Gọi là đánh ngoại giao (phạt giao), tức là chiến thắng quân địch trên mặt trận ngoại giao. Tôn Tử rất coi trọng việc đánh bằng ngoại giao, vì cho rằng tác dụng của nó chỉ đứng sau việc đánh bằng mưu kế. Ngay từ thời chiến quốc, các nước cũng đã rất coi trọng việc đánh bằng ngoại giao. Tô Tần bèn thuyết phục nước Yên nước Triệu, hợp lực sáu nước lại, đồng minh chống nước Tần, đã từng một thời cô lập được nước Tần, giành được thắng lợi nhất định. Để lập mưu phá liên minh sáu nước, tướng nước Tần là Trương Nghi tìm cách thuyết phục các nước này, phản lại nhau, từ đó phân hóa sáu nước, dọn đường cho việc Tần tiến công bằng quân sự sau này. Sau này nước Tần lại dùng chiến lược “xa thì giao hảo, gần thì tấn công”, thống nhất lại sáu nước. Trong Tam quốc, đánh ngoại giao cũng phát huy được tác dụng lớn lao như thế, thường những thứ không đạt được trong đấu tranh quân sự lại giành được trong cách đánh bằng ngoại giao, đối với cuộc đấu tranh đối ngoại hiện nay, nó vẫn có ý nghĩa khêu gợi nhất định.
Sau trận Xích Bích, thế thiên hạ chia ba đã hình thành, do sách lược giành thiên hạ của người làm chúa ba nước này lúc ấy là Tào Tháo, Lưu Bị, Tôn Quyền, có sự khác nhau, địa vị của họ cũng khác nhau nên sách lược đấu tranh đối ngoại của họ cũng không giống nhau. Khu vực Tào Tháo khống chế được tuy chiếm tới bảy mươi phần trăm thiên hạ, nhưng do lòng người vẫn nhớ nhà Hán, nên không dám liều lĩnh cướp ngôi. Không giống như Viên Thuật, được ngôi vua mà không có thực quyền, Tào Tháo ngược lại nhường cái hư danh là vua đó cho Hán Hiến Đế, tự mình lại nắm thực quyền của một bậc đế vương, cho nên từ đầu đến cuối, luôn luôn “ép thiên tử để lệnh chư hầu”, dựa vào địa vị chính trị ưu việt đó đã ra lệnh một cách danh chính ngôn thuận. Liên minh Ngô – Thục là trở ngại lớn nhất của ông ta trên đường thống nhất thiên hạ, bởi vậy mà muốn tìm cách phân hóa và cô lập ra nhằm phá vỡ từng nước một. Lưu Bị vì là lớp người sau của Trung Sơn Tịnh Vương con của Hán Cảnh đế nên đứng dưới cờ chính thống, chê trách Tào Tháo là thoán nghịch, còn ông ta tiếng là ủng hộ nhà Hán, nhưng thực ra là một thứ thủ đoạn giành thiên hạ. Điều đó đã quyết định chính sách của Thục Hán với Tào Ngụy: Thề sẽ không cùng tồn tại. Nhưng Tào Tháo là kẻ mạnh nhất ở Trung Quốc thời bấy giờ. Lưu Bị muốn chống lại thế lực ấy, ngoài việc liên hợp với Tôn Quyền, không còn đường nào khác. Cho nên khi Tào Tháo đánh xuống phía Nam, Lưu Bị, Tôn Quyền liên minh lại chống Tào Tháo là ở thế tất nhiên.
Ngay từ trước một năm xảy ra trận Xích Bích, Khổng Minh đã dự đoán ra xu thế này, cho nên trong “Long Trung sách” đã nêu ra tổng phương châm đối ngoại là “ ngoài thì giao hảo với Tôn Quyền để rồi lấy được Trung Nguyên ở mặt bắc”. Đối với việc chấp hành tổng phương châm này, Khổng Minh giữ vững đến lúc chết; Lưu Bị tán thành trên nguyên tắc, nhưng trong việc chấp hành cụ thể thì lại có những cách nhìn khác nhau. Sau khi Đông Ngô đánh úp Kinh Châu, giết Quan Vũ, khối liên minh Thục Ngô đã tan vỡ hoàn toàn, quan hệ hai bên xấu đi chưa từng thấy, mà việc mất Kinh Châu không những khiến nước Thục mất căn cứ chiến lược trong việc giành thiên hạ, còn làm cho nó mất đi điều kiện ưu việt trong việc tấn công Tào Ngụy ở thế gọng kìm. Thứ đến, Tôn Quyền không cùng nước Thục hợp lực phá Tào, khi Quan Vũ đánh lên mạn Bắc giành thắng lợi liên tiếp, Tào Tháo bàn việc dời đô để tránh mũi nhọn đó, Tôn Quyền lại liên hợp với Tào Tháo, giáp công đánh Quan Vũ, điều đó nói lên nước Ngô là nước đồng minh không đáng tin cậy. Bởi vậy, để báo thù cho em, rửa nhục cho nước và vì tiến đồ của đất nước, Lưu Bị quyết định đánh nước Ngô. Khi Lưu Bị xuất chinh, ra quân là thắng, Tôn Quyền cho người tới xin giảng hòa, nói: “Nay giao trả Kinh Châu, đưa phu nhân trở về, mãi mãi kết đồng minh, cùng nhau chống Ngụy”. Lưu Bị nổi giận đùng đùng cự tuyệt nói : “Kẻ thù bầm gan tím ruột trẫm chính là Tôn Quyền! Nay nếu lại giảng hòa, chẳng hóa ra ta phụ lời thề với em ta ngày nào. Nên phải đánh Ngô lẫn này, đâu có phải chỉ riêng là đòi lại Kinh Châu mà là muốn đánh cả Đông Ngô, tăng cường lực lượng, hình thành cục diện đối lập giữa Lưu Bị và Tào Tháo, sau đó đánh nước Ngụy để thống nhất thiên hạ. Về việc này, Trương Phi là người hết sức tán thành, nhưng lại vấp phải sự phản đối của Khổng Minh, Triệu Vân, Trần Mật. Họ đều chủ trương hãy góp dồn lực lượng, đợi thời cơ để đánh nước Ngụy, cho rằng “giặc nước là Tào Tháo, chứ không phải Tôn Quyền”. Nếu giặc Ngụy bị ta trừ, nước Ngô sẽ tự phục”. Mà sự thể phát triển, chứng tỏ Lưu Bị “Vì hận mà muốn thôn tính Ngô”, mọi người như Khổng Minh v.v... mới là có tầm nhìn xa.
