Chiến lược “đánh vào lòng người xưa nay vẫn được các nhà chiến lược nổi tiếng tôn sùng áp dụng, và đặt hàng đầu trong các loại mưu lược. Nắm vững được chiến lược “đánh vào lòng người”, chẳng những đạt một nửa thắng lợi, thậm chí chẳng mất mảy may sức lực cũng có thể giành được “toàn thắng”. Chiến lược đánh vào lòng người chẳng những là đường lối hay nhất trong khi đánh nước khác mà dùng trong việc trị quân trị quốc cũng vậy. Dùng để trị quân thì tướng soái một lòng binh lính giám quyết tử, sẽ không ai đánh nổi; dùng vào trị quốc, thì khiến mọi người phục từ trong lòng, trên dưới một dạ, đất nước nào mà không thịnh vượng. Mở rộng ra, chiến lược đánh vào lòng người, phàm là quan hệ con người công việc cần phải người đi làm, không có nơi nào và việc gì mà không cần đến. Vận dụng được thỏa đáng, có thể thu được những hiệu quả kỳ diệu ngoài ý muốn.
Chiến lược đánh vào lòng người do ai nêu ra và nêu vào thời nào? Có người nói là Tôn Vũ, nhà quân sự lỗi lạc cuối thời Xuân Thu, như vậy cũng chưa chính xác lắm. “Tôn Tử binh pháp – mưu công biên” do Tôn Vũ viết ra chỉ nêu ra về mặt nguyên tắc cách dùng binh tốt nhất, ông nêu ra “đánh bằng mưu trước, rồi đánh bằng ngoại giao, sau nữa mới đánh vào thành”, là “thứ quân không phải đánh mà thắng”. Tôn Vũ cho rằng đó là “cái hay trong những cái hay”. Ở đây Tôn Vũ nêu ra tư tưởng “Toàn thắng”. Ông cho rằng muốn “toàn thắng”, phải đánh bằng mưu, đánh vào ngoại giao, tư tưởng toàn thắng đó sau này được Tôn Tẫn là nhà quân sự giữa thời Chiến quốc phát triển thêm, ông đã nêu ra chiến lược “đánh vào lòng người”. Trong “Thông điển” có ghi: “Tôn Tẫn ở nước Tề thời Chiến quốc nói với vua Tề: phàm là đường lối đánh nước khác, thì đánh vào lòng người là chính, cần phải chinh phục con tim chúng trước hết. Nay tâu lên muốn nói đến lòng, tức là nói đến quyền của nước Yên nước Triệu. Nói tới vua chúa nước Yên nước Triệu, không chỉ nói miệng không, mà cần có lợi thực tế, từ đó mới thu phục được lòng họ, như thế gọi là đánh vào lòng người vậy”. Tôn Tẫn đưa việc thực hiện “toàn thắng” của Tần Vũ bằng việc cụ thể hóa chiến lược cơ mưu trong việc đánh bằng mưu kế đánh bằng ngoại giao. Ông đã lần đầu tiên nêu ra một cách rõ ràng chiến lược “đường lối đánh một nước thì đánh vào lòng người là trên hết”. Ông cho rằng muốn thắng nước Tần, trước hết phải cô lập nước này về mặt ngoại giao, muốn thế phải triển khai công thế về ngoại giao, phân hóa quan hệ giữa nước Yên, nước Triệu và nước Tấn, trước hết phải “đánh vào lòng” nước Yên và nước Triệu, mà đánh vào lòng người không phải dựa vào lời nói suông, mà phải cho họ một ít thực lợi, mới thu phục được lòng họ. Sau này, nhiều nhà chiến lược của các triều đại, muốn cô lập, chẳng ai là không dùng chiến lược đánh vào lòng người, bắt tay trước hết vào việc tiêu diệt bè phái của đối thủ, từ đó mà giành lấy thắng lợi lớn lao của “thứ quân không cần đánh mà thắng địch”.
Chiến thuật đánh vào lòng người thì có rất nhiều, nào là đe dọa, rủ rê, lừa bịp, tất cả đều thuộc phạm trù chiến thuật đánh vào lòng người. Thế nhưng chiến thuật “đánh vào lòng người có thể thắng thế một thời, nhưng không phải lúc nào cũng như ý muốn.
Tào Tháo đánh xuống phía Nam, sau khi Lưu Tông nạp hàng rồi, gửi cho Tôn Quyền một bài hịch đe rằng: “Nay thống lĩnh cả triệu hùng binh, tướng tài có hàng ngàn, muốn đồn tướng quân ở vùng Giang Hạ”. Điều đó tuy có làm cho đám Trương Chiêu lo sợ và chủ trương “đầu hàng”. Tôn Quyền cũng có lúc thấy nao núng trước những lời đe dọa đó, nhưng qua sự phân tích chiến lược của Gia Cát Lượng và Chu Công Cẩn, đã vạch trần bản chất già trái non hột của quân Tào, kiên định quyết tâm kháng chiến của Tôn Quyền, liên minh với Lưu Bị chống Tào Tháo, cuối cùng đánh bại Tào Tháo ở trận Xích Bích. Đổng Trác thông qua việc rủ rê nhử mồi, mua chuộc Lã Bố giết được Đinh Nguyên của bên địch, thế mà cuối cùng lại chẳng bị Lã Bố giết đó sao? Chiến thuật đánh vào lòng người, không gì bằng “người thì phục trong lòng”, địch thì “chết ở trong lòng”. – Nói là người thì phục ở trong lòng” có nghĩa là phục qua lời nói và tấm lòng, tự giác làm theo mình; còn địch “chết ở trong lòng có nghĩa là làm cho lòng dạ quân địch hoàn toàn rã rời, không còn dám tiến hành phản kháng. Tam Quốc diễn nghĩa có rất nhiều ví dụ đặc sắc về cách đánh vào lòng người. Dưới đây đơn cử ra vài trường hợp nói lên sự vận dụng khéo léo cách đánh vào lòng người.
