Đánh và giữ, tức là tấn công và phòng ngự, đó là nội dung quan trọng nhất của chiến tranh, những điều mà các nhà quân sự thời xưa muốn đi sâu bàn bạc, chính là tiến công và phòng ngự như thế nào. “Hình Biên– Tôn Tử bình pháp” chính là bàn nội dung đánh và giữ. Tôn Tử nói: “Những người thiện chiến thời xưa, trước chưa thắng được, thì chờ khả năng thắng được từ phía địch … chưa thể thắng được, thì giữ; thắng được, thì đánh. Giữ thì thừa sức mà đánh thì không đủ sức.
Người giỏi giữ, ẩn dấu ở chín tầng đất thấp, hành động ở chín lớp mây cao. cho nên tự giữ được mình mà lại thắng”.
Ở cuối thời Xuân Thu, tức thời đại mà Tôn Tử đã sống, người ta đã có thể xây được tường thành khá cao và kiên cố, nhưng khí giới để đánh vào thành thì lại rất lạc hậu, phá thành rất khó, cho nên mới có câu “một bà giữ thành, mười anh không phá nổi”, bởi vậy Tôn Tử mới nói: “Không thể thắng được, thì giữ”, nhưng điều đáng quý là, từ trong tư tưởng chiến lược chung, Tôn Tử luôn chú trọng tiến công, ngay khi nói về phòng ngự, ông cũng kết hợp nó với tiến công. Ông nói “ người giỏi giữ ẩn giữ ở chín tầng đất thấp, hành động ở chín lớp mây cao, cho nên có thể tự giữ được mình, mà thắng “ có ý là người giỏi phòng thủ che dấu lực lượng như vùi dưới chín tầng đất thấp, khiến địch không mò được ra, không có kẽ nào mà lách; đến khi vừa phát hiện có khả năng tiêu diệt địch, thì lập tức dẫn quân, giống như từ chín lớp mây cao đột nhiên giáng xuống mạnh mẽ tấn công địch, như thế không những bảo toàn được mình, lại có thể giành được phần thắng.
Tam Quốc diễn nghĩa có rất nhiều ví dụ đã vận dụng kết hợp giữa phòng ngự và tấn công một cách chính xác, nên đã giành thắng lợi. Có người thì giữ trước đánh sau, có người thì đánh trước giữ sau rồi đánh tiếp, cách đánh đó, phòng thủ là biện pháp, tấn công mới là mục đích. Giả Hủ hiến cho Lý Thôi, Quách Dĩ kế sách tường cao hào sâu cố thủ Tràng An, mục đích của nó là ở chỗ chờ cho kế địch từ xa đến, hết lương ăn phải lui quân mà đuổi đánh tiêu diệt. Trương Liêu giữ Hợp Phì. Tôn Quyền đem quân đến đánh. Vì thế địch mới đến rất rầm rộ, các tướng sĩ giữ thành đủ niềm tin, nao núng trong lòng, Trương Liêu thừa dịp Tôn Quyền khinh địch, vừa chân ướt chân ráo đã sai dũng sĩ xông vào trận địch định đánh úp, nhằm làm cho địch sơ hở và nêu cao sĩ khí của mình, sau đó cố thủ thành trì nên địch không cách nào phá nổi. Đến khi địch vừa định rút quân, lập tức ra khỏi thành, truy kích mãnh liệt, nhằm bắt thống soái bên địch là Tôn Quyền.
Đánh hay giữ, là một môn nghệ thuật quân sự rất phức tạp, khó có thể đưa ra những quy định cứng nhắc: mà phải căn cứ vào tình thế khách quan và tình hình cụ thể mà quyết định. Bởi thế khác nhau thì đánh hay giữ cũng không giống nhau. Chẳng hạn, Trương Tú và Lưu Biểu đánh nhau với Tào Tháo, thấy đánh không lại thì cố thủ ở Dĩnh Xuyên và Tương Dương. Tháo do có việc khác, phải rút quân, Trương Tú, Lưu Biểu liên hợp lực lại truy kích, thua to mà về. Sau đó Trương Tú nghe theo kế sách của Giả Hủ, một mình đem quân truy kích lần nữa, thì lại thắng lớn mà về. Đó là do lần trước Tào Tháo có phòng bị mà lần sau không đề phòng. Tào Hồng giữ Đồng Quan, Tháo lệnh phải cố thủ, và cho hạn mười ngày, Hồng không tự lượng sức mình, ra khỏi thành đọ sức với quân Tây Lương nhuệ khí đang hăng, kết quả là mất Đồng Quan mà bỏ chạy. Tư Mã Ý cố thủ Thái Chân, khiến cho Gia Cát Lượng không tiến được, cuối cùng ốm chết ở Ngũ Trượng nguyên. Cho nên trong “mưu lược biên – bình pháp Tôn Tử” có nói: “Kẻ nào biết có thể đánh hay không thể đánh, kẻ ấy thắng”.
