Rễ cây rễ cỏ cắm được sâu thì gốc mới vững, mới chịu được sự vùi dập của gió bão mà đứng vững uy nghi. Cuối đời Đông Hán, tranh giành Trung Nguyên có mười tám nước chư hầu. Sau phần lớn đều bị tiêu diệt, chỉ còn ba nước đứng vững, nguyên nhân chung của nó là: Khéo làm vững gốc. Ngày nay những người tham gia vào cuộc chiến thương mại, vay mượn kinh nghiệm làm vững gốc trong Tam quốc sẽ có nhiều điều bổ ích. Hãy thử bàn về ba mặt dưới đây:
Ba nước Ngụy, Thục, Ngô có thể đứng vững được non nửa thế kỷ chính vì gốc nó vững. Những ngày đầu khởi sự, Tào Tháo chỉ có một Duyện Châu, ông ta đã tiếp nhận sách lược “rễ sâu gốc vững” của Tuân Úc, trước hết củng cố Duyện Châu, lấy đó làm căn cứ địa, chiêu hiền đãi sĩ, huấn luyện binh mã, chờ thời cơ lần lượt tiêu diệt thế lực đổi địch, rồi sau mới xưng hùng được ở phía bắc. Lưu Bị thì thu nhận “Long Trung Sách của Gia Cát Lượng, lấy Ích Châu là căn cứ địa, mới có thể chống cự được với Tào, Ngô. Tôn Quyền cũng yên bên trong trước rồi mới chống bên ngoài, khiến cho Đông Ngô nước vững dân yên.
Trong lịch sử chiến tranh cổ đại ở Trung Quốc, nói chung lại, phàm thể lực nào “rễ sâu gốc vững” đều có thể ở thế không chịu thua, nếu không thường thường vừa bị địch đánh là đã thua liểng xiểng. Sự hưng thịnh của triều Đông Tây Hán, điều mấu chốt là đã có thể “rễ sáu gốc vùng để trì thiên hạ”. Bởi vì “Cao Tổ giữ Quan Trung, Quang Vũ chiếm Hà Nôi, cho nên có thể “tiên thì đủ để thắng địch, thoái đủ để cố thủ”, tuy nhiều lần thua, nhưng về sau lại đủ sức, có thể vươn dậy được từ đầu, kiên trì được cuộc chiên tranh đến thắng lợi cuối cùng. Minh thái tổ Chu Nguyên Chương lấy đó làm phép tắc, trước hày “rễ sâu gốc vững”, tức là “vây tường cao, tích lương nhiều, chậm xưng vương”, dẹp được phía Nam sau khi đứng vững đôi chân rồi mới tung quân lên mạn Bắc, đánh vào Bắc Kinh với thế chẻ tre, mở đầu cho Vương triều nhà Minh. Thế nhưng Hoàng Sào của nhà Đường, Lý Tự Thành của nhà Mình v.v.. tuy có trong tay cả triệu quân, trước sau cũng đánh bại được vương triều nhà Dường, nhà Mình, nhưng vì không có “rẻ sâu gốc vững”, tức là không xây dựng được căn cứ địa vững chắc, khi kẻ địch liên hợp được với thế lực bên ngoài để phản công, hễ gặp thất bại là không trở mình gượng dậy được nữa. Đủ thấy “rễ sâu gốc vừng” đúng là sách lược rất hay để tranh thiên hạ.
Vấn đề cần bàn sâu hơn là hàm ý của cái “gốc” nói đây là cái gì, làm thế nào để cho “gốc vững”. Điều này có thể từ tình hình khác nhau ở hai thời kỳ trước, sau của hai nước Thục, Ngô, tìm được ra câu trả lời. Ở thời kỳ trước, tức là khoảng thời gian Lưu Bị, Khổng Minh lần lượt trị vì nước Thục và Tôn Quyền thống trị nước Ngô, bởi vì họ đều là những nhà thống trị lỗi lạc, giỏi dùng người, đoàn kết được mọi người, cho nên có thể tụ tập được đông đảo nhân tài, giúp sức, hiến trí cho họ. Những chính sách họ vạch ra có thể phản ánh đúng đắn tình hình khách quan, phù hợp nguyện vọng của nhân dân, lòng người hướng theo. Thêm vào đó nước Thục núi non hiểm trở, có nhiều quan ải ở dạng “một người giữ ải, vạn người khó qua”, cũng như nước Ngô có thành lũy thiên nhiên là Trường Giang hung dữ, cho nên nước Thục nước Ngô trở thành một thứ lò cốt phá không vỡ. Thế nhưng đến thời kỳ sau, núi non sông nước hiểm trở vẫn là như thế nhưng kẻ nắm quyền, nước Thục là tên chúa đản Lưu Thiền, nước Ngô là tên hôn quân Tôn Hạo, đến gần bọn tiểu nhân xa lánh kẻ hiền tài, có người giỏi mà không biết dùng bởi thế mà lòng người ly tán, núi cao, sông hiểm mà không có người coi giữ, thế hiểm trở nên đường quang, địch chỉ bước là qua. Căn cứ vào đó có thể rút ra kết luận, hàm ý của cái “gốc” đang nói ở đây có ba mặt, tức là nhân tài, nhân tâm và căn cứ địa. Căn cứ địa tuy là một trong những hàm ý quan trọng của “gốc”, nhưng không phải là nhân tố quyết định, mà nhân tố quyết định là lòng người hướng theo, mà lòng người hướng theo là đông đảo những nhân tài lỗi lạc, tức là có đủ loại người tài để cai quân đất nước. Lưu Bị, Khổng Minh, Tôn Quyền vì bản thân họ đã là những anh tài, cho nên có thể tổ chức được các loại nhân tài lại, trở thành một tập thể nhân tài lỗi lạc, trị nước, trị quân có hẳn một phương lược đúng đắn, mới được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân, làm cho hai nước Thục, Ngô ở thời kỳ trước vững như áu vàng. Người ta thường nói: “được nhân tâm thì được thiên hạ”, mà được nhân tâm trước tất sẽ được nhân tài, được nhân tài mới có thể được nhân tâm, cho nên nói “người nào được nhân tài thì được thiên hạ” cũng thế. Bởi vậy có thể nói là gốc trong cái “gốc”. Muốn cho gốc vững, nhân tài quan trọng bậc nhất.
Giành thiên hạ cần trước hết có gốc vững, những cạnh tranh khác trong quan hệ giao tiếp giữa con người cũng cần có gốc vững như thế. Bởi vì cạnh tranh là phải quyết thắng bại, mà trong cuộc cạnh tranh kịch liệt như thế gốc không vững thì người ta mới đụng vào đã đổ. Cuộc chiến trong thương mại ngày nay cũng thế. Cái gốc của cuộc đọ sức này do bốn mặt: nhân tài, khoa học, kỹ thuật quản lý giáo dục... tạo nên. Muốn cho gốc vững, phải bắt tay từ bốn mặt này: Phải có những nhân tài số một chủ quản về khoa học kỹ thuật và về quản lý. Nếu không, sẽ không thể hình thành một tập thể nhân tài lỗi lạc, sẽ khó giành được thắng lợi trong cuộc chiến thương mại trên thị trường thế giới. Bởi vì không có nhân tài hàng đầu về chủ quản, sẽ không thể vạch ra những quyết sách sáng suốt, chỉ huy cuộc chiến được chính xác. Không có nhân tài khoa học kỹ thuật hàng đầu, sẽ không sản xuất ra được những sản phẩm mũi nhọn vừa tốt vừa rẻ để đè bẹp đối thủ cạnh tranh. Không có nhân tài quản lý hàng đầu thì sẽ không quản lý, tiêu thụ sản phẩm được tốt hơn, chiếm lĩnh thị trường được nhiều hơn. Có thể bồi dưỡng được đông đảo những nhân tài hàng đầu các loại như thế hay không, là quyết định ở công việc giáo dục ra sao, mà muốn làm tốt việc giáo dục cũng lại cần có nhân tài về giáo dục. Không có nhân tài hàng đầu về giáo dục thì không thể đào tạo, bồi dưỡng ra đông đảo nhân tài hàng đầu về các loại như thế được. Hiển nhiên, gốc trong cái gốc của cuộc chiến trong thương mại cũng là nhân tài, nhân tài quyết định hết thảy. Dưới đây chúng ta sẽ bàn sâu về bốn mặt này.
Nhân tài là then chốt
Thương chiến, bề ngoài là cuộc tranh đua cái đẹp của hàng hóa, thực chất là sự đọ sức về trí tuệ, từ khâu chế tạo sản phẩm đến kinh doanh và ngay cả chiếm lĩnh thị trường... Chẳng có khâu nào là không cần đến sự kết tinh của trí tuệ, cùng tức là kết quả vận dụng trí tuệ của các nhân tài về chủ quan, về khoa học kỹ thuật, về quản lý v.v..., bởi vậy cũng có thể nói thương chiến là cuộc chiến giữa các nhân tài.
Tuy rằng các loại nhân tài trong tập thể những nhân tài tham gia thương chiến này đều không thể thiếu được, người nào cũng có tác dụng riêng của mình, nhưng thắng bại trong thương chiến thường thường quyết định ở quyết sách của người chủ quản có chính xác hay không. Họ có những điểm giống như tướng soái cần quân tác chiến. Khổng Minh, Tào Tháo, Chu Du v.v... có thể thắng nhiều trận, bởi vì họ lám mưu lại giỏi đoán, kịp thời đưa ra được những quyết sách chiến lược đúng đắn. Người chủ quản tham gia thương chiến cũng cần có thứ bản lĩnh ấy, mới giành được thắng lợi. Có nhiều thí dụ thành công hoặc thất bại trong thương chiến đều nói lên tác dụng then chốt của người chủ quản tạo nên trong thương chiến. Ngay như trong cùng một xí nghiệp, với cùng một loại sản phẩm, do một người chủ quân bất tài kinh doanh thì gần kề mức phá sản; đổi bằng một người chủ quán sáng suốt, đã có thể từ chỗ ế hàng sang đất hàng việc buôn bán phát đạt hẳn lên. Nhà sáng nghiệp nước Mỹ James đã làm cho công ty Réminton gần như phá sản sống lại được từ cõi chết, là một thí dụ điển hình. Khi mua lại công ty này, là trước đó James đã điều tra nghiên cứu rất kỹ lưỡng, phát hiện ra dao cạo râu chạy điện của công ty này là khá nhất so với các sản phẩm cùng loại lúc bấy giờ, tiêu thụ không tốt là do nhân viên quản lý không giỏi về kinh doanh, không hiểu cách bán dao cạo râu như thế nào, cho nên tuy có dao cao râu chạy điện thật tốt, cạnh tranh không nổi với loại dao cạo râu chưa hàn đứng hàng đầu của các hãng khác, để cho họ lũng đoạn thị trường mặt hàng này. Thế là, ngay như công ty này bị lỗ tới ba mươi triệu đô la, James cũng hạ quyết tâm đi vay nợ mua lại công ty này với giá hai mươi lăm triệu đô la. Cùng một lúc với việc cải cách chỉnh đốn những mát tồi tệ tồn tại trước đây của công ty Rêmintơn cũng như xây dựng lòng tin cho toàn thể cán bộ công nhân viên, tìm mọi cách hạ giá thành sản phẩm của dao cạo điện. Người chủ quản trước đây của công ty này cho rằng trong thị trường có hạn của sản phẩm này, chỉ có nâng giá hàng mới có thể nâng mức doanh thu lên cao nhất. James cho rằng tư tưởng tiêu thụ đó là sai lầm, ông bèn cho dừng loại dao cạo râu giá 34,95 đô la lại, đưa ra loại dao cạo râu ba đầu vừa hợp túi tiền vừa dễ sử dụng với giá chỉ có 19,95 đô la. Loại sản phẩm mới này vừa tiêu thụ thử, lập tức gây nên sự xôn xao trong thị trường dao cạo râu. Tiếp sau đó, ông mở rộng hành lang tiêu thụ ở nhiều nơi trên thế giới, rồi tự lên đài truyền hình, quảng cáo rầm rộ làm cho dao cạo râu ba đầu của công ty Rêmintơn nổi tiếng toàn cầu và khiến cho nguồn tài chính của công ty cũng tăng lên rõ rệt. Biện pháp mà James làm cho công ty này sống lại được chẳng qua là: Sáng tạo ra mặt hàng mới của đẹp giá rẻ, tổ chức được một tập thể con người phấn đấu không mệt mỏi, tiến hành hoạt động quảng cáo và tiêu thụ thật tốt đẹp. Nhưng tác phong mạnh dạn và tỉ mỉ của James là vấn đề mấu chốt để giành thắng lợi. James đã mạnh dạn giám mua lại một công ty đang sắp phá sản, mắc nợ tới 30 triệu đô la như thế, là trên cơ sở ông đã nắm được toàn bộ tình hình của công ty này, đặc biệt là ông đã phát hiện thấy dao cạo râu chạy điện của công ty này khá nhất, và cho rằng qua việc cải tiến về sản phẩm và cách tiêu thụ, thì tiền đồ phát triển rất là bao la. Thế nhưng nếu James chỉ là một người nhút nhát chỉ biết thận trọng từng ly từng tí một, thì không dám mạo hiểm tới mức liều lĩnh như vậy được.
Người Nhật Bản trong thương chiến luôn giành được thắng lợi, tạo nên hết kỳ tích này đến kỳ tích khác cũng chính vì Nhật Bản có đồng đảo những nhà doanh nghiệp kỳ tài. Hãng Honda nổi tiếng về chế tạo xe gắn máy nhanh nhất. Năm 1953 ông chủ hãng Honda đi xem cuộc đua xe gắn máy TT ở Anh, nhìn thấy loại xe gắn máy 250 cc, 35 mã lực, mà lúc đó hãng Honda sản xuất ra xe 250 cc mới chỉ có 13 mã lực, nếu đem so sánh về tốc độ thì lạc hậu rất nhiều. Lúc đó ông vừa cảm thấy kinh ngạc, vừa thấy tủi nhục vì lạc hậu. Về đến Nhật Bản, ông lập tức thành lập và tự lãnh đạo một bộ phận nghiên cứu, đã nghiên cứu và chế tạo ra loại xe máy còn nhanh hơn xe cùng loại của nước Anh, qua sự cố gắng liên tục, ông đã thành công. Xe máy của hãng Honda chế tạo đem dự thi được hết giải quán quân này đến giải quán quân khác, cho nên tiếng tăm lừng lẫy, thị trường tiêu thụ cũng mở rộng. Với thời gian chưa đầy mười năm, hãng Honda đã vươn dậy thành một đơn vị sản xuất xe gắn máy lớn nhất trên thế giới. Yêu nước, giám nghĩ, giám làm, đó là cá tính của ông chủ hãng xe máy Honda, vừa biết rằng xe máy chế tạo ra có tốc độ lạc hậu hơn so với của nước Anh, lòng yêu nước nồng nàn và ý nguyện sáng tạo trong ông đã được khơi dậy mạnh mẽ, thế là lăn vào làm với một dũng khí bất chấp mọi sự, cuối cùng đã đạt được mục đích. Lúc ấy, xe máy do Nhật Bản sản xuất ra, về tốc độ, so với của nước Anh có một khoảng cách xa như thế, ông chủ hãng Honda không có một dũng khí bất chấp mọi sự như thế thì không dám đứng ra thách thức với nước Anh. Những nhà doanh nghiệp cự phách khác của nước Nhật cũng chính vì có tinh thần yêu nước giám nghĩ, giám làm, giám thách thức với ngành cơ khí chế tạo, ngành đóng tàu, ngành xe hơi, ngành điện, ngành xây dựng v.v... trên thế giới, do người Nhật Bản vừa có dũng khí bất chấp mọi chuyện, lại vừa có đầu óc khoa học, sáng tạo, và họ đã thắng.
Có nhiều nhà doanh nghiệp gốc Hoa có danh tiếng trên trường quốc tế thì lại bằng tài trí và dũng khí của mình, đương đầu với thế giới ở các nước, với hai bàn tay trắng, đi từ không đến có, từ nhỏ đến lớn cho tới mức giàu nhất nhì thiên hạ. Tổng giám đốc công ty máy tính điện tử Vương Gia Liêm là một nhà doanh nghiệp như thế. Công ty máy tính điện tử mà ông chủ trì đã đứng vị trí dẫn đầu thế giới về mặt số lượng tiêu thụ máy tính điện tử cá nhân; mức doanh tiêu hàng năm đã vượt quá một tỷ đô la. Đầu năm 1970. Vương gia Liêm đã dự đoán được thị trường tiêu thụ phần mềm của máy tính điện tử có một tiềm lực lớn lao vô cùng, ông đã đề nghị với ngành phục vụ về máy vi tính của Mỹ tại nơi đó hợp tác với một công ty máy vi tính của Thụy Sĩ, thành lập chi nhánh của công ty ở Mỹ đưa ra tiêu thụ chi tiết phần mềm do mình thiết kế ra. Nhưng đề nghị đó của ông không được ông chủ ủng hộ. Thế là ông bỏ cơ sở này, tự mình hợp tác kinh doanh với công ty Thụy Sĩ đó. Chi tiết phần mềm CA-SORFT rất được hoan nghênh, tiêu thụ rất tốt. Sau này, ông dùng số tiền lãi thu được từ năm 1976 đến 1980 mua lại toàn bộ quyền cổ phần, kinh doanh độc lập. Năm 1985 ông dùng 25 triệu đô la mua dứt hãng CGA, bởi vì ông đã thấy hãng này sản xuất một chương trình bộ nhớ an toàn gọi là “cơ mật tối cao”. Các hãng máy vi tính khác đều chê cười ông rằng mua với giá đó là đắt quá, nhưng mới chỉ một năm bán ra sản phẩm này, ông đã thu lời 36 triệu đô la. Vương Gia Liêm đã dựa vào tài năng buôn bán hơn người như thế, không ngừng mua vào và khai thác thêm sản phẩm mới, đồng thời thiết lập mạng lưới tiêu thụ và phục vụ sản phẩm phần mềm hiệu suất cao, làm cho hãng vi tính trưởng thành nhanh chóng, tạo nên một vương quốc doanh nghiệp lớn lao và nguồn của cải lớn kinh người.
Người sáng lập ra tập đoàn doanh nghiệp Chí Chính ở Singapo là Tạ Kiệt Lập, được người ta gọi là “ông chủ của các ông chủ lớn”, đã phát tài bằng nghề mạnh dạn mua lại các xí nghiệp phá sản. Công ty MPH là một công ty xuất bản cỡ bự, do kinh doanh đình đốn, cho đến những năm 70 đã gần như phá sản. Năm 1972, Tạ Kiệt Lập với tầm nhìn độc đáo đã mua lại công ty này, với sự suy nghĩ và kinh doanh của ông, không lâu sau, chính công ty sắp sửa bị phá sản này đã được cải tử hoàn sinh như một kỳ tích, đến bây giờ đã trở thành một doanh nghiệp lớn rất có danh vọng. Tiếp sau đó, ông lại đi mua những xí nghiệp đang có nguy cơ sập tiệm, như trong vòng một tuần sau khi mua lại công ty MPH kể trên, ông đã mua lại ba doanh nghiệp khác, sau khi kinh doanh một thời gian, đã chuyển từ lỗ sang có lãi. Tạ Kiệt Lập giỏi kinh doanh, lại dùng cảm khai phá như thế, chỉ trong vòng ba mươi mấy năm, phạm vi nghiệp vụ đã từ kinh doanh thuốc men, tạp phẩm, dán dán mở rộng sang các lĩnh vực như xuất bản, du lịch, khách sạn, vui chơi giải trí, nhà đất, xây dựng, chế tạo cơ khí, chế biến gỗ v.v... trở thành một tập đoàn siêu quốc gia cỡ bự.
Khoa học kỹ thuật là chủ lực
Cuộc thương chiến trong thời đại hiện nay, tuy nhiên lấy thương trường làm chiến trường, thực ra là tiến hành trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật. Sự thắng bại trong cuộc đọ sức này quyết định bởi lực lượng khoa học kỹ thuật thế nào, cho nên khoa học kỹ thuật trở thành quân chủ lực trong thương chiến.