Lưu Bị xuất thân từ một anh bện giày cỏ đệm cỏ, tuy là dòng dõi Trung Sơn Tĩnh Vương Lưu Thắng, cháu của Hán Cảnh đế nhưng vì đã qua nhiều đời, khó tìm ra dây mơ rễ má, mà cho rằng có thế thực, cũng chẳng để lại cho ông ta được chút gì. Lưu Bị mồ côi từ bé, ở với mẹ, nghèo rớt mồng tơi đành sống bằng nghề bện giày cỏ đệm có. Với một người dân đen hết sức bình thường như vậy, tại sao lại có thể vùng dậy đứng trên đám anh hùng, thành người đứng đầu một trong ba nước. Tuy có nguyên nhân là anh hùng tạo nên thời thế trong đó, nhưng từ bản thân con người ấy mà nói, chính là do ông ta biết khéo léo “đánh vào lòng người”, là một nhà chiến lược lỗi lạc trong cách đánh vào lòng người. Ông đoàn kết thuộc hạ của mình, nặng về đánh vào lòng người. Dã kết nghĩa với Quan, Trương, ăn cùng mâm, ngủ cùng chiếu, ba người kết nghĩa ở vườn đào, thề cùng chung sống chết, cho nên khiến cho Vân Trường không bị Tào Tháo mua chuộc bởi tiền bạc và chức quan cao, Dực Đức thủy chung quên mình quyết chiến ở sa trường. Triệu Tử Long từng hai lần đổi chủ, gặp Lưu Bị đã được Lưu Bị nói cho nghe những lời thẳng thắn từ gan ruột nên cảm động trước sự thành thực đó, bởi vậy mà từ đó đã hết lòng trung đi theo ông. Gia Cát Lượng cũng cảm động ở chỗ ông ba lần tỏ lòng kính nể mới chịu rời Long Trung đi theo và “cúc cung tận tụy, chết cũng không tiếc”. Đối với dân chúng Lưu Bị cũng coi trọng việc đánh vào lòng người. Khi mới nhận chức Đinh Châu trung sơn phủ an kỷ huyện ủy, thay quyền một tháng không tơ hào thứ gì của dân, nên đã cảm hóa được dân. Khi đóng quân ở Tân Dã, đã đổi mới chính trị, dân chúng ca ngợi ông: “Tân Dã mục, Lưu Hoàng Thúc, từ ngày đến đây, dân sung túc” từ đó mà được dân chúng ủng hộ hết lòng. Tào Tháo truy kích, ông bỏ Phần thành, đến Tương Dương, dân chúng hai huyện thề chết đi theo, ông có hàng vạn dân đi cùng, ngày chỉ đi được chừng mười dặm, cho nên dễ có thể bị bắt. Có người khuyên ông “bỏ dân chúng lại chạy trước một mình là hay nhất,” Lưu Bị khóc và nói: “Người làm việc lớn tất phải lấy dân làm gốc. Nay người ta đã đi theo mình, nỡ lòng nào vứt bỏ. Sau này Lưu Bị lấy nước Thục, cũng dùng chiến thuật đánh vào lòng người, tức là trước hết kết lòng dân. Chính vì ở mọi nơi Lưu Bị đều lấy dân làm trọng, rồi lại dùng ân nghĩa để kết chặt tấm lòng tướng sĩ, cho nên lòng người đều hướng theo, nguyện chết vì ông. “Ai được lòng người thì khá, đó là nguyên nhân mấu chốt khiến Lưu Bị làm nên việc lớn. Trong những việc nói trên, việc khéo lấy được Tây Thục nói lên nhiều nhất chiến lược đánh vào lòng người.
Lô cốt thường bị phá từ bên trong
Chiếm cứ lẩy hai châu Kinh, Ích làm căn cứ địa để chiếm toàn thiên hạ, đó ]à nội đung chi yếu của “Long Trung sách” mà Gia Cát Lượng vạch ra cho Lưu Bị. Sau khi chiếm được Kinh Châu, Lưu Bị liền bắt tay vào lấy Tứ Xuyên, sách lược của ông chia làm hai bước.
Trước hết, mua chuộc được lòng tin của các sĩ phu trên đất Thục, để sử dụng được họ. Nhân dịp Trương Lỗ định cất quân chiếm Tứ Xuyên, Ích Châu biệt giá Trương Tùng khuyên Lưu Chương xin Tào Tháo cho đem quân đánh Hán Trung, nói việc đó có thể khiến Trương Lỗ không được ngơi tay chống địch, không dám nhòm ngó Tây Xuyên”, thực ra là muốn “cõng rắn cắn gà nhà”, bán chúa để cầu vinh. Trước khi Trương Tùng hành động, đã ngấm vẽ địa đồ Tây Xuyên giấu bên mình. Lúc ấy Tào Tháo vừa phá Mã Siêu, vừa thỏa chí vừa tự đắc, lại thấy mặt mũi Trương Tùng xấu xí quá, càng thêm khinh ghét. Trong khi bực tức, Trương Tùng đã lời qua tiếng lại làm cho quan hệ hai người càng thêm căng thẳng, Tào Tháo bèn lệnh đánh đuổi Trương Tùng đi. Khổng Minh thừa biết ý đồ của Trương Tùng, đã bày diệu kế cho Lưu Bị, đưa con người này vào tròng. Lưu Bị thuận theo kế này, tìm cách dâng lễ để gặp Trương Tùng.
Khi ông này mới vào biên giới Kinh Châu, đã thấy có Triệu Vân đón tiếp; đến các trạm dừng chân ở Giới Thư Kinh Châu, Quan Công sớm đã được lệnh bày rượu trong quán đợi sẵn. Ngày hôm sau lên ngựa đi chưa được ba dặm, Lưu Bị đã dẫn Ngọa Long, Phượng Sổ tiến đến để đón tiếp. Thấy Trương Tùng từ xa mọi người đã xuống ngựa đón chào. Lưu Bị kính trọng như thế làm gì chẳng khiến cho ông này động lòng. Lưu Bị đã giữ Trương Tùng ở lại liên tục chè chén ba ngày, tuy tỏ ra hết sức ân cần, nhưng không hề nhắc đến chuyện Tây Xuyên, mặc cho Trương Tùng nhiều lần khêu gợi, Lưu Bị cứ làm như không biết thậm chí đem chuyện khác để lái đi. Trương Tùng chào ra về, suốt mười dặm trường đình, Lưu Bị cho bày tiệc đưa tiễn, vô cùng quyến luyến, còn chảy ra những giọt nước mắt nhớ thương. Trương Tùng tự nghĩ: “Huyền đức khoan nhân ái sì như thế, ta còn tiếc cái gì?” bèn chủ động thuyết phục Lưu Bị đánh Tây Xuyên, nói ra hết toàn bộ ý đồ của mình và đưa ra tấm địa đồ Tây Xuyên trên đó đã ghi chú đấy đủ địa danh, cự ly giữa các vùng, những con đường hiểm yếu, kho tàng bến bãi v.v... Cách mà Lưu Bị dùng là cách câu cá đói mồi, để nó tự mắc lưỡi câu vào miệng, tức là chỉ tác động bằng tình cảm để Trương Tùng tự động nói ra, diễn đó càng khiến cho Trương Tùng càng một lòng xả thân vì Lưu Bị. Như vậy chẳng những ông đặt được ở Tây Xuyên một tên “gián điệp nằm vùng” rất trung thành mà còn có dịp tìm hiểu địa hình Tây Xuyên như lòng bàn tay, tạo điều kiện có lợi cho việc hành quân vào Tây Thục sau này. Sau khi Trương Tùng quay về Thục, lại ngấm liên kết với bạn thân của mình là Pháp Chính, Mạnh Đạt thành một hội, làm nội gián cho Lưu Bị. Hôm sau, Trương Tùng đã uốn ba tấc lưỡi, tìm trăm phương ngàn kế thuyết phục Lưu Chương cử Pháp Chính đi mời Lưu Bị vào Tây Xuyên để chi viện mình chống lại Trương Lỗ “Lớ cốt thường hay bị phá từ trong”, có Trương Tùng, Pháp Chính, Mạnh Đạt làm nội ứng, cộng thêm sự ám muội của Lưu Chương, huống hồ dẫn hổ về thì để đuổi đi khó, số phận của Tây Thục ra sao, ai cũng đoán ra được.