Giả Hủ rất có mưu trí, cho nên được gọi như Trương Lương, Trấn Bình. Lý Thôi, Quách Dĩ sở dĩ bạo loạn được một thời, đều là nhờ mưu của Giả Hủ: Đánh hay giữ, con người này đều có thể tuỳ việc, tuỳ thời, tuỳ thế mà vạch ra đối sách.
Luỹ cao hào sâu, chờ địch hết lương mà đánh
Vương Doãn đã dùng liên hoàn kế trừ khử được Đổng Trác, đại xá cho thiên hạ, nhưng lại không xá cho bè đảng của Đổng Trác là bọn Lý Thôi, Quách Dĩ, chúng hốt hoảng không yên, đứa nào cũng tìm đường thoát chết. Lúc ấy Giả Hủ ở trong quân đội của Đổng Trác, giữ ý kiến riêng của mình, nói: “Các ông nếu bỏ ba quân mà chạy lấy một mình, thì một tên đình trưởng nó cũng có thể bắt được. Chỉ bằng rủ lấy vài người, dồn binh mã của bản bộ lại, đánh thẳng vào Tràng An, báo thù cho Đổng Trác. Nếu được, coi như đã theo lệnh triều đình mà làm việc đúng với thiên hạ. Nếu như không thắng được, lúc ấy chạy cũng chưa muộn”. Thôi, Dĩ nghe theo mưu đó, gom dồn chiêu mộ được hơn mười vạn quân, đánh vào Tràng An, giết Vương Doãn, đánh bại Lã Bố, rồi lại chiếm Tràng An, độc chiếm quyền triều chính. Thái thú Tây Lương là Mã Đằng, Tịnh Châu thứ sử Hàn Toại, vì cần vương đã phất cờ khởi nghĩa, đem hơn mười vạn quân đến chân thành Tràng An. Lý Thôi, Quách Dĩ và Giả Hủ bàn kế sách để chống lại. Hủ nói: “Hai quân từ xa đến, chỉ nên tường cao hào sâu, cố thủ mà chống lại chỉ không quá trăm ngày, quân nó hết lương ăn, tất sẽ tự rút, sau đó đem quân mà đuổi, là có thể bắt được hai tướng”. Thế nhưng các tướng Lý Mông, Vương Phương kiên quyết đòi ra đánh. Thôi, Dĩ bằng lòng. Kết quả là hai tướng đó bị bại trận và toi mạng. Lúc này Lý Thôi, Quách Dĩ mới thật tin rằng Giả Hủ có tài đoán trước, và trọng dụng kế của Hủ, chỉ chăm chú vào việc giữ vững các cửa thành, mặc cho bên kia khiêu khích thế nào cũng không ra. Quả nhiên quân Tây Lương chưa đấy hai tháng, lương thảo cạn dần, chỉ còn cách nhổ trại mà rút quân Quách Dĩ, Lý Thôi đem quân truy kích, quân Tây Lương đại bại phải bỏ chạy.