Tư tưởng chủ đạo của chính sách ngoại giao của Tôn Quyền là: Tất cả xuất phát từ lợi ích của đất nước, ông vừa không có kẻ thù vĩnh viễn lâu dài, cũng không có nước đồng minh mãi mãi. Chỉ cần có lợi cho đất nước, ông vừa có thể liên minh với Lưu Bị chống Tào Tháo, cũng có thể liên minh nước Ngụy chống nước Thục. Như khi Tào Tháo đưa thư hẹn cùng mở hội săn ở Giang Hạ”, ông không đem sự nghiệp của cha anh hiến dâng kẻ khác, bèn hợp lực với Lưu Bị, cuối cùng hỏa thiêu Xích Bích, đánh bại Tào Tháo. Sau đó, Lưu Bị lần lữa không trả Kinh Châu, mà Kinh Châu lại ở phía thượng lưu của Dương Châu, đe dọa an toàn của nước Ngô, bèn cử Lã Mông áo trắng vượt sông đánh úp Kinh Châu. Lưu Bị đến đánh, ông xin giảng hòa không xong, bèn lần lượt dâng biểu lên Tào Tháo, Tào Phi để xưng thần, song cũng chẳng được nước Ngụy giúp đỡ, tuy vậy cũng tranh thủ được sự độc lập của nó để mình có thể tập trung lực lượng đối phó giặc xâm lăng, sau mới giành được thắng lợi. Chính sách đối ngoại của Tôn Quyền, được Chu Du, Lục Tốn, Lã Mông ủng hộ và quán triệt chấp hành. Nhưng trên vấn đề đối xử với nước Thục, Lỗ Túc với ông hơi có sự xung khắc. Giống như Khổng Minh, Lỗ Túc trước sau muốn giữ vững mối liên minh Thục Ngô, cho nên khi còn sống, ông từng ba lần lấy Kinh Châu, nhưng đều bị lừa và lần lữa không trả, ông cũng lấy đại cuộc làm trọng, chịu thiệt cầu toàn, liên minh hai bên mới được giữ vững. Tôn Quyền tuy ca ngợi Lỗ Túc duy chỉ có việc ông cho mượn Kinh Châu và thái độ nhún nhường trong chuyện này là điều còn dị nghị.
Ở trên là sơ lược về chính sách ngoại giao thời Tam Quốc, tuy nhiên trong vấn đề đánh bằng ngoại giao ở Tam Quốc, cụ thể có nhiều sự việc trổ hết tài năng của kẻ khôn người dại.
Cuộc đấu tranh về chính trị, quân sự trong Tam Quốc là rắm rối phức tạp, nhưng trong toàn bộ cuộc đấu tranh, đấu tranh quân sự chỉ là ngắn ngủi chốc lát, đấu tranh chính trị mới quán xuyên từ đầu đến cuối, trong đó nổi bật lên là cuộc đấu tranh bằng ngoại giao. Trận Xích Bích vừa kết thúc là mở đầu cuộc đấu tranh bằng ngoại giao.
Xin phong cho Lưu Bị đẩy Lưu Tào đánh nhau.
Ba điều kế cẩm nang của Khổng Minh, khiến “Chu Du diệu kế yên thiên hạ; vừa mất phu nhân lại thiệt quân”. Tôn Quyền vì thế mà tức đến phát điên, lập tức muốn dấy binh lấy Kinh Châu. Trương Chiêu can rằng: không được. Tào Tháo ngày đêm đang muốn báo mối thù Xích Bích, chỉ vì e Lưu, Tôn đồng lòng, nên còn chưa dám cất quân. Nay chúa công nếu chỉ vì cơn nóng giận nhất thời, tự đi thôn tính lẫn nhau, Tào Tháo tất thừa lúc trống trải mà đến đánh, thế nước sẽ nguy to”. Cố Ung cũng nói: “Hứa Đồ lẽ nào không tính toán điều này ? Nếu biết Tôn, Lưu bất hoà, Tào Tháo tất sẽ cho người câu kết với Lưu Bị. Bị sợ Đông Ngô, tất sẽ hàng Tào Tháo. Nếu thế thì Giang Nam biết đến bao giờ mới yên. Nay có một kế là, hãy cử sứ giả đến Hứa Đô, dâng biểu xin phong Lưu Bị chức Kinh Châu mục. Tào Tháo hay tin này tất sẽ sợ mà không dám tăng quân xuống phía Nam. Và cũng khiến Lưu Bị không giận gì chúa công. Sau đó dùng bọn tâm phúc thi hành kế phản gián, làm cho Tào Tháo, Lưu Bị đánh lẫn nhau, ta thừa thế mà chiếm lấy, tất là được”. Kế này của Cố Ung một là có thể làm cho Tào Tháo không dám xâm phạm xuống phía Nam, giữ được an toàn cho Giang Đông; hai là có thể giải được mối hận đối với Lưu Bị, xúi cho Tào Tháo “Lưu Bị đánh nhau, để mong ở giữa được lợi, quả thật là diệu kế. Bởi thế, Tôn Quyền rất tán thưởng, lập tức cử Hoa Hâm mang biểu đến Hứa Đô, xin phong cho Lưu Bị chức Kinh Châu mục.
