Văn hóa truyền ra cũng có hồi lưu, tức là công năng tiềm tàng của một nền văn hóa nào đó, chưa được phát hiện và coi trọng ở đất nước mà nó đã được sinh ra, sau khi truyền bá ra ngoài nước đã được người nước ngoài dùng nó vào những sự nghiệp tương ứng và giành được hiệu quả, lúc đó mới được đất nước mà nó sinh ra quan tâm chú ý. Tam quốc diễn nghĩa chính là có hiện tượng đó, nó được truyền sang Nhật Bản đã 300 năm, có ảnh hưởng rất lớn ở Nhật Bản, trước đây dùng trong quân sự, sau đại chiến thế giới lần thứ hai thì những mưu trí của nó được dùng trong cuộc chiến thương mại, có tác dụng tương đối lớn trong thời kỳ vươn dậy của kinh tế Nhật Bản. Người Nhật Bản cho rằng Tam quốc diễn nghĩa là vốn quý trong quản lý kinh doanh xí nghiệp. Đối với việc này, không thể không dẫn tới sự coi trọng của những học giả chuyên nghiên cứu về Tam quốc diễn nghĩa của nước ta. Năm 1987, khi tỉnh Hải Nam được phê chuẩn là đặc khu kinh tế, hội Tam quốc diễn nghĩa học của Trung Quốc, đại học Hải Nam, học viện sư phạm Hải Nam đã liên hiệp tổ chức cuộc hội thảo khoa học toàn quốc lần thứ 5 về Tam quốc diễn nghĩa tại thành phố Hải Khẩu, các học giả trong cả nước đã tề tựu đông đủ, đi sâu thảo luận vấn đề làm thế nào vận dụng mưu trí trong Tam quốc vào việc đẩy mạnh công cuộc đổi mới, chính sách mở cửa, làm tốt việc xây dựng kinh tế Trung Quốc. Hội thảo đã nhận được hơn 60 bản luận văn và quá nửa số đó đi sâu thảo luận vấn đề này. Cuộc hội thảo này là cái mốc đánh dấu sự mở đầu việc nghiên cứu vận dụng mưu trí trong Tam quốc vào công cuộc kinh tế của Trung Quốc.
Sự gợi mở của người Nhật Bản cho chúng ta
Thế giới là một hình thể thống nhất, bất kể là loại quốc gia nào, có một hình thái ý thức thế nào đều cần phải chung sống trong thế giới này, phải thông tin cho nhau về cái có, cái không mới có thể xúc tiến sự phát triển kinh tế của mỗi nước. Theo đà đổi mới không ngừng của khoa học kỹ thuật, quan hệ giữa các nước trên thế giới ngày càng chặt chẽ, thị trường thế giới cũng đã hình thành. Mà giữa thị trường các nước với nhau, giữa thị trường các nước với thị trường thế giới đều có sự chế ước lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và không thể tách rời nhau, nếu một nước nào đó muốn tự thành một thế hệ, tất sẽ bị cô lập, sự phát triển kinh tế của chính nước đó bị trở ngại. Một quốc gia nào đó muốn cho nền kinh tế phát triển mau lẹ thì cần phải có một vị trí quan trọng trên thị trường thế giới. Phần chiếm hữu đó càng nhiều, kinh tế phát triển càng nhanh. Do đặc thù của tình hình nước Nhật, lấy mậu dịch đối ngoại làm mạch sống của nền kinh tế, cho nên người Nhật Bản trước sau nhằm trúng vào thị trường thế giới, mà đến ngày nay người Nhật Bản có thể “xưng hùng xưng bá” trên thị trường thế giới, ngoài việc chuyên cần phấn đấu ra, trí tuệ là một nhân tố rất quan trọng, mà một trong những nguồn gốc của trí tuệ tức là Tam quốc diễn nghĩa.