Thực là sự vận dụng: “tránh nhuệ khí của nó, đánh vào chỗ uể oải của nó”
Lý Thôi, Quách Dĩ nghe kế của Giả Hủ xâm phạm Tràng An, lịch sử có chuyện đó. Sử sách cũng có ghi chuyện Mã Đằng, Hàn Toại mưu đánh úp Tràng An, nhưng chưa từng thấy có ghi về Giả Hủ hiến kế trước giữ sau đánh. Nhưng thế không có nghĩa là tác giả bịa đặt không căn cứ, mà chẳng qua chỉ là tái bản những mưu kế cổ xưa. Cái gọi là mưu “thành cao hào sâu” của Giả Hủ chính là sách lược Lý Tà Xa khuyên Trần Dư. Theo sự ghi chép trong “Sử ký – Hoài âm hầu liệt truyện” thì: “Hàn Tín. Trương Nhĩ với vài vạn quân, muốn xuống Tỉnh Kinh ở phía đông để đánh Triệu. Triệu Vương là Thành an quán Trần Dư hay tin quân Hán đánh vào, bèn tụ quân ở cửa khẩu Tỉnh Kinh, nói là hai chục vạn” Quảng Võ quân Lý Tả Xa du thuyết Thành an quân, nói: “Nghe tướng nhà Hán là Hàn Tín đã đến Tây Hà, bắt được Nguy Vương, cầm tù Hạ Thuyết... nay lại giúp Trương Nhi, bàn kế muốn xuống nước Triệu rồi thừa tháng đánh ra ngoài nước, thế mũi nhọn của chúng không ai cản nổi. Thần nghe nói “ngàn dặm gửi lương, quân lính hơi đói, ảnh hưởng đến chiến đấu về sau”. Nay đường xá ở Tịnh Kinh xe đi khó lọt, ngựa không đi được hàng đôi, đi vài trăm dặm, thế của chúng sẽ là lương thảo tụt lại sau, mong túc hạ cho thần vài vạn kỳ bính, chặn ngang dường của chúng; Túc hạ thì tường cao hào sáu, giữ vững doanh trại, chớ đánh với địch. Chúng phía trước không đánh được với ai, rút cũng khó về, kỳ bình ta bịt phía sau, khiến chúng không cướp bóc ở đâu được, chỉ không đến mươi ngày, đầu hai tướng của chúng tất nập về dưới trướng. Mong tướng quân lưu ý kế này, nếu không sẽ bị hai tên ấy bất”. Trần Dư cho rằng “Nghĩa binh không cần mưu gian kế lạ, không nghe theo sách ấy quả nhiên bị giết. Sách lược của Lý Tả Xa là rất tuyệt diệu : Quân Hàn Tín mới tới, nhuệ khí đang háng, thì phải tránh đi, tường cao hào sâu, chó có đánh, cất đường tiếp tế khiến cho quân của Hàn Tín công cũng không được, thoái cũng không xong, mà lực lượng hai bên lại chênh lệch thế, “đầu hai tướng của chúng tất nộp về dưới trướng” là điều có thể có. Bởi vậy Hàn Tín nghe thấy Lý Tả Xa hiến ke này, đã rất lo ngại, sau biết không dùng nên rất mừng, bèn mới dùng kế phá quân Triệu. Tác giả hư cấu chuyện Giả Hủ nêu kế tường cao hào sâu chính là mô phỏng chuyện này. Đó thực ra là phép “tránh nhuệ khí của nó, đánh vào chỗ uể oải của nó” trong binh pháp của Tôn Tử.
2. TRUY KÍCH LẦN SAU: TRƯƠNG TÚ ĐÁNH BẠI TÀO THÁO
Sau khi Lý Thôi, Quách Dĩ bị đánh bại, Giả Hủ lại phụ cho Trương Tú cũng hiến nhiều kế lạ.
Cũng là truy kích, nhưng trước sau thắng bại khác nhau
Hồi thứ mười tám Tam quốc diễn nghĩa tả Trương Tú, Lưu Biểu đánh nhau với Tào Tháo, thấy đánh không có lợi nên đã đóng giữ ở huyện An Chúng, để tính kế sau này. Vừa gặp lúc Tào Tháo thừa biết Viên Thiệu đang muốn đánh úp Hứa Đô bèn gấp rút lui quân, được tay trong đến báo, Trương Tú muốn đuổi theo, Giả Hủ nói: “Không được đuổi nó, hễ đuổi là thua”. Lưu Biểu nói: “Nay mà không đuổi, ngồi để mất thời cơ à?” cố khuyên Tú mang hơn vạn quân cùng đi truy kích. Đi được khoảng hơn mười dặm, đuổi được đội quân đi sau của Tào Tháo. Quân Tào mang hết sức ra đón đánh, hai cánh của Trương Tú, Lưu Biểu thua to phải rút về. Trương Tú nói với Giả Hủ “Không nghe lời ông, quả nhiên là chịu thất bại này!” Hủ nói: “Nay có thể chỉnh quân đuổi đánh lần nữa !” Trương Tú và Lưu Biểu đều nói :” Nay đã bị thua, sao còn đuổi nữa?” Giả Hủ nói: “Lần này đánh đuổi, tất sẽ thắng to, nếu không được thế, xin cứ chặt đầu tôi”. Trương Tú tin vậy, Lưu Biểu còn hoài nghi, không muốn cùng đi. Trương Tú tự dẫn quân đi truy kích, quả nhiên thắng to.
Tại làm sao Trương Tú, Lưu Biểu hợp quân lại đi đuổi lại bị thua to mà về, mà một mình Trương Tú mang một cánh quân đuổi đánh lần nữa lại thắng lớn mà về ?
