Việc hình thành đặc điểm dùng người của chấp chính trong một nước, đều có quan hệ chặt chẽ với cá tính, sự yêu thích, quan niệm đạo đức và hoàn cảnh của người ta và thời đại người ta sống. Khổng Minh là danh sĩ của Kinh Châu, với tài danh và việc làm có đức đã tương xứng lúc bấy giờ. Việc dùng người của họ cũng phải sẵn có tính đến cá nhân con người, ông chọn lựa nhân tài trước sau vẫn kiên trì một chuẩn mực tức là đức tài đều song song. Tào Tháo xuất thân từ gia đình hoạn quan, khó mà được sự ủng hộ của sĩ tộc. Vì kẻ sĩ vốn mang danh nho học lấy trung hiếu làm chuẩn, cho nên phần nhiều không ngả theo Tào Tháo. Tào Tháo muốn lôi kéo được nhân tài giúp ông ta đánh thiên hạ, thì bất kể có làm việc nhân đức hay không, cứ có tài là dùng từ đó mà hình thành đặc điểm dùng nhân tài của ông ta là “cứ có tài là cất nhắc”. Tôn Quyền là con người thận trọng, quả đoán, ông chọn lựa nhân tài là qua sự thử thách rất cẩn thận và cân nhắc kỹ càng. Khi đã quyết định rồi thì hết sức tin tưởng đến mức nghi thì không dùng, dùng thì không nghi. Nguyên tắc và chuẩn mực dùng người của Khổng Minh, Tào Tháo, Tôn Quyền tuy có đem lại cho họ khá nhiều anh tài, nhưng không được toàn thiện toàn mỹ, trong mặt mạnh cũng thấy cái yếu của họ, nếu không thì làm sao mà trong nước Thục lại không có đại tướng, Tào Tháo nảy sinh gian nghịch, còn Đông Ngô thì không có năng thần? Rốt cuộc thì thượng thượng sách của phép dùng người là cái gì? Từ sự so sánh về phong cách dùng người trong Tam quốc có thể chúng ta cũng thấy ra một số điều bổ ích.
Sau khi Lưu Bị chết đi và Khổng Minh chấp chính, ông rất chú ý những gì tốt nảy sinh sau này, săn sóc bồi dưỡng thêm và mạnh dạn cất nhắc. Ông chọn lựa nhân tài không chỉ coi trọng tài cán mà còn rất coi trọng đạo đức nữa. Như trong tờ “biểu trước lúc ra quân” đã tiến cử Phí Vĩ, Đổng Doãn, đã đặc biệt nhấn mạnh những người này ăn ở thật thà, trung hậu thuần phác, và khuyên hậu chúa hãy “thân hiền thần, xa lánh bọn tiểu nhân”. Người xưa gọi là “hiền thần” nói chung là chỉ những người có đức hạnh cao thượng, có tài tế thế, giúp đời. Khổng Minh cho rằng: “Cái đạo trị nước là ở như việc tuyển hiền”, ông lại nói: “thất hiền mà không nguy, được hiền mà không yên, có cũng như không, vì người mà chọn quan thì loạn, vì quan mà chọn người thì trị, thế mới là chiêu mời hiền sĩ” cho nên Khổng Minh coi việc chọn hiền tài là chức trách quan trọng của mình. Coi tài đức song toàn là tiêu chuẩn và nguyên tắc cất nhắc nhân tài của mình. Ông bồi dưỡng cất nhắc những người nối dõi sau này như Tưởng Uyển, Phí Vĩ, Đổng Doãn, Khương Duy đều là những người tài đức song song, được người đời lúc ấy kính nể. Người nước Thục thời ấy đặt bốn người ngang nhau và gọi họ là “tứ anh”, ca ngợi là “tứ tướng”. Ngoài Khương Duy, Tam quốc diễn nghĩa tả về Tưởng Uyển, Phí Vĩ, Đổng Doãn rất sơ lược, nhưng Tam quốc chí – Thục Thư lại tả về họ khá cặn kẽ. Họ đều là những người thực tế nắm quyền chính ở thời kỳ cuối của nước Thục. Tìm hiểu sự đóng góp của họ trong cách ăn ở với mọi người và với nước Thục, mới có thể hiểu được đặc điểm dùng người của Khổng Minh.
