có lợi, khi mọi sự đã sẵn sàng và gió đông nổi lên, đốt cháy Xích Bích, thừa thế xuất kích dũng mãnh, đại phá quân Tào, giành thắng lợi lớn trong trận Xích Bích.
3. CHỜ CƠ XUẤT KÍCH - LỤC TỐN ĐÁNH BẠI LƯU BỊ**
Trong lịch sử, trận Di Lăng quả thực là Lục Tốn đánh rất đẹp. Bắt đầu, Lưu Bị đánh đâu được đấy, Lục Tốn lại tránh mũi nhọn ấy, rút ra khỏi vùng núi cao, nhường cho quân Thục vùng đất khó triển khai binh lực và núi non hiểm trở năm sáu trăm dặm. Khi Lục Tốn chiếm cứ vùng Di Đạo và Hao Đình vốn có lợi cho mình, không lợi cho địch, chuyển sang phòng ngự chiến lược, ngăn chặn đường tiến của quân Thục. Lưu Bị cầu chiến không được, nhân trời nóng nực, bèn đem các trại đến nơi có bóng râm che mát. Thế là Lục Tốn lập tức tiến hành phản kích chiến lược, dùng một mồi lửa hầu như đốt sạch quân Thục. Tam quốc diễn nghĩa đã tả trận đánh này rất sinh động và có hình tượng.Kẻ kiêu binh khinh địch tất sẽ thua
Tháng 8 mùa thu năm Chương vũ thứ nhất, Lưu Bị dấy binh đánh nước Ngô, thắng hến hơn chục trận, Đông Ngô trên dưới đều kinh sợ. Tôn Quyền liền cử Lục Tốn làm đại đô đốc và lệnh cho đem quân nghênh chiến. Tướng giữ Hao Đình là Hàn Đáng, Chu Thái biết được việc này, tỏ ra kinh ngạc nói: “Chúa thượng làm sao lại lấy một gã thư sinh làm tổng binh”. So bì với Lục Tốn, chẳng ai chịu phục. Chu Thái nói : “Hiện nay An Đông tướng quân Tôn Hoàn, là cháu của chúa thượng, đang bị vây ở Lĩnh Lăng, trong không lương ăn, ngoài không có quân cứu viện. Nhờ đô đốc sớm tìm ra phương sách, cứu Tôn Hoàn ra, để yên lòng chúa thượng”. Lục Tốn đã phản đối cách phân tán binh lực này, nói: “Tôi biết An Đông tướng quân rất được lòng quân, tất sẽ kiên trì giữ được thành, không cần phải cứu. Chờ sau khi tôi phá xong quân Thục, ông ấy sẽ tự ra được”. Mọi người cười thầm lui ra. Lục Tốn truyền lệnh, bảo các tướng ai giữ chặt lấy chốt của người ấy, giữ các nẻo đường hiểm yếu, không được lơi lỏng, khinh động.
Lúc ấy, từ Hào Đình, Lưu Bị đã bố trí binh mã, đánh thẳng vào Xuyên Khẩu, kéo rải ra bảy trăm dặm, trước sau hơn bốn mươi doanh trại. Cách bố trí rải rác đâu cũng đặt doanh trại thế này không thể tập trung binh lực để mong đánh nhanh thắng nhanh. Đặc biệt là Lưu Bị đã bị chiến thắng làm cho mụ đầu óc, không thèm để ý đến Lục Tốn là một nho tướng còn trẻ, Mã Lương đã nhắc nhỏ: “Tài của Lục Tốn, chẳng kém gì Chu Lương, không thể khinh địch được”. Lưu Bị khinh miệt nói: “Trẫm dùng binh đã già đời; hắn chẳng qua chỉ là một gã nho sinh vất mùi còn chưa sạch”. Bèn dẫn tiền quân đánh vào những chỗ hiểm yếu trên các chốt, các quan ải.
Một nắm lửa thiêu trọi quân Thục
Hàn Đáng định ra đánh, Lục Tốn ngăn lại nói : “Lưu Bị cầm quân đánh xuống phía đông, thắng liền hơn mười trận, nhuệ khí đang hăng: nay chỉ có thể lên cao giữ nơi hiểm yếu, ra quân sẽ bất lợi. Nhưng lại tiên cho việc khen thưởng tướng sĩ, tuyên truyền sâu rộng sách lược cố thủ để phòng ngự, để theo dõi sự biến đổi. Nay hắn rong ruổi giữa bình nguyên bao la, đang đắc chí trong lòng. Ta giữ chặt không ra đánh, họ khiêu chiến không được, tất sẽ di chuyển vào rừng rậm bóng cây. Ta sẽ dùng kế lạ để thắng chúng”. Hai bên dằng co nhau từ tháng giêng đến tháng 6 chưa quyết được thắng bại. Lục Tốn vẫn kiên trì không ra đánh, làm tan vỡ kế hoạch mong đánh nhanh thắng nhanh của Lưu Bị, mà lại buộc Lưu Bị phải hành quân theo cây gậy chỉ huy trong tay mình. Lúc đó, tháng 6 ở Giang Nam, nóng như lửa đốt, quân Thục ở giữa vùng nắng lửa, không tiện cho việc lấy nước, Lưu Bị bèn lệnh cho các doanh trại, chuyển dần vào những nơi có rừng cây rậm rạp, gần khe nước hoặc hang núi, chờ qua mùa hạ đến mùa thu sẽ hợp sức tiến quân.