Lòng người không phục dù có giành được cũng khó trị
Sau khi Lưu Bị vào Tây Xuyên, bèn hết sức thu phục lòng dân Tây Xuyên: ra hiệu lệnh rõ ràng, kẻ nào lấy của dân bất kể thứ gì đều bị chém, thế nên dù đi đến đâu cũng không ai tơ hào một chút gì của dân, bởi vậy đi đến đâu cũng thấy dân chúng giất díu nhau đón đường mà xem, lập hương án đón chào. Đối với dân chúng ra đón, Lưu Bị dùng lời lẽ ôn tồn hỏi han cũng vì ông luôn chủ động lấy dân làm gốc, cho nên trong vấn đề lấy Tây Xuyên, ông và Bàng Thống, Pháp Chính đã có sự nhìn nhận khác nhau. Khi Lưu Bị gặp Lưu Chương ở Bối Thành, Bàng Thống chủ trương ngày hôm sau mở tiệc, mời Lưu Chương đến dự rồi cho một trăm tay dao nấp sẵn sau rèm, chúa công ném chén rượu ra hiệu là xông ra giết đi rồi ùa vào Thành Đô, không cần rút gươm, không cần kéo nỏ, chỉ ngồi mà lấy được Tây Xuyên. Pháp Chính rất ủng hộ ý kiến của Bàng Thống, nói: “Nếu vẫn còn nghi lại, lâu dần sẽ hỏng kế và sợ rằng cơ mưu lộ ra, sẽ bị người ta thanh toán trước”. Mưu kế của Bàng Thống và Pháp Chính tuy hay, song thiếu sự cân nhắc về chính trị, đó là sách lược của mưu sĩ, không phải mưu mô của nhà đại chiến lược. Vì rằng mới vào đất người ta đã giết chúa người ta, sẽ dẫn đến sự căm hờn của dân Thục, lòng dân đã không phục, có chiếm được họ cũng không trị được họ, thế nên Lưu Bị cương quyết không làm theo và nói: “Ta mới vào đất Thục, chưa gây được lòng tin, việc này quyết không thể làm được”. Hai người kia nói đi nói lại, Lưu Bị vẫn không nghe. Sau khi Lưu Bị vào đóng ở Hà Manh quan, nghiêm cấm quân sĩ, rộng rãi gia ơn gia đức, để thu phục lòng dân.
Do Lưu Bị dùng chiến lược “đánh vào lòng người” nên rất được lòng dân Tây Xuyến, cuối cùng trụ vững được ở đất Thục. Khi ông tiến quân vào Thành Đô, vẫn tiếp tục tiến hành chiến lược đánh vào lòng người: đại quân kéo đến đâu, phàm là quản Xuyên quay giáo quy hàng, không được giết hại, nếu kẻ nào giết người phải đền mạng; hàng binh ai muốn vào lính thì vào, không thì tha cho về. Thế nên tù binh Tây Xuyên vui mừng rầm rộ, phần lớn xin ở lại làm quân của Lưu Bị. Do Lưu Bị được lòng dân, cho nên kẻ sĩ ở đất Thục cùng hăng hái đi theo hoặc là thư từ báo tin hoặc bày mưu hiến kế. Lưu Bị tiến quân vào Lạc Thành, Lành Bao đã hiến kế mượn nước sông Bổi, dìm chết quân Lưu Bị. Về việc này, quân của Lưu Bị không hề hay biết may mà có hào kiệt là Bành Dạng kịp thời báo cho mới thoát được nạn. Vì lòng người theo Lưu Bị, Lưu Chương tuy có đến mấy trung thần dũng tướng bày mưu hiến kế cũng chẳng làm được gì. Quân Kinh Châu đi đến đâu, quân địch không đánh cũng hàng. Lưu Chương chỉ còn cách giao thành, quy mạng.
2. LY GIÁN LÒNG QUÂN: LÃ MÔNG NHẸ NHÀNG CHIẾM KINH CHÂU
Thời xưa, ở Trung Quốc không thiếu gì ví dụ về việc đánh vào lòng người. Tấn Bình Công muốn đánh nước Tề, cử Phạm Chiêu sang nước Tề do thám tình hình chính trị. Tề Cảnh Công mở tiệc, Phạm Chiêu rót rượu mời vua, thái Yến Tử đã khéo léo gạt đi thay bằng chén khác. Phạm Chiêu giả say đòi múa hát và bảo tấu nhạc thiên tử (Chu Công) thường nghe. Yến Tử cũng không cho. Phạm Chiêu quay về tâu với Tấn Bình Công “Nước Tề chưa thể đánh được. Thần muốn làm nhục vua họ, Yến Tử biết ngay; thần phạm vào nghi lễ của họ, Yến Tử cũng hiểu ra ngay”. Thế là nước Tấn không dám đánh nước Tề.Lại như Hàn Tín cầm quân đánh nhau với Hạng Vũ ở Cai Hạ. Quân Sở bình ít lương hết, Quân Hán và quân chư hầu vây chặt mấy lần, nửa đêm, trong trại quân Hán bỗng vang dậy tiếng reo mừng thắng trận, Hạng Vũ nghe xong rất kinh lạ, nói: “Quân Hán đã đánh được quân Sở chưa? Mà người Sở đâu ra nhiều thế. Hạng Vũ cho rằng quân Sở đều hàng Hán, bèn cùng 800 kỵ quân phá vây bỏ chạy, cuối cùng tự vẫn ở Ô Giang. Thí dụ trước dùng cách đánh vào lòng người làm tiêu tan một cuộc chiến tranh bằng vô hình. Thí dụ sau thì làm cho quân địch kinh hoàng mà đánh tan chúng. Mà người trước ngăn ngận được một cuộc chiến tranh nổ ra, còn người sau đã phải xông vào huyết chiến. Trong lịch sử, dùng chiến lược đánh vào lòng người, thực sự đạt đến mức “thứ quân không cần đánh mà thắng địch” thì phải nói ví dụ Lã Mông đánh úp Kinh Châu là điển hình nhất, có thể nói là tuyệt diệu trong cách “đánh vào lòng người”.