Có tài không có đức, không nên kết nhân tâm
Khổng Minh dùng Tưởng Uyển làm người nối dõi, mà không dùng Ngụy Diên do người Ngụy Diên có một cái bướu ở gáy, trong thực tế lịch sử thì chưa hẳn có thể. Ngụy Diên là một mãnh tướng của nhà Thục Hán, võ nghệ và tài năng của Diên đều không kém tài “năm hổ tướng”, khi Lưu Bị đang còn sống rất coi trọng ông ta, như sau khi ông ta giành được Hán Trung trong tay Tào Tháo, cần có đại tướng để trấn giữ, dư luận mọi người tưởng rằng sẽ dùng Trương Phi. Trương Phi cũng cho rằng không mình thì chẳng còn ai vào đấy, ấy thế mà chẳng ai ngờ được Lưu Bị lại phá cách mà dùng Ngụy Diên, đưa ông ta từ nha môn tướng quân thăng lên làm đốc Hán Trung trấn viễn tướng quân, lĩnh thái thú Hán Trung, làm cho “toàn quân kinh ngạc”. Sau ngày Lưu Bị qua đời, khi Khổng Minh chấp chính, coi ông này là rường cột trong quân đội, do ông nhiều lần lập chiến công, đã thăng cấp làm tiền quân sự chinh tây đại tướng quân, giả tiết tiến phong Nam Trịnh hầu. Người đời đều cho rằng ông này là người đương nhiên nối dõi Khổng Minh. Thế nhưng sự việc đã diễn ra ngoài sự tính toán của mọi người, Khổng Minh từ lâu đã chọn sẵn Tưởng Uyển để làm người nối dõi cho mình rồi, trong mật thư gửi hậu chúa ông nói: “Nếu thần có bề nào, mọi việc sau này nên giao phó cho Uyển”. Đó là do nguyên nhân gì? Thì ra Khổng Minh chọn người nối dõi là căn cứ vào tài đức của người đó. Ngụy Diên tuy có tài cán lại dũng mãnh hơn người, nhưng “tính kiêu ngạo, đương thời đều coi là dưới” bởi vậy, không đoàn kết được mọi người. Nếu ông này cùng Dương Nghi là tả hữu trong quân của Khổng Minh, thì sẽ làm cho nước lửa không dung nhau, thậm chí khi tranh luận với Dương Nghi, đã “cầm dao dứ Nghi”, làm cho “Nghi phát khóc lên”. Hiển nhiên đó là người không thể đoàn kết mọi người và cũng không thể trị vì tốt một đất nước được. Khổng Minh chỉ dùng tài năng của Ngụy Diên mà không giao trọng trách, điều đó nói lên rằng ông rất biết dùng người. Sự thực sau này cũng chứng minh rằng Khổng Minh không phó thác công việc sau này cho Ngụy Diên là đúng đắn. Khổng Minh vừa chết đi, Ngụy Diên đã không vì toàn cục mà vì tư oán và quyền lực cá nhân, đã tranh giành với Dương Nghi, kết quả là bị thuộc hạ của Nghi là Mã Đại giết chết (Tam quốc chí – Thục thư Ngụy Diên truyện).
Tưởng Uyển lấy đức phục người
Khổng Minh đem việc sau này phó thác cho Tưởng Uyển là phải. Tưởng Uyển tự Công Yển, người Tương Hương, Linh Lăng. Ông theo Lưu Bị vào đất Thục, nhậm chức Quảng đô trưởng. Lưu Bị có việc đến Quảng đô, lầm cho rằng Uyển không làm việc, lúc ấy vừa hay gặp Uyển say sưa bí tỉ, trong lòng đã rất bực, chuẩn bị kết tội và giết béng đi. Khổng Minh lại nói với Lưu Bị: “Tưởng Uyển là công cụ của xã tắc là người tài hiếm có. Ông ta làm việc lấy yên dân làm gốc, không lấy chuyện tô vẽ làm đầu, mong chúa công hãy xét kỹ”. Lưu Bị tin nghe theo Khổng Minh, mới không xử tội chết, mà chỉ bãi chức thôi. Sau này do sự tiến cử và đề bạt của Khổng Minh từ thương thư lương đến tham quân sau lại thăng đến trưởng sử và phủ quân tướng quân. Khổng Minh đem quân xuất chỉnh, Uyển đều có thể bảo đảm cung cấp đủ quân, đủ ăn, có tác dụng hết sức quan trọng trong việc giúp Khổng Minh Bắc phạt. Bởi vậy Khổng Minh rất ca ngợi Uyển, cho rằng “Công Yên có lòng trung nhã là kẻ đáng cùng ta lo vương nghiệp”. Khổng Minh ốm chết. Hậu chúa theo lời ông dặn lại, đưa Tưởng Uyển lên làm Thượng thư lệnh, chủ trì chính sự trong nước. Lúc bấy giờ, nước Thục vừa mới mất nguyên soái, xa gần đều lo