Trong cái thị trường thế giới này, sự cạnh tranh giữa các nước là vô cùng khốc liệt, cũng có thể nói là một cuộc chiến tranh đặc biệt không đổ máu. Quy luật “ưu thế thì thắng, thất thế thì thua” đã có tác dụng một cách rõ rệt. Cuộc cạnh tranh khốc liệt này, không chỉ có ở thị trường thế giới là như thế, trong nội bộ các nước cũng như thế. Mà muốn cạnh tranh thì phải có mưu trí. Sức sản xuất và khả năng về khoa học kỹ thuật của Nhật Bản thật ra không hơn được nước Mỹ; thế nhưng khả năng cạnh tranh hoặc là nói về mưu trí của nó lại vượt hẳn nước Mỹ, cho nên trong cạnh tranh, nước Mỹ luôn mãi là kẻ bại trận. Mới hay mưu trí trong cạnh tranh vốn có một ý nghĩa lớn lao đến chừng nào! Hiểu rõ được điều này, mới có thể hiểu được tại sao mà giới doanh nghiệp Nhật Bản lại nghiên cứu Tam quốc diễn nghĩa như say như đắm đến thế. Các nhân sĩ trong giới doanh nghiệp Nhật Bản chỉ ra rằng: “Sở dĩ người ta tôn sùng Tam quốc diễn nghĩa đến thế, coi như là của quý, chính vì cho rằng trong sách có kho báu. Trong cuộc đọ sức về thương nghiệp rất kịch liệt ngày nay, đọc Tam quốc diễn nghĩa rất có ích lợi.”
Một vị giáo sư đại học Nhật Bản nói rằng: Sự túc trí đa mưu của Gia Cát Lượng đã là sự gợi mở cho các nhà doanh nghiệp Nhật Bản, thành công hiển hách của công ty điện tử SONY của Nhật Bản chính là kết quả vận dụng về tầm nhìn Gia Cát Lượng của công ty này. Giám đốc sở nghiên cứu công nghiệp xã hội Nhật Bản nói rằng: “Bất kể là trên thế giới hay ở trong nước, các xí nghiệp Nhật Bản cần tăng cường khả năng cạnh tranh, tức là phải học tập khả năng ứng phó với tình thế rắc rối phức tạp trong Tam quốc diễn nghĩa. Giới doanh nghiệp Nhật Bản quan tâm đến Tam quốc diễn nghĩa như thế, còn chúng ta, lẽ nào lại có lý do để xem thường những mưu lược trong Tam quốc – một di sản văn hóa quý báu của nhân dân Trung Quốc.
Cuộc chiến hiện đại trong thương mại không phải là việc của riêng những người làm ngoại thương hoặc các nhà doanh nghiệp, mà là công việc hầu như có liên quan đến toàn dân. Ngoài đặc điểm không đụng đến gươm giáo, nó còn có đặc điểm là đụng chạm đến hầu như tất cả các lĩnh vực như khoa học kỹ thuật, giáo dục, sản xuất, quản lý, kinh doanh, phân phối lưu thông v.v... Hậu quả thắng bại của nó cũng không phải tầm thường, mà đối với chính trị, quân sự, kinh tế, khoa học kỹ thuật trong nước đều phát sinh những ảnh hưởng rất lớn lao cũng do đó quan hệ đến sự yếu mạnh, thịnh suy của đất nước. Cho nên người ta thường nói, ngoại thương là cái “đầu tàu” kéo theo sự phát triển của nền kinh tế. Nếu như cái “đầu tàu” này không nhúc nhích được, kinh tế của cả nước cũng trì trệ không tiến lên được và đất nước cũng không thể phồn vinh giàu mạnh được. Bởi vậy, hiện nay các nước trên thế giới đều rất coi trọng cuộc chiến trong thương mại, nhất là người Nhật, có thể nói cả nước đều vào cuộc. Ở nước ta, nếu muốn tăng nhanh sự phát triển của kinh tế, cũng cần phải chú trọng đến ngoại thương và nhất là cuộc chiến trong thương mại. Nước ta sau ngày giải phóng do nhiều loại nguyên nhân khách quan, trong một thời gian khá dài có thể nói đã “bế quan tỏa cảng” (đóng cửa khẩu khóa cửa bể). Từ ngày thực hành đổi mới, mở cửa đến nay, công tác ngoại thương tương đối được coi trọng và có sự tiến triển nhất định. Nhưng kinh nghiệm còn chưa phong phú, thành tựu còn chưa lớn lắm. Ngoài việc tự mình còn phải cố gắng nhiều, việc vay mượn kinh nghiệm của nước ngoài là điều rất cần thiết, nhất là học tập kinh nghiệm của người Nhật Bản trong việc vận dụng mưu trí của Tam quốc vào trong quản lý kinh doanh xí nghiệp và trong cuộc chiến thương mại.