Sau khi biết quân Thục chuyển quân vào chỗ mát, Lục Tốn mừng lắm, lập tức bố trí chiến lược phản công, trước hết cử một bộ phận nhỏ tấn công có tính chất thăm dò, làm rõ tình hình của quân Thục, rồi mệnh lệnh cho quân sĩ của mình đến đêm mang theo mỗi người một mớ cỏ khô, thuận chiều gió châm lửa đốt trại quân Thục; quân Thục nhốn nháo, rối loạn, hơn bốn mươi trại lính nhanh chóng bị đánh tan, phần lớn quân Thục bị giết chết, bị đánh tan tác. Quân Ngô truy kích đủ các ngả. Lưu Bị lệnh cho quân sĩ các nơi cởi hết giáp mang xếp lên đường mà đốt để chặn quân truy kích, mới trốn được vào thành Bạch Đế.
4. THỪA LÚC ĐỊCH SƠ HỞ – ĐẶNG NGẢI CƯỚP THÀNH ĐÔ
Khương Duy đóng giữ Kiếm Các, Chung Hội bị ngăn trở không tiến lên được, đang bàn việc lui quân. Đặng Ngải do thám biết được Âm Bình không có quân đóng giữ, đường đi tuy hiểm trở, nhưng là nơi an toàn nhất, bèn hiến kế với Chung Hội: “Có thể dẫn một cánh quân từ đường nhỏ ở Âm Bình đánh ra Đức Dương Đình ở Hán Trung, dùng kỳ binh đi lấy Thành Đô. Khương Duy tất phải đưa quân đến cứu, tướng quân hãy thừa lúc trống trải mà đánh Kiếm Các có thể sẽ thắng to. Đó chính là một diệu kế “thừa chỗ bất cập của người, bằng con đường người ta không ngờ tới, đánh vào chỗ họ không đề phòng”, và cũng là một thời cơ rất tốt. Sau khi nghe kế của Đặng Ngải, Chung Hội đã nhún nhận mà nói rằng: “Kế này của tướng quân thật là tuyệt diệu! Khanh mang quân đi ngay, ta ở đây chờ tin thắng trận”. Tuy miệng nói như vậy, nhưng trong lòng lại cười sự ngu dốt ở trong đó. Ông ta đã nói vụng với người khác rằng: “Đường mòn Âm Bình, đều là núi cao vực thẩm, nếu quân Thục cho chừng hơn trăm người giữ chặt chỗ hiểm yếu, chặn mất đường về, thì quân của Đặng Ngải sẽ chết đói hết”. Đặng Ngải về đến bản doanh, đã tập trung các tướng về dưới trướng hỏi rằng: “Nay ta muốn thừa khi trống trải, đánh lấy Thành Đô, cùng các người lập công để lưu danh muôn thuở, các ngươi có theo ta không?” Chư tướng đều hưởng ứng: “Nguyện tuân theo quân lệnh dẫu chết trăm lần cũng không từ chối”.Không vào hang hùm, bắt sao được hổ
Đặng Ngải lệnh cho con là Đặng Trung dẫn năm ngàn quân tinh nhuệ, không mang giáp măng, mỗi người đều mang theo búa rìu, hễ gặp chỗ gập ghềnh hiểm trở, đập đá đi mở đường, bắc thêm cầu tạm, để tiện cho việc hành quân. Ngải chọn thêm ba vạn quân, mang theo lương khô dây rợ, bắt đầu ra quân. Tháng mười tiến quân từ Âm Bình, hơn hai chục ngày, hành quân hơn bảy trăm dặm, đều là chỗ đất không người. Quân Ngụy dọc đường hạ một số trại, chỉ còn lại hơn hai ngàn binh mã. Tiến đến một đỉnh núi, tên là Ma Thiên Lãnh, ngựa không chịu đi, Đặng Ngải xuống ngựa, đi bộ lên đỉnh núi, vừa nhìn thấy Đặng Trung và quân lính mở đường đều đang khóc lóc. Đặng Ngải hỏi nguyên cớ làm sao. Đặng Trung đã báo cáo rằng: “Lãnh Tây này khắp nơi đều gập ghềnh cheo leo, không thể mở được đường, tiếc công trước đó, bởi vậy mà khóc.” Đặng Ngải nói: “Quân ta đến đây, đã đi hơn bảy trăm dặm, qua chỗ này sẽ là Giang Du, làm sao lại lui quân ?” bèn gọi quân tướng các nơi, nói: “Không vào hang hùm, sao bắt được hổ? Ta và các ngươi đã đi đến đây nếu được thành công, phú quý