Thổi phồng mũi lên để giải trừ tâm lý vũ trang
Quan Vũ đánh lên phía Bắc, bắt Vu Cấm, chém Bàng Đức vây Phàn Thành uy danh lừng lẫy miền Hoa Hạ. Tào Tháo một mặt cử Từ Hoảng đến chi viện, một mặt dùng vật chất dụ dỗ Tôn Quyền đánh úp Kinh Châu. Tôn Quyền cũng sớm có ý đồ đó, nhận được thư của Tào Tháo vội sai Lã Mông là tướng giữ Lục Khẩu nhanh chóng chiếm lấy. Lã Mông thấy Kinh Châu ven sông đều có hỏa lực phòng bị, binh mã đóng giữ đều rất chỉnh tề, biết rằng địch có sự chuẩn bị sẵn, không thể lấy được ngay trong chốc lát, suy nghĩ mãi chẳng có kế gì bèn nói thác là ốm, không ra quân. Lục Tốn theo lệnh Tôn Quyền tới thăm hỏi và đã chỉ ra căn bệnh tâm lý của Lã Mông, đồng thời nêu ra mưu kế đánh Kinh châu: “Vân Trường cậy thế anh hùng, tự cho rằng không ai địch nổi, người đáng lo ngại, duy nhất chỉ có tướng quân. Tướng quân hãy nắm lấy dịp này, lấy cớ ốm đau mà từ chức, giao cho người khác giữ Lục Khẩu, để người khác dùng lời lẽ ca ngợi Quan Công, để nó trở nên kiêu căng, và thế tất sẽ rút hết quân ở Kinh Châu về đóng Phàn Thành. Nếu Kinh Châu không được phòng bị, chỉ cần dùng một lũ quân, dùng kế lạ để đánh úp, thì Kinh Châu chắc chắn sẽ ở trong tay”. Lã Mông mừng lắm, nói: “Đấy mới thực là kế hay!”. Sau đó lấy cớ ốm đau và tiến cử Lục Tốn còn chưa có tiếng tăm gì thay thế mình. Lục Tốn đến Lục Khẩu, viết thư sai sứ sang Phàn Thành dâng lên Quan Vũ với lời lẽ khiêm tốn, tâng bốc phỉnh phờ. Đấy là một bài văn “đánh vào lòng người” rất khéo. Trước hết Lục Tốn đã ôn lại những mặt có lợi khi hai nước liên minh cùng chống địch, để nói rằng không có gì khác, để Quan Công lơ là cảnh giác; tiếp sau đó là tỉ tê ca ngợi công đức Quan Công, tâng bốc việc Quan Công bắt Vu Cấm là có công “đủ để lưu cho hậu thế”. Đồng thời còn nhắc khéo Quan Công chớ có khinh địch, bởi “Tào Tháo gian giảo phải có kế sách rộng lớn” để giành toàn thắng. Những lời lẽ tự ti, những ý như thành thực đó, cứ như những lời bàn mưu rất tận tình, chẳng khác gì trong một nhà. Quan Công xem xong thư, chẳng đã ngửa mặt cả cười, không còn lo gì mặt Giang Đông nữa, bèn rút quá nửa quân số về đóng ở Phàn Thành. Lã Mông vì thế mới có dịp cho quân giả lái buôn, mặc áo trắng vượt sông nhẹ nhàng chiếm Kinh Châu.
Sau khi Lã Mông chiếm Kính Châu chẳng mất một mũi tên người lính nào bèn truyền lệnh trong toàn quân: “Nếu ai giết một người, lấy một thứ gì của dân, sẽ phải xử theo quân pháp”. Có một người cùng làng với Lã Mông đã lấy nón của dân che áo giáp, cũng lập tức bị chém đầu. Vì vậy ba quân rất nghiêm, dân chúng rất ủng hộ. Lã Mông còn truyền lệnh: phàm các quận của Kinh Châu những gia đình binh lính từng theo Quan Công, quân Ngô không được quấy nhiễu hàng tháng còn cho gạo ăn, ai chẳng may đau yếu thì cho thầy thuốc đến chữa trị. Gia đình các tướng sĩ đều cảm ơn đức ấy, không người nào chống lại. Quan Vũ biết Kinh Châu bị đánh úp bèn đem quân lấy lại, dọc đường sai người đem thư trách Lã Mông đã bội ước với đồng minh. Lã Mông đã mềm mỏng nói với sứ giả rằng: “Ngày xưa Mông này giao hảo với tướng quân, là theo ý riêng mình; còn công việc hôm nay lại là lệnh ở trên sai xuống, không thể làm chủ được. Phiền sứ giả về báo lại tướng quân, hiểu cho thiện ý như vậy”. Rồi sai mở tiệc khoản đãi, đưa ra quán dịch nghỉ ngơi. Thế là các gia đình tướng sĩ cùng đi theo trước đó đã ùa đến hỏi tin: người thì có thư nhà, người thì có tin nhắn, thảy đều nói cả nhà bình an, không thiếu ăn thiếu mặc.