sợ, thế nhưng Tưởng Uyển không hề bi lụy, cũng không tỏ ra mừng rỡ. Ngày giải quyết hàng trăm việc, trấn tĩnh như thường, bởi vậy mà rất được mọi người hy vọng. Tưởng Uyển đối xử với mọi người còn rất khoan hồng độ lượng, chịu nghe lời trung thực, làm việc công trên hết, không tính gì ân oán. Tưởng Uyển khi nói chuyện với Đông Tào viên Dương Hí, Dương Hí thường không trả lời. Có người nói với Tưởng Uyển rằng Dương Hí đối với cấp trên quá ngạo mạn, Tưởng Uyển ngược lại còn biểu dương Dương Hí, nói: “Lòng người không giống nhau, mỗi người một vẻ mặt, vẻ mặt thể hiện sau lời nói, đấy là điều lợi hại của người xưa. Hí muốn tán dương ta thì dễ, nhưng đó không phải bản tính ông ta, muốn phản đối lời ta, thì rõ là ta sai, còn sự mặc nhiên là do Hí thích thế.” Lại như đốc nông Dương Mẫn thường nói xấu Tưởng Uyên với mọi người rằng: “Làm việc lẩm cẩm, không bằng người trước”. Có người đem chuyện đó nói lại với Tưởng Uyển, định nhờ đó “trị đòn” Dương Mẫn. Tưởng Uyển không đồng ý, nói “ta thực không bằng tiền nhân, thì không thể trị đòn người ta được”. Người ấy lại hỏi “cái chứng lẩm cẩm”, Tưởng Uyển nói: “Cẩu thả không ra sao thì việc không đáng lý, việc không đáng lý thành ra lẩm cẩm, hỏi lại làm chi?” Sau này Dương Mẫn vì chuyện khác bị hạ ngục, ai cũng lo rằng sẽ bị tội chết, thế nhưng Tưởng Uyển làm theo lẽ công, Dương Mẫn giảm được tội nặng. Do Tưởng Uyển ăn ở rất trung thành, chí công vô tư, độ lượng khoan hồng nên được nhiều người sở cậy. Trong thời kỳ ông chấp chính, làm cho dân hòa nước yên, không phụ sự tin tưởng giao phó của Khổng Minh.
Giữ nước Thục lâu 29 năm
Phí Vĩ, Đổng Doãn, Khương Duy cũng có những đóng góp lỗi lạc cho nước Thục. Phí Vĩ là người rất có tài. Khi phụng sứ đi Đông Ngô, người Ngô “lấy điều khó ra thử thách” nhưng Phí Vĩ đã “trả lời đúng lý, chưa hề chịu thua”. Tôn Quyền khen ông ta là “thục đứa trong thiên hạ”. Ông về sau thay Tưởng Uyển làm thượng thư lệnh, ngày giải quyết hàng trăm việc, ứng phó rất tự nhiên: xử lý việc quân, chỉ huy ổn định làm cho biên giới yên bình (Tam quốc chí – Thục Thư– Phí Vĩ truyện). Đổng Doãn giữ chức trung thư thượng thư lệnh, ông đối với người “công tâm trong sáng”, giữ nghiệm với cấp dưới. Hậu chúa đắm vào tửu sắc, muốn chọn con gái trong dân chúng để đưa vào cung, ông đã tranh luận theo lý lẽ kiên quyết phản đối, hậu chúa không làm gì được. Hoàng Hạo là hoạn quan rất được hậu chúa sủng ái cũng rất sợ ông, cả cuộc đời Doãn, Hoàng Hạo không hề dám làm sai làm trái. Đổng Doãn không màng danh lợi, Tưởng Uyển cho rằng ông phò tá hậu chúa có công dâng sở đề nghị “thưởng cho tước sĩ” ông từ chối không nhận (Tam quốc chí – Thục Thư – Đổng Doãn truyện). Khổng Minh rất hiểu Khương Duy, cho rằng: “Khương Bá Ước rất nhạy bén về quân sự, vừa gan dạ, lại rất hiểu binh ý. Người này luôn mang nhà Hán trong lòng, tài trí hơn người”. Sau khi Tưởng Uyển, Phí Vĩ lần lượt qua đời, một mình Khương Duy phải ghé vai gánh vác việc bảo vệ nước Thục. Ông đã kế thừa chí của Khổng Minh, kiên trì bắc phạt, cố nhiên có trận thắng trận thua. Do hậu chúa ngu dốt, làm ngơ trước lời đề nghị của Khương Duy về việc đem quân giữ Âm Bình v.v... làm cho Đặng Ngải có dịp ngầm vượt Âm Bình, đánh thẳng vào thành Đô, Thục Hán cuối cùng bị diệt vong. Sự suy vong của nước Thục, không thể quy tội cho Khương Duy, ngoài xu thế của thời cuộc, hậu chúa ngu dốt là một trong những nguyên nhân chủ yếu. Tư Mã Chiêu nói: Cứ cho là còn Gia Cát Lượng cũng chẳng phò tá để giữ được lâu dài huống chi là Khương Duy.