đều chung hưởng”. Mọi người đều nghe theo, nói: “Nguyện theo lệnh của tướng quân”. Đặng Ngải liền bỏ hết binh khí xuống, rồi dùng chăn chiên quấn chặt lấy người, lăn xuống trước. Các tướng sĩ liền bám cây, men theo đá, trườn lên như cá lách. Đến Giang Du, tướng Thục trấn giữ ở đây là Mã Mạc xin hàng. Đặng Ngải tự đem quân đến Bồi Thành. Quan sứ, dân chúng trong thành nghi rằng quân từ trên trời xuống, đều đầu hàng hết. Về tướng quân Gia Cát Chiêm của nước Thục bày trận ở Miên Trúc đón chờ Đặng Ngải. Đặng Ngải sai con là Đặng Trung cùng Sư Thoản xuất chiến bất lợi, rút quân về, nói: “Giặc chưa có thể thắng được!” Đặng Ngải nổi nóng, nói: “Còn hay mất, là ở hành động này, làm sao lại có chuyện không thể”. Bèn chỉ huy quân đánh hăng lên, đại phá được bên địch. Gia Cát Chiêm và Tử Thượng đều chết ở trận này. Đặng Ngải tiến quân vào Thành Đô. Lưu Thiền cử sứ giả sang xin hàng, dần dà diệt nước Thục.
Lừa chỗ trống mà vào, thế như chẻ tre
Đặng Ngải thực hiện được mưu này, không hẳn là do Khương Duy vô mưu, mà là do hậu chúa ngu đần dẫn đến. Khi quân Ngụy mới bắt đầu xâm lấn. Khương Duy từng đề nghị hậu chúa cho đem quân đóng giữ Âm Bình, nhưng hậu chúa lại nghe lời Hoàng Hạo không đếm xỉa gì đến. Nếu như cho quân giữ những nơi hiểm yếu thế này, thì như Chung Hội đã đoán trước: “Quân của Đặng Ngải sẽ chết đói hết”. Đặng Ngải vượt sông sang Âm Bình lần này đúng là “ Tạo nên mưu hiểm nhất, qua vùng đất hiểm nhất, gặp khó khăn lớn nhất và thành công hiểm ác nhất” Tuy rằng qua vùng đất hiểm nhất, nhưng do không có người đóng giữ cho nên trở thành con đường an toàn nhất. Thật đúng như câu : “Lừa trống trải mà vào, thế mạnh như chẻ tre”. Tuy nhiên Đặng Ngải giám mạo hiểm cũng là bởi biết tuỳ người tuỳ lúc. Nếu có Khổng Minh lúc ấy, Đặng Ngải quyết không dám mạo hiểm; mà ông dám mạo hiểm còn vì bắt nạt được hậu chúa ngu ngơ, không biết bố trí để phòng.
5. KHÔNG LỠ THỜI CƠ - ĐỖ DỰ BÌNH ĐÔNG NGÔ
Chúa nước Tấn là Tư Mã Viêm vốn ngầm có kế diệt nước Ngô, nhưng bàn bạc trong Triều có nhiều người không đồng ý, cho nên do dự không quyết. Đô đốc Dương Tổ khi đóng giữ Tương Dương vì Lục Kháng phân chiếu mà bị mất chức, lại thấy Tôn Hạo thất đức, cho rằng có thời cơ để thừa dịp, bèn dâng biểu để đánh nước Ngô. Ba đại thần là Giả Sung, Tuấn Huân, Phùng Thẩm hết lời can không được, nên Tư Mã Viêm không phê chuẩn. Dương Tổ ốm sắp chết, tiến cử Đỗ Dự thay mình, chúa nước Tấn phong Đỗ Dự là trấn nam đại tướng quân đô đốc Kình Châu sự.Nắm chắc thời cơ kịp thời xuất kích
Lúc này các tướng tài nước Ngô như Đinh Phụng, Lục Tốn đều đã chết, chúa nước Ngô là Tôn Hạo thì bạo ngược. Chính sự ngày càng xấu đi, lòng người chán ghét, Đỗ Dự liền dâng biểu xin được đánh nước Ngô. Đại ý như sau: Phàm việc gì nên so sánh lợi hại. Tính mặt lợi của hành động đó, mười phần được tám chín, thì cái hại của nó chỉ là không cố công. Từ mùa thu đến nay, hình thế để đánh đuổi giặc càng lô rõ. Nay nếu dừng lại, Tôn Hạo sẽ e sợ, dời đô về Vũ Xương, sau đó cho sửa các thành ở Giang Nam, dời dân cư đi, thành không thể phá, bên ngoài cũng không có gì đáng chiếm, thì kế hoạch cho năm tới cũng chưa lo kịp.