Thắng bại ly kỳ như thế là do nguyên nhân gì? Lưu Biểu nghĩ mãi không ra, bèn hỏi Giả Hủ rằng: “Lần trước lấy tỉnh binh đánh thoái binh, thì ông lại bảo là sẽ thua, sau lấy tàn quân đuổi kẻ thắng trận, ông lại bảo đánh được: Rốt cuộc nên hiểu lời ông thế nào? Tại sao hai việc khác nhau mà lời đều nghiệm cả?”. Giả Hủ nói: “Điều này dễ hiểu thôi. Tướng quân tuy giỏi dùng binh, nhưng chưa phải là địch thủ của Tào Tháo. Quân Tháo tuy rút lui, tất phải để tướng tài đệm hậu, đề phòng bị đuổi đánh, quân ta tuy hăng cũng không chống nổi, cho nên biết là sẽ thua. Tào Tháo đang vội rút quân, tất là do Hứa Đô có chuyện: Đã đánh thắng quân ta rồi, tất muốn về mau bằng khinh kỵ, không phòng phía sau nữa. Ta nhằm chỗ địch không đề phòng, đuổi đánh lần nữa, cho nên có thể thắng.
Lần truy kích trước địch có dự phòng, lần truy kích sau địch không ngờ tới
Giả Hủ có thể lường tới cơ hội thắng bại, bởi ông ta biết lường thời lựa thế, biết người biết mình. Lui quân, có lui thật, lui giả, bất kể lui kiểu gì, người biết dùng binh bao giờ cũng phải đề phòng truy kích mà áp dụng những biện pháp an toàn nhất, cho nên mới có những người có thể thắng địch ở trên chiến trường, nhưng thường thường trong truy kích lại do khinh địch mà bị đánh bại. Cho nên Tôn Tử mới nói rằng “quân quay về chớ nên ngăn chặn”. Giả Hủ thừa biết Tào Tháo là người biết dùng binh, mà lần này ông ta rút quân lại không phải thua mà rút, mà là thắng mà rút, cho nên không thể nhìn một cách tầm thường, nếu rút lui vỡ thì tất là mắc hợm. Nếu rút thật cũng tất nhiên sẽ có sự phòng bị, cho nên Giả Hủ mới lường tới việc “tất sẽ có tướng giỏi đi đệm hậu”. Vả lại quân lực của Tào Tháo mạnh hơn của Trương Tú, Lưu Biểu, Giả Hủ cũng lại biết về dùng binh, Trương Tú, Lưu Biểu không phải là địch thủ của Tào Tháo, cho nên mới phản đối việc truy kích. Sự thực, Trương Tú, Lưu Biểu không hiểu biết tí gì về kế hoạch và bước đi trong việc rút quân của Tào Tháo, cũng chẳng áp dụng đối sách gì mà chỉ đi truy kích một cách mù quáng, điều đó nói lên cả hai người đều kém cỏi, bị đánh thua là sự tất nhiên. Theo những lẽ thông thường, lần thứ nhất truy kích bị đánh cho thua to rồi, kẻ thất bại còn hốt hoảng chưa yên, thường chẳng bao giờ nghĩ chuyện đi truy kích nữa. Trương Tú, Lưu Biểu nghĩ như vậy, ngay Tào Tháo cũng nghĩ như vậy. Thế nhưng Giả Hủ lại biết lường thời lựa thế bằng quan điểm biện chứng, ông ta dự đoán rằng Tào Tháo sau khi đánh bại quân truy kích, quyết không nghĩ rằng địch lại truy kích tiếp, và tất nhiên sẽ không đề phòng gì nữa, truy kích lần nữa chính là “xuất quân ở chỗ nó không lường tới, đánh vào chỗ nó không phòng bị”, cho nên đã để cho một mình Trương Tú đem quân đi, cũng có thể lấy yếu mà thắng mạnh.
Câu chuyện nói trên với cơ hội Giả Hủ bàn về thắng bại, trên căn bản phù hợp với sự thực lịch sử.
2. CHỌC VÀO GAN ĐỊCH: TRƯƠNG LIÊU CHIẾM HỢP PHÌ
Trận đánh Hợp Phì, đối với quân Ngụy mà nói, nên hiểu là trận đánh để bảo vệ. Nhưng quân Ngụy lại dùng chiến thuật công trước, giữ sau để giành thắng lợi; giữ được Hợp Phì từ đầu đến cuối; còn đánh địch những đòn đau. Lúc đó, cân bằng lực lượng giữa hai bên rất chênh lệch. Quân nước Ngô đông, quân Ngụy thì ít, quân đông thì có lợi về công, quân ít có lợi về giữ.Đập tan uy thế địch để ổn định quân tâm
Thế nhưng, quân giữ Hợp Phì lại ở thế địch đông, mình ít, quân tâm hoang mang, có thể giữ vững được Hợp Phì hay không, còn thiếu lòng tin.