Sau khi Khổng Minh qua đời, việc quân sự chính trị của nước Thục lần lượt do Tưởng Uyển, Phí Vĩ, Khương Duy chủ quản, thời gian lâu tới 29 năm, so với thời gian Lưu Bị, Khổng Minh, trị vì nước Thục lâu hơn 9 năm. Trong cuộc đọ sức đối địch giữa nước Thục và nước Ngụy, nước Thục yếu, Ngụy mạnh, đối thủ lại toàn là những nhân tài lỗi lạc, về khách quan không tồn tại tình thế để Thục thắng. Khổng Minh từng mang hết sức mình, nhưng cũng chỉ nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì, chỉ dựa vào sự cố gắng chủ quan của Khương Duy thì không thể xoay chuyển được cục diện này. Mà Tưởng Uyển, Phí Vĩ, Khương Duy v.v... đã có thể giữ nước Thục được 29 năm. Nếu như họ không có tài cán khác người và lòng trung thành vô hạn thì làm sao mà được như thế. Điều đó nói lên rằng Khổng Minh rất khéo trong việc “giao việc cho người hiền, cất nhắc người có năng lực”, và cũng chứng minh rằng chuẩn mực của Khổng Minh trong việc dùng người tài đức song toàn là hoàn toàn đúng đắn.
Trọng giữ gìn, lấy thân làm chuẩn mực
Những người được Khổng Minh trọng dụng đều tài đức song toàn điều đó có quan hệ với phong cách cá nhân ông. Bản thân Khổng Minh là một hiền nhân đức trọng tài cao. Khi chưa ra khỏi lều cỏ, ông đã dự kiến điều thiên hạ sẽ chia ba, chế định cho Lưu Bị một quyết sách chiến lược đúng đắn – “Long trung đối”. Để làm việc bắc đồ Trung nguyên, thống nhất Trung Quốc, ông đã đến mức “cúc cung tận tụy, chết mà không tiếc”. Ông có được phong cách cao cả đó, là vì ông đã vì công mà quên tư, không mưu lợi riêng. Khi bị ốm nặng, ông đã tự dâng biểu lên hậu chúa, nói: “Nhà thần dân vườn 800 gốc, ruộng cấy 50 mẫu, chuyện ăn mặc của cháu con, tự thấy là dư dật. Còn như thần ra làm việc, những gì cần thiết đều do ở chức quan, không sản xuất gì thêm. Ngày thần chết đi, không để đến mức trong thừa gấm vóc, ngoài dư tiền bạc để khỏi phụ bệ hạ”. Sau khi Khổng Minh ốm chết, qua tìm hiểu, quả đúng như lời ông nói. Dưới sự ảnh hưởng của Khổng Minh lấy mình làm mực thước, người dưới quyền ông cũng đều thanh liêm trong sạch. Như Phí Vĩ: “tính nhã nhặn, tố chất khiêm nhường, nhà không tích của, con em đều áo vải thô, ăn đạm bạc, vào ra không dùng ngựa xe, chẳng có gì khác người thường”. Khương Duy cũng “nhà cửa xuềnh xoàng, tư tài không có, nhà ngang không có bóng thiếp bóng nàng, nhà sau không tiếng đàn ca nhã nhạc”.