Cuộc cách mạng kỹ thuật lần thứ tư của thế giới nổ ra, làm cho kết cấu kinh tế ngày càng có xu hướng phát triển theo phần mềm, tín hiệu và trình độ cao, sự cấu thành thành phần sản phẩm hàng hoá đã khác xưa rất nhiều. Nhà quản lý học có tiếng trên thế giới Peter Duculer trong tác phẩm “Hiện thực mới” của mình đã chỉ ra rằng: “Trong sản xuất công nghiệp, tỷ trọng về nguyên vật liệu và nhân công ngày càng giảm đi. Trong giá thành sản xuất ô tô là loại sản phẩm công nghiệp tiêu biểu của những năm 20, 60% là vật liệu và năng lượng; nhưng giá thành sản xuất mạng bán dẫn là công nghiệp tiêu biểu của những năm 80, nguyên liệu và năng lượng chỉ chiếm có 2%, còn ngành tin học thì hầu như không bao gồm bất kể thành phần nào về vật liệu và năng lượng theo truyền thống mà hoàn toàn là những sản nghiệp kiểu tập trung tri thức”. Điều đó nói lên rằng tác dụng quyết định của khoa học kỹ thuật đối với sức sản xuất ngày càng rõ rệt, có thể giành phần thắng trong lĩnh vực kỹ thuật cao hay không sẽ quyết định sự hưng thịnh hay suy vong của một đất nước. Bởi vậy, bất kể là ở các nước Âu Mỹ ngay từ khi còn tương đối sớm đã lấy “khoa học kỹ thuật để dựng nước”, hoặc là những nước mới trỗi dậy nêu ra “lấy khoa học kỹ thuật” dựng nước... đều đang mang hết toàn lực ra phát triển kỹ thuật cao; trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật cao chạy đua với nhau, cuộc cạnh tranh ngày càng phức tạp và kịch liệt. Để quyết một phen thắng bại với Nhật, Mỹ trong lĩnh vực kỹ thuật cao, chính phủ các nước châu Âu vì vậy đầu tư vào đó hàng tỷ đô la, liên kết với nhau cùng nghiên cứu. Nước Mỹ cũng cùng các nước thị trường chung châu Âu thiết lập một số liên minh kỹ thuật cao để đối phó với sự khiêu khích của Nhật Bản. Gần đây hãng Mitsubishi đã tăng cường hợp tác với hãng Bon của Đức, mũi nhọn của nó chĩa vào nước Mỹ. Cuộc cạnh tranh trong lĩnh vực kỹ thuật cao giữa các nước phát triển ở phương Tây đã không từ một thủ đoạn nào, mức độ kịch liệt của nó đã đến trình độ cao nhất.
Hiện nay, các nước và khu vực bất kể là nghiên cứu khoa học hay cạnh tranh, mục tiêu chung của nó là nhằm trúng thị trường. Kinh phí nghiên cứu khoa học kỹ thuật của các nước trên thế giới, chủ yếu dùng cho nghiên cứu ứng dụng hoặc nghiên cứu thực nghiệm, kinh phí nghiên cứu cơ sở chiếm tỷ lệ nhỏ nhất. Vào những năm 80, những nước phát triển như nước Mỹ kinh phí dùng cho nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu thực nghiệm chiếm 87,5% tổng số kinh phí nghiên cứu khoa học, nghiên cứu cơ sở chỉ chiếm có 12,5%; ở Nhật Bản, kinh phí dùng cho nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu thực nghiệm, chiếm 85,9%, nghiên cứu cơ sở chỉ chiếm 14,1%.
Các nước công nghiệp và khu vực mới trỗi dậy bắt đầu hình thành một xu thế giống như thế. Năm 1984, kinh phí dùng cho nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu thực nghiệm chiếm 96,6% của tổng số kinh phí nghiên cứu. Ở Hàn Quốc kinh phí dùng cho nghiên cứu thực nghiệm và nghiên cứu ứng dụng chiếm 76% tổng số kinh phí nghiên cứu khoa học. Các nước trên thế giới coi trọng nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu thực nghiệm, đều là vì khai thác ra sản phẩm mới để giành được thị trường. Sự thực quả đúng là như vậy. Tháng 8 năm 1948 “Trung tâm khai phát ứng dụng nghiên cứu khoa học của nước Anh thành lập. Nhiệm vụ của nó là phân tích cơ hội thị trường, xác lập các khoa mục. đề tài nghiên cứu, thúc đẩy việc khám phá nghiên cứu, tăng nhanh sự chuyển hóa các thành quả, giải quyết thị trường cho các thành quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật. Kế hoạch phát triển kỹ thuật cao của Hàn Quốc coi sự nghiên cứu khám phá ngành vi điện tử và hoá chất tinh vì vốn có triển vọng tốt về thị trường và hiệu quả cao là một phương hướng ưu tiên. Do tình hình hoà hoàn của cục diện thế giới, việc chạy đua vũ trang của một số nước cùng một lúc tiếp tục tiến hành trong lĩnh vực kỹ thuật cao, bên cạnh đó cũng chuyển dịch một bộ phận thành quả sang thành hàng hoá. Như thành quả kỹ thuật trong kế hoạch “chiến tranh giữa các vì sao” của Mỹ đã bắt đầu mở rộng sang công nghiệp dẫn dụng. Tháng 10 năm 1987 công bố hệ thống tư vấn của kho số liệu căn cứ về kỹ thuật, ở một chừng mực nhất định, đã mở rộng cho hơn hai trăm hạng mục kỹ thuật nêu ra việc phục vụ có bồi thường. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp ở Mỹ đã coi kế hoạch “chiến tranh giữa các vì sao” là tương lai của họ không tiếc tiền của công sức đầu tư vào thí nghiệm các hạng mục nghiên cứu khoa học kỹ thuật của kế hoạch “chiến tranh giữa các vì sao”, muốn lợi dụng thành quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật, chế tạo ra những sản phẩm mũi nhọn, chiếm lĩnh thị trường, cuộc cạnh tranh trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật cao giữa các nước, mục đích của nó cũng là thị trường. Công ty Mitsubishi và Bon tăng cường hợp tác với nhau cũng là vì muốn phát triển thêm kỹ thuật thiết bị hàng không và vũ trụ, mục đích của nó là ở chỗ đối phó với cục diện sản phẩm của các công ty Mỹ như Công ty máy móc dùng trong thương nghiệp quốc tế, công ty thiết bị số v.v... chiếm vị trí thống trị. Nhưng mũi nhọn của nó cũng còn chĩa vào nước Nhật. Kế hoạch I-u-h-ka bắt đầu chấp hành từ năm 1985 đã trở thành chính sách công nghiệp đặc biệt cạnh tranh với Nhật Bản về mặt kỹ thuật cao.
Hiện nay, các nước phát triển cũng như các nước và khu vực công nghiệp mới trỗi dậy đều mang hết sức mình phát triển kỹ thuật cao, khai thác sản phẩm mới để chiếm lĩnh thị trường. Cộng hoà liên bang Đức áp dụng hàng loạt biện pháp như tăng cường đầu tư, sử dụng những kỹ thuật tiên tiến nhất, năng cao năng suất lao động v.v... bảo đảm làm ra và xuất khẩu được mặt hàng” quả đấm”. Họ đã quyết định trước hết gia tăng phát triển ngành cơ khí, luyện kim, điện, hoá chất và công nghiệp xe hơi, doanh số xuất khẩu hàng hoá của 5 ngành công nghiệp này đã chiếm khoảng 71% tổng số xuất khẩu của cộng hoà liên bang Đức. “Bốn con rồng” có thể vươn lên để phát triển được trong cuộc cạnh tranh kịch liệt này, cũng hết sức coi trọng phát triển kỹ thuật cao. Vườn khoa học Tân Trúc Đài Loan, giá trị các mặt hàng như máy vi tính cấp cao, vật liệu điện tử, vật liệu siêu dẫn, máy đo chính xác v.v... sản xuất năm 1987 đã đạt tới con số 850 triệu đô la Mỹ, trong đó có tới 70% sản phẩm là xuất khẩu. Hàn Quốc cũng bỏ ra 50% tổng giá trị sản xuất quốc dân dùng để đầu tư cho khoa học kỹ thuật cao, có kế hoạch vào thế kỷ 21 sẽ đứng trong hàng ngũ 10 nước đứng đầu thế giới về khoa học kỹ thuật cao. Singapo và Hồng Kông cũng đang vạch ra kế hoạch mới để đầu tư mở rộng ngành khoa học kỹ thuật cao để chiếm lĩnh được nhiều hơn thị trường thế giới.
Muốn phát triển khoa học kỹ thuật cao mà không có nhân tài khoa học kỹ thuật cao thì không ổn, bởi vậy việc tranh giành các nhân tài khoa học kỹ thuật cao ở các nước rất kịch liệt. Một khi người ta nhân thức ra được rằng sự hưng thịnh hay suy thoái của một đất nước quyết định bởi việc phát triển khoa học kỹ thuật cao như thế nào, thì mới lo lắng áy náy cho việc thiếu vắng những nhân tài khoa học kỹ thuật cao. Ngay như một nước có ngành khoa học kỹ thuật cao chiếm địa vị đứng đầu như nước Mỹ, cũng đang đứng trước nguy cơ thiếu nhân tài khoa học kỹ thuật cao. Chủ tịch hội xúc tiến khoa học kỹ thuật tiên tiến toàn nước Mỹ gần đây trong một hội nghị hàng năm của hội này đã chỉ ra rằng: Trong 16 năm, từ 1995 đến 2010, nước Mỹ tổng cộng sẽ thiếu 150000 nhân tài khoa học kỹ thuật ở bậc tiến sĩ khoa học “điều đó sẽ có ảnh hưởng bất lợi cho năng lực cạnh tranh của nước Mỹ”. Ông này còn nhấn mạnh: Các ngành các giới trong nước Mỹ phải nhanh chóng áp dụng những hành động thực tế, gia tăng đầu tư cho việc bồi dưỡng nhân tài khoa học kỹ thuật, bởi vì việc này sẽ “vô cùng quan trọng” đối với “sinh mang của nước Mỹ ở thế kỷ sau. Ở nước Anh, tình trạng thiếu các nhân tài cao cấp về khoa học kỹ thuật còn trầm trọng hơn. Hội nghị các nhân tài khoa học họp tại Luân Đôn cách đây không lâu đã dự đoán rằng những năm 90 ở nước Anh sẽ xảy ra cuộc khủng hoảng khoa học. Thí dụ hội khoa học Hoàng gia nước Anh vốn có tiếng tăm trên thế giới, đã có tới 250 hội viên làm việc tại nước Mỹ; cho đến nay, đã có hàng ngàn thiết kế sư và công trình sư cao cấp ngành du hành vũ trụ nước Anh được mời sang nước Mỹ làm việc, lại còn một số khá đông tràn sang liên bang Đức, Thụy Sĩ v.v... Vì thế, các nước Anh, Mỹ v.v...dang bằng nhiều biện pháp để bù đắp sự thiếu thốn nhân tài. Mấy năm gần đây, nước Mỹ gia tăng tiếp nhận “di dân trí thức”; nước Anh và các nước tham gia khối thị trường chung châu Âu, muốn để phòng nạn “chảy máu xám” ra nước ngoài, đã liên doanh đầu tư 160 triệu đơn vị tiền tệ hàng hoá châu Âu để xây dựng cơ sở nghiên cứu cho cộng đồng với quy mô lớn thu hút các nhân viên khoa học – kỹ thuật châu Âu vào tham gia nghiên cứu: Việc tranh giành nhân tài khoa học kỹ thuật cao đã trở nên công việc cấp bách của các nước phát triển.
Quản lý là nền tảng
Quản lý xí nghiệp, nói chung gồm có hai mặt: một là tổ chức, quản lý sức sản xuất và tiêu thu sản phẩm; hai là điều hoà, quản lý quan hệ giữa con người với con người trong hoạt động kinh tế của xí nghiệp. Mặt thứ nhất là quản lý vật chất, mật thứ hai là quân con người. Mà trong hai mặt này thì quản con người là quan trọng nhất, bởi vì quản lý vật chất thế nào, suy cho cùng cũng quyết định bởi quản lý con người thế nào. Mà muốn làm tốt công tác quản lý, thì phải cần có nhân tài quản lý các loại khác nhau và người chủ quản cần biết phát huy tác dụng của họ. Quản lý xí nghiệp là một môn nghệ thuật cao siêu, ở đáy không có thể và không cần thiết bàn tới một cách toàn diện, mà chỉ muốn nói rõ vị trí của công tác quản lý trọng thương chiến, cũng như tác dụng của nhân tài đối với công tác quản lý. Quản lý là nền tảng, quản lý không tốt thì trong thương chiến dễ bị thất bại. Có không ít nhà sáng lập, đã nhầm trúng xu thế của thị trường, đưa ra được những sản phẩm mới rất ăn khách, áp dụng những thủ đoạn tiêu thụ rất khéo léo, cũng có thể nổi lên được một thời. Thế nhưng rồi không biết cách quản lý, cuối cùng bị đào thải. Thí dụ, hãng máy tính Acxơpân từng một thời bỗng nhiên phát đạt ở Mỹ, sau này bỗng mất tăm trên thị trường. Hãng này sáng lập vào năm 1981, sau đó chỉ trong vòng 18 tháng, nó đã nhanh chóng phát triển thành một doanh nghiệp có tài sản tới một tỷ đô la Mỹ. Thế nhưng ngày 14 tháng 9 năm 1983, doanh nghiệp này đã dựa vào chương mười một của “luật phá sản” phải đi tìm người bảo lãnh. Tại làm sao mà nó lên nhanh rồi lại xuống nhanh đến thế?. Ngay từ đầu những năm 70, máy tính điện tử bất kể là to hay nhỏ, giá bán đều rất đắt, chỉ có những xí nghiệp có tiền mới mua nổi, hãng này liền thuê người thiết kế ra một loại máy tính gọn nhẹ rất tốt và nhẹ nhàng (trọng lượng chỉ có thể có 24 poud-10 kg), thể tích nhỏ, có thể bỏ trong ca táp, giá bán chỉ có 1795 đô la, so với các loại máy tính khác dùng trong thương nghiệp rẻ được hàng trăm đô la, rẻ bằng một nửa máy tính nhãn hiệu Apple, bởi vậy rất được khách hàng ưa thích, trở nên thứ hàng “tôm tươi” lúc bấy giờ. Năm 1982 mức tiêu thụ đạt tới một trăm triệu đô la. Nhưng sau đó, cùng với sự phát triển của nghiệp vụ, mức thua lỗ ngày càng lớn. Đó là tại vì đâu? Bởi vậy ông chủ hãng vốn chỉ là nhà sáng lập, chứ không phải là một chuyên gia quản lý; bất kể về mặt hoạt động tiền tệ hay là quản lý thương nghiệp, ông ta đều không thông thạo, chỉ biết đem hết sức ra mở rộng nghiệp vụ cho thật nhanh, rồi do gốc vốn không vững, không xây dựng được một tổ chức quản lý cần có của một doanh nghiệp lớn. Kết quả gây nên sự mất khống chế trong kinh doanh, sản phẩm tồn đọng, chi phí cho tiêu thụ quá lớn. Cùng chính vì kì ông kiến toàn được chế độ quản lý, ngay cả bản thân hàng của mình xuất hiện sự thua lỗ cũng còn chưa rõ, không có những biện pháp bỏ cứu kịp thời. Ngoài ra, đối với sự chèn ép của đối thủ cạnh tranh cũng đánh giá không đầy đủ, không kịp thời áp dụng công nghệ mới, cho ra sản phẩm mới để chống chọi lại, đến khi hàng máy mọc dùng cho thương nghiệp “Quốc tế” sản xuất ra loại sản phẩm mới vừa tốt vừa rẻ đưa ra thị trường máy tính bỏ túi rồi, sản phẩm của hãng Acxơpân bị thải loại. Hãng Acxơpân không biết mình lại cũng chẳng biết về người, cho nên thất bại là lẽ đương nhiên. Cửa hàng chiết khấu liên hoàn Ka-Wet cùng do quản lý không tiến kịp tình hình mà bị xuống dốc. Cửa hàng này do một người Mỹ mở ra năm 1948, lúc đầu chỉ là một tiệm bán va li nho nhỏ với một đoạn cầu thang. Do lúc đầu ông chủ cửa hiệu áp dụng biện pháp bản hàng có chiết khấu, dụng cụ gia đình và những mặt hàng tiêu dùng có độ bền lâu được bớt giá 10 đến 40%. Cửa hiệu phát triển rất nhanh, vào đầu những năm 60 cửa hiệu trở thành hãng buôn và cứ mỗi 7 tuần lễ lại có thêm một cửa hàng mới. Trong vòng 10 năm, mức tiêu thụ từ 55 triệu đô la nâng lên tới 750 triệu, lúc đó được liệt vào một trong 6 hãng buôn lớn nhất nước Mỹ. Ông chủ của hãng này nắm đặc quyền của hãng, như tất cả mọi sách lược về thị trường, cung tiêu cũng như các sách lược khác đều khống chế trong tay cá nhân ông. Giám đốc của hãng và các cửa hàng và các nhân viên chấp hành khác chẳng có một chút quyền hành gì. Khi hàng còn là một cửa hiệu với quy mô nhỏ thì còn quản lý được. Khi phát triển đến quy mô lớn thì không khống chế nổi, chỉ huy không xuể? Cũng do cửa hàng phát triển nhanh, không kịp bồi dưỡng cán bộ quản lý, cũng chẳng có nhân viên quản lý cấp cao, khiến cho công tác quản lý rơi vào chỗ rỗi loạn, đến mức các bộ phận tiêu thụ, thu mua, giao hàng và kế toán tài vụ không thể phối hợp ăn khớp được với nhau. Cũng đúng vào lúc này, thị trường siêu cấp trỗi dậy, cạnh tranh với giá thấp hơn nữa, và quân lý một cách khoa học, hãng Ka Wet mất thế ngày càng rò nét. Năm 1964 hãng này thua lỗ 12 triệu đô la. Chủ hàng buộc phải ra khỏi hãng đi tìm người cứu trợ. Từ đó trượt mài và không gượng được dậy. Hãng Ka Wet, người đi đấu thời đại về bán hàng chiết khấu về sau chẳng qua chỉ còn cái tên lưu lại trong trí nhớ mọi người mà thôi.