Cái thế anh hùng cũng thành người cô quả cô đơn
Sứ giả từ biệt Lã Mông, Mông thân chỉnh tiễn ra tận ngoài thành. Sứ giả về gặp Quan Công, nói lại lời của Lã Mông rằng: “Trong thành Kinh Châu, gia quyến các quan hầu cũng như tướng sĩ tất cả đều bình yên, cung cấp cũng đầy đủ”. Quan Công giận lắm, nói: “Đây là kế của bọn gian tặc” rồi quát sứ giả lui ra. Sứ giả ra ngoài trại, các tướng đều xúm lại hỏi han tin nhà, sứ giả nói mọi nhà đều bình thường. Lã Mông rất có ơn huệ, rồi đem thư từ trao cho các tướng sĩ. Các tướng sĩ đều mừng rỡ và không còn bụng dạ nào để đi đánh nhau nữa. Thế nên dọc đường Quan Công về lấy lại Kinh Châu, binh lính bỏ trốn nhiều, Quan Công không ngăn cản nổi, đành cùng 300 người còn lại đi đến Bạch Thành trở nên con cá trong lờ, con tôm trong chậu, rơi vào cảnh tuyệt vọng đánh chẳng đánh được, trốn cũng chẳng trốn xong.
Những điều kể trên, là từ đầu chí cuối câu chuyện Lã Mông nhẹ nhàng lấy Kinh Châu và sự thất bại của Quan Công. Vì sao mà Quan Công từng được coi là “địch nổi vạn người”, uy danh lẫy lừng Hoa Hạ bị đánh bại; còn Lã Mông thì lấy được Kinh Châu dễ dàng như thế? Điều đó nên ghi công cho cách “đánh vào lòng người” một cách khéo léo của Lã Mông. Quan Công là con người ngang ngạnh mà tự phụ, coi “ta đây là nhất trên đời” – chỉ thích người ta phỉnh nịnh, thổi cho phồng mũi. Lã Mông đã nắm chắc đặc điểm đó, để Lục Tốn dùng lễ hậu và lời lẽ khiêm nhường, để làm mát chí khí, như thế tức là về mặt tư tưởng đã giải trừ vũ trang của Quan Công. Do Quan Công mất cảnh giác, Lã Mông mới dùng đội quân áo trắng nhẹ nhàng lấy được Kinh Châu. Đó chính là đã vận dụng tốt câu “tì để cho kiêu” trong “binh pháp của Tôn Tử”. Trước kia Quan Công trở nên người “địch nổi vạn người” là bởi vì “khéo ăn ở với binh lính, tướng sĩ nguyện một lòng hy sinh” cho nên anh dũng, vô địch. Còn Lã Mông, đối với gia đình tướng sĩ từng đi theo Quan Công, đã hết lòng ban ân huệ, đó chính là một nguyên nhân khiến binh linh ào ào bỏ trốn. Lã Mông quả là một tay lợi hại, đã làm cho con người được lòng binh lính như Quan Công, bỗng chốc trở nên cô quả cô đơn. Không có sự ủng hộ của tướng sĩ, bất kể bậc cái thế anh hùng nào cũng đi đến kết cục bi thảm. Giữa tiếng hò reo thắng trận, Tây Sở Bá Vương “từng có sức bạt núi” rồi cũng phải đâm đầu tự vẫn ở Ô Giang. Khi tướng sĩ đã xa mặt cách lòng thì một con người địch nổi vạn người, danh tiếng vang lừng miền Hoa Hạ như Quan Công rồi cũng bị bắt bởi một tiểu tướng vô danh là Phan Chương kể ra cũng chẳng có gì lạ.
3. LÀM ĐAU LÒNG ĐỊCH: GIA CÁT LƯỢNG BA LẦN CHỌC TỨC CHU DU
Gia Cát Lượng ba lần chọc tức Chu Du là một trận đánh như đùa, rất thực mà ra hư, là một trận đánh đặc biệt bằng mưu trí “đánh vào lòng người”. Nói đó là đánh trận như đùa là muốn nói hai bên bày rõ thể trận với cung nó gươm đao thực sự, giống như không tránh khỏi đánh nhau to, vậy mà không thực sự đánh nhau. Nói nó vừa thực mà lại hư là chỉ hai bên cung nỏ, giáo mác rõ ràng, bình mã cũng đã tiếp xúc nhau, nhưng thường thường chỉ khua vài đao rồi thôi, nói nó nặng về đánh bằng mưu trí, đánh vào lòng người, là chỉ mưu mô mà Gia Cát Lượng dùng để đánh Chu Du, trọng điểm là ở chỗ “ đánh vào lòng người, làm cho người ta tức mà giận, giận mà đau lòng, đau lòng mà quyết chí cuối cùng đi đến chỗ phục từ trong lòng một cách triệt để. Trận đánh đặc biệt này nổ ra sau khi liên minh Tôn. Lưu đánh bại Tào Tháo, Kinh Châu bị chia ba : Tôn, Lưu mỗi người được một phần, Tào Tháo tuy là người bại trận, nhưng vẫn được Nam Quận và Kinh Châu, Tương Dương. Đối với những khu vực mà Tào Tháo chiếm đóng, Lưu Bị vẫn có ý muốn chiếm lại, Chu Du cũng muốn giành giật. Ngay cả vùng đất Lưu Bị đang chiếm đóng, Chu Du cũng muốn chiếm làm của mình, như vậy hai bên thế nào cũng có phen xô xát. Thế nhưng chiến lược của Gia Cát Lượng khác với của Chu Du: Chu Du chỉ muốn chiếm đất, kể cả việc phá vỡ cả khối liên minh Tôn Lưu cũng không tiếc; Gia Cát Lượng thì vừa muốn thu về những vùng đất mà Tào Tháo hiện đang chiếm đóng của Kinh Châu lại không muốn để khối liên minh Tôn – Lưu bị phá vỡ, bởi lúc ấy Tào Tháo đang trau dồi binh mã hòng rửa mối nhục của trận Xích Bích, nếu Lưu – Tôn tranh giành nhau, chỉ có lợi cho Tào Tháo. Gia Cát Lượng hết sức tránh đối kháng trực diện với Chu Du, vận dụng sự tính toán mưu mô rất thần diệu của mình, áp dụng sách lược “đánh vào lòng người”, liên tục phá âm mưu quỷ kế của Chu Du, đánh những đòn chí mạng vào tâm lý Chu Du, làm cho hắn không dám nhòm ngó đến Kinh Châu. Dưới đây xin kể chuyện ba lần Gia Cát Lượng chọc tức Chu Du.Lần chọc tức Chu Du thứ nhất: Mệt cho ai vất vả vì ai ?