Tướng giữ Hợp Phì là Trương Liêu bèn quyết định, trước hết đập tan uy thế địch, sau mới có thể nói đến giữ. Ông ta đã dẫn đội quân cảm tử anh dũng xuất kích, đánh cho quân Ngô bạt vía kinh hồn, không dám nhòm ngó Hợp Phì nữa.
Trận đánh Hợp Phì tả trong Tam quốc diễn nghĩa, cơ bản phù hợp với sự thực lịch sử, nhưng trong Tam quốc chí – Ngụy thư– Trương Liêu truyện thì ghi chép tỉ mỉ hơn, càng thể hiện được sự trí dũng hơn người của vị danh tướng này của nước Ngụy. Tào Tháo đi chinh phạt Tôn Quyền trở về, bèn giao cho Trương Liêu và các tướng Nhạc Tiến, Lý Điển cùng bảy ngàn quân trấn giữ Hợp Phì. Lại phải đi đánh Trương Lỗ, bèn để lại một bức thư cho hộ quân Tiết Dễ (trong Tam quốc diễn nghĩa dịch là Tiết Lễ) đề rằng “Giặc đến hãy mở”. Tôn Quyền thống lĩnh mười vạn quân vây chặt Hợp Phì, lúc ấy Trương Liêu mới cho mở thư xem, thư viết: “Nếu Tôn Quyền đến, hai tướng Trương Liêu, Lý Điển ra đánh, Nhạc Tiến ở lại giữ thành, không được ra đánh”. Vì địch đông, mình thì ít nên các tướng có phần lo ngại. Trương Liêu nói: “Thừa tướng đi đánh nơi xa, cho rằng ta lo quân Ngô chắc đánh được ta, nên mới căn dặn thế. Nhân địch chưa kịp hợp quân, ta đánh trả ngay, bẻ gãy uy thế chúng, để yên lòng mọi người, sau mới có thể giữ được thành. Cơ hội thành hay bại, là ở trận này, các tướng quân còn nghi ngờ gì nữa?”
Chung chí thành thành, vững không thể đổ
Trương Liêu vốn lo ngại Lý Điển không bằng lòng đi đánh, nhưng sau khi nghe Trương Liêu nói vậy, Lý Điển đã dứt khoát đứng dậy nói: “Đây là quốc gia đại sự, tướng quân đã có mưu kế như thế, tôi lẽ nào vì chút tình riêng mà quên cái nghĩa với tướng công”. Thế là quyết định đánh.
Trương Liêu vốn có những điều bất hoà với Lý Điển, Nhạc Tiến, nhưng lúc này, trước kẻ thù lớn mạnh, họ đã không vì chút tị hiềm, đoàn kết với nhau để chống địch. Trương Liêu ngay đêm đó đã chiêu mộ được đội quân cảm tử tám trăm người, bèn cho giết trâu bò khao tướng sĩ, chuẩn bị sớm hôm sau ra trận. Trời mới tờ mờ sáng, Trương Liêu khoác áo giáp, mang kích trong tay, dẫn đội tiên phong xông vào trận địch, giết hơn chục người, chém được hai tướng, miệng thét lớn tên mình, xông mãi vào doanh lũy của địch, thẳng tới dưới cờ của Tôn Quyền. Tôn Quyền thất kinh, tướng sĩ dưới quyền cũng luống cuống không biết làm gì, hoang mang chạy lên chỗ gò mả cao, đưa kích dài ra chống giữ. Trương Liêu gọi Tôn Quyền xuống đánh, Tôn Quyền sợ quá không dám động. Sau thấy Trương Liêu quân ít, sai đem quân vây chặt mấy vòng. Trương Liêu tả xung hữu đột để phá vây. Trương Liêu đem hàng chục người ở dưới cờ chạy ra. Số còn lại kêu la: “Tướng quân bỏ chúng tôi à?” Trương Liêu lại xông vào nơi đó, cho những người còn lại cùng ra. Từ mờ sáng đánh đến trưa, người ngựa của Đông Ngô bị đánh cho tơi bời tan tác, không kẻ nào dám chống lại. Nhuệ khí của quân Ngô bị đánh dẹp xuống, sĩ khí của quân nước Ngụy tăng cao. Trương Liêu rút quân tăng cường chốt giữ. Tướng sĩ yên tâm, trên dưới một lòng giữ thành. Tôn Quyền công thành hơn chục ngày không được, bèn tự dẫn quân rút lui. Trương Liêu dẫn quân truy kích, Tôn Quyền gần như bị bắt. Năm Kiến An thứ mười hai, Tào Tháo đến Hợp Phì, xem xét nơi Trương Liêu từng chiến đấu, đã ca ngợi hết lời.