Học những gì ở Lưu Bị – Khổng Minh?
Cuối đời Đông Hán, khi anh hùng hào kiệt tranh giành Trung Nguyên, Lưu Bị vẫn còn ở dưới trướng người khác, long đong lưu lạc, không có đất cắm dùi, thế nhưng sau này vì đâu mà một bước nhảy lên thành đế vương của nước Thục. Nguyên nhân chủ yếu thứ nhất là biết người và khéo giao việc. Ông ta khao khát cầu hiền, mới biết Khổng Minh là bậc đại tài, bèn ba lần đến thăm lều cỏ, khiêm tốn học hỏi. Khổng Minh cũng cảm ở tấm lòng thành, nhận lời phò tá. Được Khổng Minh, Lưu Bị như cá được nước. Mà cũng chính vì quan hệ quân thần như cá với nước, tài trí của Khổng Minh cũng mới được phát huy đầy đủ. Hai là biết đoàn kết mọi người, biểu hiện ở chỗ lấy nghĩa để gắn bó lòng tướng soái, Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân, Khổng Minh v.v... mới hết lòng mà quên mình; Lấy chữ nhân để gắn bó lòng dân nên mới được dân chúng hai châu Kinh, Ích yêu mến và ủng hộ.
Khổng Minh mới là bậc đại hiền, có chí lớn giành thiên hạ nhưng lại không mưu chiếm tư lợi cho riêng mình. Để thống nhất giang sơn, khôi phục nhà Hán cứu dân khỏi vòng nước lửa đã cống hiến cả cuộc đời cao quý của mình đến mức “cúc cung tận tụy, chết cũng không tiếc”. Thục Hán đứng vững được cùng với nước Ngụy, nước Ngô, mưu trí của Khổng Minh đã có tác dụng quyết định. Ông dự đoán và nêu ra thuyết thiên hạ chia ba, nêu ra “long trung quyết sách” để Lưu Bị từ yếu trở được thành mạnh. Ông đoán việc như thần trong trận Xích Bích, dỡn Tào Tháo, Chu Du trong bàn tay, là một người chỉ huy thực tế. Ông dùng binh như xuất quỷ nhập thần, Tư Mã Ý phải kêu trời, “sợ hơn sợ hổ”, chịu cái nhục “mặc váy đàn bà”.
Việc phát triển kinh tế của một đất nước, trước hết phải vạch ra được một chính sách đúng đắn, nhưng được mọi người triệt để chấp hành, chủ yếu dựa vào từng doanh nghiệp, mà doanh nghiệp có làm được tốt hay không lại quyết định ở chủ tịch Hội đồng quản trị và giám đốc. Nếu chủ tịch hội đồng quản trị có bản năng biết người, giỏi xếp đặt công việc và biết đoàn kết mọi người như Lưu Bị, giám đốc có tinh thần chí công vô tư như Khổng Minh để làm việc cho doanh nghiệp, có mưu lược như Khổng Minh để cạnh tranh đối ngoại, quan hệ chủ tịch hội đồng quản trị với giám đốc là quan hệ cá nước như Lưu Bị với Khổng Minh... thì sự phát triển không ngừng của doanh nghiệp là điều khỏi phải nghi ngờ.