Đại phàm là những xí nghiệp có chút thành công, đều có liên quan đến sự khéo léo trong quân lý. Chủ tịch hội đồng quân trị của công ty điện thông dụng General Electric ở Mỹ ZèkcWâyợt là một nhà quản lý cự phách, khi ông vừa nhiệm chức chủ tịch hội đồng quản trị của công ty này, cơ cấu của công ty rất cồng kềnh, điều độ không nổi Wâyợt cho rằng thể chế quan liêu là một thứ tội ác, bởi vì nó phân tán sự chú ý của mọi người đối với những việc quan trọng mà giảm hiệu suất lao động đi, không có cách gì cạnh tranh mạnh mẽ được với đối thủ, thế là ông bước vào chỉnh đốn, cắt giảm bớt mười vạn người làm thuê, tương đương với một phần tư số người trong công ty, mặt khác bàn bạc đúng mức với người làm thuê, bỏ bớt những cuộc hội nghị, hội thảo, báo cáo, hình thức không cần thiết và những trình tự phiền hà. Ngoài ra, ông còn tăng cường thường xuyên đi sâu đi sát, trực tiếp trò chuyện và tìm hiểu tình hình với công nhân, một năm gặp gỡ tới hàng ngàn lần, bao gồm cả những người bị sa thải hoặc được đưa lên làm giám đốc. Ông nhấn mạnh rằng: ngày nay giữa lúc thị trường thế giới cạnh tranh kịch liệt, hiệu quả cao là yếu tố hết sức quan trọng trong cạnh tranh, và cho rằng “chậm trễ đưa ra một quyết định dù có chính xác thì kết quả cũng chẳng khác gì đưa ra một quyết định sai lầm”. Ông còn cho rằng tất cả mọi tư tưởng và biện pháp trong quản lý đều là vì một mục đích, tức là nắm vững vận mệnh mình. Muốn nắm chắc được vận mệnh của mình trong cái thị trường thế giới biến hóa khôn lường này thì phải nâng cao hiệu suất lao động, mới có khả năng giảm được giá thành để cạnh tranh được với thị trường thế giới, mà mấu chốt của việc tăng trưởng hiện suất sản xuất là “giải phóng” lớp cán bộ quản lý trung gian, giao cho họ nhiều quyền lực hơn nữa. Muốn nắm vững được vận mệnh của mình, cần phải có chiến lược phát triển của mình, nhưng loại chiến lược này không phải là thứ kế hoạch hành động lâu dài, cố định, mà tùy theo sự đổi thay của hoàn cảnh, không ngừng được diễn tiến và kéo dài. Tư tưởng quản lý xí nghiệp của Wây-ết rất có đất sống, nó cũng là sự tổng kết kinh nghiệm quản lý xí nghiệp. Tổng giám đốc hãng Peps lại rất chú trọng khai thác nhân tài trong công tác quản lý xí nghiệp, ông đã bỏ ra 40% thời gian làm việc của mình để nghiên cứu vấn đề con người; mỗi năm bỏ ra thời gian gần hai tháng trời thân chinh đánh giá đóng góp thực tế của 550 giám đốc cấp cao, tổng kết nguyên nhân thành công và cả thất bại của họ và giúp họ phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm. Ngoài ra, ông còn cùng với bộ phận nhân sự bàn bạc về tiền đồ, sự bồi dưỡng, đề bạt và thải loại lớp giám đốc cấp cao. Ông cho rằng “Không có cái gì quan trọng hơn vấn đề này”. Ông cũng mạnh dạn cất nhắc lớp người trẻ, nếu có tài thì bất kể lý lịch thế nào ông cũng giao cho trọng trách. Để bồi dưỡng nhân viên quản lý của hãng, ông thường để ý phát hiện những “ngôi sao” quản lý ở bên ngoài, nhờ sự giúp đỡ của các ngôi sao để nâng cao trình độ quản lý của toàn hãng. Đối với những giám đốc tích cực công tác và đạt hiệu quả tốt, ông đều trả lương cao, thưởng nhiều và các khoản đãi ngộ rất hậu, để cho họ thấy rằng Pepsi khác với mọi người để mà tăng thêm niềm tự hào. Về vấn đề này, chủ hàng Pepsi đã chỉ ra rằng: “đó là nhu cầu về tinh thần của mọi người đối với địa vị và sự tôn nghiêm, chúng ta là công ty hàng đầu, có những con người hàng đầu.” Do người lãnh đạo của công ty điện thông dụng và hãng Pepsi coi trọng quản lý, giỏi quản lý nên nền tảng của công ty vững chắc, chịu đựng nổi được sự chèn ép trong cạnh tranh, mãi mãi đứng ở thế không chịu thua ai, không ngừng phát triển lớn mạnh trở thành những công ty hàng đầu của thế giới.
Việc quản lý xí nghiệp của các nước và khu vực ở phương Đông tuy học tập Âu Mỹ, nhưng lại có đặc điểm của nó, tức là đều xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa tập đoàn. Không giống như Âu Mỹ xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa cá nhân, lấy “cái tôi” làm trung tâm. Về mặt này Nhật Bản là nước vốn có tính tiêu biểu, thể chế quản lý của họ là thực hành phân quyền kinh doanh dưới sự quản lý tập trung, loại thể chế này yêu cầu xí nghiệp trong quản kinh doanh phát huy đầy đủ sức mạnh của tập đoàn”, bảo đảm sự “nhịp nhàng” trong nội bộ tập đoàn, yêu cầu mỗi thành viên đều tham gia kinh doanh xí nghiệp, thực hiện quản lý kinh doanh “từ dưới mà lên”. Bởi vậy áp dụng mọi biện pháp, phát huy đầy đủ nhân tố tích cực của tất cả mọi thành viên trong nội bộ tập đoàn làm cho mục tiêu cá nhân của mỗi người với mục tiêu của toàn thể thành viên trong xí nghiệp chan hòa với nhau là một và thường xuyên nuôi dưỡng cho các thành viên ý thức tập đoàn”. Thí dụ như hãng Sony quy định cho gần chín vạn công nhân viên chức của mình trước khi làm việc phải đọc lên một câu tâm niệm như sau: “Chỉ có thông qua sự hợp lực và hợp tác của mỗi thành viên trong hãng mới thực hiện được tiến bộ và phát triển. Bởi vậy khi mỗi người chúng ta bỏ sức ra không ngừng cải tiến công tác của hãng, đều phải luôn ghi nhớ điều này”. Mục đích của nó là ở chỗ là xây dựng quan niệm “vận mệnh của hãng cùng mất hoặc còn với vận mệnh của toàn thể công nhân viên”. Một số xí nghiệp ở Hàn Quốc cũng chú trọng phát huy tính tích cực tham gia quản lý của toàn thể công nhân viên chức, ví như năm tập đoàn tài phiệt lớn như Sam Sung, Daewoo, Huyndai, Lơ xi jin Sung và Xen Ching đều có thiết lập “hòm thư góp ý”, căn cứ vào tác dụng lớn hoặc nhỏ của những đề nghị của công nhân đề phân cấp để trao tiền thưởng, nhằm phát huy đầy đủ tài trí và sự thông minh của toàn thể công nhân viên. Để động viên công nhân viên góp ý kiến, các tập đoàn đều tìm đủ mọi cách, như tập đoàn Daewoo ngoài việc treo hòm thư góp ý, còn đặt điện thoại góp ý, để cán bộ công nhân viên vừa chợt nghĩ ra ý gì hay, có thể lập tức nêu ra qua điện thoại, để tránh bị lãng quên hoặc bỏ sót bất cứ một đề nghị có giá trị nào. Xen Ching là tập đoàn có cách làm độc đáo hơn: nếu như đề nghị của một người hoặc một vài người được chấp nhận, như là cần kinh doanh độc lập, sẽ cấp vốn cho cá nhân người đó tự mình hoặc rủ nhau nhập bọn cùng phụ trách kinh doanh, tiền lãi thu được sẽ phân chia theo tỷ lệ thỏa đáng giữa cá nhân hay một nhóm người đó với công ty. Làm như vậy vừa phát huy được tính sáng tạo và tính chủ động của công nhân viên, đối với công ty thì có lợi ở chỗ quản lý được đội ngũ công nhân viên đồ sộ đó, giảm được rất nhiều chi phí dịch vụ và chi phí quản lý. Phát động công nhân góp ý kiến đã cải thiện và nâng cao được rất nhiều trình độ quản lý xí nghiệp. Với tập đoàn Huyndai, riêng công nhân của các hãng xe hơi trực thuộc của nó, năm 1987 đã nêu ra được 80 ngàn đề nghị, phát huy được tác dụng rất lớn về sản lượng, chất lượng và nhất là khâu xuất khẩu xe hơi. Công nhân viên của công ty Lơ xi jin Sung trong mấy năm gần đây bình quân mỗi người mỗi tháng nêu một ý kiến đề nghị, nội dung của nó bao gồm các mặt kế hoạch, thu mua, sản xuất, tiêu thụ, đóng gói v.v... hiệu quả rất tốt. Đặc biệt là qua việc động viên mọi người góp ý kiến các tập đoàn tài chính có thể phát hiện và bồi dưỡng được nhiều nhân tài hơn.
Bất kể là ở phương Đông hay phương Tây, quản lý xí nghiệp đều chú trọng và quản lý con người. Mà quản lý thì cần phải có nhân tài; có nhân tài quản lý mới quản được tốt, chân mới đứng được vững trong cuộc thương chiến ác liệt, mới không bị người khác đánh gục.
Giáo dục là mạch nguồn
Ở trên đã bàn, muốn giành được thắng lợi trong thương chiến, quyết định bởi các loại nhân tài, vậy nhân tài ở đâu ra? Từ giáo dục mà ra! Chỉ có làm tốt việc giáo dục, bồi dưỡng được đông đảo nhân tài có trí tuệ, có kỹ thuật, mới có thể tham gia cuộc thương chiến đẩy nhanh sự phồn vinh của nền kinh tế của đất nước. Trí tuệ và kỳ thuật quan trọng như thế, là do thời đại hiện nay quyết định. Hiển nhiên, theo đà phát triển của khoa học kỹ thuật cao, không thể chỉ dựa vào cơ bắp để kiếm ăn, mà phải kiếm ăn cả bằng cơ bắp và suy nghĩ, như thế đời sống mới tươi đẹp lên được. Việc phát triển kinh tế trong tương lai, mấu chốt không còn là dựa vào mở than hay gang thép, cũng không phải là vốn liếng, mà là giáo dục. Ngày nay, trên thị trường thế giới, cuộc thương chiến ngày thêm dữ dội, yêu cầu các loại khoa học kỳ thuật cao để khai thác các sản phẩm mũi nhọn, thủ đoạn kinh doanh cũng cần phải phối hợp với khoa học kỹ thuật cao, nếu không giáo dục dào tạo ra những nhân tài thích ứng với tình hình này thì không thể nào chiếm được ưu thế trong cạnh tranh thị trường, thậm chí có khi còn chịu thất bại, nói cách khác là làm cho nền kinh tế của một đất nước trượt xuống dốc. Lịch sử đã chúng mình trước đây, các quốc gia công nghiệp Âu Mỹ phát triển được nhờ giáo dục, hiện nay cuộc vươn dậy của Nhật Bản và “bốn con rồng” cũng nhờ giáo dục. Do giáo dục đã đào tạo ra đông đảo nhân tài, khi những sản phẩm lao động tập trung mặt ưu thế, thì lập tức có thể chuyển ngay sang sản xuất sản phẩm trí tuệ hoặc kỹ thuật tập trung để chiếm lĩnh thị trường, tiếp tục đẩy nhanh kinh tế phát triển. Giáo dục bất kể hiện tại hay trong tương lai, đều chiếm địa vị vô cùng quan trọng giáo dục thế nào cũng sẽ quyết định vận mệnh của đất nước như thế.
Thế nhưng, nến giáo dục của các nước trên thế giới hiện nay đều có nhiều vấn đề, ví như số người mù chữ ngày một gia tăng, chẳng những ở những nước đang phát triển, mà ngay ở những nước phát triển cũng thế. Ở các nước Âu Mỹ, tỷ lệ người mù chữ cũng chiếm 10– 15% tổng dân số. Mà số người lớn mù chữ trên toàn thế giới có tới gần một tỷ người. Ngoài ra, việc đào tạo nhân tài kỹ thuật, phổ biến là không đuổi kịp nhu cầu khách quan. Đối với vấn đề này có khá nhiều quốc gia đã có phẩn chú ý, còn một số nước nhất là ở các nước đang phát triển, chưa được chú trọng đúng mức hoặc chưa được lo nghĩ tới, chưa nhân thức ra mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Nguy cơ giáo dục ở nước Mỹ đã âm ỉ từ những năm 70, gần 20 năm nay ngày càng trầm trọng, bởi vậy ngay từ năm 1983, chính phủ Mỹ đã báo động trước nhân dân cả nước: “Quốc gia nguy cấp” và phát động phong trào cải cách giáo dục trong cả nước. Cựu Tổng thống Mỹ Bush cho rằng: “Giáo dục là khâu then chốt để nâng cao sức cạnh tranh của dân tộc, là khâu then chốt tăng cường tình thần cho nhân dân Mỹ”. Khi vừa lên nhậm chức, ông đã tuyên bố sẽ là một “tổng thống giáo dục” và duyệt thêm kinh phí giáo dục, kinh phí giáo dục của nước Mỹ tài khóa 1989-1990 so với tài khóa trước tăng 23 tỷ đô la, đạt tới mức kỷ lục là 353 tỷ đô la, khoản kinh phí này chiếm 6,8% giá trị tổng sản phẩm quốc dân, so với dự toán ngân sách quốc phòng tài khóa 1990 do cựu tổng thống Bush thông qua là 303 tỷ đô la, cao hơn vừa đúng 50 tỷ đồng. Có thể thấy rằng chính phủ Mỹ ngay lúc ấy đã đang hết sức xoay chuyển tình trạng lạc hậu về giáo dục. Với tình hình phát triển nhanh mạnh của khoa học kỹ thuật hiện nay, để cho khả năng của nước mình có thể ứng phó với sự thách thức của thế giới trong tương lai, chính phủ Pháp qua tổng thống Mitterrand đã coi công tác giáo dục là công việc hàng đầu mà ông cần nắm trong nhiệm kỳ hai của mình. Nội các mới vừa hình thành đã phê duyệt ngay ngân sách giáo dục với hơn một tỉ frăng. Dự toán ngân sách giáo dục năm 1989 so với 218 tỷ frăng của năm 1988 tăng lên 7,5%, tổng kim ngạch đạt 213 tỷ frăng, chiếm 1/5 của tổng dự toán nhà nước 1200 tỷ frăng, ngoài ra còn chỉ thêm 6 tỷ frăng. Chính phủ còn bảo đảm năm năm sau đó tiếp tục tăng dần, để có thể thực hiện được sự cải cách giáo dục.
Nhiều quốc gia và khu vực ngoài việc nắm cho tốt việc giáo dục phổ thông và giáo dục cơ sở trong đại học, giáo dục chuyên nghiệp, chủ trọng việc “Giáo dục lại” với nhân viên khoa học kỹ thuật, còn mang hết sức lực và tâm trí để đào tạo nhân tài chuyên môn ở trình độ cao về kinh doanh mậu dịch. Cộng hòa liên bang Đức đã nghiên cứu ra một cách mới để đào tạo viên chức: Điều động các giám đốc tương lai đến “công ty dạy học” để đào tạo, họ làm công việc của viên chức, thầy giáo làm công việc của nhà doanh nghiệp. “Công ty dạy học” hoàn toàn mô phỏng theo mọi hoạt động của công ty, từ chỗ thu mua nguyên liệu, nhập kho, đến tiêu thụ sản phẩm, quản lý nhân viên. Để có được khái niệm hoàn chỉnh trong quá trình sản xuất, trong một năm học sinh tiếp thu giáo dục, thông thường trong mỗi khoa đều có làm một thời gian. Hiện nay, số công nhân viên chức chịu sự giáo dục bằng phương pháp này đã có 32000 người. Tổ chức lao động quốc tế đã đánh giá cao đối với loại đào tạo kết hợp thực tập này cho rằng trình độ thành thạo về kỹ thuật của công nhân đạt được bằng hình thức giáo dục này sẽ nâng cao được năng lực cạnh tranh của xí nghiệp. “Lớp bồi dưỡng nhân tài mậu dịch” do hội mậu dịch đối ngoại Đài Loan mở ra năm 1987, mời các giáo sư đều là những chuyên gia có tiếng, đào tạo rất nghiêm túc và xít xao. Nó tách xa thế tục, để học sinh không bị quấy rầy, tĩnh tâm khổ luyện. Năm đầu tiên là huấn luyện tiếng Anh, thực hành dạy học khép kín. Năm thứ hai lại sắp xếp chương trình chuyên nghiệp về kinh doanh mậu dịch từ luật thương nghiệp quốc tế, cung tiều thị trường, nghiệp vụ quốc tế đến kinh doanh xí nghiệp v.v... Trong năm thứ hai, việc học tập rất căng thẳng, học viên đều phải “nghiến răng mà chịu cho qua”. Hiện đã đào tạo một khóa được 44 học viên, thành tích rất tốt, họ đều có trình độ Anh văn vào loại hàng đầu và tài năng về kinh doanh mậu dịch, bởi vậy, vừa mới “ra lò” đều bị giới doanh nghiệp thèm khát nhân tài ôm lấy hết, trở thành một đạo quân kinh doanh mậu dịch xứng đáng với tên gọi của nó.
Mới hay rằng, đào tạo ra nhân tài hàng đầu, cần phải có thấy dạy hàng đầu. Nhưng việc đãi ngộ cho tầng lớp giáo sư của các nước trên thế giới hiện nay đều phổ biến là tương đối thấp. Những nhân tài có tố chất tương đối cao đều không muốn theo đuổi nghề này. Bởi thế mà ngày càng nhiều những nhân tài kém cỏi lại gia nhập vào hàng ngũ giáo sư. Hiện nay, các nước phát triển như Mỹ, Nhật, Pháp, Anh, Liên bang Đức v.v... đều áp dụng biện pháp nâng mức đãi ngộ về tiền lương cũng như địa vị xã hội v.v... để ổn định hàng ngũ giáo sư và thu hút những nhân tài ưu tú vào theo đuổi nghề thày giáo. ở Nhật Bản từ sau đại chiến thế giới lần thứ hai đến đầu những năm 70, lương của giáo sư tương đối thấp, những giáo sư ưu tú đều lần lượt chuyển sang các doanh nghiệp, đội ngũ giáo dục xuất hiện nguy cơ. Vì thế, năm 1974 chính phủ Nhật Bản đã công bố “luật đảm bảo nhân tài giáo dục”, “kế hoạch ba năm tăng lương cho nhà giáo” làm cho lương của giáo viên trung tiểu học sau cuộc điều chỉnh này bình quân cao hơn lương bình quân của công chức nhà nước là 16%. Do lương nhà giáo cao như thế nên những năm gần đây, cuộc cạnh tranh để giành chức vị nhà giáo ở Nhật Bản trở nên tương đối kịch liệt. Người ghi tên so với số người cần tuyển dụng thường có tỷ lệ là 5/1. Nghề làm thày, được gọi là “nghề thánh” và thực sự trở thành một nghề mà xã hội Nhật Bản hâm mộ nhất. Nhật Bản có thể xuất hiện hàng loạt đông đảo nhân tài về khoa học kỹ thuật, trong lĩnh vực này nhanh chóng đuổi và vượt nước Mỹ, không ngừng chế tạo ra những sản phẩm mũi nhọn để chiếm lĩnh thị trường các nước trên thế giới, hiển nhiên đó là do kết quả của việc Nhật Bản chú trọng đến giáo dục.
Thương chiến, thực chất là cuộc vật lộn về lực lượng kinh tế tổng hợp, sự thắng bại của nó tất nhiên là quan hệ đến thịnh suy của nền kinh tế đất nước, mà thắng bại trong thương chiến, thường quyết định bởi tố chất cao hay thấp của nhân tài. Có đông đảo nhân tài về chủ quản, khoa học kỹ thuật, quản lý, thì mới nói đến chuyện thương chiến; nếu không, trong cuộc giành giật thị trường, không thể có hy vọng giành thắng lợi. Bởi vậy, bồi dưỡng nhân tài là việc hết sức quan trọng. Mà giáo dục là mạch nguồn của nhân tài, nhưng trước hết phải làm cho nhân tài giáo dục trở nên hàng đầu, mới có thể tạo ra nền giáo dục hàng đầu, đào tạo ra lớp lớp nhân tài hàng đầu.
Lịch sử hiện đại trên thế giới đã chứng minh: Phàm nước nào chú trọng giáo dục, thì nhân tài đông đảo, đất nước sẽ phồn vinh giàu mạnh, còn không chú trọng giáo dục, nhân tài sẽ thưa vắng, đất nước sẽ nghèo khó, lạc hậu. Điều này ở thế kỷ 21 sẽ được chứng minh một lần nữa. Bất kể là đất nước nào, không chú trọng giáo dục thì sẽ bị sự trừng phạt của lịch sử: lạc hậu với thời đại, thành kẻ yếu kém của thời đại, khiến cho nhân dân làm vào cảnh nghèo khó. Đó không phải là lời đe dọa, mà là sự dự đoán khoa học, là tất nhiên của lịch sử.