Chiến thắng ở Hợp Phì, chẳng những do Trương Liêu trí dũng hơn người, mà ngay lúc quân địch lớn mạnh đến chân thành, Trương Liêu, Lý Điển, Nhạc Tiến đã không vì tị hiềm cá nhân để lỡ việc lớn, đã có thể đoàn kết đánh địch; thêm vào đó Trương Liêu ở vào nơi nguy hiểm, đã không bỏ mọi người lo giữ lấy mình mà đã cùng sống chết với thuộc hạ của mình, nên trên dưới đã một lòng, lấy một chọi mười, bởi vậy mà chí vững như thành, không gì phá nổi.
4. KHINH SUẤT RA ĐÁNH: TÀO HỒNG ĐỂ MẤT ĐỒNG QUAN
Do Tào Tháo giết cha mình là Mã Đằng, nên Mã Siêu cùng chú nuôi mình là thái thú Tây Lương Hàn Toại cùng dấy hai mươi vạn đại quân xông thẳng đến Tràng An. Quân Tây Lương muôn người một dạ, nhuệ khí rất hăng, mạnh không gì cản nổi, đã nhanh chóng đánh vào Tràng An, trực chỉ Đồng Quan, tướng giữ thành Chung Do cáo cấp. Tào Tháo nghe tin, lập tức gọi Tào Hồng, Từ Hoảng đến dặn rằng: “Trước hết đem một vạn binh mã đến thẳng đấy, thay Chung Do giữ Đồng Quan. Nếu trong mười ngày mà mất chốt này, đều bị chém. Ngoài mười ngày, mặc cho hai người muốn làm sao thì tùy, ta sẽ mang đại quân đến sau”.Không tự lường sức mình, Đồng Quan thất thủ
Tào Hồng là em họ của Tào Tháo, Tào Tháo khởi sự đã theo được làm tả hữu, Tào Hồng chiến đấu dũng cảm, nhiều lần lập được chiến công; lại hết lòng trung thành với Tào Tháo. Mấy lần Tào Tháo lâm nguy đều được Tào Hồng quên chết cứu ra mà thoát chết, cho nên rất được Tào Tháo tin dùng. Nhưng Tào Hồng rất nóng nảy, Tháo e dễ hỏng việc, nên cử Từ Hoảng trợ giúp. Tào Hồng và Từ Hoảng đến Đồng Quan, giữ vững điểm chốt cửa thành, không ra đánh. Mã Siêu cho quân đến gần đó, chửi bới ba đời Tào Tháo. Tào Hồng nổi giận, muốn đem quân xuống đánh, Từ Hoảng ngăn lại nói: “Đó là Mã Siêu muốn kích cho tướng quân đánh với nó, xin chớ đánh với nó, chờ đại quân của thừa tướng đến nơi, tất sẽ có chủ trương”. Quân của Mã Siêu ngày đêm thay nhau đến chửi rủa. Tào Hồng không biết lượng sức mình, chỉ muốn xông ra đánh, Từ Hoảng hết lời can ngăn. Đến ngày thứ chín, khi lên cao nhìn, quân Tây Lương vứt cả ngựa ở trước cửa ải, ngồi trên bãi cỏ; quá nửa tỏ ra mệt mỏi, nằm ngủ ngay ở trên mặt đất. Tào Hồng cho sắp ngựa, điểm lấy ba ngàn quân đánh xuống cửa ải, quân Tây Lương bỏ ngựa xe giáo mác mà chạy. Tào Hồng mải miết đuổi theo. Lúc ấy Từ Hoảng đang ở trên cửa ải điểm lại xe lương thảo, nghe tin Tào Hồng xuống đánh ở cửa ải thấy rất ngại, bèn vội dẫn quân theo sau, gọi lớn để Tào Hồng quay lại. Bỗng đâu phía sau có tiếng kêu vang dội, Mã Đại dẫn quân đánh tới. Khi Tào Hồng, Từ Hoảng vội quay về, một hồi trống nổi lên, hai cánh quân sau núi chặn lại: Trái là Mã Siêu, bên phải là Bàng Đức, chém giết lẫn nhau một hồi lâu. Tào Hồng không cự nổi, mất già nửa số quân, phá được vòng vây, chạy lên cửa ải. Quân Tây Lương đuổi gấp phía sau, đánh vào Đồng Quan, bọn Tào Hồng buộc phải bỏ chốt mà chạy.