Các thương gia Nhật rất kính phục Khổng Minh và Lưu Bị, coi họ là tấm gương để học tập. Ngày nay thị trường thế giới cạnh tranh hết sức gay go, chẳng khác gì anh hùng hào kiệt tranh nhau cát cứ thời Tam Quốc. Người Nhật Bản ai cũng cho rằng, công ty muốn tồn tại và giành thắng lợi phải học những ưu điểm của Lưu Bị và Khổng Minh, nhất là về đoàn kết, đối ngoại và tranh thủ nhân tài. Đó là mấu chốt quyết định của sự thành công của việc quản lý kinh doanh xí nghiệp.
Vận dụng chính xác mưu trí của Tam quốc sẽ như hổ thêm vuốt
Trong quản lý kinh doanh xí nghiệp hiện đại, chủ yếu có hai vấn đề: Một là cạnh tranh đối ngoại, một nữa là quản lý nội bộ. Hai vấn đề này đều cần phát huy đầy đủ sự thông minh tài trí của con người. Đối với việc này, truyện Tam quốc đã nêu cho chúng ta có nhiều điều gợi mở: Một là sự vận dụng chiến lược đánh vào lòng người. Lưu Bị và Gia Cát Lượng đều là những nhà chiến lược lỗi lạc “đánh vào lòng người”. Lưu Bị có thể phát triển từ nhỏ đến lớn, từ yếu đến mạnh, sáng lập nên nước Thục, mấu chốt là ở chỗ khéo dùng người, lại được lòng người; Gia Cát Lượng có nhiều mưu thần chước quỷ, trong đó đáng kể nhất là vận dụng khéo léo chiến lược “đánh vào lòng người”, chẳng những có thể dùng vào việc trị nước trị quân, mà còn dùng được cả vào trong chiến tranh, cho nên mới có “thứ quân không đánh mà thắng”. Quản lý nội bộ xí nghiệp thì cốt lõi là việc quản lý con người. Mà muốn quản lý tốt con người thì mấu chốt ở chỗ được lòng người, mới khiến người ta dùng hết sức mình, hết tài mình cùng quản lý tốt xí nghiệp. Cạnh tranh đối ngoại cũng vậy, “đánh vào lòng người” cũng có tác dụng mấu chốt. Các nhà doanh nghiệp phương Tây muốn xây dựng hình tượng xí nghiệp của mình, ngành hàng của mình, đã không tiếc bỏ ra hàng tỷ đồng để làm quảng cáo, đó thực chất là khéo léo vận dụng chiến lược đánh vào lòng người, thu được sự ngưỡng vọng của mọi người, để áp đảo đối thủ. Hai là biết người biết mình. Tam quốc diễn nghĩa đã nêu ra khá nhiều ví dụ về “biết người biết mình” như cuộc đấu trí giữa Lưu Bị và Tào Tháo, Gia Cát Lượng và Tư Mã Ý, hai bên có thể nói là ngang tài ngang trí, hai kẻ anh hùng đọ sức nhau, có lúc một bên biết người biết mình mà thắng, có lúc cả đôi bên đều biết người biết mình, bởi vậy làm cho cuộc chiến tranh càng trở nên rắc rối phức tạp, mà thắng bại chỉ là chậm một nước cờ mà thôi. Cũng như vậy, biết người biết mình trong cạnh tranh đối ngoại có tác dụng có tính quyết định. Nhất là chúng ta không những phải làm sao biết người biết mình, còn phải lường tính được đối phương có phải cùng biết người biết mình. Nếu như không biết người, không biết mình, mà đi kinh doanh đối ngoại một cách mù quáng thì thường thường sẽ bị thất bại. Cho nên, cạnh tranh đối ngoại, cần nhấn mạnh phải