2. DÙNG SỨC MỌI NGƯỜI, TRÍ KHÔN MỌI NGƯỜI: SỨC MẠNH GIÀNH THẮNG LỢI
Chúa Đông Ngô thời Tam Quốc là Tôn Quyền, có một câu danh ngôn: “Trên đời này không có con cáo trắng tuyến, nhưng lại có áo bằng da cáo trắng tuyến, do mọi người góp sức làm ra vậy, từ lốm đốm đến thuần một màu, không góp sức làm thì sao có được. Cho nên biết dùng sức nhiều người, thì sẽ vô địch trong thiên hạ. Nếu biết dùng trí của mọi người thì không sợ cả thánh nhân”. Sức mọi người và trí mọi người, tùy ý của từ khác nhau song đều hàm chứa giữa chúng lại có chỗ giống nhau. Kẻ biết dùng sức mọi người thì cũng có trí của mọi người; biết dùng sức của mọi người thì cũng phát huy được sức của mọi người, cho nên sức đó sẽ vô địch trong thiên hạ, trí đó sẽ thắng được cả những thánh nhân đại hiển đại trí.Tôn Quyền được miêu tả trong Tam Quốc diễn nghĩa, đúng là một người biết dùng sức mọi người, trí mọi người. Anh ông là Tôn Sách biết con người này có thể “cất nhắc người hiền tài, ai cũng tận tâm” và tự ví mình không bì kịp cho nên đến lúc hấp hối đã giao cho việc nước. Lúc ấy Tôn Quyền mới mười tám tuổi, chưa có chiến công gì cũng chưa có thành tích gì về chính trị, chưa gây được lòng tin với mọi người: mà bên trong thì có Sơn Việt phản loạn, bên ngoài thì giặc Tào Ngụy đêm ngày nhòm ngó, nhưng Tôn Quyền đã làm như điều anh mình nói, có thể “cất nhắc người hiền tài” cho nên “ai cũng tận tâm mình” đẹp được giặc ngoài, yên được bên trong, khiến cho một vùng Giang Đông êm vững. Tôn quyền có thể nhiều lần chống được ngoại xâm, không phải do ông ta đánh giỏi, mưu hay hơn người, mà chính vì ông biết đến sức mọi người, trí mọi người. Tào Tháo dẫn một đội hùng binh cả triệu quân đánh xuống Giang Nam. Tôn Quyền tuy bị Khổng Minh kích cho nổi nóng, nhưng rốt cuộc vẫn dùng mưu trí của ông ta, liên minh với Lưu Bị chống Tào Tháo, giao quân quyền cho Chu Du để hiệp lực lại đánh Tào Tháo. Buổi đầu, Tôn Quyền vừa gặp Lỗ Túc đã tiếp nhận ngay “sách trên giường” của ông này. Trước khi xảy ra trận Xích Bích, các mưu sĩ Giạng Đông thấy thế của Tào Tháo mạnh quá nên đều nhao nhao lên muốn hàng, chỉ riêng có Lỗ Túc giữ vững quan điểm. “Mọi người có thể hàng Tào, riêng chúa công không thể hàng”. Và Tôn Quyền cũng tán thưởng. Đến khi Chu Du ốm chết, lệnh cho Lỗ Túc lên thay, Lỗ Túc đem hết sức ra củng cố khối liên minh Ngô– Thục, khiến Tào Tháo không dám nhòm ngó phía Nam. Tôn Quyền đã cất nhắc Lã Mông từ trong đám võ biến và khuyến khích cho học hành khiến Lã Mông từ một tên vũ phu tầm thường trở nên một đại tướng có tài mưu lược. Ông giao cho Lã Mông đóng quân ở Lục Khẩu để chống chọi với một tướng mà uy danh vang lừng miền Hoa Hạ là Quan Vũ. Sau Lã Mông dùng kế lạ, gươm không vấy máu mà đánh úp được Kinh Châu, bắt và giết được Quan Vũ. Để báo thù cho Quan Vũ, Lưu Bị dốc hết quân trong cả nước đến xâm lăng, mở màn đã thắng, thế mạnh như thác đổ, triều đình Đông Ngô nghiêng ngả. Tôn Quyền đã đề bạt Lục Tốn một con người chưa từng có tiếng tăm, và còn lập đàn để bái tướng giao cho giữ Thượng Phương bảo kiếm để táng thêm uy thế. Chính dưới sự tín nhiệm cao độ của Tôn Quyền, Lục Tốn mới có điều kiện để làm việc, tài năng chỉ huy quân sự mới được phát huy đầy đủ nhất, Lục Tốn đã áp dụng chiến lược lùi trước phòng ngự sau rồi chờ thời cơ phản công, cuối cùng chỉ một nắm lửa đốt cho quân Thục hầu như cháy trụi hết. Tôn Quyền đã sử dụng bốn đô đốc nói trên ở Đông Ngô: Chu Du, Lỗ Túc, Lã Mông, Lục Tốn, chính là biểu hiện cụ thể của việc ông khéo dùng sức mọi người, trí mọi người. Chính vì thế mỗi lần đứng trước kẻ thù lớn, không cần đến ông phải ra trận, sau khi chọn được thống soái và giao việc cho rồi, tự mình có thể ngồi yên lo sự nghiệp và chờ tin thắng trận, làm cho Tào Tháo có mưu trí hơn người cũng như Lưu Bị dày dạn chốn sa trường đều lần lượt trở thành bại tướng dưới tay ông.
Khổng Minh có thể nói là một bậc thánh nhân đại hiển đại trí, ông đã ước đoán rằng thiên hạ sẽ chia ba, “dùng lời bê bọn nho sĩ”, “kích trí Chu Du”, “khéo bày không thành kế” v.v... đã thể hiện lên sự mưu lược phi phàm của bậc thánh nhân; bàn về trí tuệ thì vượt xa Tôn Quyền, thế nhưng làm sao mà sáu lần xuống khỏi Kỳ Sơn đều nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì. Điều đó ngoài những nguyên nhân khách quan, về mặt chủ quan thì chỉ vì ông không biết dùng sức mọi người, trí mọi người, mà chỉ tin có mỗi mình mình, không tin người khác, việc lớn việc nhỏ đều một mình bao biện, một mình đem hết tâm hết sức, cả ngày bận đến vã mồ hôi, mà kết quả lại là sáu lần ra quân sáu lần thua, để đến nỗi “Ra quân chưa thắng đà chết trước – Để khiến anh hùng lệ đẫm khăn”.
Khổng Minh với Tôn Quyền, một người thì tài trí hơn người không khéo dùng sức mọi người, trí mọi người; một người không phải là mưu lược lắm nhưng lại khéo dùng sức mọi người, trí mọi người nên bại thắng hai đằng khác nhau. Ngạn ngữ có câu: “Người khôn nghi ngàn điều tất hỏng một điều; kẻ ngu nghĩ ngàn điều tất được một điều”. Nếu dùng một điều được của kẻ ngu đề đánh vào một điều hỏng của người khôn. Mà nhiều kẻ ngu, mỗi kẻ một điều được, tất sẽ thắng được người khôn. Người ta còn nói: “Ba anh thợ giày tồi cũng thắng được Gia Cát Lượng cũng là theo lẽ đó. Muốn làm bất kể một sự nghiệp lớn nào, muốn có được hiệu quả đẹp nhất, cũng cần phải dựa vào trí mọi người, sức của mọi người, cuộc thương chiến hôm nay cũng không phải ngoại lệ.
Hãy lấy cuộc thương chiến Mỹ Nhật làm gương
Sau cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai, nước Mỹ giàu nhất thiên hạ, lừng lẫy một thời, các nước phương Tây đều chịu dưới trướng, xuất khẩu, cho vay, đầu tư vốn... đều đứng hàng đầu thế giới. New York là trung tâm tiền tệ quốc tế. Thời bấy giờ, kinh tế của Nhật Bản gần như tan rã, chẳng những về quân sự, chính trị phải chịu sự khống chế của Mỹ, về kinh tế cũng dựa vào nước Mỹ. Nhưng ngày nay sau bốn mươi năm, Nhật Bản đã thay thế cho nước Mỹ trở thành một nước có tiền cho vay và vốn chuyển ra đầu tư nước ngoài lớn nhất thế giới, xuất khẩu cũng gần đứng đầu thế giới. Tokyo thay thế New York trở thành trung tâm tiền tệ lớn nhất thế giới, mười ngân hàng lớn nhất thế giới đều thuộc Nhật Bản, không có cái nào là ngân hàng của Mỹ. Tình cảnh nước Mỹ lại rất tồi tệ, nợ trong nợ ngoài chống chát, tính đến cuối năm 1988, nợ nước ngoài tới 532 tỷ đôla, là nước mắc nợ nhiều nhất trên thế giới hiện nay; nợ trong nước đã phá vỡ kỷ lục 3000 tỷ đôla, riêng lợi tức, trong mỗi một giây đồng hồ, đã phải chỉ ra 8000 đô la. Năm 1989, thâm thụt về mậu dịch cũng vượt quá 100 tỷ đô la. Bởi thế, phần lớn người Mỹ không lạc quan đối với tương lai. Hiện nay, có khá nhiều người Mỹ dự đoán rằng, đến năm 2000, thực lực kinh tế của Nhật Bản sẽ còn lớn mạnh hơn. Hai nước Nhật Mỹ, tại làm sao mỗi nước lại có sự thay đổi lớn lao đến thế? Một trong những nguyên nhân đó là: Nhật Bản trong thương chiến luôn luôn giành phần thắng, còn nước Mỹ thì liên tục chịu thua. Mà nguyên nhân thất bại ở đâu? Đó là do về mặt dùng trí mọi người, sức mọi người để vạch ra và thực hiện chiến lược chiến thuật đúng đắn, người Mỹ đã thua xa Nhật Bản.
Trí tuệ là gốc của thắng lợi
Cuộc thương chiến ngày nay, muốn giành được phần thắng, điều kiện căn bản là: phải làm ra những mặt hàng đẹp hơn rẻ hơn của đối thủ cạnh tranh, như thế cần phải có nền khoa học kỹ thuật ở trình độ cao. Mà khoa học kỹ thuật ở trình độ cao, là kết tinh trí tuệ của con người, bởi vậy khai thác và tận dụng nguồn vốn trí tuệ con người trở nên cực kỳ quan trọng.
So sánh việc hai nước Mỹ Nhật khai thác và tận dụng nguồn vốn trí tuệ con người, mỗi nước đều có ưu thế và thất thế:
Nước Mỹ có thể một thời gian dài giàu nhất thiên hạ, ngoài điều kiện tự nhiên ưu việt ra, chủ yếu là nền khoa học kỹ thuật của nó có địa vị dẫn đầu trên thế giới. Nhưng không thể từ đó mà rút ra kết luận, trí tuệ của người Mỹ mạnh hơn nước khác. Mặc dù nước Mỹ đầu tư cho giáo dục vượt qua bất kể nước nào, cùng một lúc với việc hun đúc ra hàng loạt lớn những nhân tài hàng đầu cũng lại tạo ra một loại lớn “phế phẩm” vừa thiếu kém về tư tưởng lại tồi tệ về kỹ năng; mà con số này lại mỗi ngày một đông lên. Trong bài “Xóa mù chữ, cứu nước Mỹ” đăng trong tờ “Tin tức nước Mỹ và thế giới” số ngày 12 tháng 6 năm 1989 chỉ ra rằng: “Nước Mỹ hiện có 25 triệu người không biết đọc, cũng không biết viết, ngoài ra còn 45 triệu người khả năng đọc và viết không đủ để tìm được công việc. Con số này mỗi năm tăng thêm lên 2 triệu”. Có nghĩa là nước Mỹ có trên 1/3 số người mù chữ hoặc nửa mù chữ. Cuộc thương chiến ngày nay, trên thực chất cũng là cuộc chiến về khoa học kỹ thuật. Muốn giành được thắng lợi, chẳng những cần phải có một số lớn nhân tài bàng đầu về khoa học kỹ thuật, mà còn cần phải có một đôi quân đông đảo những người lao động có tố chất cao, mới có thể nâng cao hơn nữa được hiệu suất lao động, làm ra nhiều những sản phẩm vừa tốt vừa rẻ. Còn nước Mỹ thì chẳng những đào tạo ra hàng loạt “phế phẩm” cho đội quân lao động, những nhân tài khoa học kỹ thuật đào tạo ra cũng ngày càng không đấy đủ. Hội trường hội xúc tiến khoa học toàn nước Mỹ, trong một cuộc họp hàng năm của hội này chỉ ra rằng: ở cuối thế kỷ này và đầu thế kỷ sau, nước Mỹ sẽ thiếu khoảng mấy trăm ngàn nhân tài khoa học kỹ thuật có học vị nhất định, chỗ dựa vào sự đào tạo của nước Mỹ hiển nhiên không thể thỏa mãn được yêu cầu của mình về nhân tài. Tình hình kể trên, sẽ gây nên ảnh hưởng bất lợi cho khả năng cạnh tranh của nước Mỹ. Dó là thế bất lợi của Mỹ. Thế nhưng nước Mỹ lại có thể thu nạp và lôi kéo được nhân tài trong thiên hạ để dùng cho mình để bù vào sự thiếu hụt về nguồn nhân tài của nước mình. Họ có hai cách thu hút nhân tài: Một là trả lương cao, hai là tạo ra cho họ có điều kiện nghiên cứu tốt đẹp và thuận lợi. Mỹ là một nước rất chịu chi tiền cho việc nghiên cứu khoa học, theo thống kê, kinh phí chi cho nghiên cứu của nước này bằng tổng số của các nước phát triển chủ yếu ở phương Tây và tảng lên hàng năm. Để thu hút nhân tài nước ngoài, đã hai lần sửa đổi “luật di dân”, đối với những nhà khoa học có thành tựu, không cần biết đến quốc tịch, lý lịch, tuổi tác của họ, đều nhất loạt ưu tiên cho phép vào nước Mỹ. Bởi vậy nhân tài các nước đều thích chạy sang với nước Mỹ. Hiện nay trong hệ thống giáo dục và lĩnh vực khoa học kỹ thuật, nhất là lĩnh vực khoa học kỹ thuật cao, các nhà khoa học và công trình sư nước ngoài chiếm một tỷ lệ khá cao. Kết quả điều tra của quy khoa học quốc gia của Mỹ đã tỏ rò, trên 50% các công ty ở bộ môn kỹ thuật cao đã thuê mướn một phần lớn nhân tài khoa học kỹ thuật người nước ngoài, chiếm tới 90% những nhân viên khoa học kỹ thuật cao các công ty này. Trong số những người làm công tác nghiên cứu khoa học Kỹ thuật, làm nghiên cứu sinh sau học vị tiến sĩ, người nước ngoài chiếm tới 66%. Chủ nhiệm khoa ở 33% các trường đại học nổi tiếng của nước Mỹ, là người gốc Hoa. Những người đóng vai trò quan trọng trong kế hoạch chiến tranh giữa các vì sao đều là nhân viên khoa học kỹ thuật người nước ngoài. Theo thống kê, từ năm 1952 đến 1975, do nước Mỹ thu hút được các nhân tài khoa học nước ngoài nên đã tiết kiệm được ít nhất từ 18 đến 20 tỷ đô la kinh phí bồi dưỡng nhân tài cho nhà nước. Và điều quan trọng hơn là những nhân tài này đã có tác dụng quan trọng trong việc phát triển kinh tế của nước Mỹ. Trong những năm 30, chỉ riêng các nhà khoa học ở châu Âu định cư tại Mỹ đã có một sự đóng góp tương đương 30 tỷ đô la mà Mỹ có được do sản xuất tăng trưởng. Chính vì nước Mỹ đã thu hút được nhân tài trong thiên hạ đề làm việc nghiên cứu khoa học cho mình, khoa học kỹ thuật của nước Mỹ mới đứng được ở vị trí hàng đầu trên thế giới. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nước Mỹ thu hút nhân tài được nhiều nhất, bởi vậy mà thành tựu khoa học kỹ thuật giành được cũng nhiều nhất, chiếm từ 60 đến gần 80% tổng số các thành tựu khoa học giành được trên toàn thế giới chiếm được phân nửa số giải Nôben. Khoa học kỹ thuật phát triển cao độ, đã thúc đẩy sự phồn vinh của kinh tế nước Mỹ mới trở nên nước giàu nhất trên thế giới.
Ngược hẳn lại với nước Mỹ. Nhật Bản chủ yếu là dựa vào nhân tài do mình tự bồi dưỡng. Ngày từ thời Minh Trị duy tân, Nhật Bản đã chú trọng việc giáo dục, lúc bấy giờ, những kiến trúc đẹp nhất là các trường trung học, tiểu học. Giáo dục ở Nhật Bản không những phổ cập, mà chất lượng học sinh đào tạo ra cũng cao. Chín năm học đầu tiên ở tuổi nhi đồng ở Nhật Bản là được miễn phí, tất cả mọi trẻ em ở Nhật Bản đều phải tiếp thu 6 năm tiểu học ba năm giáo dục trung học. Trẻ em ở bậc tiểu học và trung học chiếm 99,9% tổng số trẻ em vừa lứa tuổi, tỷ số phần trăm này là cao nhất trên thế giới. Qua gần 100 năm giáo dục phổ cập công cộng. Ngày nay hầu như mỗi người dân Nhật Bản đều biết đọc biết viết. Trước đại chiến thế giới lần thứ hai, của cải thuộc về những kẻ vốn có nhiều của cải vật chất và những kẻ chinh phục có lực lượng quân sự hùng hậu, nhưng hiện nay lại thuộc về những phòng tự trị đó khoảng chừng từ hai ba trăm triệu đô la. Trong đại học kỹ thuật cao, các nhà khoa học và các cơ sở sản xuất của Nhật Bản hầu như có sự liên hệ chặt chẽ, do đó làm việc và giảm nhẹ gánh nặng cho các trường đại học, đồng thời cũng làm cho nghiên cứu khoa học kỹ thuật có thể nhanh chóng được ứng dụng trong thực tiễn, chuyển hóa thành năng suất. Cho mỗi người dân Nhật Bản đều có trình độ văn hóa cao, nên họ có thể tiếp thu nhanh chóng những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến của Mỹ rồi cải tiến đi, làm mới lại, biến thành của mình, do đó mà nước Nhật Bản không những có thể đào tạo ra được một đội quân hùng hậu các nhà khoa học kỹ thuật mà còn có thể tiếp thu một nền giáo dục tốt đẹp, có kỹ thuật và chịu khó làm việc và dám nghĩ dám làm, khiến cho Nhật Bản có thể chấn hưng được nền kinh tế trên đống tro tàn. Những kỳ tích về kinh tế xuất hiện ở Nhật Bản hôm nay, mấu chốt là ở chỗ chú trọng giáo dục. Nhật Bản không giống như nước Mỹ là tìm trăm phương ngàn kế thu hút nhân tài trong thiên hạ, nhưng lại giỏi “đánh thó”. Mà sở dĩ họ “thó” được rất nhiều khoa học kỹ thuật tiên tiến của Mỹ rồi cải tiến đi, làm mới lại, vì họ vốn có cơ sở khoa học kỹ thuật sẵn có. Điều đó đương nhiên rất có quan hệ tới việc người dân nước Nhật Bản được tiếp thu một nền giáo dục tốt đẹp. Sau chiến tranh, Nhật Bản có rất nhiều mặt lạc hậu so với Mỹ, chẳng những về kinh tế mà ngay cả con đường kinh doanh. Lạc hậu thì học hỏi người Mỹ. Bắt đầu là bắt chước, sau đó là sáng tạo “xanh có từ lam nhưng lại thanh hơn lam”. Hiện nay, về mặt khoa học kỹ thuật, Nhật Bản có nhiều thứ đã đuổi kịp và vượt nước Mỹ, như kỹ thuật quang học, kỹ thuật phát điện bằng năng lượng mặt trời, máy ghi hình trong gia đình hay vật liệu gốm v.v.. đều đã đứng trên nước Mỹ. Còn con đường kinh doanh thì họ đã sớm bỏ xa nước Mỹ ở phía sau. Từ đầu những năm 80 khi đề ra chiến lược xây dựng đất nước bằng khoa học kỹ thuật đến nay, khoa học kỹ thuật Nhật Bản lại tiến thêm những bước dài. Để đọ tài hơn thua với Mỹ, Nhật Bản đã bỏ ra những khoản chi cho nghiên cứu khoa học rất lớn, năm tài chính 1988 đã đạt tới 73,4 tỷ đô la, trong vòng 10 năm đã tăng lên gấp đôi. Trong số kinh phí đầu tư cho nghiên cứu khoa học, xí nghiệp chiếm 80%. Về mặt khai thác và nghiên cứu khoa học kỹ thuật, người Nhật không những giỏi “đánh thó” mà còn rất thạo trong việc “vay mượn” tức là xây dựng ở trong trường đại học tốt nhất ở nước Mỹ những phòng nghiên cứu thực nghiệm chủ trì hạng mục nghiên cứu khoa học và thiết lập chức vị giáo sư đại học, tích cực phát hiện và tận dụng nhân tài nghiên cứu ở trường đại học của Mỹ. Theo thống kê số tiền Nhật Bản đầu tư vào các trường đại học ở Mỹ của Nhật Bản, trừ chính bản thân nước Mỹ ra, cao hơn bất kỳ một quốc gia nào khác. Hiện nay, trong 134 trường đại học ở Mỹ mà Nhật Bản đầu tư vào: có 58 trường chỉ trong năm 1986 đã từ các công ty của Nhật Bản được một khoản đầu tư tất cả là 7,5 triệu đô la. Các cơ quan hữu quan của Mỹ quy định các công ty chủ trì nghiên cứu có quyền trước nhất được thẩm tra thành quả nghiên cứu ra, ưu tiên nắm độc quyền sử dụng. Bởi vậy mà các công ty của Nhật Bản đã có thể lợi dụng lực lượng nghiên cứu khoa học của Mỹ phục vụ cho mình. Thêm nữa họ còn cử nhân viên nghiên cứu của mình đến các phòng nghiên cứu thực nghiệm mà họ đã đầu tư, cùng nghiên cứu với các nhân viên nghiên cứu khoa học của các trường đại học Mỹ. Như thế, họ chẳng những được ưu tiên lợi dụng thành quả nghiên cứu đó, mà còn có thể trực tiếp nắm được toàn bộ kỹ thuật của thành quả nghiên cứu khoa học.