2. CÓ TÀI LÀ CẤT NHẮC: ĐẶC ĐIỂM DÙNG NGƯỜI CỦA TÀO THÁO
Mùa xuân năm Kiến An thứ 15 (công lịch năm 210), Tào Tháo phát “lệnh cầu hiền”, lần đầu tiên nêu ra phương châm “hễ có tài là cất nhắc”. Đến năm Kiến An thứ 19 và 22 lại lần lượt ra hai lệnh về thủ sĩ cầu hiền, chủ trương đối với người có khuyết điểm cũng không nên bỏ đi không dùng. Bất kể là người ti tiện, thậm chí là người “bất nhân bất hiếu”, chỉ cần họ biết thuật trị nước, dùng binh” đều được tiến cử. Trong Tam quốc diễn nghĩa không đề cập đến những “lệnh cầu hiền” đó, mà chỉ qua việc miêu tả những sự tích về việc dùng người của Tào Tháo, đã phản ánh rất cụ thể đặc điểm “có tài là cất nhắc” trong cách dùng người của Tào Tháo.Người ngựa các nơi đều đến cứu mạng
Do Tào Tháo áp dụng chính sách dùng người “có tài là cất nhắc”, không kể gì môn đệ, không chấp phẩm hạnh, người tài giỏi phần lớn đều về theo ông ta, cho nên nhân tài nước Ngụy rất đông đảo. Mưu thần thì có Tuân Úc, Tuân Du, Quách Gia, Trình Dục, Thôi Yển, Mao Giới, Hạ Hầu Dực. Võ tướng có Trương Liêu, Nhạc Tiến, Vu Cấm, Trương Cáp, Từ Hoảng là 5 danh tướng và các mãnh tướng khác như Hứa Chử, Điển Vi v.v... Những mưu thần, võ tướng này có không ít người là những nhân vật hàng đầu thời Tam quốc. Trong đó những mưu thần vào dạng nổi trội, ngoài nhà mưu lược lỗi lạc mới nói ở phần trên là Tuân Úc ra, Quách Gia cũng là một mưu sĩ rất ghê gớm. Ông đã giúp Tào Tháo vạch ra nhiều kế lạ, mà kế nào cũng trúng Trong hồi thứ ba mươi ba “Quách Gia dặn kế định Liêu Đông” đã đặc biệt nói về mưu trí hơn người của ông. Sau khi bị Tào Tháo đánh bại, Viên Hy, Viên Thượng chạy sang theo thái thú Liêu Đông Công Tôn Khang. Các tướng như Hạ Hầu Đôn, chủ trương thừa thắng truy đuổi, Tào Tháo chỉ cười, nói: “Khỏi phải phiền đến uy hổ của các tướng. Chỉ sau vài ngày nữa, Công Tôn Khang sẽ tự mang đầu hai tên ấy đến đây thôi mà!” Các tướng đều không chịu tin. Mấy hôm sau, bỗng có tin báo Công Tôn Khang sai người mang đầu của Viên Hy, Viên Thượng đến. Mọi người đều kinh ngạc. Sứ giả trình thư lên. Tào Tháo cả cười nói: “Không ngoài sự tính toán của Phụng Hiếu!” Các quan hỏi có làm sao, Tào Tháo liền đưa thư của Quách Gia ra cho xem. Trong thư viết: “Nay nghe Viên Hy, Viên Thượng chạy theo sang Liêu Đông, minh công không cần phải ra quân. Công Tôn Khang từ lâu vốn họ Viên thôn tính, nên hai người kia có sang hàng cũng sẽ nghi ngờ. Nếu lấy quân mà đánh, tất sẽ hợp lực địch lại, nôn nóng thì khó mà hạ được. Nếu chậm lại, Công Tôn Khang, anh em họ Viên tất sẽ tính lẫn nhau, đó là thế tất nhiên.” Đó chính là sách lược “cấp thì sẽ hợp, chậm sẽ ly” để bình định Liêu Đông của Quách Gia. “Điển Vi chống địch đến chết ở cửa trại (hồi thứ 17), “Hứa Chử mình trần đánh Mã Siêu (hồi thứ 59), Bến Tiêu Diêu Trương Liêu khét tiếng (hồi thứ 67), “Từ Công Minh đại chiến Miện Thủy” (hồi thứ 76) đã miêu tả rất sinh động những sự tích anh dũng của các mãnh tướng Điển Vi, Hứa Chử, Trương Liêu, Từ Hoảng. Những mãnh tướng này, có người nguyên là tù binh, có người nguyên là những tên vong mạng, có người vốn xuất thân từ người lính, đều là được Tào Tháo biết đến mà cất nhắc để bạt lên hàng đại tướng. Những mưu sĩ, võ tướng kể trên đều từ “bốn biển” tập hợp lại chung quanh Tào Tháo, bày mưu hiến kế, xông pha trận mạc để Tào Tháo có thể thống nhất được phương Bắc, xưng hùng ở Trung Quốc.