Biểu phong Chu Du – Một tên hai đích
Tào Tháo từ sau khi bại trận ở Xích Bích, không đành cam chịu, vẫn chiêu binh bãi mã, chuẩn bị đánh xuống phía Nam lần nữa. Nhưng lo lắng nhất là Lưu Bị, Tôn Quyền hợp lực, khó mà thắng nổi. Bởi vì trận Xích Bích thua to, ông ta đã được nếm đòn lợi hại của Lưu Bị, Tôn Quyền; nhất là Lưu Bị, cho nên khi Hoa Hâm đến cho ông ta biết rằng chín quận của nhà Hán, phần lớn quá nửa đã thuộc Lưu Bị, Tào Tháo thấy luống cuống chân tay, rơi cả bút xuống đất. Trình Dục hỏi tại sao, Tào Tháo nói: “Lưu Bị là con rồng trong đời, bình sinh chưa từng gặp nước. Nay được Kinh Châu, như rồng nhốt giờ được thả ra biển, quả nhân làm sao mà không động lòng?” Trình Dục lại hỏi : “Thừa tướng có biết Hoa Hâm đến đây có ý gì không?” Tào Tháo nói: “Chưa biết!”. Trình Dục nói: “Tôn Quyền vẫn có ý ghét Lưu Bị, muốn tăng quân đánh ! Nhưng lại e thừa tướng lợi dụng trống trải đánh vào, nên sai Hoa Hâm làm sứ giả dâng biểu tiến cử Lưu Bị, để yên lòng ông ta, ngăn trở ý muốn của thừa tướng vậy!”. Tào Tháo chợt hiểu ra, nói : “Thôi, đúng rồi!” Trình Dục lại hiến kế nói: “Người mà Đông Ngô tin cậy và dựa vào chính là Chu Du. Nay thừa tướng cũng dâng biểu phong Chu Du làm thái thú Nam Quận, Trình Phổ làm thái thú Giang hạ, giữ Hoa Hâm trong triều và trọng dụng ông ta, tự Chu Du sẽ trở thành thù địch của Lưu Bị, ta nhân họ thôn tính nhau mà chiếm lấy, như thế có hay hơn không?” Tháo tán thành ngay tức khắc, và làm theo kế của Trình Dục.
Đông Ngô vốn định dùng cách dâng biểu phong tước cho Lưu Bị, để xúi bẩy cho Tào Tháo và Lưu Bị đánh nhau, ở giữa kiếm lợi, nhưng Tào Tháo lại muốn dùng kế người ủy đáp trả lại người ấy, dâng biểu phong Chu Du, để xúi bẩy Chu, Lưu đánh lẫn nhau để đạt tới mục đích là bắn một mũi tên mà trúng hai đích.
Người mạnh lại còn có kẻ mạnh hơn
Quả nhiên là mưu kế đó của Trình Dục không sai, sau khi được phong chức, Chu Du lập tức ráo riết chuẩn bị đánh úp Kinh Châu. Trước hết cử Lỗ Túc đi đòi Kinh Châu. Đối với kế sách của Tôn Quyền, Tào Tháo cũng như dụng ý sự có mặt của Lỗ Túc, Khổng Minh nắm được và hiểu như lòng bàn tay mình, nên đã nói với Lưu Bị: “Mới đây, Tôn Quyền dâng biểu để chúa công làm Kinh Châu mục, đó là mưu kế sợ Tào Tháo. Còn Tào Tháo phong Chu Du làm thái thú Nam Quận, đó là muốn cho hai nhà chúng ta thôn tính lẫn nhau để họ đè ở giữa kiếm lợi. Nay Lỗ Túc đến, lại là do Chu Du sau khi nhận chức thái thú, có ý muốn đòi lại Kinh Châu”. Đã biết được mưu của họ, Lưu Bị, Khổng Minh không bao giờ chịu mắc mưu của họ: Lỗ Túc không đòi được Kinh Châu. Chu Du vẫn dùng kế “mượn đường diệt Quắc”, bởi Kinh Châu phòng thủ rất chặt chẽ, nên không thể mó tay vào đâu được, Chu Du đến tức lên mà chết. Lỗ Túc thay Chu Du nắm giữ việc quân, Khổng Minh đoán Lỗ Túc không đến nỗi phản bội lại khối liên minh Ngô Thục, cho nên mới tự dưng đi viếng đám tang Chu Du, để củng cố liên minh hai nước. Quỷ kế của Tào Tháo muốn cho Ngô, Thục thôn tính lẫn nhau thế là không được thi hành.
Người mạnh lại có kẻ mạnh hơn: Kế của Tào Tháo cao hơn Tôn Quyền, nhưng kế của Khổng Minh còn cao hơn Tào Tháo, mưu kế đánh bằng ngoại giao trong Tam Quốc càng ra càng hay!
2. BA LẦN KHÔNG TRẢ KINH CHÂU: KHỔNG MINH GẠT LỖ TÚC
Kinh Châu là đất dụng võ, là căn cứ chiến lược quan trọng. Trong “Long Trung Sách”, Khổng Minh đã chỉ rằng có Kinh Châu, Ích Châu để làm cơ sở giáp công đánh Tào Ngụy, cho nên nước Thục cần phải chiếm giữ Kinh Châu; “Sách trên giường” của Lỗ Túc thì chủ trương chiếm cứ toàn bộ Trường Giang mới giữ được an toàn cho Đông Ngô, chờ thời cơ mà giành thiên hạ, cho nên Đông Ngô không thể không chiếm Kinh Châu. Nước Thục muốn chiếm, nước Ngô cũng muốn lấy, không thể giải quyết được bằng chính trị, phải dùng đến vũ lực là điều không thể tránh khỏi.Coi trọng đại cuộc Lỗ Túc kiên trì hiệp thương
Để tranh thủ dùng thủ đoạn ngoại giao giải quyết vấn đề, Lỗ Túc từng ba lần đi đòi lại Kinh Châu. Trong việc đàm phán giữa Lỗ Túc với Khổng Minh đã phản ánh đầy đủ đối sách và phong cách ngoại giao khác nhau giữa hai người.
Nam Dương sau khi bị Khổng Minh dùng kế chiếm được, Chu Du trong một cơn nổi giận, chuẩn bị dấy đại quân để sống mái một phen với Lưu Bị và Khổng Minh. Lỗ Túc đã kiên quyết phản đối, nói rằng: “Nếu hai nhà tự thôn tính lẫn nhau, thì quân Tào Tháo sẽ nhân chỗ trống trải mà kéo đến, tình thế ấy rất là nguy!” và tự động xin sẽ đi để lấy lý lẽ thuyết phục; nếu nói không được, lúc ấy đem quân đi cũng chưa phải muộn. Trong khi đàm phán, Khổng Minh nêu ra rằng: Kinh Châu vốn là cơ nghiệp của Lưu Biểu, phải do con ông ta là Lưu Kỳ chiếm giữ. Nếu Lưu Kỳ không có mặt, chẳng có cách nào mà bàn bạc. Lỗ Túc thấy Lưu Kỳ bệnh đã đến mức hết phương cứu chữa, chỉ chừng nửa năm là chết, bèn đồng ý đi đến một hiệp nghị là: Nếu Lưu Kỳ không còn nữa, Kinh Châu được trả về cho Đông Ngô.