có quan niệm thị trường, quan niệm thông tin, làm rõ được nhu cầu và sự thay đổi của thị trường, nắm được đầy đủ sự biến động của thông tin. Chỉ có làm như thế mới có thể biết người biết mình để quyết định đối sách mà cạnh tranh đối ngoại. Ba là lừa thời lựa thế, tùy thế mà chỉ đạo. Như Khương Duy chín lần đánh vào Trung Nguyên, Đặng Ngải đã cùng nhau đối địch. Phàm là có thể phân tích cục thế một cách chính xác rồi căn cứ vào hình thế thay đổi của nó kịp thời áp dụng đối sách thì thắng. Ngược lại thế, thì thua. Lừa thời lựa thế, tùy thế mà chỉ đạo trong cạnh tranh đối ngoại cũng rất quan trọng. Chúng ta cần phải biết nắm được những động thái của thị trường quốc tế để xác định đối sách của mình. Do có thể dự liệu được nhu cầu của thế giới, kịp thời tung ra thị trường được những mặt hàng bán chạy mà thu được lãi lớn. Những thí dụ về mặt này chẳng thiếu gì. Bốn là lấy mặt mạnh của mình đánh mặt yếu của địch, phát huy đầy đủ những nhân tố có lợi để chiến thắng đối phương. Trong trận Quan Độ, trận Xích Bích, trận Di Lăng... Tào Tháo, Chu Du, Lục Tốn đều áp dụng mưu lược này mà giành thắng lợi. Cũng như vậy, chỉ có phát huy đầy đủ ưu thế của chúng ta, mới có thể thành công trong cạnh tranh đối ngoại. Năm là, binh quý ở thần tốc. Trận đánh Tân Thành do Tư Mã Ý phát động là một ví dụ mẫu mực về binh quý ở thần tốc. Do tình hình nghiêm trọng, do Tư Mã Ý căn cứ vào sự phản bội của Mạnh Đạt và việc hắn cùng với Khổng Minh mưu chiếm hai kinh, cho nên không áp dụng cách làm thông thường là tấu trước rồi cất quân sau, mà phải lập tức dẫn quân đi gấp trên đường để cấp tốc xuống Tân Thành, bởi vậy đã vượt ra ngoài sự tính toán của Mạnh Đạt, trở tay không kịp mà bị Tư Mã Ý bắt gọn. Dùng binh như thế, trong cạnh tranh đối ngoại ngày nay cũng thế. Trong cạnh tranh đối ngoại, quan niệm thời gian là hết sức quan trọng. Người ta thường nói: Thời gian là tiền bạc, bởi vì thị trường thế giới biến đổi từng giờ từng phút, nếu chậm một chút là sẽ lỡ mất cơ hội, hàng ăn khách nếu không kịp thời tổ chức xuất khẩu, thị trường bị người khác xen chân vào chiếm chỗ sẽ có thể biến thành hàng ế ẩm. Tóm lại trong cạnh tranh mậu dịch đối ngoại, người lãnh đạo xí nghiệp có điểm giống với tướng lĩnh cầm quân tác chiến. Gia Cát Lượng với Tào Tháo, Chu Du v.v... có thể thắng được nhiều vì có nhiều mưu và giỏi đoán, kịp thời đưa ra những quyết sách chiến lược đúng đắn. Người lãnh đạo của xí nghiệp cũng nên có thứ bản lĩnh đó mới có thể thành công được trong cạnh tranh.
Mưu trí Tam Quốc ra đời ở Trung Quốc, người Trung Quốc vận dụng mưu trí Tam Quốc càng phải thành thạo hơn người Nhật. Nếu biết kết hợp thực tế, vận dụng một cách đúng đắn, linh hoạt, người Trung Quốc tham gia cạnh tranh quốc tế sẽ như hổ thêm vuốt, không bao giờ thất bại.