Dùng người duy thân, thua là tất nhiên
Cùng là nhiều quân ít quân chênh lệch nhau nhiều, tại làm sao Trương Liêu ra đánh mà giữ được Hợp Phì, còn Tào Hồng ra đánh lại mất Đồng Quan. Lính của Tôn Quyền tuy đông, ra quân chẳng qua là để tranh thành cướp đất, lại cho rằng phá Hợp Phì là ở thế tất thắng, có tư tưởng khinh địch. Trương Liêu thì thừa lúc đối phương mới đến, doanh lũy chưa vững vàng bất ngờ tập kích, khiến địch trở tay không kịp, cho nên đã đánh và thắng trận. Quân Tây Lương căm giận địch thù, và Mã Siêu lại là hổ tướng trên đời, vậy mà Tào Hồng lại muốn lấy cái dũng để hòng lấy ít thắng nhiều, thì việc để mất Đông Quan là thế tất nhiên. Vả lại việc mất Đồng Quan còn có liên quan đến việc Tào Tháo dùng người duy thân. Tuy ông ta thừa biết Tào Hồng nóng nảy, bộp chộp, nhưng vì hắn là người thân nên tin mà dùng, Từ Hoàng tuy là danh tướng, nhưng không là người thân của ông ta nên không giao cho việc quan trọng mà chỉ để làm chức phó. Nếu như chủ tướng giữ thành không phải là Tào Hồng mà là Từ Hoảng, trong vòng mười ngày có thể giữ vững Đồng Quan. Cho nên mất Đồng Quan, thực tế là do Tào Tháo dùng người chưa thỏa đáng, nói là do Tào Tháo làm mất cũng được. Thế, người, mưu kế khác nhau thì phép đánh hay là giữ, nguyên do thắng hay bại cũng sẽ khác nhau.
5. MỎI MỆT QUÂN THỤC: TRỌNG ĐẠT GIỮ TẦN XUYÊN
Khổng Minh từ khi dẫn một đạo quân đóng ở Ngũ Trượng Nguyên, nhiều lần lệnh cho quân khiêu chiến, quân Ngụy mãi cũng không ra đánh. Khổng Minh sai người cho khăn áo cùng là quần áo trắng của đàn bà vào trong một cái hộp, gửi sang cho Tư Mã Ý. Tư Mã Ý liền mở hộp ra xem trước đông đủ mọi người, bên trong hộp là áo quần đàn bà, và một bức thư.Chịu nhục mặc khăn áo đàn bà
Tư Mã Ý xé thư xem, đại ý nói: “Trọng Đạt mang danh đại tướng, thống lĩnh quân lính ở Trung Nguyên, không nghĩ đến mặc giáp cầm gươm để quyết một phen sống mái, lại chui rúc trong hang ổ để tránh tên đao, thế thì có khác chi đàn bà con gái. Nay sai người mang khăn yếm và quần áo trắng của đàn bà sang đây, nếu không ra đánh, thì hãy lạy đi mà nhận lấy; nếu còn chút liêm sỉ và chí khí nam nhi, thì hãy phê vào thư này, hẹn ngày giao chiến”.
Xem xong thư, Tư Mã Ý giận lắm, nhưng vẫn gượng cười nói: “Khổng Minh coi ta như đàn bà hay sao?” rồi nhận lấy mọi thứ, trọng đãi sứ giả. Tư Mã Ý còn hỏi: “Khổng Minh ăn nghỉ và công việc bận rộn thế nào?” Sứ giả đáp rằng: “Thừa tướng tôi dậy sớm thức khuya, phạt ai hai chục roi trở lên đều tự mình xem xét; nói đến việc ăn uống, ngày chỉ độ vài lưng”. Tư Mã Ý nói với các tướng lĩnh cùng ngồi quanh đấy rằng: “Khổng Minh ăn ít làm nhiều thế thì được bao lâu?”.