Sau khi đại thắng ở trận Xích Bích, Chu Du mở cuộc khao ba quân rất lớn, định tiến quân đánh vào Nam Quận. Nghe tin Lưu Bị và Gia Cát Lượng đóng quân ở Do Khẩu, biết rằng họ cũng có ý định lấy Nam Quận nên rất lo, bèn lấy cớ là sang tạ ơn nhau, Du đã mang 3000 quân trang bị gọn nhẹ đến Do Khẩu, định thừa cơ kết liễu Lưu Bị. Nhưng rồi thấy khí thế hùng hậu của quân đội Lưu Bị mà không dám ra tay. Lưu Bị dùng kế của Khổng Minh, bằng lòng theo lời nói của Chu Du nếu Chu Du không lấy nổi Nam Quận, thì Lưu Bị sẽ vào lấy. Chu Du ác chiến với Tào Nhân là tướng giữ Nam Quận, Chu Du trúng tên, giả chết để dụ cho Tào Nhân dốc quân ra đánh, làm cho Tào Nhân phải thua to, bỏ chạy. Khi Chu Du thừa thắng xông thẳng tới chân thành Nam Quận, đã thấy cờ cắm rợp trời, trên chòi gác có một tướng gọi lớn: “Đô Đốc vất vả quá, ta theo lệnh của quân sư, đã chiếm thành rồi– Ta là Thường Sơn Triệu Tử Long đây”. Thì ra Gia Cát Lượng sớm đã cho Triệu Tử Long ém quân gần đó, chờ lúc Tào Nhân dốc hết quân ra đánh Chu Du thì tiến vào chiếm Nam Quận. Đó là Gia Cát Lượng đã khéo dùng mưu “trai cò cắn nhau, ngư ông được lợi”. Chu Du chẳng còn biết làm sao, định chia quân lấy Kinh Châu, Tương Dương trước rồi quay về đánh Nam Quận, nào ngờ Gia Cát Lượng được Nam Quận rồi, bèn dùng bình phù, đang đêm và điều binh mã giữ Kinh Châu đến cứu, rồi cho Trương Phi đánh úp Kinh Châu. Lại cho người đưa phù tiết dụ cho tướng giữ thành Tương Dương là Hạ Hầu Đôn đem quân cứu Tào Nhân, rồi cho Vân Trường đánh úp lấy Tương Dương. Chu Du hay tin, thét lớn lên một tiếng, vết thương bị vỡ ra, ngất đi hồi lâu mới tỉnh. Đúng là “ Mấy quận thành trì không có phận; Bao phen vất vả bận vì ai ? * Chu Du đánh quên chết, mà chẳng được chút gì, mà Gia Cát Lượng chẳng vất vả gì, lại lấy được cả ba thành trì mà Tào Tháo đã chiếm giữ, làm sao mà không khiến cho Chu Du tức đến phát điên.
Lần thứ hai chọc tức Chu Du: đền phu nhân còn phải mất quân
Kinh Châu bị Lưu Bị chiếm giữ, Chu Du chẳng biết làm sao, bèn nghĩ ra một kế: bày cho Tôn Quyền đem em gái mình ra làm mồi câu, nhử cho Lưu Bị sang đất Ngô, rồi giam lỏng ở đó làm con tin để đổi lấy Kinh Châu. Gia Cát Lượng đã thừa biết kế đó, bèn trao cho Triệu Vân cùng đi với Lưu Bị sang “ở rể bên đất Ngô ba diệu kế cẩm nang. Cẩm nang thứ nhất là mượn thế của mẹ Tôn Quyền và bố vợ Chu Du để trợ lực cho Lưu Bị, cuối cùng định làm giả mà hoá thật, khiến Lưu Bị bỗng dưng lấy được vợ. Chu Du định giả vờ dùng người đẹp để hòng kiếm chác ở người khác, nhưng lại bị người khác kiếm chác lại. Chu Du dáng thư cho Tòn Quyền nói: “Làm thế để giam lỏng Lưu Bị ở nước Ngô, xây cung thất cho ở để làm mất ý chí của hắn, dùng sắc đẹp và sự ăn chơi làm vui tai mặt hắn, để tách xa tình cảm với Quan, Trương, tách xa hắn với Gia Cát Lượng, rồi sau đem quân mà đánh thì việc lớn sẽ thành”. Kế mỹ nhân của Chu Du bị cẩm nang thứ hai của Gia Cát Lượng đập tan, lấy sự nguy cấp của Kinh Châu, mượn sự xuất hiện của Tôn Phu nhân, nói bịa ra với Quốc Thái là ra bờ sông tế tổ rồi trốn khỏi Đông Ngô – mặc dù Chu Du sớm đã đề phòng, Tôn Quyền cho quân đuổi theo, diệu kế trong cẩm nang thứ ba lại mượn sự trợ giúp của Tôn phu nhân mà đẩy lui được bọn lính cản đường. Đúng là Chu Du diệu kế yên thiên hạ, vừa mất phu nhân, lính cũng lui ! Chuyến trước ở Nam Quận, mất thành trì lại hao quân tồn tướng, nhưng mới chỉ bực mình mà ngất xỉu đi; chuyến này vừa mất phu nhân vừa lui quân, vừa bực vừa xấu hổ, càng thêm đau lòng hơn ! Trắng mắt ra mà nhìn vợ chồng Lưu Bị hú hí đưa nhau về, làm sao mà không khiến cho Chu Du tức đến vỡ cả nhọt ở vết thương, mê man bất tỉnh.
Lần thứ ba chọc tức Chu Du: Trời sinh Du sao còn sinh Lượng!
Lưu Bị đã bằng lòng là lấy xong Ích Châu thì sẽ trả Kinh Châu, sau lại lấy cớ rằng lấy đất của em họ Lưu Chương sợ ràng người ta nguyền rủa nên thôi. Chu Du bèn cử Lỗ Túc sang bàn là để sẽ thay cho Lưu Bị lấy Ích Châu đặng đổi lấy Kinh Châu, làm của hồi môn cho Tôn phu nhân, nhưng khi đọc đường đi qua Kinh Châu, phải chu cấp cho tiên bạc lương thực, Gia Cát Lượng vờ đồng ý. Chu Du vờ thu phục Tây Xuyên, nhưng thực chất là lấy Kinh Châu. Đó là đặt kế “mượn đường diệt Quắc”. Chu Du đem ba ngàn tinh binh đến chân thành Kinh Châu, quân trên thành sớm đã dựng giáo mác lên. Trên chòi canh của địch, đã nghe Triệu Vân nói: “Quân sư Khổng Minh đã biết thừa đô đốc định dùng kế “mượn đường phạt Quắc”, cho nên để Triệu Vân ở lại đó.