Tuy không được người, nhưng được lòng Quan Vũ
Tào Tháo hết sức coi trọng nhân tài, việc ông ta trăm phương ngàn kế để được Quan Vũ là một thí dụ điển hình. Quan Vũ từ lúc uống rượu chém Hoa Hùng đã được Tào Tháo biết đến, cho nên đã chấp nhận lời hẹn ba việc của Quan Vũ để cho ông này quy hàng. Rồi sau đó phong quan tước, tặng gái đẹp, lên ngựa thì đưa vàng, xuống ngựa thì đưa bạc, làm đủ mọi việc để lung lạc. Tào Tháo kính trọng như vậy, Quan Vũ cũng lấy việc chém Nhan Lương, Văn Xú để báo đáp. Quan Vũ ra đi, Tào Tháo theo lời hẹn, đã “bật đèn xanh”, và thân chinh đến tặng áo bào đưa tiễn. Nếu không phải Tào Tháo buông thả, Quan Vũ có tài giỏi đến đâu, có “quá ngũ quan chém lục tướng” thì cuối cùng cũng không đi nổi. Chính vì Tào Tháo yêu mến tài năng như thế, ông ta không được con người Quan Vũ thì cũng được tấm lòng, cho nên ở đường Hoa Dung Quan Vũ cam lòng phạm quân lệnh, vì nghĩa mà thả Tào Tháo. Nếu Quan Vũ không cảm cái ơn tri ngộ thì Tào Tháo cũng không thoát nổi, và sớm đã thành quỷ không đầu.
Không chấp tội cũ, có tài là dùng
Chỉ cần là nhân tài, là có thể dùng cho mình, cho dù là kẻ thù, hoặc là người đã chửi mắng mình, người đó cũng vẫn được Tào Tháo “sắp xếp khéo léo, không chấp tội cũ”. Trần Lâm từng viết cho Viên Thiệu bài hịch đánh Tào Tháo. Bài hịch này đã chửi bới Tào Tháo và tổ tiên ba đời ông ta rất thậm tệ, Tào Tháo xem xong sởn cả gai ốc, toát mồ hôi lạnh. Tào Tháo đánh Ký Châu, bắt được Trần Lâm, ông đã không trách mắng, chỉ hỏi rằng: “Nhà ngươi trước đây viết hịch cho Bản Sơ, nhưng kể tội ta thì được, cớ sao còn nhục mạ cả ông ta, cha ta?” Trần đáp “Tên đã ở trên dây, không thể không lao đi”, ý muốn nói là vì Viên Thiệu sai khiến, không thể không làm. Tả hữu khuyên Tháo nên giết đi, nhưng tiếc cái tài của người này, nên Tháo vẫn tha, lệnh làm tòng sự. Hàng tướng Trương Tú làm phản, đêm đánh úp trại của Tào Tháo, nếu không có Điển Vi liều chết chống lại thì Tào Tháo cũng khó thoát. Trong trận này, Tào Tháo mất con trường là Tào Ngang, cháu là Tào An Dân và tướng thân cận là Diễn: Vì sử sách gọi là “Nạn ở Dục Thủy”, cho nên Tào Tháo vô cùng cảm tức, suốt đời không quên. Sau này Trương Tú lại sang hàng. Vì đang giữa lúc cần người nên Tào Tháo lại khoan dung. Tào Tháo có thể không nhớ thù riêng, đó là vì ông ta có thể lấy sự nghiệp làm trọng. Vì muốn giành thiên hạ nên phải thâu tóm nhân tài để mở rộng lực lượng của mình, và như thế thì không thể cứ so do ân oán của cá nhân; chỉ cần có lợi cho sự nghiệp, phải hết sức biến thù thành bạn. Không những chỉ Tào Tháo mới “sắp xếp khéo léo, không chấp tội cũ”, mà các minh chúa ngày xưa cũng đều như thế. Đường Thái Tông không phải vì Ngụy Trưng từng là quan của kẻ thù mà sinh nghi kỵ, bởi vì người này dám can gián trực tiếp thẳng thắn, hết lòng trung thực, cho nên rất kính nể. Trực thần gặp mình chúa, trở thành giai thoại truyền lại muôn đời sau. Ung Xỉ từng giúp Hạng Vũ mấy lần đẩy Lưu Bang tới