Khổng Minh khéo lừa dịp, mấy bận khất lần
Lưu Kỳ chết, với danh nghĩa sang viếng tang, Lỗ Túc lại một lần nữa thân chinh đi đòi Kinh Châu. Khổng Minh lại khất lần, nói rằng tạm mượn Kinh Châu làm vốn liếng, chờ sau khi lấy được Tây Xuyên mới trao trả Kinh Châu. Vì nghĩ đến toàn cục, Lỗ Túc lại đành nhận lời. Để thể hiện sự “chân thành”, Khổng Minh còn bảo Lưu Bị viết giấy đảm bảo “Tạm mượn Kinh Châu làm vốn” rồi ký tên vào đấy. Người làm chứng là Khổng Minh cũng ký tên đóng dấu. Khổng Minh nói: “Lượng tôi là người của Hoàng Thúc đây, lẽ nào người nhà lại đi làm chứng cho nhau. Giám phiền Tử Kính tiên sinh cũng ký vào đây một chữ rồi về gặp Ngô Hầu cho đẹp việc hơn”. Lỗ Túc cho rằng “Hoàng Thúc là người nhân nghĩa, tất không phụ lòng nhau bèn ký tên vào. Lâu lắm chẳng thấy Lưu Bị đánh Tây Xuyên, Tôn Quyền bèn sai Lỗ Túc đi đòi lần nữa. Lúc đó, Khổng Minh lại bám vào cái cớ là lấy “đất đồng tông của nhà Hán sợ người đời chửi rủa”. Sau khi Lưu Bị lấy Tây Xuyên, cũng không trao trả, lúc ấy Lỗ Túc đã qua đời, không thể có ảnh hưởng gì thêm cho Tôn Quyền. Rốt cuộc Tôn Quyền phải dùng vũ lực để đánh úp Kinh Châu.
Lấy ngoại giao gian trá đối phó với ngoại giao thành thật
Hai người Khổng Minh và Lỗ Túc đều là người đề xướng ra việc liên minh Thục-Ngô, cả hai đều kiên trì gìn giữ từ đầu đến cuối, cho đến lúc chết. Nhưng hai người trong việc giải quyết vấn đề Kinh Châu đều rất khéo léo mỗi người mỗi vẻ. Lỗ Túc xuất phát từ đại cục, chủ trương dùng phương pháp hòa bình để giải quyết vấn đề Kinh Châu, cho nên nhượng bộ hết lần ấy đến lần khác chịu thiệt để cầu toàn”. Còn Khổng Minh thì xoay xở đủ kiểu, lần lữa hết lần này đến lần khác. Một đằng là ngoại giao thành thật, một đằng là ngoại giao gian trá. Lỗ Túc đối xử bằng sự thành thực, khi ông ta còn sống hai bên tuy có mâu thuẫn song không đến nỗi căng thẳng và vẫn giữ được mối liên minh Ngô Thục – Khổng Minh nói thì gian trá tuy cũng khất lần và ì ra được một thời, nhưng không giải quyết được vấn đề Kinh Châu, kết quả làm cho “Quan Vũ hủy bại, Tỷ Quy than mất toi”, làm cho khối liên minh Thục – Ngô một thời bị phá vỡ hoàn toàn, điều đó đi ngược với ý nghĩa ban đầu của khối liên minh mà Khổng Minh từng kiên trì.
3. CẮT ĐẤT CẦU VIỆN GIA CÁT LÀM LUI QUÂN NGỤY**
Giữa nước này với nước kia, dùng thủ đoạn chính trị không thể giải quyết được vấn đề, thường thường là dẫn đến chiến tranh. Nhưng dùng chiến tranh không chiến thắng được kẻ địch mà biết khéo léo dùng thủ đoạn chính trị, lại có thể giải quyết được vấn đề. Tào Tháo sau khi chiếm được Đông Xuyên, đang có thế thừa thắng xuống Tây Xuyên lúc đó, Lưu Bị vừa lấy được đất Thục, lòng người chưa ổn định, có thể đánh thắng được kẻ địch đến xâm phạm hay không, là điều rất khó nói. Thế mà Khổng Minh không cần đụng đến một mũi tên, người lính mà là cất đất xin Tôn Quyền cứu viện, nhờ Tôn Quyền nhân lúc Tào Tháo mải đem quân viễn chinh, thừa cơ đánh vào Hợp Phì, rốt cuộc làm cho Tào Tháo phải lui quân.Được Lũng không dám mong Thục
Sau khi được biết Tào Tháo đã lấy Đông Xuyên, mọi người đều đoán thế nào Tào Tháo cũng sẽ lấy Tây Xuyên. Cho nên chỉ trong một ngày, dân chúng nhiều phen hốt hoảng. Tình thế vô cùng nguy kịch! Tư Mã Ý cũng đã thấy những điều kiện có lợi để đánh Tây Xuyên, nên đã kiến nghị với Tào Tháo rằng: “Lưu Bị đã xảo trá lấn át Lưu Chương, người Thục còn chưa quy phục, nay chúa công đã được Hán Trung, Ích Châu cũng lung lay. Ta có thể cấp tốc mang quân đánh lấy thế tất sẽ tan rã. Người khôn ngoan quý ở chỗ biết lựa thời, đừng để lỡ dịp tốt”. Tào Tháo thở dài nói: “Người nên biết thế nào là đủ, muốn được voi đòi tiên, đã được Lùng, lại còn muốn Thục sao?” Lưu Hoa nói: “Lời của Tư Mã Trọng Đạt là đúng đó, nếu chỉ chậm một chút, Gia Cát Lượng sáng suốt trị nước mà làm nên quan thừa tướng, bọn Quan, Trương dũng cảm nổi tiếng ba quân mà được làm tướng, dân nước Thục khi đã yên định, chốt giữ các đường hiểm yếu, thì không thể “xâm phạm được nữa”. Tào Tháo nói: “Lính tráng đi xa mệt mỏi, nên nghỉ ngơi là phải hơn” bèn án binh bất động. Về việc này, Mao Tôn Cương cho rằng Tào Tháo không dám đánh lấy Tây Xuyên bởi vì “lòng có ba điều sợ: trước đây vì tha thiết muốn đánh bọn Viên Thiệu, mệt mỏi với đường dài, vượt sông qua đò dẫn đến thất bại ở Xích Bích. Nay vừa mới dẹp được bọn Trương Lỗ, qua hiểm trở; vượt rừng thẩm núi cao, chưa nghỉ ngơi mà đã dùng đến họ làm sao mà lường được thắng lợi? Đó là điều sợ thứ nhất; nếu Kinh Châu hội hợp với Đông Ngô thừa lúc trống vắng đánh lên phía bắc”, thì sẽ làm thế nào? Đó là điều sợ thứ hai. Lòng còn lo tài trí Khổng Minh, ngay như Thành Bác Vọng, Tân Dã còn có thể đốt quân ta làm nhụt tỉnh nhuệ của ta, huống chi nay đã có đất Tây Xuyên để chống lại, đó là điều đáng sợ thứ ba” (lời bình hối thứ sáu mươi bảy). Mao Tôn Cương nêu ra lý do Tào Tháo án binh bất động là có lý lẽ nhất định. Đương nhiên, sự phân tích tình hình lúc đó và kế sách lấy Tây xuyên mà Tư Mã Ý với Lưu Hoa nêu ra cũng có thể chấp nhận được. Nhưng là một thống soái, đối với việc dùng binh, Tào Tháo không thể không giữ thái độ thận trọng, khi chưa nắm chắc được phần thắng không thể dùng binh một cách dễ dãi. Vì cuộc chiến đấu này quan hệ đến sự thành bại của Tào Tháo. Nếu lấy đất Thục bất lợi, mà lúc đó Quan Vũ lại có rất đông quân đóng ở Kinh Châu, nếu hợp sức với Tôn Quyền đánh lên phía Bắc, lần lượt tiến đánh Phàn Thành và Hợp Phì, mà Tào Tháo lại viễn chinh bên ngoài, lúc ấy giao thông lại không tiện lợi, rất khó có thể kéo quân về cứu viện, như vậy sẽ bị giáp công cả phía trước phía sau thì sẽ rất nguy hiểm, nên Tào Tháo “được voi không dám đòi tiên” không phải không có lý. Mà ông ta án binh bất động, không chịu rút quân nói lên rằng còn đang quan sát tình thế và cân nhắc thận trọng có nên đánh lâu đất Thục hay không?