So sánh tình hình khai thác và lợi dụng nguồn trí tuệ ở hai nước Mỹ – Nhật, có thể đúc rút được ra hai điểm sau đây:
Một là về mặt chú trọng giáo dục, hai nước Nhật Mỹ không thua kém gì nhau.
Hai là từ nguồn nhân tài mà nói, nước Mỹ có thể thu hút được nhân tài trong thiên hạ, còn Nhật Bản chủ yếu là dựa vào tự mình bồi dưỡng. Nguồn nhân tài của nước Mỹ vì thế mà phong phú hơn của nước Nhật rất nhiều, nhưng giáo dục của nước Nhật phổ cập hơn ở nước Mỹ, hiệu quả giáo dục cùng tốt hơn của nước Mỹ, kế hoạch bồi dưỡng kỹ thuật của họ là đứng hàng đầu; tố chất của nhân viên kỹ thuật và đội quân lao động được đào tạo ra cũng tương đối cao. Thêm vào đó người Nhật lại giỏi “đánh thó”, khéo “vay mượn” trình độ khoa học kỹ thuật của họ đủ để đọ sức với nước Mỹ. Những sản phẩm mũi nhọn trước đây phần lớn đều do người Mỹ tạo ra, hiện nay thường xuyên truyền đến những tín tức nói rằng người Nhật đã đuổi kịp, thậm chí vượt qua được. Ngay cả phát minh mới của người Mỹ có cái còn chưa kịp ứng dụng, đã bị người Nhật “tạm mượn” trước. Viện trưởng viện khoa học công trình toàn nước Mỹ Robert Waiter đã nói một cách thấm thía rằng: “Nước Mỹ đại để là một nước sáng tạo nhất trên thế giới, thế nhưng chúng ta lại không có khả năng giành lấy những cái tốt của những phát minh khoa học đó”.
Sự so sánh, phân tích, quy kết ở trên nói rõ lên rằng về mặt phát triển khoa học kỹ thuật, hai nước Mỹ Nhật đều giỏi về việc khai thác nguồn trí tuệ và khéo biết lợi dụng “trí của mọi người”. Có khác nhau chỉ là cách làm và đường lối không giống nhau mà thôi. Đó là nguyên nhân khiến khoa học kỹ thuật của hai nước phát triển được nhanh chóng. Riêng nước Mỹ mà nói, do chú trọng giáo dục và đầu tư nghiên cứu khoa học kỹ thuật, lại có thể thu nạp được nhân tài trong thiên hạ, trong một thế kỷ từ 1870 đến 1970, đã xây dựng nước Mỹ thành một nước khoa học kỹ thuật hiện đại. Dân tộc Mỹ trở thành một dân tộc từ khi có lịch sử loài người đến nay có sức sản xuất cao nhất. Bởi vậy trong mậu dịch quốc tế, nước Mỹ trong một thời gian dài luôn đứng ở hàng đầu. Người Nhật Bản cũng vì biết dùng trí mọi người”, đặc biệt là tinh thần cống hiến đối với đất nước, đối với công ty của người Nhật Bản, tác dụng “trí mọi người” càng được phát huy đầy đủ, đẩy mạnh sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật Nhật Bản. Để làm rạng rỡ cho đất nước, làm giàu có thêm cho công ty của mình, nhân viên khoa học kỹ thuật và đội quân lao động của Nhật Bản có thể nói là hết lòng hết sức, mạnh mẽ đuổi kịp nước Mỹ, làm cho trình độ khoa học kỹ thuật hai nước từ chỗ chênh lệch nhau đi đến ngang nhau, thậm chí có khả năng nghiêng về phía Nhật Bản. Trên cơ sở đó. Nhật Bản mới có thể sản xuất ra nhiều hơn những sản phẩm vừa tốt vừa rẻ, không ngừng mở rộng mức chiếm hữu thị trường của nước Mỹ và các nơi khác trên thế giới. Từ thành quả kinh tế thu được qua phát triển khoa học kỹ thuật của hai nước Mỹ, Nhật mà nói, có thể kết luận rằng trí tuệ là gốc của thắng lợi.
Biết dùng “trí mọi người” thất thế trở nên ưu thế
Có khoa học kỹ thuật ở trình độ cao mới sản xuất được ra sản phẩm mũi nhọn, đó là điều kiện căn bản để giành thắng lợi trong thương chiến; nhưng không phải điều kiện duy nhất. Khi trình độ khoa học giữa ta với người không thua kém nhau, bất kỳ bên nào đều không chiếm được ưu thế, thì việc giành thắng lợi trong thương chiến, lại quyết định bởi đường lối kinh doanh thế nào. Về đường lối kinh doanh hiện đại, người Nhật Bản đã học ở ông thầy dạy là nước Mỹ. Do trò chịu khó học hỏi và phần đầu nên sớm đã vượt cả thầy. Đến nay thì xoay ngược trở lại, ông thầy Mỹ lại nghiên cứu trở lại học trò cũ của mình về đường lối kinh doanh của người Nhật Bản học tập ở người Nhật Bản. Kỳ thực, đường lối kinh doanh của người Nhật, lại chẳng phải là những điều mà học học được ở người Mỹ hay sao? Người Mỹ có học lại cũng không phải là một việc khó. Trình độ khoa học kỹ thuật ngang nhau, đường hướng kinh doanh cùng cùng một khuôn mẫu như nhau, vậy thì, làm thế nào để tận dụng tốt hơn khoa học kỹ thuật và nghệ thuật kinh doanh hiện có, mới là mấu chốt quyết định thắng bại. Quyết sách mà người Nhật Bản đưa ra, phần lớn là theo thứ tự “từ dưới lên trên, tập trung “trí mọi người” rồi sau ván trù xoay chuyển; còn người Mỹ thì “từ trên xuống” hoặc là mưu hoạch theo cẩm nang trí tuệ. Tôn Tử có nói trong binh pháp “Nhiều tính là thắng, ít tính là không thắng”, nói chung lại, trí tuệ của nhiều người được coi như là “tỉnh nhiều”, trí tuệ của số ít người thì “tính ít”, trong cuộc thương chiến giữa Mỹ với Nhật, người Mỹ cứ thua liên tiếp, bởi vì ho “tỉnh ít”, còn Nhật Bản luôn thắng giòn già, vì họ “tính nhiều”.
Nhật Bản dốc hết sức cả nước tham gia thương chiên. Nước Nhật là một nước cực kỳ thiếu thốn về tài nguyên, nguyên liệu cho công nghiệp về căn bản là dựa vào nhập khẩu của nước ngoài, sản phẩm tiêu dùng cũng phần lớn là nhờ ở nước ngoài. Mậu dịch đối ngoại là mạch sống của người Nhật Bản, cho nên từ thông sân tỉnh của chính phủ cho đến các bộ môn hiện quan từ cán bộ nhân viên của công ty nhà máy cho tới xưởng trưởng giám đốc... không ai là không đồng lòng hết sức xuất sắc trong thương chiến, nó không là cơ quan ra lệnh, mà thông qua các nguồn tin tìm hiểu tình hình một cách rộng rãi; tiếp thu các loại ý kiến khác nhau của nhân sĩ các giới, đặc biệt là hợp tác chặt chẽ với các nhân sĩ hiểu biết thấu đáo trong giới thương nhân sau khi qua thảo luận nghiên cứu phân tích một cách đầy đủ, mới vạch ra phương án chiến lược hoặc kế hoạch có tính chỉ đạo, do tính chính xác của nó, nên cũng có tính quyền lực, tuy không ép buộc phải chấp hành, nhưng lại được sự đồng tình của các doanh nghiệp. Các quyết sách của giới thương nhân Nhật Bản phần lớn cũng tư vấn qua “thông sản tỉnh”, rất ít khi tự ý hành động. “Thông sản tỉnh” quản rất nhiều việc, phạm vi quan hệ cũng rất rộng, có thể nói là không đâu không với đến, với đủ mọi kiểu cách, nó hợp tác với giới thương nhân rộng rãi và nhiều táng thứ, nó xác định những ngành nghề nào nên có sự ủng hộ đặc biệt cũng như nên ủng hộ dưới hình thức nào, nên sản xuất những mặt hàng nào có tiềm lực tiêu thụ lớn nhất, những mặt hàng chủ yếu nào đem đến tiêu thụ ở những nơi nào ở nước ngoài, những công ty nào nên đến nước nào, khu vực nào để khai thác thị trường... đều có sự quy hoạch, có sự đề nghị. “Thông sản tỉnh” là như thế, qua những hoạt động vô hình hoặc hữu hình, giúp đỡ và đôn đốc cho nhiều ngành nghề vươn lên vị trí đứng đầu thế giới; hiện nay lại giúp họ giữ vững vị trí ấy. Tinh thần hiệp tác là một nhân tố quan trọng để người Nhật giành thắng lợi trong thương chiến, không những giới công thương có thể tự động hợp tác với “thông sản tỉnh”, xí nghiệp quốc doanh với sự nghiệp tư doanh và giữa các xí nghiệp cũng thế. Tuy rằng giữa các xí nghiệp với nhau ở Nhật Bản vẫn có sự cạnh tranh dữ dội với nhau, nhưng khi cuộc cạnh tranh đó không có lợi cho cạnh tranh đối ngoại, họ sẽ biết lập tức dừng lại để cùng nhau đối địch bên ngoài. Đạo “trung dung của các nhà nho học Trung Quốc được các nhà doanh nghiệp tôn lên là tư tưởng triết học cao nhất, họ cho rằng nội bộ với nhau nên “dĩ hòa vi quí, nên có tinh thần đồng điệu, giữa hai bên hiển nhiên luôn tồn tại một thứ hiệp định quân tử không thành văn. Ngoài ở thị trường nước Mỹ ra, ở các thị trường khác trên thị trường thế giới, người Nhật không bao giờ “tàn sát” lẫn nhau. Họ chủ trương mỗi công ty đều nên nhầm trúng một thị trường cụ thể nào đó ở nước ngoài mà thị trường ở mỗi một khu vực nên thuộc về công ty Nhật Bản đầu tiên nào đã đầu tiên chiếm lĩnh thị trường đó. Việc liên hợp giữa dân với nhà nước của Nhật Bản rất ít thấy ở thế giới phương Tây. Về mặt liên hệ kinh tế đối ngoại như xúc tiến việc đẩy mạnh đưa thương phẩm ra nước ngoài, đưa tiền vốn ra nước ngoài, bảo hộ thị trường trong nước, hạn chế nhập khẩu sản phẩm nước ngoài, hoặc về mặt phát triển doanh nghiệp mới, kỷ thuật mới v.v... giữa chính phủ Nhật Bản và các nhà doanh nghiệp luôn luôn phối hợp rất chặt chỗ. Chính là tinh thần hợp tác chặt chẽ đó lại càng phát huy được “trí của mọi người” cho cuộc thương chiến đối ngoại của Nhật Bản, khiến họ đã đi hết từ thắng lợi này sang thắng lợi khác. Quyết sách “từ dưới lên trên” lại là một thủ đoạn quan trọng mà người Nhật áp dụng để phát huy tác dụng của “trí mọi người”. Các công ty của Nhật luôn luôn khuyến khích công nhân viên nêu những đề nghị về hợp lý hóa hoặc cải cách, hoặc là với một quyết sách nào đó, chỉ định một công nhân cấp thấp thảo ra trước một kế hoạch; những đề nghị và kế hoạch quan trọng sau khi giao cho người có trách nhiệm của các bộ môn có liên quan thảo luận nêu ý kiến cuối cùng mới đưa lên giám đốc quyết định việc thi hành. Chế độ quyết sách từ dưới lên trên thế này có hai mặt tốt. Một là công nhân viên của công ty đều là những người thực tiễn kinh doanh, những quyết sách đưa ra, tập trung ý kiến của mọi người, sẽ phù hợp với thực tế, sẽ tương đối chuẩn xác. Hai là do công nhân tham gia quá trình quyết sách, nên càng hiểu rõ hơn nội dung của quyết sách, có trách nhiệm với nó và sẽ tích cực chấp hành, như vậy thì khi thực thi, những quyết sách đó mới có hiệu quả cao. Quan hệ lao động và tiền lương tương đối hài hòa cũng là nguồn sức mạnh để giành thắng lớn trong thương chiến. Do phần lớn các doanh nghiệp Nhật Bản đều thi hành “chế độ theo nghề suốt đời”, chế độ trả lương theo thâm niên, và một loạt chế độ phúc lợi khác, mâu thuẫn giữa chủ và thợ ở Nhật Bản hoặc những va chạm cũng tương đối hòa hoãn. Công nhân hàng ngày tích cực làm việc, nâng cao hiệu suất lao động, sản xuất ra những sản phẩm vừa rẻ vừa đẹp, thương nghiệp phải lúc ế ẩm thì cùng với công ty chia sẻ nỗi khó khán, như vây tăng cường mạnh mẽ được khả năng cạnh tranh đối ngoại. Người Nhật sở dĩ giành được thắng lợi, điều quan trọng là ở chỗ vạch ra được chiến lược, chiến thuật đúng đắn. Điều đó ngoài sự tìm hiểu tình hình và cố gắng của người Nhật Bản ra, một phần không nhỏ cũng là nhờ ở binh pháp của Trung Quốc. Họ đã áp dụng một cách chính xác những chiến lược, chiến thuật như tránh thực đánh hư, kỳ chính kết hợp, đánh vào lòng người, vu hồi bao vây, đánh ngang sườn rối vây diệt v.v... đã giành được từ tay nước Mỹ hết thị trường này đến thị trường khác. Tóm lại, người Nhật Bản đã biết hòa quện trí tuệ Đông Tây vào làm một thành trí tuệ của dân tộc mình, lấy mậu dịch đối ngoại làm tiên phong, lấy khoa học kỹ thuật làm hậu thuẫn, phát huy tác dụng của “trí mọi người” vận dụng chiến lược chiến thuật được khéo léo, tiến quán thắng lợi vào thị trường các nơi trên thế giới, làm cho một nước Nhật 40 năm trước còn là một đất nước đổ vỡ tan tành, trở thành một nước lớn về kinh tế chỉ còn thua có Mỹ nhưng vẫn có khả năng vượt được Mỹ.