chỗ tuyệt vọng, vậy mà sau khi thống nhất được thiên hạ, để thể hiện sự khoan hồng độ lượng, Lưu Bang trước hết đã phong hầu cho Ung Xỉ để yên lòng dân. Võ Tắc Thiên đọc bài hịch “Từ Kính Nghiệp thảo Vô Anh” của Lạc Tân Vương, không hề nổi giận vì những lời cực lực phỉ báng mình, ngược lại thấy tiếc mến cái tài đó đã thốt lên: “Người này mà không dùng là bỏ qua một tể tướng”. Nhưng Đường Thái Tông với Ngụy Trưng, Lưu Bang với Ung Xỉ không có thù oán sau sắc bằng Tào Tháo với Trương Tú. Võ Tắc Thiên mến tài Lạc Tân Vương nhưng cùng không dùng cho mình được, nhưng Tào Tháo lại dùng Trần Lâm, thế cho nên mới nói Tào Tháo khéo dùng nhân tài không kém gì các minh chúa khác thời xưa.
Không kể xuất thân, toàn dựa vào tài giỏi
Vì coi trọng nhân tài, Tào Tháo đã thực hiện phương châm dùng người: “Có tài là cất nhắc”, điều đó có tác dụng vô cùng quan trọng trong việc phát triển sự nghiệp của Tào Ngụy.
Phương châm nói trên cũng là một sự đổi mới trong chế độ về nhân sự của xã hội phong kiến. Cuối đời Đông Hán, việc chọn người của thống trị phong kiến phần lớn đều coi môn đệ, phẩm hạnh là điều kiện cốt yếu đầu tiên. Kẻ sĩ làm quan theo phẩm hạnh đã là một quy định không thành văn. Nhất là do sự tranh quyền đoạt lợi giữa hai bè phái lớn là ngoại thích và hoạn quan, chọn người chỉ nghĩ tới bè phái, mà không hỏi đến hiển hay ngu, bè phái nào đang nắm quyền, thì dùng người của bè phái đó, đẩy hết người của bè phái khác đi. Đương nhiên với người trong bè phái của mình cũng làm quan theo phẩm hạnh. Tào Tháo áp dụng phương châm dùng người không nói đến môn đệ dòng dõi, không kể gì phẩm hạnh, “có tài là cất nhắc”, đã phá vỡ chế độ nhân sự làm quan theo phẩm hạnh, bất kể là xuất thân ở dòng dõi nào hoặc có phẩm hạnh gì chỉ cần tài giỏi lập được công là được làm quan. Việc đó đã mở ra cho đông đảo kẻ sĩ lớp dưới và những người bình dân một con đường sĩ tiến rộng rãi. Thế nhưng Tào Tháo dùng người không kể dòng dõi không có nghĩa là không coi trọng “y quan vọng tộc” (chỉ dòng dõi làm quan); không kể phẩm hành không có nghĩa không trọng nhân hiếu. Tào Tháo suy cho cùng vẫn là một kẻ thống trị phong kiến, ý thức tư tưởng của ông ta tất nhiên chịu sự hạn chế của thời đại. Tuy rằng có dùng một số người xuất thân “hèn mọn”, cũng cố tranh thủ sự giúp đỡ của đám “y quan vọng tộc”. Như Tư Mã Ý xuất thân từ đám “y quan vọng tộc, lúc đầu coi thường Tào Tháo, giả vờ ốm để từ chối ra làm quan. Về sau đưới sự đe dọa bằng uy vũ và dụ dỗ bằng quyền lợi, sợ bị chém đầu, đành phải ra nhậm chức. Lại như Trương Mạo khi phản biến, cướp mẹ và vợ Tất Trạm (lúc này là biệt giá của Tào Tháo). Tào Tháo bảo Tất Trạm: “Mẹ già của khanh ở bên kia, có thể đi đi.” Tất Trạm tỏ ra không ăn ở hai lòng, Tào Tháo vì thế cảm động đến rơi nước mắt. Thế nhưng, Trạm quay lưng là biến mất. Sau này Tất Trạm bị bắt sống, mọi người đều cho rằng chuyến này y sẽ chết. Ai ngờ Tào Tháo không những không giết, ngược lại còn