Lúc đó, thám mã về báo: “Đã thấy binh mã bốn phía từ tứ phía áp sát đến đây: Quan Vũ từ Giang Lăng áp tới; Trương Phi từ Tiều Quy đánh sang, Hoàng Trung từ hướng Công An hướng tới, Ngụy Diên cũng từ đường hẻm Sán Làng đánh về. Bốn lối chính không biết là bao nhiêu binh mã mà tiếng hò reo vang dội hàng trăm dặm, đều hô là bắt lấy Chu Du”. Chu Du nghe xong, kêu lớn lên một tiếng, vết thương lại vỡ ra, ngã lăn xuống ngựa, tả hữu cấp cứu lên thuyền. Lần chọc tức cuối cùng này, giáng cho Chu Du một đòn quá nặng. Dọc đường khi qua Ba Khấu, Chu Du nhận được thư của Gia Cát Lượng, đại ý khuyên Du không nên viễn chinh đi đánh Tây Thục cho mệt linh ra, đề phòng Tào Tháo đánh úp, nếu không thì “Tào Tháo thấy chỗ hở mà đánh vào, Giang Nam sẽ ra sao”. Gia Cát Lượng thì vừa đánh vừa khuyên, làm cho Chu Du vừa tức vừa thẹn, đành phải chịu thua và càng thấy đau lòng vô kể, lúc gần chết, đã ngửa mặt mà than: “Trời đã sinh ra Du, sao còn sinh ra Lượng”.
Gia Cát Lượng ba lần chọc tức Chu Du là đã dùng cách đánh vào lòng người trong mưu kế, từ cách đánh vào lòng người, đã đập tan mưu kế của địch, dao không dính máu mà giành được thắng lợi lớn lao. Ba lần chọc tức này, có thể coi như tác phẩm bất hủ của Gia Cát Lượng trong cách đánh vào lòng người.
4. THU PHỤC NHÂN TÂM: KHỔNG MINH BẢY LẦN THẢ MẠNH HOẠCH
Tại đền Võ Hầu ở Thành Đô, có một đôi câu đối của Triệu Phiên đời nhà Thanh viết: Năng công tâm tác phân trắc tự tiêu tòng cổ trì bình phi hiếu chiến. Bất thẩm thể tức khoan nghiêm giai ngộ Hậu lại trì thục yếu thâm tư (nghĩa là: Biết đánh vào lòng người thì bọn phản nghịch sẽ tự tiêu tan, xưa nay người biết cầm quân không phải là chỉ thích đánh. Không hiểu thời thế thì cả rộng cả nghiêm đều lầm, sau này trị nước Thục phải suy ngẫm kỹ”. Đôi câu đối này nói lên phần nào đặc điểm trong cách trị quốc trị quân của Khổng Minh. “Đánh vào lòng người” nói như chúng ta ngày nay, tức là làm công tác tư tưởng, “phân trắc” là phản diện, là mặt tiêu cực, mặt đối lập, để dùng nó vào việc của ta. Thẩm thế, là muốn nói cần tìm hiểu chính xác tình thế chung phức tạp, rối rắm tồn tại một cách khách quan mới có thể quyết định mức độ rộng rãi hay chặt chẽ trong việc trị vì đất nước, nếu không cả hai đều sai lầm. Gia Cát Lượng xử lý bất kỳ việc gì lớn trong việc quân việc nước, đều xuất phát từ tình hình thực tế khách quan, để quyết định sách lược. Thí dụ như trị vì nước Thục, ông không đồng ý với cái gọi là chính quyền Thục Hán của Pháp Chính đưa ra “nước mới ra đời” thì phải “hoãn hình phạt nới lỏng điều cấm kỵ” để an ủi nguyện vọng dán chủng... mà cho rằng Lưu Chương ám muội yếu hèn “không nêu cao đức, chính, uy lực hinh pháp không nghiêm túc”, dẫn đến “nhân sĩ nước Thục chuyên quyền tự buông thả” cho nên “uy nghiêm bằng pháp luật” là “điều cốt yếu của công việc trị nước”, chủ trương dùng pháp luật thì phải nghiêm. Nhưng đối với dân tộc ít người thì phải kết hợp giữa rộng rãi và nghiêm khắc, chính là để thu phục được nhân tâm, thế nên khi đánh xuống phía Nam, ông chủ trương áp dụng chiến lược đánh vào lòng người– Bảy lần bắt bảy lần thả Manh Hoạch, chính là để tiêu tan “phản trắc”. Vế trước của đôi câu đối, chính là chỉ việc này.Mưu sâu nghĩ xa. Mệt một lúc để nghỉ mãi mãi
Dưới sự sắp đặt của Tào Nguy, Mạnh Hoạch dấy quân xâm lăng cướp bóc biên cương. Để yên ổn hậu phương, Khổng Minh đã cầm quân đánh xuống phía Nam. Trước lúc hành quân, Mã Tốc vâng lệnh tổ chức khao quân. Khổng Minh giữ Mã Tốc ở lại trong trướng để hỏi chuyện, hỏi rằng: “Ta phụng chiếu của thiên tử, dẹp bằng Man phương; từ lâu nghe nói Âu Thường cao kiến, xin hãy cho vài lời chỉ dạy”. Mã Tốc nói: “Phàm cái đạo cầm quân, trước hết là đánh vào lòng người, đánh thành là việc sau đó, đánh bằng tấm lòng trước, đánh bằng binh lính sau, mong là thưa thướng hay thu phục được nhân tâm họ là đủ”. Khổng Minh lại nói: “Âu Thường hiểu lòng dạ của ta rất đầy đủ”. Lẽ ra đánh xuống phía Nam, cử một đại tướng đi là đủ rồi, tuy nhiên Khổng Minh lại “tháng năm vượt Lô Thủy, đi sâu vào đất địch, đúng là đánh vào lòng người, để thu phục nhân tâm nhằm vất vả một lúc nghỉ ngơi mãi mãi. Muốn đạt được mục đích chiến lược đó, thì không thể để một người bình thường đảm nhiệm, đúng như ông nói: “có thể cương có thể nhu, biết cân nhắc trước sau, không phải dễ dàng giao cho người nào được.” Đủ thấy Khổng Minh suy nghĩ rất nhiều và mưu sâu nghĩ xa.