Nước Mỹ khác với nước Nhật thiếu thốn tài nguyên, nó là một nước được thiên nhiên ưu đãi, sự phong phú về tài nguyên là quán quân trên toàn cầu, bản thân nước họ đã là một thị trường vừa rộng lớn vừa phồn vinh. Trừ những công ty hoặc tập đoàn siêu quốc gia, có nhiều công ty của Mỹ xưa nay chưa hề nghĩ rằng mình phải vượt qua biên giới, không tồn tại sức mạnh dân tộc bước ra thị trường thế giới. Khoa học kỹ thuật cao siêu và tài nguyên dồi dào, khiến cho nước Mỹ đứng vững được ở vị trí hàng đầu về mậu dịch quốc tế. Trước đây trên thế giới không có bất kỳ một nước nào lại dám cạnh tranh với Mỹ, người Mỹ cũng chẳng cần phải đau đầu với việc thương chiến, chính phủ Mỹ cũng chẳng cần mất công đi vạch ra chiến lược, chiến thuật về mặt này cũng không cần thiết phải dùng “trí mọi người” để chống lại kẻ xâm lăng kinh tế từ bên ngoài. Nước Mỹ giàu có thế, giàu đến mức dám tiêu dùng cao, hưởng thụ cao. Người Mỹ kiếm tiền dễ nhưng tiêu tiền cũng nhanh, là một nước tiêu dùng lớn nhất trên thế giới. Chính phủ Mỹ đã phất cao ngọn cờ “tự do buôn bán”, trước là thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng cao của thị trường trong nước, sau nữa có thể dốc hết hàng hóa tiêu thụ ra thế giới, cho rằng như thế có thể giữ được sự phồn vinh cho nước Mỹ. Các nhà kinh tế học nước Mỹ chủ trương: “Phát triển ngành nghề nên là kết quả sự chọn lựa tự do của lực lượng thị trường”. Chính phủ thì cứ tuân theo câu cách ngôn ấy mà làm, tức là “chính phủ càng ít nhúng tay vào càng tốt”, cho đến thời kỳ đầu sau đại chiến thế giới lần thứ hai, là thời đại hoàng kim của nước Mỹ. Trước đó sự nghiệp của người Mỹ sao thuận lợi đến thế, họ chẳng biết thế nào là thất bại, sự tích phát triển của nhiều công ty lớn của nước Mỹ đều dựa vào việc trong thời gian thích hợp nào đó, tung ra một lượng hàng hóa thích hợp ở một thị trường đang tăng trưởng nhanh chóng, họ tin chắc rằng chỉ cần có chí tiến thủ và gặp dịp là có thể làm giàu. Quyết sách doanh tiêu của họ trên thị trường căn bản không hề có sự suy nghĩ hay kế hoạch có tính chiến lược, mà nếu có cùng chỉ trong thời gian ngắn. Các công ty Mỹ cũng vì quá giàu có nên sinh tự tin, tự cao tự đại, chỉ nghĩ đến việc sản xuất những sản phẩm hào hoa, cao cấp, thường thường coi nhẹ nhu cầu thực tế của khách hàng. Đối với hàng hóa của Nhật Bản họ coi khinh, cho là thứ hàng thấp hèn, thứ “đồ chơi trẻ con”. Đối với những sản phẩm của Nhật Bản bán được nhiều, họ cũng chẳng thèm để ý, cho rằng không cần “mất hơi sức cho cái mảnh thị trường nhỏ nhoi căn bản không tồn tại đó”, cũng không cần đi so sánh. Giữa các công ty của Mỹ với nhau cũng thiếu sự hợp tác. Các nhà doanh nghiệp đều coi bạn cùng ngành nghề với mình như đối thủ không đội trời chung. Quan hệ giữa công nhân và giới chủ của Mỹ cũng không hài hòa, quan hệ hai bên ngày càng xa lánh nhau, quan hệ hợp đồng giữa công nhân và đơn vị sở tại cũng rất mỏng manh lỏng lẻo, công nhân đòi hỏi nhiều quyền lợi hơn, họ không tin giới chủ là những đối tượng để họ sở cậy khi khó khán, thái độ của họ đối với mục tiêu của xí nghiệp, yêu cầu trong lao động cũng như cải tiến kỹ thuật v.v... là thái độ tiêu cực, điều đó sẽ ảnh hưởng việc nâng cao hiệu suất lao động, cũng tức là giảm bớt khả năng của nước Mỹ trong cạnh tranh sản phẩm. Chính trong tình trạng từ chính phủ đến các doanh nghiệp Mỹ tồn tại tư tưởng, buông lỏng, mất cảnh giác, tự cao tự đại, phân tán và quan hệ chủ thợ không hài hòa đó, người Nhật mới có kẽ hở để len vào. Người Nhật hiện nay chẳng những nuốt gọn của Mỹ hết thị trường này đến thị trường khác, mà còn bỏ những khoản đầu tư lớn ra mua lại các công ty, nhà máy, bất động sản có thể mua được của Mỹ, thậm chí trong khu vực nông nghiệp của Mỹ cũng nổi lên “cơn lốc đầu tư của Nhật Bản” với thế mạnh chiếm lĩnh lâu dài và lan tràn khắp nước Mỹ. Đến lúc này, chính phủ Mỹ mài bàng hoàng thức tỉnh, mới bắt đầu nhận thức ra một mối đe dọa từ Nhật Bản và mới bắt đầu dùng cây gậy của người Nhật để đập lại lưng người Nhật. Ngày nay người Mỹ đã dừng cái điệp khúc “tự do buôn bán”, mà chủ trương “công bằng trong buôn bán”, cùng với việc ép buộc người Nhật mở rộng thêm thị trường, ở trong nước cũng áp dụng hàng loạt biện pháp bảo hộ. Đồng thời kêu gọi các công ty của Mỹ đang cạnh tranh nhau, trong nhiệm vụ nghiên cứu khó khăn nhất, hãy hợp tác với nhau mà đừng cạnh tranh để cùng đối phó với người Nhật. Kinh tế ngày nay đã chẳng còn được như xưa, lại thêm ngân sách thâm hụt, nạn ma túy lan tràn, chất lượng giáo dục sa sút và sự đói bại của chính phủ... những cái đó làm cho người Mỹ mất lòng tin. Người Mỹ từ chỗ trước đây không biết thế nào là thất bại, đến nay đã bắt đầu cảm thấy bi quan, đối với tương lai vô cùng lo lắng, cho rằng “triển vọng của nước Mỹ hết sức ảm đạm”. Đi sâu thảo luận con đường thành công của người Nhật, ngày nay đã trở thành đề mục “nóng sốt” của các học giả Mỹ, họ đã đưa ra đủ mọi cách nhìn nhận. Người thì cho rằng người Nhật thành công do tính “mềm mỏng trong thị trường” của họ, mà cái “như” đó là bắt nguồn từ “như đạo”, từ thuật tự vệ bằng tay không, từ hợp khí đạo của các võ sĩ và từ cờ vây v.v... “Như thế trong tấn công và phòng ngự, đều có thể chọn được những thủ đoạn tốt đẹp nhất. Một công ty của Nhật đã dùng võ tay không đánh vào nhược điểm của đối phương, có lúc lại dùng thủ đoan biến bộ trong hợp khí đạo để mượn ngay thế của đối phương. Cờ vây bắt nguồn từ Trung Quốc sau truyền vào Nhật Bản và được phát triển lên, về mặt triết lý tư duy đã bồi dưỡng nên phương pháp tư tưởng chiến lược lâu dài và nguyên tắc đánh gián tiếp để vu hồi vây diệt cũng như lối suy nghĩ sẵn sàng nắm cơ hội để đánh vào chỗ yếu. Tóm lại, nền văn hóa của Nhật Bản đã cung cấp cho chiến lược kinh doanh tiêu thụ trên thị trường mềm mỏng một món của cải tinh thần rất dồi dào” (Cuộc cạnh tranh mới). Nhiều học giả khác của Mỹ cũng đều đem những kỳ tích về kinh tế của Nhật Bản quy tụ vào đặc điểm văn hóa Nhật Bản, nhất là cái gọi là văn hóa “tính đồng nhất” cho rằng “Công ty đại Nhật bản là từ ngữ diễn đạt một niềm tin như sau: cả Nhật Bản là một xã hội thống nhất, trong cái xã hội này, chính phủ, đoàn thể chính trị, lãnh tụ giới công thương, người lao động và toàn thể quốc dân đều vì một lợi ích chung nắm tay nhau hợp tác” (sách đã dẫn 1.26). Những cách nhìn nhận này không ngoài một lý lẽ nhất định, nhưng không nắm được điểm chủ yếu. Văn hóa cổ truyền của Nhật Bản có ảnh hưởng đến người Nhật, thế thì các dân tộc khác cũng đều chịu ảnh hưởng nền văn hóa cổ truyền của họ. Đặc điểm văn hóa của dân tộc Nhật Bản, chỉ có thể là điều kiện để dẫn họ tới thành công. chứ không thể là cái gì có tính chất quyết định. Mỗi dân tộc đều có đặc điểm văn hóa của mình và như thế sẽ có mặt hay của nó, cũng có mặt dở của nó. Bởi vậy, không thể nói rằng người Nhật vốn mạnh hơn người Mỹ, vấn đề là ở chỗ người Nhật biết dùng “trí mọi người”, mà người Mỹ thì không. Nguồn vốn trí tuệ của nước Mỹ dồi dào hơn nước Nhật, nhưng họ không biết khéo léo dùng nó vào trong thương chiến, đó mới là nguyên nhân thất bại chủ yếu của nước Mỹ. Đặc điểm văn hóa của Nhật Bản là trong điều kiện xã hội đặc biệt, qua sự kế thừa và cải tạo lâu dài rồi mới hình thành được ra, là thứ khó mà học được; còn kinh nghiệm người Nhật dùng “trí mọi người” thì lại là thứ có thể vay mượn được. Sự tiên tiến về khoa học kỹ thuật, sự dồi dào về nguồn vốn trí tuệ của nước Mỹ vẫn là đứng hàng đầu thế giới, nếu biết khéo dùng “trí mọi người” vào việc quyết một phen sống mái với người Nhật, thì phần thắng ở trong tay ai, cũng khó mà hiểu được.
Trong thế giới ngày nay, một đất nước có thể chiếm ưu thế nhất định về mặt khoa học kỹ thuật, hiệu quả thị trường, đổi mới mặt hàng, phương thức tiêu thụ, chất lượng phục vụ v.v.. nhưng những thứ đó đều không phải là nhân tố có tính quyết định giành thắng lợi trong thương chiến : bởi vì trong những lĩnh vực cạnh tranh này, không có một quốc gia nào có thể thực hành lũng đoạn, cũng không có khả năng trong một thời gian dài giữ được ưu thế độc tôn. Sự thắng bại trong cuộc thương chiến Nhật Mỹ đã chứng minh điểm này. Về mặt điều kiện tự nhiên, trên Trái đất này chẳng có bất kể nơi nào lại ưu việt hơn nước Mỹ, tài nguyên cũng chẳng có một quốc gia nào dồi dào hơn nước Mỹ. Còn hoàn cảnh tự nhiên của Nhật Bản lại rất tối tệ, động đất, gió bão, gió mùa liên miên, ngoài thủy sản ra, tài nguyên thiên nhiên hết sức nghèo nàn. Điều kiện tự nhiên của Mỹ với Nhật Bản hơn kém nhau như thế, nhưng sự thực chứng minh rằng, đối với sự thắng bại trong thương chiến Nhật Mỹ, nó không hề có tác dụng quyết định. Mà sự thắng bại trong thương chiến Nhật Mỹ nói lên rằng: Có khéo dùng “trí mọi người” hay không mới là nguyên nhân quan trọng quyết định thắng bại. Vả lại, có thể dùng “trí mọi người”, ngoài bản lĩnh của người lãnh đạo ra, còn phải có sự đồng tâm của mọi người, dốc lòng hết sức mới vạch ra và chấp hành chiến lược chiến thuật một cách chính xác, mới có thể giành thắng lợi.
Thất bại trong thương chiến của nước Mỹ, để lại cho người ta một bài học quan trọng. Ngay như một cường quốc về kinh tế trên thế giới, khi bản thân mình giành được thành tựu lớn lao mà hí hửng mừng thầm, cho rằng ta giỏi nhất, chỉ thích đi dạy người mà không biết khiêm tốn học hỏi, thì rồi cũng có lúc phải thất bại. Người xưa có câu: “Biết mình biết người trăm trận trăm thắng”, “Kiêu binh tất bại”. Đó là một chân lý đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn muôn đời.
3. QUYẾT SÁCH ĐÚNG ĐẮN: MẤU CHỐT GIÀNH THẮNG LỢI
Quyết sách có hai loại: một loại là quyết sách có tính toàn cuộc; một loại nữa là quyết sách có tính cục bộ. Quyết sách toàn cuộc chính xác hay không, quyết định là thắng hay bại. Quyết sách cục bộ đúng đắn hay không, đối với toàn cuộc cũng có ảnh hưởng. Ngay như quyết sách toàn cuộc đúng đắn đi nữa, nhưng nếu quyết sách cục bộ có sai lầm mà lại đúng vào khâu then chốt, sẽ làm cho toàn cuộc bị hư hại, thậm chí bị thất bại. Mới hay, quyết sách có chính xác đúng đắn hay không đối với thắng bại là vô cùng quan trọng.Sự hưng thịnh của Tam quốc đều có liên quan đến quyết sách đúng đắn. Tào Tháo khi mới khởi sự, binh lực không mạnh, lại vì ông là cháu một hoạn quan, chưa được mọi người tin cậy, thiếu sức thuyết phục, sau tiếp thu quyết sách “theo lệnh thiên tử để hợp lòng mọi người” của Tuân Úc, dời Hiến Đế về Hứa Đô, thế là có quyền lực nắm trong tay, trong chốc lát từ hầu của một phương trở thành trung tâm quyền lực của cả thiên hạ. Lưu Bị – người được Tào Tháo mệnh danh là một trong hai anh hùng trên đời, lúc mới đấu cũng ăn nhờ ở đậu chạy ngược chạy xuôi, khốn đốn tột độ, sau thu nạp “Long Trung Sách” của Gia Cát Lượng, liên hợp với Tôn Quyền, đánh bại Tào Tháo, chiếm được Kinh Châu, phía Tây lấy được Lưỡng Xuyên, cuối cùng xây dựng được nước Thục. Tôn Quyền nổi nghiệp cha anh lúc mới 18 tuổi, vừa chẳng có sự tích gì về chính trị, quân sự cũng chưa lập chiến công, cả đời chẳng thấy có mưu lược gì ghê gớm, thế nhưng có một cái hơn người là biết dùng “trí mọi người”, đặc biệt là tiếp nhận “sách trên giường” của Lỗ Túc và những đề nghị của ông này về việc chống Tào Tháo, có tác dụng mấu chốt đối với việc cùng cố chính quyền cho nước Ngô. Những quyết sách của ba nước kể trên, đều là những quyết sách có tính toàn cuộc, vì nó đúng đắn nên cả ba nước đều thu được thắng lợi có tính quyết định.
Quyết sách có tính toàn cuộc đương nhiên là quan trọng, quyết sách cục bộ cũng quan trọng không kém. Sau khi Tào Tháo dẹp bằng các anh hùng ở phương Bắc, đã dấy quân đánh xuống phía Nam, phá được Kinh Châu, thuận dòng sông đánh xuống phía đông để thống nhất thiên hạ. Từ quyết sách chiến lược mà nói, chẳng có gì khác phải bàn. Thế nhưng thất bại ở Xích Bích, là bại do sai lầm về chiến thuật, chiến dịch, như đã trúng kế phản gián của Chu Du mà chém lầm mất hai viên đô đốc Sái Mạo và Trương Doãn cũng như trúng kế hiến hoàn của Bàng Thống, “khổ nhục kế” của Hoàng Cái, đi đến chỗ bị hỏa công mà tan vỡ. Thất bại ở Xích Bích khiến cho ý đồ lớn lao thống nhất thiên hạ của Tào Tháo tiêu tan như bọt xà phòng. Lại như “Long Trung Sách” của Gia Cát Lượng, chủ trương chiếm lĩnh Kinh Châu và Tây Thục, để hình thành thế tấn công gọng kìm đối với Tào Ngụy. là một quyết sách chiến lược chống lại Tào Ngụy và giành thiên hạ. Nhưng do Quan Vũ sơ ý để mất Kinh Châu, đó tuy là thất bại cục bộ, nhưng lại ảnh hưởng đến quyết sách toàn cuộc, thế tấn công gọng kìm cuối cùng phải tuyên bố phá sản, nước Thục từ đó trượt từ đỉnh cao trượt xuống không gượng được dậy, ngày càng xuống dốc.
Đi sâu vào bàn về điều kiện khách quan và chủ quan hình thành quyết sách đúng đắn hoặc sai lầm của ba nước cũng như những bài học trong khi quán triệt, chấp hành những quyết sách này là có thể vay mượn được ít nhiều ở những quyết sách đó. Quyết sách đúng đắn của ba nước, đều là do phân tích được hình thế khách quan một cách chính xác và căn cứ tình hình thực tế nội bộ nước mình mà đưa ra, như Tuân Úc sở dĩ đưa ra quyết sách “thừa lệnh thiên tử để lấy lòng mọi người”, vì do lúc đó quân phiệt hỗn chiến, trăm họ lầm than chết đói đấy đường, lòng dân chán ghét loạn lạc muốn bình an, nhà Hán tuy suy yếu nhưng do ảnh hưởng tư tưởng chính thống, người nhớ về nhà Hán vẫn còn nhiều, nếu như phất được ngọn cờ “ủng hộ nhà Hán”, tiến hành cuộc chiến tranh để thống nhất thiên hạ là có thể làm nên chuyện. Lúc đó Hán Đế mắc nạn ở Lạc Dương, Tào Tháo đóng quân ở Sơn Đông, quân khỏe ngựa hay, tiện gần đó đem quân hộ giá, quả là một cơ hội tốt, bởi vậy, Tuân Úc mới đề nghị “Nay thiên tử đang gặp nạn, tướng quân hãy nhân lúc này đem nghĩa binh, phụng thiên tử để lấy lòng tin mọi người”. “Long Trung Sách” của Gia Cát Lượng cũng có căn cứ là: Tào Tháo có hàng triệu quân “không thể đương đầu”, Tôn Quyền đang chiếm Giang Đông, đất hiểm dân thuận “có thể dùng để hòa hoãn mà không thể chiếm được”, mà Lưu Bị lúc đó đang không có một tấc đất cắm dùi, cần phải xây dựng được căn cứ địa, rồi mới chiếm thiên hạ được. Có điều lúc đó có chiếm được cũng chỉ là Kinh Châu và Ích Châu. Kính Châu thì “là đất dụng võ”, Ích Châu “hiểm trở xa xôi”, là “Nước của thiên phủ”. “Đợi thiên hạ có biến, sai một thượng tướng đem quân Kinh Châu tiến sang Uyển, Lạc; còn tướng quân thì đem quân Ích Châu tiến ra Tấn Xuyên, nhất định trăm họ phải cơm nắm cơm đùm đến đón tướng quân. Được như thế nghiệp lớn mới thành, mới mong khôi phục được nhà Hán”. “Sách trên giường” của Lỗ Túc cùng căn cứ vào tình thế bên trong bên ngoài của Đông Ngô lúc đó mà vạch ra. Ông cho rằng, nếu bàn theo tình hình lúc ấy: “Chỉ còn một cách đứng vững ở Giang Đông xem thiên hạ khiêu khích nhau. Nay thừa lúc phương Bắc nhiều vụ việc, hãy trừ Hoàng Tổ, đánh đẹp Lưu Biểu, cố thủ dọc Trường Giang; sau đó dựng liệu đế vương để giành thiên hạ, đó là sự nghiệp của Cao Tổ vậy!”. Những quyết sách nói trên của Tuân Úc, Gia Cát Lượng, Lỗ Túc, đều từng cái một phù hợp tình thế lúc đó của Tào Tháo, Lưu Bị, Tôn Quyền. Và cũng như vậy, quan trọng là ở chỗ Tào Tháo, Lưu Bị, Tôn Quyền lúc ấy đều là những anh hùng cái thế, cho nên mới chấp nhận và làm theo. Thế nhưng sự thất bại của Tào Tháo ở Xích Bích, sự mất thành ở Kinh Châu của Quan Vũ thì ngược lại hoàn toàn. Nhận thức đối nội đối ngoại của Tào Tháo đều sai lầm, như việc đánh giá không hết mưu trí của Chu Du, của Gia Cát Lượng; thiếu nhận thức với những vấn đề như lính tráng miền Bắc không quen thủy chiến, không quen thủy thổ v.v... cho nên đã đưa ra quyết sách sai lầm.
Còn Quan Vũ thì vì tự cao tự đại một cách mù quáng, coi khinh Tào Ngụy, lại càng chẳng coi Tôn Quyền ra cái gì, thế là “ra trận với hai quả đấm”, quên khuấy cả phương châm tám chữ của Gia Cát Lượng là “Bắc chống Tào Tháo, Đông hòa Tôn Quyền”; đồng thời đối với những nhân tố phân biến tồn tại trong nội bộ, Quan Vũ lại chẳng hề mảy may hay biết. Việc ông ta thua phải chạy ra Mạch Thành, cuối cùng bị bắt rồi bị giết, thiết tưởng đó cũng không phải là việc ngoài ý nghĩ của mọi người.
Từ những điều nói trên, mới thấy được rằng, muốn có một quyết sách đúng đắn, thì cần phải: một là phải xem xét và đánh giá tình thế khách quan có liên quan một cách đúng đắn. Hai là phải xuất phát từ thực tế của chính mình. Ba là hạt nhân lãnh đạo phải là người nhiều mưu trí và giỏi phán đoán. Ba điểm này có thể coi như ba bí quyết để vạch ra quyết sách. Muốn đưa ra bất kể một quyết sách gì, ba bí quyết này không thể thiếu một cái nào. Quyết sách trong thương chiến cũng không phải là ngoại lệ. Căn cứ vào đó, kết hợp kinh nghiệm thành công của Nhật Bản và “bốn con rồng”, ta thử bàn với nhau xem làm thế nào để nêu ra được quyết sách trong thương chiến.
Quan sát và đánh giá đúng mức tình thế khách quan có liên quan
Mục đích của thương chiến, không gì khác hơn là chiếm lĩnh thị trường bao gồm thị trường trong nước và thị trường thế giới. Thành quả thương chiến lớn hay nhỏ quyết định bởi phân lượng thị trường chiếm lĩnh được nhiều hay ít. Muốn chiếm lĩnh thị trường thì trước hết phải tìm hiểu thị trường, nếu như không hiểu biết chút gì về thị trường, dựa vào vận may để tham gia thương chiến thì mười phần chắc là thua chín. Thị trường là sự tồn tại khách quan, phải quan sát và đánh giá nó một cách đúng đắn, mới có thể đưa ra một quyết sách đúng đắn nhằm chiếm lĩnh thị trường.