Lấy lợi mà nhử, làm cho lui quân
Lưu Bị, Khổng Minh cũng không hề lơ là cảnh giác, họ sớm đã xác định đối sách. Một là khi biết Tào Tháo có cái thế đánh xuống miền Đông. Lưu Bị đã vội mời quân sư Khổng Mình để bàn bạc. Khổng Minh nói: “Lượng có một kế, làm Tháo phải lui quân” – Lưu Bị hỏi kế gì, Khổng Minh nói: “Tào Tháo chia quân đóng Hợp Phì là sợ Tôn Quyền. Nay nếu ta chia ba quận Giang Hạ, Trường Sa, Quế Dương trả cho nước Ngô, cử người khéo nói, vạch ra điều lợi hại, để Đông Ngô đem quân đánh úp Hợp Phì, làm rối động tình thế của họ, Tào Tháo buộc phải dừng quân đánh xuống phía Nam. Trước đây Khổng Minh một tấc đất cũng chẳng nhường ai, Lỗ Túc từng ba chuyến đòi lại Kinh Châu, ông ta tìm trăm phương ngàn kế để khất lần. Anh ông ta là Gia Cát Cần đến đòi, nể tình anh em lắm, ông cũng chỉ bằng lòng cất ba quận, nhưng lại không cho người báo với Quan Vũ, Quan Vũ tất nhiên là không giao, Đông Ngô cử người sang đòi giao ba quận đã cất, cũng bị đuổi về. Lần này muốn cho Tôn Quyền đem quân đánh Hợp Phì để Tào Tháo phái quân, giải thoát mối nguy hại cho Tây Xuyên, đành chịu đau mà cất ba quận. Vì có yêu cầu Tôn Quyền ra quân, không thể chỉ nói mồm không, phải để cho ông ta có chút lợi ích thực tế nhất định, mới lợi dụng cho mình được. Quả nhiên, Y Tịch vừa đi nói cắt ba quận và yêu cầu ra quân. Tôn Quyền liền triệu các mưu thần để bàn bạc, nhất trí cho rằng Tào Tháo ở Hán Trung, thừa thế lấy Hợp Phì chính là thượng sách. Tôn Quyền bèn cho đánh lấy Uyển Thành”, sau đó đánh Hợp Phì. Tào Tháo hay tin đành lập tức thu quân về cứu Hợp Phì, ngoan ngoãn nghe theo sự “chỉ huy” của Khổng Minh.
4. GIEO HỌA CHO NHAU: NGÔ NGỤY RẮP MƯU SÂU
Sau khi hình thành ba nước riêng rẽ, cũng bắt đầu xuất hiện mối quan hệ vừa mâu thuẫn với nhau lại vừa nương tựa vào nhau để cùng tồn tại. Khi nước này với một nước khác xảy chiến tranh, thể nào cũng tranh thủ sự ủng hộ của nước thứ ba. Mà bất kỳ nước nào cũng đều không để cho một nước khác có lợi riêng mình, bất kể nước nào cũng muốn khoét sâu quan hệ của hai nước kia, để họ đấu đá lẫn nhau, mình thì ở giữa được lợi. Với bất kỳ một mâu thuẫn nào hay một điều kiện nào nếu lợi dụng được đều hết sức lợi dụng, mục đích là làm suy yếu đối phương và tăng thêm lực lượng cho mình. Ngay cái thủ cấp của Quan Vũ cũng khiến cho hai nước Ngô – Ngụy bày đủ mọi cách dùng nó để tăng thêm mâu thuẫn của đối phương với nước Ngụy, tìm cách gieo họa cho nhau để từ đó mà được lợi, có thể nói đã tận dụng hết tài ba về lợi dụng mâu thuẫn.Dùng quỷ kế giả họa cho người
Đánh úp Kinh Châu, vốn là do Tào Tháo muốn giải vây cho Phàn Thành nên lấy lợi mà nhử cho Tôn Quyền làm việc này. Đương nhiên là với việc đòi lại Kinh Châu, Tôn Quyền cũng rắp tâm đã từ lâu, trước đây đã từng mất bao tâm huyết, bày đủ mọi mưu kế, bỏ cả em gái của mình ra mà cũng chẳng được việc gì, nay bỗng có một dịp may thế này làm gì mà lại không vui vẻ làm theo. Bởi vậy, việc đánh úp Kinh Châu tuy có liên quan tới Tào Tháo, nhưng người đem quân đi đánh lại là Đông Ngô. Việc giết Quan Vũ, Tôn Quyền không trốn tránh được trách nhiệm. Thắng lợi mới hé ra. Tôn Quyền đang khấp khởi vui mừng, còn chưa cân nhắc về hậu quả phải đến Trương