Lúc đó, chúa nước Tấn và Trương Hoa đang đánh cờ vây. Chúa nước Tấn xem xong biểu tấu, hỏi ý kiến Trương Hoa. Trương Hoa bỗng dưng đứng dậy, gạt bàn cờ đi, khoanh tay tâu rằng: “Bệ hạ thánh võ, nước giàu dân mạnh; Ngô chúa dân ngược, dân lo nước suy. Nay muốn đánh nó, chuyện không khó gì, xin chớ hồ nghi. Chúa nước Tấn bèn đồng ý.
Đỗ Dự dựa thế phá Đông Ngô
Đỗ Dự bày thế trận ở Giang Lăng, lệnh cho nha tướng là Chu Chỉ dẫn kỳ binh vượt sông ban đêm bằng thuyền, đánh úp Lạc Dương, cắm thật nhiều cờ xí, đốt lửa ở trên núi Ba Sơn chiếm giữ nơi trọng yếu, để đánh vào tâm lý địch, sau giết được đô đốc bên Ngô là Tôn Hâm. Chiếm được Giang Lăng rồi, thế là từ các vùng Nguyên Giang, Tương Giang cho đến các quận ở Quảng Châu, thủ lĩnh các nơi đều thay nhau ra hàng. Đỗ Dự lệnh cho mọi người phải giữ gìn, an ủi dân, không được tơ hào bất kể thứ gì của dân. Tiến quân đến Vũ Xương, Vũ Xương cũng hàng. Quân của Đỗ Dự uy danh lừng lẫy, sau đó bèn họp các tướng lại bàn kế sách để lấy Kiến Nghiệp. Hồ Phấn nói : “Giặc thù trăm năm, chưa dễ trừ ngay hết. Nay mùa xuân nước đẩy, khó mà ở lâu được. Có thể đến năm sau, có thể càng đánh lớn”. Đỗ Dự nói: “Xưa Nhạc Nghỉ chỉ đánh một trận ở Tế Tây mà lấy được cả nước Tề lớn mạnh. Nay quân uy đang lừng lẫy, thế như chẻ tre, chỉ vài đốt đầu, sau cứ theo dao mà vỡ, không cần phải mó tay”. Sau đó bèn gửi hịch cho các tướng, hẹn cùng ra quân, cả thuỷ cả bộ cùng tiến. Qua mỗi thành ấp, dân Ngô đều trông cờ mà hàng, dần dần bình được Tôn Hạo. Cuối cùng nước Tấn thống nhất được thiên hạ.
Dương Tổ và Đỗ Dự đều lần lượt dâng biểu đánh nước Ngô, căn cứ của họ đều ở chỗ thấy nước Ngô có thế mà lợi dụng. Mà cái gọi là thế tức là thừa thế. Vì lúc đó chúa nước Ngô là Tôn Hạo dâm ngược, tướng thì chống lại, người thân thì xa lánh đì, nước yếu, dân nghèo cho nên chủ trương nhân thế này mà đánh lấy. Còn những người phản đối, phần lớn đều dựa vào những bài học thất bại của Tào Tháo mấy lần đánh xuống phía Nam, bởi thế mới cho rằng “giặc trăm năm chưa dễ trừ ngay hết”. Kỳ thực, nước Ngô lúc đó không thể so với mọi lúc xưa kia. Tôn Hạo với Tôn Quyền kẻ ngu người hiển, khác nhau. Tôn Quyền biết cất nhắc người hiền trọng dụng người tài, cho nên lòng người quy phục, trên dưới một lòng, khiến Trường Giang trở thành luỹ thép không ai vượt qua; còn Tôn Hạo thì tàn sát kẻ tài năng, sủng tín bọn tiểu nhân, lòng người ly tán, không có ai muốn đứng ra đóng giữ Trường Giang, luỹ thép biến thành đường đi. Đối với Đông Ngô, chủ trương đánh hay không đánh chủ yếu là do cách nhìn thời lựa thế khác nhau. Đỗ Dự rất biết “Lựa thế mà phá” biết dựa vào binh pháp, nên lập nên chiến công bất hủ trong cuộc bình Ngô.