Các tướng thấy Tư Mã Ý chịu nỗi nhục phải nhận váy áo đàn bà, đều tỏ ra bất bình, vào trong trướng nói: “Chúng ta đều là danh tướng của một nước lớn, làm sao lại chịu nhận nỗi nhục thế này của người Thục, mau xin ra đánh, thể sống mái một phen!” Tư Mã Ý nói: “Ta không phải không dám ra đánh, mà cam chịu nhục. Hiểm vì mệnh chiếu của Thiên tử, lệnh cho ta cố giữ, không đánh. Nay nếu ra đánh, là phạm vào lệnh vua vậy!”. Các tướng vẫn giận dữ bất bình, Tư Mã Ý nói: “Các người muốn ra đánh, chờ ta tấu chuẩn lên thiên tử, cùng hợp sức đánh địch, thế có được không?”. Mọi người bằng lòng. Tư Mã Ý viết biểu sai người mang đến trước quân tiền ở Hợp Phì, tâu lên chúa Ngụy là Tào Duệ. Duệ hiểu được ý đó, lệnh cho Tân Tị đến Vị Bắc để truyền dụ, nói: “Nếu còn ai dám bàn ra đánh, coi như phạm vào chiếu chỉ”. Các tướng chỉ còn cách làm theo. Tướng Thục biết được việc này, báo với Khổng Minh, Khổng Minh cười nói: “Đây là cách Tư Mã Ý làm yên lòng ba quân”. Khương Duy hỏi: “Sao thừa tướng biết được?” Khổng Minh nói: “Chúng không có lòng dạ nào để đánh, cho nên kẻ xin đi đánh, chỉ là khoe mạnh với mọi người. Há chẳng nghe “tướng ở bên ngoài, lệnh vua có thể có cái không theo”, làm sao lại có người ở ngàn dặm mà lại xin lệnh rồi mới đánh trận bao giờ. Đây chẳng qua là Tư Mã Ý nhân các tướng tức giận, cho nên mượn ý của Tào Duệ (trong Tam quốc diễn nghĩa, Phan Kế Bính dịch là Tào Tuấn) để trấn an họ. Nay lại truyền lời ấy ra để làm nản quân tâm của ta đó thôi”. Đang khi bàn luận, bỗng có tin Phí Vĩ đến. Khổng Minh bèn mời vào để hỏi, mới biết được quân Đông Ngô muốn phối hợp với Khổng Minh bắc phạt nên đánh Hợp Phì, không ăn thua gì mới kéo quân về. Khổng Minh nghe vậy thở dài một tiếng, bất giác ngã lăn ra đất. Các tướng vội vào cứu, một lúc lâu mới tỉnh lại, Khổng Minh lại nói “Lòng ta rối loạn, bệnh cũ lại phát, e rằng khó sống”. Từ đó, thổ máu liên tục, nằm ốm liệt giường.
Đã sinh Lượng, sao còn sinh Ý
Tư Mã Ý và Khổng Minh đều là nhà quân sự lỗi lạc thời Tam Quốc. Những chuyện kể trên đều dẫn từ hồi thứ một trăm lẻ ba truyện Tam Quốc diễn nghĩa. Hồi truyện này đủ phản ánh tư tưởng chiến lược của Tư Mã Ý trong lịch sử. Khổng Minh xuất Kỳ Sơn lần thứ sáu, đóng quân ở Ngũ Trượng Nguyên, quyết sách chiến lược là lấy công để giữ, ý muốn khi địch có biến thì lấy Trung Nguyên ở mặt bắc; Tư Mã Ý biết rất rõ mưu đó, vả lúc này thời cơ diệt quân Thục còn chưa chín muồi, cho nên lấy phòng ngự là chính, giữ chắc tiến tuyến Tần Xuyên, làm cho quân Thục mỏi mệt, khiến Khổng Minh không làm được gì. Bởi vậy Khổng Minh xuất Kỳ Sơn lần thứ sáu, kết quả lớn nhất là lấy được ba quận, nhưng rồi cũng lần lượt bị chiếm lại mất, sau đó đều nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì. Mùa xuân năm Kiến Hưng thứ mười ba (năm 235 công lịch) Khổng Minh và Tư Mã Ý lại cầm cự nhau ở Vị Nam, trước đây mỗi lần đều do lương thảo không liên tục, không thể tiếp tục bắc phạt được, thế là đành chia quân đi bám ruộng, làm kế ở lâu dài. Nhưng lúc đó Khổng Minh đã ốm đến mức thập tử nhất sinh, Tư Mã Ý cũng biết Khổng Minh “cơm ăn ngày chỉ vài lưng”, nên đoán rằng không lâu sẽ chết, cho nên cam chịu cái nhục mặc váy áo đàn bà, giận để trong bụng. Tháng tám năm ấy, Khổng Minh chết ở trong quân, thọ có năm mươi tư tuổi. Kíp đó là quân Thục rút lui, Tư Mã Ý nhìn quanh đồn lũy, thốt lên rằng “thật là kỳ tài trong thiên hạ!” Khổng Minh tuy có là bậc kỳ tài, bởi vì lại gặp bậc kỳ tài Tư Mã Ý mà không thỏa được cái chí của mình, cuối cùng “ra quân chưa có tin thắng trận mà đã thiệt thân”. Bởi vậy, khi viết lời bình hồi năm mươi bảy, Mao Tôn Cương mới thốt lên rằng: “Đã sinh Lượng, sao còn sinh thêm Ý”.