Chiêu dùng lời nhắc nhở rằng. “Nay chúa công làm mất cha con Quan Công, chẳng mấy chốc mà Giang Đông sẽ gặp họa! Con người này khi kết nghĩa với Lưu Bị ở vườn đào, đã thề cùng sống chết. Nay Lưu Bị đã có quân của Lưỡng Xuyên, lại thêm mưu mô của Gia Cát Lượng, khí dũng của Trương, Hoàng, Mã, Triệu. Khi Lưu Bị biết cha con Vân Trường bị hại, tất sẽ dốc hết binh lực của Lưỡng Xuyên, mang hết sức báo thù, e rằng Đông Ngô khó bề địch nổi”. Tôn Quyền nghe xong sợ lắm, giậm chân nói: “Ta tính toán sai rồi! Như thế này biết làm sao bây giờ?” Trương Chiêu rốt cuộc vẫn là người lo sâu nghĩ xa, ngay lúc đó nghĩ ra một kế, nói: “Tào Tháo sẵn có hàng triệu quân, nhòm ngó vùng Hoa Hạ. Lưu Bị lại đang nôn nóng muốn báo thù, tất sẽ hẹn ước với Tào Tháo, nếu hai nơi liên quân với nhau cùng đánh tới, Đông Ngô sẽ nguy. Chi bằng mang thủ cấp của Quan Công chuyển đưa cho Tào Tháo, rõ ràng làm cho Lưu Bị thấy rằng việc do Tào Tháo gây nên và sẽ căm giận Tào Tháo lúc ấy quân của Tây Thục không phải là hướng sang nước Ngô mà hướng sang nước Ngụy, ta sẽ ngồi xem ai thắng ai thua, ở giữa được lợi, đó là thượng sách”. Tôn Quyền liền làm theo kế ấy. Kế ấy của Trương Chiêu, phải nói là đã vắt cạn tâm can, tuy nhiên vẫn có phần quá coi nhẹ nước Ngụy, nước Thục.
Vỏ quýt dày, móng tay lại nhọn
Tào Tháo nghe nói Đông Ngô đưa thủ cấp của Quan Vũ đến, mừng rỡ nói: “Vân Trường chết rồi, ta ngủ mới yên giấc”. Ngay lúc đó, Tư Mã Ý đã vạch trần mưu mô của Đông Ngô, nói: “Đây là kế Đông Ngô gắp lửa bỏ tay người vậy!” và nêu ra cách giải cứu mưu này: “Đại Vương hãy lấy thủ cấp của Quan Công, gắn vào thân người tạc bằng gỗ hương, rồi mai táng theo nghi lễ của một bậc đại vương. Lưu Bị thấy vậy, tất sẽ căm ghét Tôn Quyền, đem hết sức đánh xuống phía Nam. Ta sẽ chờ xem thắng bại, Thục thẳng thì đánh Ngô, Ngô thắng thì đánh Thục, hai kẻ ấy nếu được một, thì một bên ấy cũng không lâu”. Tháo mừng lắm, cho làm theo kế ấy, đúng là vỏ quít dày có móng tay nhọn.
Thế nhưng bất kể cho Ngô, Ngụy “tính toán cặn kẽ” thế nào, cũng không che được mắt Khổng Minh. Sau khi được tin Đông Ngô đem thủ cấp của Quan Vũ dâng cho Tào Tháo và Tào Tháo đã làm tang lễ như một vương hầu, Khổng Minh lập tức vạch ra với Lưu Bị về mưu kế của Ngụy, Ngô, ông nói: “Ngày nay, nước Ngô muốn xúi cho ta đánh nước Ngụy; nước Ngụy cũng muốn xúi ta đánh lại nước Ngô, cả hai đều rắp sẵn mưu kế, để hễ có kẽ hở là xen vào. Chúa thượng chỉ cần án binh bất động, và cũng phát tang đối với Quan công, đợi đến lúc nước Ngô nước Ngụy bất hòa, lựa thời mà đánh là chắc được”. Kế này của Khổng Minh vốn là thượng sách: “Nhìn từ cân bằng lực lượng giữa ba nước với nhau thì Tào Tháo là mạnh nhất. Bất kể nước nào trong hai nước Ngô Thục cũng không thể chống lại một cách riêng rẽ, chỉ có liên hợp lại mới có thể thắng nổi, nếu hai nước đối kháng nhau, thì chỉ là làm suy yếu nhau do vậy mà có lợi cho nước Ngụy, bởi vậy, Khổng Minh kiên quyết chủ trương không đánh nước Ngô. Tiếc rằng Lưu Bị không nghe, dấy quân đánh nước Ngô, mới dẫn đến cuộc thất bại ở Linh Lăng, kết quả người được lợi thực tế là nước Ngụy, như thế là Lưu Bị không trúng kế Ngô xui đánh Ngụy, thì lại mắc vào mưu Ngụy khích đánh Ngô.