Muốn tìm hiểu thị trường, phải nhận thức được địa vị quan trọng và tác dụng của thị trường trong thương chiến và phát triển kinh tế. Thực tiễn đã chứng minh, phàm là những quốc gia hoặc khu vực kinh tế phát triển, sự tiến bộ của nó có quan hệ rất lớn tới thành quả đạt được về ngoại thương và năng lực thao túng thị trường của nó. Có thể nói, ngoại thương là cái “đầu tầu” kéo theo sự phát triển kinh tế, thị trường là mảnh đất làm cho nền kinh tế hoạt động sôi nổi. Thị trường không phải hình thành theo ý chí chủ quan của mọi người, cũng không phải thứ của riêng của xã hội tư bản, mà là sản phẩm của sản xuất xã hội phát triển tới một giai đoạn nhất định, như Các Mác đã từng chỉ ra rằng: “sự phân công lao động sản xuất, khiến cho sản phẩm của nó biến thành hàng hóa, trở thành vật trao đổi lẫn nhau, làm cho chúng thành thị trường của nhau” (Mác-Ăng ghen toàn tập, trang 718 – bản Trung văn). Điều đó nói lên rằng có hàng hóa là có thị trường. Nhưng nền kinh tế hàng hóa ở xã hội nô lệ và xã hội phong kiến, lấy hàng hóa giản đơn làm đặc điểm, tức là vì muốn mua mà phải bán, lấy sự trao đổi giá trị sử dụng làm mục đích, nó là hình thức bổ sung của kinh tế tự nhiên, không đứng ở vị trí chủ yếu, tác dụng do thị trường gây nên rất có hạn. Chỉ đến xã hội tư bản mới được phát triển mạnh, kinh tế hàng hóa trở thành hình thức thống trị tuyệt đối, thị trường trở thành thủ đoạn chính để điều tiết kinh tế xã hội. Những nước và khu vực kinh tế phát triển hiện nay, lợi dụng thị trường, gây nên tác dụng to lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội; nó biểu hiện cụ thể ở chỗ: Một là thông qua giá cả thị trường, phản ảnh một cách khách quan tình hình cung và cầu. Khi cầu lớn hơn cung, giá cả sẽ tăng lên; cung vượt quá cầu, giá cả sẽ giảm xuống, đối với người sản xuất, nó tạo nên tác dụng chỉ đạo vô hình. Nó mách bảo người sản xuất nên sản xuất thêm cái gì, giảm bớt hoặc ngừng sản xuất cái gì. Thế nhưng, khi một loại hàng hóa nào đó cầu lớn hơn cung mà giá cả tăng lên, người sản xuất sẽ sản xuất ra thật nhiều; sau đó lại xuất hiện cung lớn hơn cầu dẫn đến giá cả giảm xuống. Khi một loại hàng hóa nào đó cung lớn hơn cầu giá cả giảm xuống, người sản xuất sẽ giảm hoặc ngừng hẳn sản xuất, thế là giá cả có xu hướng ổn định hoặc cao lên, sản xuất và trao đổi hàng hóa cứ như thế mà chịu sự chi phối và chế ước của quy luật giá trị, cơ chế thị trường có tác dụng điều tiết kinh tế xã hội như thế. Và như vậy, đứng trước thị trường, người sản xuất hình như bị động, trước khi người ta còn chưa nhận thức ra quy luật kinh tế thị trường, cái tính mù quáng đó là có tồn tại, làm rõ được quy luật của nó là có thể biến bị động thành chủ động. Muốn phản ánh một cách chính xác tình hình cung và cầu thì chỉ có thông qua thị trường. Bởi vậy bất cứ một nhà máy hay một thương nhân nào muốn chiếm được phần nhiều hơn trong thị trường cũng chỉ có điều tra nghiên cứu tình hình cung cầu của thị trường một cách tỉ mỉ, rộng rãi, sâu sắc để dự đoán một cách khoa học, mới có thể áp dụng một quyết sách hay một biện pháp đúng đắn hơn, biến bị động thành chủ động để giành lấy sự thành công. Ngược lại, tất nhiên là sẽ mù quáng, bị động, và gặp phải thất bại. Hai là một trong những đặc điểm của thị trường là cạnh tranh và chỉ có cạnh tranh mới thúc đẩy kinh tế không ngừng phát triển. Xã hội tư bản từ giai đoạn tự do cạnh tranh bước sang giai đoạn lũng đoạn, không tiêu diệt mà tăng cường cạnh tranh. Cho dù ngày nay giữa các loại tập đoàn kinh tế từng khu vực với nhau, mức độ lũng đoạn của nó so với trước đây tuy rộng rãi hơn, mạnh mẽ hơn, nhưng cạnh tranh lại càng dữ dội hơn mà lại cạnh tranh ở phạm vi rộng rãi hơn ở lĩnh vực khoa học kỹ thuật cao cấp hơn. Muốn thắng lợi trong cạnh tranh, sẽ phải nâng cao năng suất lao động; muốn nâng cao năng suất lao động, nhân tố có tính quyết định là ở chỗ nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật. Hiển nhiên là cạnh tranh sẽ phát huy tính tích cực của mọi người, nâng cao được trình độ khoa học kỹ thuật, phát triển được sản xuất và làm cho nền kinh tế phồn vinh lên. Nếu như tách rời thị trường, cũng tức là tách rời cạnh tranh, không có cạnh tranh thì kinh tế sẽ trì trệ không tiến lên được, bởi nó sẽ gây cho con người tính lười nhác, tính bảo thủ và không tồn tại nhân tố kích thích mọi người tìm mọi cách để nâng cao hiệu suất lao động. Tác dụng điều tiết của thị trường cũng không phải vạn năng, không thể để cho kinh tế thị trường tự do trôi nổi, nếu không, sẽ xuất hiện sự rối loạn trong quản lý và trạng thái chủ nghĩa vô chính phủ, không có lợi cho sự phát triển kinh tế, ngay như những nước chủ trương “thị trường tự do” cũng đang khống chế vì mô một cách thích đáng, mức độ khống chế của nó tùy sự khác nhau của tình hình các nước. Như tổng thống Hoa kỳ nhậm chức năm 1933 Ford, muốn hoà hoãn nguy cơ kinh tế, đã áp dụng hàng loạt “chính sách mới”. Sau đại chiến thế giới lần thứ hai, nhà nước điều chỉnh và khống chế đời sống kinh tế, gây nên tác dụng ngày càng quan trọng hơn trong sự chuyển vận nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Chính phủ Pháp, Anh, Tây Đức, Italia v.v… ở những thời kỳ khác nhau đều vạch ra các kế hoạch kinh tế ở mọi loại hình khác nhau, chẳng qua chỉ là kiểu “chỉ đạo”, chủ yếu là dựa vào đầu tư của nhà nước và lợi dụng đòn bẩy kinh tế trong lĩnh vực lưu thông. Thực tiễn đã chứng minh: Nhà nước điều chỉnh khống chế ở tầm vĩ mô, cần phải xuất phát từ thực tế thị trường, nếu không, kế hoạch vạch ra sẽ xa rời thực tế và hiệu quả sẽ không lớn. Muốn cho kế hoạch kinh tế phù hợp với thực tế khách quan, chỉ có thể thông qua thị trường, bởi vì chỉ có thị trường mới có thể phản ánh một cách khách quan các mối quan hệ kinh tế, tức là quan hệ giữa sản xuất của xã hội và nhu cầu xã hội, giữa lượng hàng hoá có thể cung cấp và nhu cầu có khả năng chi phối, giữa người sản xuất và người tiêu dùng, giữa các bộ môn trong nền kinh tế quốc dân với nhau… Cho đến nay vẫn chưa ai tìm ra được bất kỳ một hình thức nào có thể thay thế cho loại chức năng đó của thị trường. Thị trường không phải của riêng của bất kỳ hình thái xã hội nào, thị trường được hình thành sau khi phân công lao động và xuất hiện hàng hoá, chỉ cần tồn tại sự phân công trong lao động sản xuất, tức là còn có hàng hóa, thì còn có thị trường. Bởi vậy bất kỳ một quốc gia nào, muốn phát triển kinh tế thì cần phải lợi dụng thị trường, làm việc theo quy luật giá trị. Nhất là hiện nay, một thị trường thế giới thống nhất, không có gì không bao gồm trong đó đang được hình thành, bất kỳ một nhà máy, một thương gia một nhà nước nào hoặc khu vực nào, đều không thể đứng ngoài thị trường, muốn dành được thắng lợi trong thương chiến, thì việc quan sát thị trường, đánh giá đúng mức thị trường quan trọng đến như thế nào.
Chỉ có quan sát thị trường, đánh giá đúng thị trường, mới có thể đề ra quyết sách đúng đắn để chiếm lĩnh thị trường. Mà muốn quan sát thị trường, đánh giá thị trường lúc này, không phải là việc dễ dàng, là bởi vì thị trường ngày nay, so với thị trường trước kia rộng lớn, phức tạp và biến hóa khôn lường hơn nhiều. Từ khi chủ nghĩa tư bản phát triển thành chủ nghĩa đế quốc, châu Á, châu Phi, châu Mỹ la tinh đều bị nó chia cắt. Châu Mỹ la tinh trở thành mảnh sân sau của nước Mỹ, nước Anh với mặt trời không bao giờ lặn trên các nước thuộc địa của nó, các thuộc địa và các vùng phạm vi thế lực mà chủ nghĩa đế quốc từng chiếm giữ, cũng tức là cái thị trường mà chúng chiếm được bằng vũ lực, chúng vạch đất chia nhau chiếm giữ không cho ai được nhúng tay vào. Sau đại chiến thế giới lần thứ hai xuất hiện ra hai phe: xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, cũng hình thành ra hai khối thị trường. Chia thế giới ra làm nhiều thị trường hoặc còn có cách “chia đôi thị trường”. Như vậy là hạn chế sự trao đổi mậu dịch giữa các nước với nhau, làm ngăn trở sự giao lưu hàng hóa, như vậy sẽ không có lợi cho sự phát triển kinh tế thế giới, nhất là các nước nhỏ yếu. Do phong trào giải phóng dân tộc phát triển rầm rộ, nhiều quốc gia lần lượt giành được độc lập, hai thị trường phải giải thể, khoa học kỹ thuật hiện đại phát triển, đã kéo gắn các nước lại với nhau, tuy nhiên có sự ngóc đầu dậy của chủ nghĩa bảo hộ và xuất hiện những tập đoàn kinh tế có tính khu vực, cũng không ngăn được xu thể hình thành thị trường thế giới. Thị trường của bất kể một nước nào cũng không tách ra khỏi thị trường thế giới mà tồn tại độc lập được. Thị trường ngày nay rộng lớn hơn lúc nào hết. Các nước trên thế giới thi nhau xuất hiện những công ty siêu quốc gia hoặc thành lập những tập đoàn kinh tế có tính khu vực, chúng lần lượt thọc sâu vào các nước trên thế giới hoặc ở ngay nước sở tại xây nhà máy, lập công ty, mua sản nghiệp, như thủy ngân đổ xuống đất không kẻ nào không chui lách tới, với sản phẩm mũi nhọn, với nguồn vốn dồi dào, họ chiếm lĩnh hết thị trường này đến thị trường khác, và như thế bỏng hình thành cục diện trong ta có mi, trong mi có ta, tạo nên một bức tranh chống chéo lên nhau rất phức tạp. Như vậy giữa các nước với nhau không những cạnh tranh kinh tế dữ dội hơn và dựa vào nhau về kinh tế cũng mật thiết hơn. Hiện tượng phức tạp xen kẽ đó là chưa từng có bao giờ. Do khoa học kỹ thuật hiện đại đổi mới từng ngày, sản phẩm mũi nhọn cũng ra đời liên tục, hôm nay có thể là thứ hăng cháy chợ, ngày mai có thể là thít không ai thèm ngó, điều đó làm cho thị trường càng trở nên biến hoá khôn lường. Đứng trước một thị trường thế giới rộng lớn, phức tạp, biến hoá khôn lường đó, muốn quan sát và đánh giá nó được đúng đắn, cần phải bỏ ra nhiều công sức và trí tuệ, phải dùng tới phương tiện thông tin hiện đại, đặt màng lưới tình báo kinh tế ở khắp các thị trường chủ yếu trên thế giới, thường xuyên cử nhân viên điều tra nghiên cứu, thiết lập những cơ cấu nghiên cứu chuyên môn để thu thập tình báo, điều đó không thể một mình nhà máy nào, công ty nào có thể tự làm được, phải làm như Nhật Bản, dốc sức cả nước ra làm mới được. Cô vô số những sự thực đã chứng minh: trong thương chiến, phàm những ai nêu ra được quyết sách đúng đắn, không ai là không bắt đầu từ việc quan sát và đánh giá đúng đắn thị trường. Ngoài ra còn cần nhấn mạnh rằng: Quan sát, đánh giả thị trường không thể ở thị trường mà bàn thị trường, thị trường hiện nay có quan hệ chặt chẽ với cục diện của cả thế giới như sự biến động về chính trị, chiến tranh cục bộ nổ ra đến sự thay đổi của một nhân vật lãnh đạo quan trọng nào đó đều có thể dẫn tới sự biến động của thị trường, cho nên trong khi quan sát và đánh giá thị trường không thể bỏ ra một bên tình thế của quốc tế.
Cần phải xuất phát từ tình hình thực tế của mình
Khoảng tháng 9 năm 1954, Đa-lét lúc đó đang làm quốc vụ khanh của Hoa Kỳ đi thăm Nhật Bản, nói với thủ tướng Nhật Bản lúc đó với giọng khinh miệt rằng “Nhật bản khỏi cần phải tìm kiếm thị trường ở Mỹ, vì người dân Mỹ không cấn những sản phẩm do Nhật chế tạo”. Thế nhưng qua 10 năm sau, hàng loạt hàng hoá vừa đẹp vừa rẻ của Nhật Bản nối đuôi nhau liên tục đổ vào nước Mỹ, chiếm lĩnh hết thị trường này đến thị trường khác của Mỹ. Một Nhật Bản bắt đầu từ con số “0” sau chiến tranh thế giới thứ hai, mà đến năm 1968, tổng giá trị kinh tế quốc dân của nó trong các nước phương Tây chỉ đứng sau có nước Mỹ, và trong các lĩnh vực kinh tế khoa học kỹ thuật, đang đuổi và vượt nước Mỹ với thế áp sát sau lưng, tranh cướp với nước Mỹ quyền bá chủ. Điều càng khiến cho các nước phương Tây tỉnh mắt ra là những mảnh đất chật hẹp như Hồng Kông, Singapo đã từng là thuộc địa của Nhật bản, rồi những khu vực sau chiến tranh thế giới thứ hai kinh tế hết sức tồi tệ như Đài Loan, Hàn quốc... tức là “bốn con rồng nhỏ” như người ta thường gọi, cũng đã vươn lên mạnh mẽ sau Nhật bản. Trong vòng 10 năm từ 1970 đến 1980, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế từ 7-10%, vượt xa những nước phát triển ở phương Tây trong cùng thời điểm với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế 3,1%, “Bốn con rồng” trở thành quốc gia và khu vực công nghiệp hoá mới trỗi dậy, chỉ bỏ ra thời gian khoảng 20 năm, chỉ riêng giá trị tổng sản phẩm tính theo bình quân đầu người, đã có thể chen chân vào hàng ngũ các nước và khu vực phát triển.
Đó quả là một kỳ tích! Nói là kỳ tích bởi vì họ đều bắt đầu từ những khởi điểm thấp nhất, thậm chí là từ điểm “0”, mà lại đều là những nơi thiếu thốn tài nguyên, thậm chí chẳng có một chút tài nguyên gì đáng kể, khoa học kỹ thuật và sản xuất vốn có so với các nước phát triển cũng rất là lạc hậu. Nguyên nhân làm xuất hiện những kỳ tích đó là gì? Trong lịch sử cận đại của Âu Mỹ, phàm những nước kinh tế phát triển mau lẹ, không nước nào là không có liên quan đến việc sẵn có nguồn tài nguyên dồi dào, mà sự vươn dậy của Nhật Bản và “bốn con rồng” lại chẳng dính dáng gì đến tài nguyên. Cái mà họ dựa vào là dùng trí tuệ nhằm đúng vào thị trường trong ngoài nước, xuất phát từ tình hình thực tế của mình, vạch ra một chiến lược thiết thực và có thể thực hiện được, mở ra con đường sáng sủa để mình tiến lên công nghiệp hoá. Những buổi đầu mới bước vào thị trường, chẳng những thị trường chủ yếu trên thế giới đã bị hàng hoá Âu Mỹ chiếm lĩnh hết, đến ngay khu vực hay đất nước của họ cũng thế. Căn cứ vào đó, mở đầu đều áp dụng chiến lược “nhập khẩu để thay thế”, dùng thủ đoạn bảo hộ bằng thuế quan hay phi thuế quan hạn chế việc đưa vào một số hàng hoá đã được chỉ định, phát triển mặt hàng cùng loại của đất nước mình để thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp chế tạo của khu vực hay quốc gia mình. Khi phát hiện hàng hoá ở trong nước hay khu vực mình có xu hướng bảo hoà hay thừa ế, phải nắm ngay thời cơ có lợi của thị trường quốc tế, trước và sau những năm 60, áp dụng chiến lược “xuất khẩu dẫn hướng”, đem hàng hoá vừa rẻ vừa đẹp của mình đánh vào thị trường thế giới và thực hiện xen kẽ, bổ sung nhau giữa “nhập khẩu để thay thế” với “xuất khẩu để dẫn hướng” làm cho nó không ngừng đi từ cấp thấp đến cấp cao, tức là từ chế tạo những sản phẩm tập trung lao động đi tới chỗ chế tạo sản phẩm kiểu tập trung tiền vốn, phát triển nữa lên đến chỗ chế tạo ra những sản phẩm kiểu tập trung kỹ thuật hoặc tin tức, là quyết sách chung khiến cho Nhật bản và “bốn con rồng” bay lên được.