Chiến thuật là phải phục tùng chiến lược, mọi biện pháp chiến thuật của Khổng Minh dùng đánh xuống phía Nam, đều tiến hành xoay quanh chiến lược “đánh vào lòng người”. Mạnh Hoạch tuy là một bậc “Man Vương” hiểu biết về binh pháp, nhưng còn lâu mới xứng là đối thủ của Khổng Minh vốn túc trí đa mưu, Khổng Minh muốn đẹp, đâu có phải chuyện khó. Như lần đụng độ đầu tiên, Khổng Minh dùng chính binh bên ngoài thì rút lui, nhưng bên trong ngầm bố trí hai mũi kỵ binh hai phía giáp công, nên bắt được Mạnh Hoạch một cách dễ dàng. Dùng chính sách trấn áp đơn thuần, không bao lâu cũng có thể dẹp được. Nhưng lịch sử bình “Man” trong quá khứ đã nói rõ: Nếu đại quân rút đi, thì roi dài cũng với chẳng tới, chúng tự cậy vào đất xa núi hiểm, lại ngóc đầu dậy làm phản, nếu lại đến đàn áp, lại phải viễn chinh mệt lính, không tránh khỏi phiền phức. Huống chi là họ lại bị Tào Ngụy lợi dụng, nếu Khổng Minh đánh lên Bắc, biết bên trong trống trải, họ phản lại càng nhanh hơn. Thế nên Khổng Minh đánh xuống phía Nam lần này mục đích là thu phục nhân tâm của họ, một một lần để nghỉ lâu dài. Vững hậu phương, mới đánh chiếm lên phía Bắc được. Cho nên nói “bình Man” là một bộ phận quan trọng trong chiến lược Bắc phạt của Khổng Minh. Đó là nguyên nhân Khổng Minh bảy lần bắt Mạch Hoạch rồi lại thả. Nhưng bắt một lần thì dễ song thả bảy lần lại khó, trong quá trình bắt thả đó, Khổng Minh đúng là vắt kiệt óc ra suy nghĩ, dùng đủ mọi mưu kế, hoặc lợi dụng sự tranh chấp nội bộ của chúng, làm cho bè đảng chúng bắt bớ nhau hoặc dụ cho chúng cướp trại rồi vây mà bắt, hoặc biết chúng trá hàng, bắt ngay tại chỗ; hoặc xuất kỳ bắt ý, đánh vào chỗ sơ hở, mới khiến cho Mạnh Hoạch thành thực ra hàng. Chẳng những dùng hết cơ mưu, mà còn qua bao hiểm nguy, nước độc của Lư thủy, sự hiểm ác của Á Tuyền, Nhu Tuyền, Miệt Tuyền, suối Hoa Đào v.v... nhiều lần khiến Khổng Minh không tiến thêm được bước nào. Chẳng những có lúc phải mềm mỏng, lại còn bất đắc dĩ phải tỏ ra cứng rắn – lửa thiêu ba vạn quân Đằng Giáp. Đối với việc này, Khổng Minh cũng nhận ra tội của mình: “Làm cho người nước Ô Qua mất giống, là tội lớn của ta đó”. Trong lịch sử, đối với các dân tộc thiểu số Khổng Minh nặng nề đánh vào lòng người, áp dụng chính sách khai hoá, nhưng cũng giống như mọi kẻ thống trị phong kiến khác, có lúc cũng dùng chính sách đàn áp tàn khốc. “Tam quốc diễn nghĩa” hư cấu ra tình tiết lửa thiêu Đằng Giáp quân, về mặt bản chất mà nói, cũng là hợp với sự thực lịch sử.
Vừa mềm vừa cứng – Người Man trị Man
Chính vì Khổng Minh có lúc mềm lúc cứng với Mạnh Hoạch, bảy lần bắt bảy lần thả, làm cho hắn kế cùng lực kiệt, vừa sợ Khổng Minh, vừa kính nể như thần. Cho nên lần thứ 7 bắt được Mạnh Hoạch, Khổng Minh cho người bảo với Mạnh Hoạch rằng sẽ lại thả cho về mang binh mã trở lại quyết sống mái một phen, Mạnh Hoạch đã rơi nước mắt nói: “Bảy lần bắt, bảy lần thả xưa nay chưa có thế bao giờ. Tôi tuy là người không được học hành, nhưng cũng biết điều lễ nghĩa, làm sao đến bước này mà không biết thẹn biết nhục?”. Sau đó, cùng anh em vợ con và người cùng bè đảng đều phủ phục dưới trướng Khổng Minh xin tạ tội: “Thừa tướng oai như trời, người Nam không dám làm phản nữa”. Khổng Minh hỏi: “Nay ông đã phục chưa?” Hoạch khóc lạy tạ nói: “Đời đời con cháu của tôi xin mang ơn thừa tướng đã cho sống lại, làm sao mà không phục. Khổng Minh vẫn cho mở tiệc ăn mừng và lệnh để hắn vẫn làm động chúa. Những vật cướp lấy được đều mang trả hết. Mạnh Hoạch cùng bè đảng và binh lính của bộ tộc không người nào không cảm ơn, vui vẻ hớn hở ra về.
Sau khi Khổng Minh thu phục được nhân tâm họ rồi, lại lấy người họ trị họ, chính sách đó rất sáng suốt. Chẳng thế mà Mao Tôn Cương trong lời bình hồi thứ 90 lại nói: “Việc Võ Hầu muốn xoa dịu Nam Man, mà dùng Mạnh Hoạch, chính là đường lối được lòng Nam Man; được đất của họ mà muốn giữ, không thể không chia quân ra, chia quân ra không thể không chuyển lương ăn, chuyển lương thì xa xôi vất vả, không bằng tự giữ, mà dưới sự che chở đó đều là đất của mình. Được người của họ mà muốn trị, không thể không đặt quan, đặt quan thì không thể không dùng pháp luật, dùng pháp luật thì tù ngục lan tràn, chi bằng làm cho họ tự trị họ, mà dưới sự bao trùm đó họ thấy đều là người của ta. Giết thân xác họ không làm thay đổi tâm tính họ, giết cũng không đủ để thành uy vũ; mà để họ sống rồi họ lại giành lại đất của họ, mà sống cũng không đủ để thành ơn. Không giết người họ mà người Nam không ngóc đầu dậy nữa, không lấy đất của họ, mà người Nam mãi không chống lại nữa”.