5. THEO NGỤY CHỐNG THỤC: TÔN QUYỀN LẬP BIỂU XƯNG THẦN
Tào Tháo từng nói “Sinh từ đáng như Tôn Trọng Mưu”. Đủ thấy con người này đánh giá Tôn Quyền cao đến mức nào, mà Tào Tháo phải nói cũng là dạng biết người, Tôn Quyền quả thật là bậc anh hùng. Tài thao lược mưu mô của ông ta có thể xếp ngang hàng với Tào Tháo. Trận đánh úp Kinh Châu và sau đó là những trận quyết chiến với Lưu Bị là biểu hiện cụ thể nói lên điểm này một cách đầy đủ. Ông ta biết rằng Lưu Bị sẽ quyết không cam chịu sau khi Kinh Châu bị đánh úp và Quan Vũ bị giết, một trận ác chiến sắp sửa xảy ra. Để đối phó với tình thế nghiêm trọng này, ông ta đã tìm đủ mọi biện pháp cả về mặt quân sự lẫn ngoại giao, trong đó, việc “đánh ngoại giao” là xuất sắc nhất.Thằng nhãi ranh muốn ta ngồi trên lửa
Tào Tháo là kẻ mạnh nhất trong ba nước thời đó. Nước Ngô nếu xúi được cho nước Ngụy đánh nước Thục, nước Thục sẽ không còn sức đánh nước Ngô; nếu tranh thủ được sự ủng hộ của nước Ngụy, nước Ngô cũng sẽ không sợ nước Thục. Vì lẽ đó, Tôn Quyền nhẫn nhục xưng thần với nước Ngụy, để kẻ mạnh nhất này đứng về phía mình mà chống lại kẻ tương đối mạnh. Khi nước Thục còn chưa có hành động quân sự, Tôn Quyền đã dâng biểu xưng thần với Tào Tháo, nói rằng: “Thần là Tôn Quyền vốn đã biết từ lâu thiên mệnh đã về với chúa thượng, củi mong sớm yên đại vị, sai tướng quét diệt Lưu Bị, san bằng Lưỡng Xuyên, thần lập tức sẽ mang hết thuộc hạ, giao đất quy hàng”. Ý đồ của Tôn Quyền rất rõ ràng, đã xưng thần khuyên Tào Tháo “yên đại vị” để nhằm chinh phạt kẻ không chịu thần phục là Lưu Bị và mối nguy của nước Ngô cũng giải được. Nhưng Tào Tháo gian hùng đời nào lại mắc hợm Tôn Quyền, xem xong biểu bỗng cười lớn, đưa cho quần thần xem và nói: “Tên nhãi ranh này muốn ta ngồi trên lò lửa đấy”, ý muốn nói rằng nếu ông ta lên ngôi vua, mà lúc đó phái ủng hộ nhà Hán thì còn đang nhiều, tất nhiên sẽ bị họ chống lại, Tào Tháo rất hiểu dụng ý của Tôn Quyền, nên mới nói bảo ông ta xưng đế thì có khác gì đem đặt trên lò lửa mà nướng.
Tọa sơn quan hổ đấu
Kế xúi Tào Tháo đánh Thục không được thực hiện, Tôn Quyền lại sai Gia Cát Cần đến Thành Đô để câu hòa với Lưu Bị, và cũng bị từ chối. Lúc đó Tào Tháo đã chết, Tào Phi tranh quyền nhà Hán, Tôn Quyền lại cử sứ giả đi xưng thần với Tào Phi. Tào Phi mới phong Tôn Quyền làm Ngô Vương, lại ân thưởng cửu tích. Quan đại phu Lưu Hoa can rằng: “Nay Tôn Quyền sợ uy thế của quân Thục, nên đến xin hàng. Theo ngu ý của thần, Thục, Ngô đánh nhau thì sẽ mất thiên hạ, nay nếu điều thượng tướng đem vài vạn quân, vượt sông mà đánh úp, nước Thục đánh ngoài, nước Ngụy đánh từ bên trong nó, nước Ngô sẽ mất không quá một tuần. Nước Ngô mất thì nước Thục lẻ loi, bệ hạ làm gì mà không sớm lấy”. Tào Phi nói: “Tôn Quyền đã lấy lễ hàng phục Trẫm, nếu Trẫm đánh họ, thì sẽ gây ra điều ngăn trở cho những kẻ muốn ra hàng ở trong thiên hạ, thế nên chẳng thà thu nhận đi là hơn”. Rồi lại nói: “Trẫm chẳng giúp Ngô, cũng không ủng hộ Thục. Chờ đó để xem Ngô Thục đánh nhau, nếu một nước bị diệt, chỉ còn một nước, lúc đó ta mới trừ khử, thì có gì là khó”. Tào Phí đúng là theo kế tọa sơn quan hổ đấu, ở giữa mà kiếm lời.
**Tránh bị đánh từ hai phía – Lấy một chọi một
Từ thái độ khác nhau của Tào Tháo, Tào Phi trong việc Tôn Quyền lập biểu xưng thần, có thể thấy được rằng thế đứng của cha con ông ta thế nào: Tào Tháo với Tôn Quyền là chỗ bằng vai phải lứa. Còn Tào Phi thì không phải là địch thủ của Tôn Quyền. Tào Tháo không hề để ý đến việc Tôn Quyền xưng thần, nhưng Tào Phi lại phong hầu và ban thưởng để nổi thêm tiếng tăm của mình. Sách lược Thục Ngụy nội ngoại giáp công đánh nước Ngô của Lưu Hoa, hơn hẳn sách lược trung lập “Trẫm chẳng giúp Ngô, cũng không ủng hộ Thục” của Tào Phi. Lúc ấy, mâu thuẫn Thục Ngô đã đến mức không thể điều hòa, cuộc chiến tranh giữa Thục với Ngô là điều không tránh khỏi. Nếu như Tào Phi biết đem quân dàn ra ở biên giới nước Ngô để làm tăng thanh thế cho nước Thục, nước Ngô ở thế có tất sẽ khó chống đỡ, nhân lúc quân Ngô thua phải lui quân, lúc ấy mới mang quân đánh nước Ngô. Dưới sự giáp công từ hai bên của nước Ngụy, nước Thục, việc nước Ngô bị mất chỉ trông từng ngày. Nước Ngô mất rồi, còn một mình nước Thục, lại không phải tẩm đối thủ của nước Ngụy. Vậy mà Tào Phi không chịu làm theo kế của Lưu Hoa, chỉ ngồi đó mà xem thắng bại, không làm gì hơn, nên đã mất thời cơ tốt đẹp. Tôn Quyền tay không tranh thủ được việc làm mạnh nước Ngụy để giúp sức nước Ngô, nhưng đã làm cho nước Ngụy giữ thái độ trung lập, còn mình thì tập trung sức mạnh để chống lại nước Thục, tránh được mối hiểm họa hai mặt đều có địch, việc này có tác dụng quan trọng cho thắng lợi của trận Di Lăng sau này.