Tình hình thực tế của Nhật Bản và “bốn con rồng” mỗi người mỗi khác nhau, thì những quyết sách và biện pháp mà họ áp dụng cũng sẽ khác nhau. Ở Nhật bản, chủ yếu là áp dụng chiến lược phát triển tích luỹ cao, đưa ra nhiều và nâng cao tiêu dùng. Đặc điểm nổi bật của tình hình nước Nhật là tài nguyên nghèo nàn, mật độ dân số cao, người dân cần cù tiết kiệm. Chiến lược phát triển của họ được dựa vào đó mà vạch ra. Do tài nguyên nghèo nàn, trên 90% tài nguyên để sản xuất phát triển là phải nhập khẩu, mà xuất khẩu nhiều thì cũng phải nhập khẩu nhiều, điều đó quyết định mạch sống của Nhật Bản là ở xuất khẩu, nếu không chẳng thể phát triển kinh tế, mà để sống được cũng còn khó. Mà muốn gia tăng xuất khẩu thì phải mở rộng tái sản xuất. Sau chiến tranh tuy có được một ít viện trợ Mỹ, nhưng nguồn vốn để họ mở rộng tái sản xuất, chủ yếu là dựa vào sự tích lũy cao của chính mình, do nhân dân biết cần kiệm, bản thân chẳng những giành dụm được nhiều, còn cố gắng sản xuất để tăng tích lũy cho nhà nước. Từ năm 1957 đến năm 1973, tổng tích lũy trong nước của họ cao tới 38,4%, là một trong những nước cao nhất trong các nước tư bản. Khi họ thực thì giai đoạn 1 của chiến lược “xuất khẩu để dẫn hướng”, căn cứ vào nhu cầu trên thị trường thế giới, lợi dụng nguồn tích lũy cao trong nước và nguồn sức lao động rẻ mà chất lượng lại khá cao, trọng điểm phát triển ba sản nghiệp lớn là gang thép, đóng tàu và ô tô để xuất khẩu lấy ngoại tệ. Đến cuối những năm 50 đến đầu những năm 80, lượng xuất khẩu của gang thép, đóng tàu và ô tô, lần lượt chiếm vị trí hàng đầu trên thị trường thế giới, thúc đẩy sự bay lên của Nhật Bản. Cùng một lúc với nền kinh tế không ngừng phát triển, không ngừng nâng cao một cách thích đáng mức tiêu dùng của quốc dân. Cũng vì thu nhập khá cao, người Nhật bản lại khá tiết kiệm, vì thế mà vừa nêu cao được tính tích cực của sản xuất, lại vừa bảo đảm tích lũy cao cho nhà nước, tiến thêm một bước mở rộng tái sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu. Thời gian thực hành “nhập khẩu thay thế những năm 50, Đài Loan đã đề ra “lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp” làm chiến lược, đã đầu tư những khoản tiền lớn vào cho nông nghiệp, thực hành cải tạo kỹ thuật đối với nông nghiệp, năng suất lao động nông nghiệp tăng lên rõ rệt, như thế vừa có thể thông qua việc thực hiện dùng sản phẩm nông nghiệp thu ngoại tệ, tích luỹ vốn để phát triển công nghiệp, lại có thể cung cấp cho sản xuất công nghiệp một nguồn sức lao động dồi dào mà giá rẻ, làm cho những xí nghiệp dân doanh và những doanh nghiệp vừa và nhỏ lấy sản xuất hàng dệt kim, đồ nhựa, dụng cụ điện gia đình đơn giản là chính, có sự phát triển tương đối nhanh. Sách lược “nhập khẩu để thay thế” thu được thành công, những năm 60 chuyển sang thực thi chiến lược “xuất khẩu để dẫn hướng”, lần đầu tiên sáng tạo ra khu chế xuất, theo mô típ “nhập khẩu gia công xuất khẩu”, tiếp tục bằng lao động giá rẻ phát triển sản phẩm tập trung sức lao động để đưa vào thị trường quốc tế. Bởi vì nhà cầm quyền Đài Loan một thời gian dài vẫn giữ mức chi tiêu cho quân sự rất cao, không thể tích lũy cao được như Nhật bản, chủ yếu là đi vay vốn nước ngoài hoặc lợi dụng vốn từ bên ngoài. Về tốc độ phát triển lại áp dụng mô típ phát triển cân bằng, chủ trương “tìm sự trưởng thành trong ổn định, và ổn định trong trưởng thành”. Hàn Quốc lại trong tình hình hy sinh nông nghiệp, từ phát triển công nghiệp nhẹ đến công nghiệp nặng, rồi lên thẳng đến sản xuất sản phẩm mũi nhọn, nguồn vốn chủ yếu dựa vào đi vay nợ. Sau tháng 5 năm 1961, từ “nhập khẩu thay thế” chuyển sang “xuất khẩu để dẫn hướng”, khẩu hiệu của họ là: “trưởng thành trên hết, xuất khẩu trước hết”, chủ trương “trường thành coi trọng ổn định”, phát triển doanh nghiệp, lấy công nghiệp nặng làm trọng điểm. Khuyến khích các xí nghiệp lớn phát triển, tốc độ phát triển đi lên ba ngành công nghiệp lớn là gang thép, điện tử, xe hơi... của họ nhanh đến mức người đời phải lác mắt. Do sách lược Đài Loan và Hàn Quốc áp dụng có khác nhau, nên có mặt lợi mặt hại : Về thực lực của ngành chế tạo, Hàn Quốc mạnh hơn Đài Loan. Bởi vì Hàn Quốc trọng điểm phát triển công nghiệp nặng, động viên các doanh nghiệp lớn phát triển; xe hơi, gang thép, đóng tàu, bán dẫn là những ngành công nghiệp tiên tiến hơn Đài Loan. Lò vi ba, máy quay ca mê ra, và một số mặt hàng khác chiếm thị trường của Mỹ cũng nhiều hơn của Đài Loan. Do Hàn Quốc coi nhẹ việc phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, kỹ thuật cơ bản của họ trong chế tạo linh kiện và các vật liệu mới còn rất lạc hậu, phần lớn là nhập về từ Nhật Bản. Đài Loan lại chú trọng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tuy dễ cho việc chế tạo các lính kiện và sản phẩm trung gian, vì quy mô của nó nhỏ nên không tiện cho việc hiện đại hoá kinh doanh và quản lý. Về tốc độ phát triển, Đài Loan lại nhanh hơn Hàn Quốc. Hàn Quốc áp dụng mô típ không cân bằng, cất bước muộn hơn Đài Loan 10 năm, nhưng hầu như đồng thời cùng với Đài Loan trở thành khu vực công nghiệp hóa. Vì do nó phát triển không thăng bằng, kinh tế thăng trầm không ổn định, nên tốc độ phát triển hóa ra lại chậm hơn Đài Loan. Đài Loan thì áp dụng mô típ phát triển thăng bằng, tiến lên trong sự cân bằng, cho nên giá trị tổng sản lượng bình quân theo đầu người của họ cao hơn của Hàn Quốc, cán cân ngoại thương chênh lệch thuận, dự trữ ngoại tệ cũng nhiều. Hồng Kông và Singapo thì dựa vào ưu thế địa lý của họ, bắt tay từ mậu dịch chuyển khẩu, phát triển ngành gia công xuất khẩu, ngành tiền tệ và ngành dịch vụ. Hồng Kông và Singapo xuất khẩu dẫn hướng công nghiệp hóa giành được thành công, cũng là xuất phát từ điều kiện tự thân, kết quả của việc phô cái mạnh tránh mặt yếu. Singapo cất bước công nghiệp hóa khá muộn, bèn chọn ngành lọc dầu vốn có yêu cầu khá cao về vốn liếng và kỹ thuật, cũng như ngành điện tử và ngành truyền thống là sửa chữa để làm đối tượng phát triển. Vì tài nguyên và sức lao động ở Singapo rất thiếu thốn, bắt tay từ ba ngành lớn kia là phù hợp với tình hình đất nước họ. Nguồn vốn và kỹ thuật để phát triển của họ giải quyết bằng cách tiếp thu từ bên ngoài. Ba ngành nghề lớn đó phát triển mau lẹ, đã làm thay đổi kết cấu sản nghiệp kiểu nhẹ, lấy bộ môn sản nghiệp tập trung lao động là chính của Singapo những năm 60, đẩy mạnh xuất khẩu dẫn hướng công nghiệp hóa. Sự thay đổi rõ nét về kết cấu kinh tế của Hồng Kông chỉ xảy ra vào những năm 60. Đột phá khẩu mà họ xuất khẩu dẫn hướng công nghiệp hóa là lấy ba loại doanh nghiệp dệt kim, may mặc, điện tử làm mục tiêu chủ yếu. Năm 1973, ba sản nghiệp này chiếm 62% tổng giá trị công nghiệp chế tạo chiếm 60% xuất khẩu trong đó riêng quần áo xuất khẩu đạt hơn 7 tỉ 45 triệu đô la Mỹ giành địa vị nước xuất khẩu quần áo nhiều nhất thế giới của Italia. Từ năm 1972-1978, lượng xuất khẩu đồ chơi, đồng hồ lần lượt vượt Nhật bản, chiếm vị trí hàng đầu thế giới. Do Hồng Kông và Singapo đều là trung tâm buôn bán của châu Á – Thái Bình Dương, cộng với sự phát triển của nền công nghiệp với công nghiệp chế tạo là trung tâm, khiến cho hai nước này trở thành cơ sở vật chất hùng hậu của trung tâm tiền tệ quốc tế.
Hạt nhân lãnh đạo phải nhiều mưu, đoán giỏi
Hạt nhân lãnh đạo nói ở đây gồm có người của hai bộ phận: một là người có thể căn cứ tình hình khách quan và thực tế của mình nêu ra được những quyết sách đúng đắn, một nữa là người có quyền lực tiếp nhận và phê chuẩn những quyết sách đó. Những người này cũng phải nhiều mưu giỏi đoán như vậy, mới có thể chọn ra được những quyết sách hay nhất và thi hành nó. Chỉ có “hạt nhân lãnh đạo” gồm hai loại người nói trên mới có khả năng đi giành thắng lợi. Hai loại người đó thiếu một không xong. Một người lãnh đạo chủ yếu cho rằng có giỏi chọn lựa và quả đoán, nếu không có nhiều hiểu biết về nhiều mặt giúp cho việc bày mưu tính kế, thì cũng chẳng nên trò trống gì. Nhưng cho rằng có người có thể nêu ra những quyết sách đúng đắn, nếu như người lãnh đạo chủ yếu lại là kẻ ngu đần thì thường thường không chấp nhận. Trong nhiều trận đánh xảy ra ở trong và ngoài nước, có nhiều trận vì xuất hiện một trong hai tình trạng kể trên mà bị thua trận. “Hạt nhân lãnh đạo” còn phải giỏi giang trong việc căn cứ vào sự thay đổi của tình thế khách quan, tiến hành sửa đổi hoặc bổ sung những quyết sách đã đặt ra cho thích hợp, nếu không cũng rất có thể gặp phải sự vấp váp hoặc thất bại. Mới hay tố chất của hạt nhân lãnh đạo có tác dụng quan trọng thế nào tới thắng bại của chiến tranh. Thương chiến cũng như vậy, bởi rằng thương chiến cũng giống như quân chiến, không chỉ là đấu nhau bằng vật tư của cải, mà chủ yếu hơn là đấu bằng trí tuệ. Thắng hay bại thường thường quyết định bởi quyết sách có đúng đắn hay không. Chiến tranh quan hệ đến sự mất còn của một đất nước, cho nên phải cả nước xông lên, còn thương chiến ngày nay đã không còn là việc riêng của ngành ngoại thương, mà là sự tham gia của cả một nước hay khu vực, quan hệ đến sự hưng thịnh hay suy đồi của nền kinh tế ở một nước, một khu vực, không dốc sức cả nước hay cả khu vực ra là không được. Điều đó cần phải có một hạt nhân lãnh đạo để tiến hành chỉ huy thống nhất.
Nhật Bản và “bốn con rồng” trong thương chiến luôn luôn thắng trận, điều đó có liên quan đến hạt nhân lãnh đạo của nó thống nhất chỉ huy tác chiến. Trong đó, “Thông sản tỉnh” của Nhật là một cơ quan chỉ huy nhiều mưu giỏi đoán. Muốn cho sản nghiệp của Nhật bản hiện đại hoá, chiếm lĩnh được nhiều hơn thị trường thế giới, nó đã thu hút được trí tuệ của các giới Nhật bản, thu nhập một cách rộng rãi tình báo kinh tế trong ngoài nước, sau khi tiến hành nghiên cứu đã vạch ra hàng loạt chính sách công thương nghiệp quan trọng và vạch ra cho các nhà máy, xí nghiệp những quy trình chế độ hiện đại hoá, giúp các công ty thiếu vốn tiến hành cải tổ, mạnh dạn thử đưa ra chính sách điều chỉnh cơ cấu công nghiệp, chọn một số bộ môn có tiềm lực phát triển, tập trung tài nguyên và tiền vốn để nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế của nó. Trong khi chỉ đạo ngoại thương của Nhật bản giành được thành công, nó thường xuyên chú trọng và nghiên cứu tình hình mới để áp dụng đối sách mới. Vào những năm 50, Nhật bản trên căn bản là những sản nghiệp kiểu tập trung lao động, với một nguồn sức lao động đông đảo, dùng lương thấp để sản xuất ra những hàng hoá vừa đẹp vừa rẻ để xuất khẩu. Thế mà đến những năm 60, khi tiền lương tăng vọt tới mức ngang với lương cung cấp của các nước Âu Mỹ, mới tập trung vốn liếng vào phát triển công nghiệp tập trung vốn, đẩy cho công nghiệp kiểu tập trung lao động truyền thống xưa nay phải chuyển dạng đi.
Đến đầu những năm 70, xuất hiện nguy cơ dầu mỏ, khủng hoảng năng lượng, “thông sản tỉnh” lại tích cực trù tính mở rộng những ngành nghề mang tính phục vụ và công nghiệp loại tập trung tri thức, dùng khoa học kỹ thuật ở trình độ cao hơn, sản xuất ra sản phẩm mũi nhọn để cạnh tranh trên thị trường thế giới. Do “thông sản tỉnh” chỉ đạo có phương hướng, đẩy cho cuộc thương chiến của Nhật Bản đi hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong thời gian 25 năm ngắn ngủi, từ 1962-1986, ngoại thương của Hàn Quốc tăng trưởng hơn 900 lần, việc tổ chức, điều hòa và đôn đốc của Chính phủ có một tác dụng rất lớn. Bởi vậy, được gọi là mô típ phát triển kinh tế kiểu hướng ngoại do “Chính phủ chủ đạo”. Thực dân Hàn Quốc đã làm một cuộc cải cách theo sự phát triển nền kinh tế, vạch ra rất nhiều luật lệ và cung cấp rất nhiều các tư vấn chuyên môn, hoạch định và có hiệu quả thông qua “Viện doanh nghiệp kinh tế” là chủ chốt để áp dụng sách lược nâng lên nâng doanh doanh nghiệp. Ngay từ đầu đã áp dụng sách lược nâng đỡ tập đoàn doanh nghiệp lớn, hiện có một loạt tập đoàn doanh nghiệp lớn ngang trình độ thế giới. Những tập đoàn này đối với trong nước khống chế cả một nền kinh tế quốc dân, đối ngoại, có thể chống chọi với những công ty siêu quốc gia của các nước phát triển. Đó cũng là đặc trưng của nền kinh tế kiểu hướng ngoại của Hàn Quốc. Những quyết sách của chính phủ Singapo cũng có những ảnh hưởng quyết định đối với nền kinh tế nước này, trong đó có những kinh nghiệm thành công và cũng có những bài học về sai lầm. Năm 1965 sau khi được độc lập, chính phủ Singapo liền thi hành chính sách “kinh tế tự do”, ra sức tiếp nhận vốn nước ngoài; kỹ thuật công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý của phương Tây, kinh tế phát triển tương đối nhanh, những năm 70 đã được đứng trong hàng ngũ những nước công nghiệp hóa mới nổi dậy. Do sự thúc đẩy của cuộc cách mạng kỹ thuật mới, kết cấu doanh nghiệp ở những nước phát triển từ loại tập trung vốn liếng leo thang lên loại tập trung kỹ thuật hay tri thức, sản phẩm kiểu tập trung lao động đã mất ưu thế trên thị trường thế giới. Chính phủ Singapo quyết định bắt đầu từ năm 1979 tiến hành điều chỉnh cơ cấu kinh tế trong nước, thi hành chính sách tiền lương cao để thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cấp, tức là di chuyển từ kiểu tập trung lao động sang kiểu tập trung vốn hoặc kỹ thuật. Nhưng môi trường kinh tế của Singapo lúc đó chưa thật phát triển, tiền lương cao dẫn đến giá thành sản phẩm tăng lên, sức cạnh tranh quốc tế giảm đi, năm 1985 xuất hiện tình hình chưa từng thấy từ sau ngày độc lập là tăng trưởng âm 1,8%. Để thoát khỏi khốn cảnh này, Chính phủ Singapo thành lập ủy ban kinh tế nhà nước, chuyên môn nghiên cứu tìm nguyên nhân xuất hiện vấn đề và nêu ra đối sách, vạch ra hàng loạt sách lược điều chỉnh kinh tế, chủ yếu bao gồm tiến hành cải cách tiền lương, giúp đỡ xí nghiệp thích nghi với sự biến động của trạng thái cạnh tranh quốc tế. Năm 1987 kinh tế tăng trưởng 8,8% năm 1988 cao tới 11%, năm 1989 thấp hơn một chút nhưng vẫn cao tới 9,4%. Kinh tế Singapo giành được thành công và sau khi thấy sai lầm đã uốn nắn lại đẩy nền kinh tế sống lại và tăng lên, những điều đó đều nói lên quyết sách đúng đắn hay không, có tác dụng quan trọng đối với nền kinh tế. Cục phát triển mậu dịch Hồng Kông thành lập ngay giữa những năm 60, mới mở đầu đã đóng vai trò chủ yếu trong việc lãnh đạo giới công thương thực thi chiến lược phát triển xuất khẩu, nó xác định thị trường chủ yếu của hàng hóa Hồng Kông là hai nước Anh Mỹ, những năm 70 lại khai thác thêm thị trường xuất khẩu mới ở các nước dầu mỏ Trung Đông. Ngày nay chủ nghĩa bảo hộ ở các nước phát triển ngóc đấu dậy, Cục phát triển mậu dịch Hồng Kông quyết định không ngừng khai thác thị trường mới, thực hiện đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Tình hình trên nói lên rằng, kinh tế của Nhật Bản và “bốn con rồng” chấp cánh bay lên được là nhờ ở thành công của sách lược xuất khẩu dẫn hướng; mà xuất khẩu dẫn hướng giành được thành công là do có một hạt nhân lãnh đạo thống nhất chỉ huy và kịp thời đưa ra được những quyết sách.
Ở một số nước phương Tây, tình hình lại đảo ngược, tác dụng của việc can dự vào kinh tế của nhà nước không lớn lắm. Trước đây việc buôn bán với bên ngoài đều do các doanh nghiệp và công ty tự lo liệu, thiếu một hạt nhân lãnh đạo thống nhất, đó cũng là một trong nhiều nguyên nhân khiến họ liên tục thất bại trong thương chiến. Sự bất lực của nhà nước phương Tây trong khi can dự vào kinh tế là có nguyên nhân lịch sử của nó. Nhân vật đại biểu của giới kinh tế học cổ điển của giai cấp tư sản Anh, A-dam Smit cho rằng: Kinh tế tư bản nên “thả lỏng tự do”, hoàn toàn có thể do một đôi tay vô hình thao túng, chính quyền nhà nước không cần phải can dự vào đời sống kinh tế, chủ trương thực hiện tự do cạnh tranh triệt để. Học thuyết này chẳng những là cơ sở lý luận của Chính phủ Anh khi vạch ra chính sách hồi thế kỷ 17, mà đến nay vẫn còn ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa. Chính phủ Mỹ xưa nay vẫn làm mọi việc tuân theo chủ trương này. Thế nhưng, do kinh tế khu vực châu Á – Thái Bình Dương trỗi dậy, khối cộng đồng châu Âu ngày một lớn mạnh nhiều nhân sĩ của Mỹ đã nhận ra rằng: Chế độ quản lý kinh tế Âu Mỹ xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa cá nhân, lấy “cái tôi” làm trung tâm, không địch nổi chế độ quản lý kinh tế xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa tập đoàn của các nước và khu vực Đông Á, bởi vậy, sự can dự của nhà nước ngày một tăng cường. Theo một bài báo đăng trên tờ “Tuần báo doanh nghiệp” số ra gần đây của Mỹ đã tiết lộ: Các nhà kinh doanh của các doanh nghiệp kỹ thuật cao ở nước Mỹ trước đây luôn luôn tôn sùng “tự do buôn bán”, không thích để chính phủ nhúng tay vào, nay cũng yêu cầu chính phủ lập tức áp dụng biện pháp, sửa đổi chính sách tài chính, tiền tệ và chính sách mậu dịch giúp các doanh nghiệp kỹ thuật cao của Mỹ lấy lại sức cạnh tranh.
Có người cho rằng: trong thương chiến, Nhật Bản và “bốn con rồng” thắng các nước phương Tây như nước Mỹ chẳng hạn là thắng lợi của chủ nghĩa tập thể đổi với chủ nghĩa cá nhân, hay nói đúng hơn là sự chỉ huy thống nhất thắng sự tự ý làm một mình. Nó thắng bởi vì nó có một hạt nhân lãnh đạo nhiều mưu kế, giỏi phán đoán chỉ huy thống nhất; mà nhiều mưu kế giỏi phán đoán vì nắm vững tình hình thị trường và nghiên cứu cẩn thận, kết hợp được với tình hình thực tế của mình đưa ra được những quyết sách đúng đắn. Có thể nói, quyết sách đúng đắn, là mẹ của thành công trong thương chiến.
Nhiều trận đánh thắng được miêu tả trong “Tam quốc diễn nghĩa”, đều là sự vận dụng thành công bình pháp cổ đại. Thương chiến cũng như quân chiến, muốn luôn luôn thắng lợi trong thương trường, cần phải học được cách vận dụng linh hoạt những chiến lược chiến thuật bách chiến bách thắng đó.