6. KHĂNG KHÍT RĂNG MÔI - THỤC NGÔ LIÊN MINH LẠI
Giữa nước này với nước kia, thường thường bang giao với nhau vì quyền lợi rồi lại đối địch với nhau cũng vì quyền lợi, xưa và nay đều như thế cả. Tào Tháo đánh xuống phía Nam, Lưu Bị, Tôn Quyền muốn giữ được mình tồn tại, nên đã liên minh chống Tào; cho đến khi giành được chiến thắng ở Xích Bích, vì muốn mưu lợi ích riêng cho mình, nước Ngô đã đánh úp Kinh Châu, quan hệ Thục Ngô xấu đi, nước Thục bèn đánh nước Ngô; Lưu Bị thua chạy về Bạch Đế, chẳng bao lâu lại ốm chết. Vì lợi ích chung lâu dài hai nước lại tuyên bố liên minh lần nữa, từ đó nước Thục nước Ngô liên tục sống dựa vào nhau, cùng chống nước Ngụy.Sự thực phũ phàng, khiến người tỉnh ngộ
Mối liên minh sau cùng của nước Thục nước Ngô là có cơ sở chung. Mâu thuẫn trước đây giữa hai nước Thục Ngô là vấn đề Kinh Châu, một đằng Thục thì muốn cố giữ, đằng kia là nước Ngô lại muốn đòi về, khi nước Ngô đã đánh được Kinh Châu rồi, đã thỏa mãn và đắc chí, đối với nước Thục đã không có đòi hỏi gì khác; còn Lưu Bị thì do Kinh Châu bị đánh úp, trong cơn giận dữ định trước hết đem quân diệt nước Ngô rồi sau mới đánh Ngụy. Nào ai ngờ một trận Bạch Đế, toàn quân hầu như tan rã, còn sót lại chiếc thân trốn về Bạch Đế, lúc ấy mới bắt đầu thấy ra rằng nước Ngô cũng khá mạnh, với thực lực trước mắt của mình, thì không thể diệt được Ngô, việc giành lại Kinh Châu đã trở nên vô vọng. Bởi vậy, đầu óc ông ta mới tỉnh táo ra, không thể không chịu thua trước những sự thực phũ phàng. Trước đó giữa nước Thục và nước Ngô có mặt giống nhau có mặt khác nhau; khác nhau là ở thái độ giải quyết vấn đề Kinh Châu; giống nhau là lợi ích chung trong việc chống lại Tào Ngụy, lúc đó không còn nghi ngờ gì là chỉ có sự giống nhau và lợi ích chung với nhau, khiến Thục Ngô lại liên minh lần nữa. Và cũng chỉ có thể thế, bởi vì khí nước Thục nước Ngụy cùng đứng về một phía, và nước Ngô hàng nước Ngụy là sự quyển biến nhất thời. Mâu thuẩn của nó với nước Ngụy cũng không thể xoa dịu được. Mục đích sau cùng của nước Ngụy vẫn là âm mưu diệt hai nước Thục, Ngô. Nhưng hai nước Thục Ngô chẳng có bất kể nước nào đáng là địch thủ của nước Ngụy, chỉ có liên kết lại, mới có thể tránh được bị Tào Ngụy thanh toán từng nước một. Quan hệ khăng khít răng môi này là do tình thế khách quan gây nên.
Ngô Thục tái đồng minh. Ba nước riêng từng cõi
Thế nhưng việc lên tiếng đồng minh lại của hai nước Ngô Thục ở thời kỳ cuối, còn nhờ có sự cố gắng nhiều mặt của Khổng Minh. Lúc đầu thái độ của nước Ngô rất hững lờ, vừa không công khai đối kháng với nước Thục, mà cũng không dám công khai làm mất lòng nước Ngụy. Như việc Tào Phi đem bốn lộ quân đi lấy Tứ Xuyên, hứa rằng nếu được đất Thục, mỗi bên được chia một nửa, khiến cho Đông Ngô cũng đem quân đến tiếp ứng; Tôn Quyền và Lục Tốn thương lượng với nhau, quyết định vờ hưởng ứng và ra quân chậm trễ, để xem Ngụy, Thục ai thắng ai thua rồi mới liệu hướng đi. Nếu bốn lộ quân thắng, Xuyên Trung sẽ nguy kịch, Gia Cát Lượng không cứu được cả đầu lẫn đuôi, thế nào cũng đem quân ứng phó, để lấy Thành Đô trước. Nếu bốn lộ quân đó thua, thì sẽ bàn sang hướng khác. Khổng Minh cũng đã đoán được rằng Tôn Quyền sẽ không vội vã ra quân ngay, cho nên sau khi đánh lui bốn lộ quân, bèn tìm cách đưa Đặng Chi vào nước Ngô để nói với Tôn Quyền những điều lợi hại, cuối cùng làm cho Tôn Quyền tuyệt giao với Ngụy, hoà hảo với Thục; Nước Ngô cũng cử Trương Ôn đi sứ sang Thục, hai bên nêu lại mối liên minh cũ. Đương nhiên, quan hệ giữa hai nước Ngô, Thục, là thứ quan hệ lợi dụng lẫn nhau, mỗi bên đều có sự tính toán cho riêng mình. Như sau khi Tôn Quyền xưng đế, cử sứ giả vào Tứ Xuyên để tỏ ý muốn liên minh, và hẹn sẽ chia đôi thiên hạ cho nhau. Mọi người đều sợ rằng Tôn Quyền thoán nghịch, đừng nên liên minh nữa thì hơn. Hậu chúa lại cử sứ thần đến Hán Trung để hỏi Khổng Minh. Khổng Minh nói: “Có thể cho người mang lễ sang nước Ngô chúc mừng, lại xin cử Lục Tốn mang quân đi đánh Ngụy. Nước Ngụy tất sẽ lệnh Tư Mã Ý ra chống lại. Nếu Tư Mã Ý phải chống quân Ngô ở phía nam, ta lại ra khỏi Kỳ Sơn, là có thể lấy được Tràng An”. Ngay sau đó, bèn cử sứ thần đem lễ vật sang Đông Ngô chúc mừng Tôn Quyền và trình quốc thư, hẹn nước Ngô cũng đem quân đánh Ngụy. Tôn Quyền bàn với Lục Tốn, Lục Tốn nói: “Đây là mưu Khổng Minh sợ Tư Mã Ý. Còn như việc đồng minh, ta không thể không nhận theo ý họ. Nay có thể vừa làm ra vẻ đang dấy binh, phao tin rằng sẽ tiếp ứng cho Tây Thục. Đợi cho Khổng minh đánh Nguy đến mức kịch liệt, ta có thể nhân thấy trống trải mà lấy Trung Nguyên”.
Tuy liên minh giữa Thục Ngô là có mức độ, nhưng hai bên cũng có hô có ứng, cùng kiềm chế Tào Ngụy, khiến Tào Ngụy không dám khinh suất đem quân đi xâm phạm bất cứ nước nào. Ba nước Ngụy Thục Ngô đứng riêng bờ cõi, tồn tại được hàng nửa thế kỷ, phải nói rằng liên minh Ngô Thục chống Tào Nguỵ là một nhân tố quan trọng.