cắt cử cho làm Lỗ tướng. Và nói: “Con người hiếu với cha mẹ mình làm sao lại không trung với vua, ta cần người như thế”. Bởi vậy với phương châm dùng người “có tài là cất nhắc” không cần dòng dõi không nói phẩm hành của Tào Tháo, nên lý giải thế này: Không kể sang hèn, không kể phẩm hành tốt hay xấu, chỉ cần có tài năng đều được tiến cử. Đó là đặc điểm dùng người của Tào Tháo. Thế nhưng cái phương châm dùng người này chỉ áp dụng ở thời kỳ đầu của Tào Ngụy. Theo đà củng cố của chính quyền Tào Ngụy, các sĩ tộc phương bắc đều đã quy thuận, hình thành một thế lực sì tộc rất có ảnh hưởng. Cho đến khi Tào Phi kế vị đã ra lệnh quy định luật quan nhân cửu phẩm, quy định đẳng cấp cho kẻ sĩ, những người nghèo hèn bị gạt ra, cũng tức là những người thấp hèn không có tư cách được tiến cử làm quan. Đến lúc này không còn là “có tài là được cất nhắc” mà trở lại con đường cũ “có phẩm mới được cất nhắc”.
3. NGHI THÌ KHÔNG DÙNG, DÙNG THÌ KHÔNG NGHI: ĐẶC ĐIỂM DÙNG NGƯỜI CỦA TÔN QUYỀN
Đối với Tôn Quyền, những người không tín nhiệm, tuyệt đối không trọng dụng; những người được tín nhiệm thì sẽ được trọng dụng. Tào Tháo cất quân xuống phía Nam, Trương Chiêu cực lực chủ trương đầu hàng, nói đi nói lại về chuyện quân Tào thế lớn khó địch nổi, chỉ có hàng mới yên. Tôn Quyền nghe vậy, tuy không nói ra lời, nhưng lòng rất bất bình. Ông không muốn dễ dàng mang sự nghiệp thừa kế của cha anh dâng cho người khác, cho nên sau khi nghe lý do chủ chiến của Lỗ Túc, tỏ ra rất tin tưởng. So sánh động cơ chủ hàng của Trương Chiêu và chủ chiến của Lỗ Túc, ông cho rằng Trương Chiêu “nghĩ đến vợ con, dẫn đến suy nghĩ cho riêng mình” là sự tính toán an toàn cho cá nhân. Còn Lỗ Túc thì vì cái chung, chủ chiến là sách lược rất hay để bảo vệ Giang Đông, “rất giống với ý ta”. Sau khi giành thắng lợi ở trận Xích Bích, ông càng rất kính nể Lỗ Túc. Chu Du ốm chết, đã để bạt Lỗ Túc lên hàng chủ tướng Đông Ngô. Đối với Trương Chiêu, từ đó không giao việc gì quan trọng nữa.Tin tưởng đầy đủ vào người đã dùng
Đối với những người mình đã chọn dùng. Tôn Quyền có thể thực hiện tới mức tin chắc thì không nghi ngờ, để cho họ riêng một phạm vi, không ngăn cản, mạnh dạn để họ làm việc, cho nên đã phát huy đầy đủ được tài trí và lực lượng của họ, làm nên sự đóng góp lớn lao. Ví như trước ngày bước vào trận Xích Bích, sau khi ông đã đưa ra quyết định chiến đấu, lập tức để Chu Du thống soái, còn mình thì cam chịu làm chức hậu viện. Cho nên Chu Du có chỗ thực hành chí khí của mình áp dụng mưu kế của mình. Trận Gia Lăng, Đông Ngô giành thắng lợi lớn, cũng là sự tin tưởng đầy đủ của Tôn Quyền với Lục Tốn. Khi ông đề bạt Lục Tốn ra nghênh chiến với lão tướng ở sa trường là Lưu Bị, các đại thần Đông Ngô đều cho rằng Lục Tốn trẻ tuổi mà coi thường, các tướng cũng không phục, Tôn Quyền vẫn cho lập đàn phong Lục Tốn lên làm đại tướng, thường cho thanh gươm quý đang đeo, nói: “Nếu có kẻ nào không nghe lệnh, ta cho tiền trảm hậu tấu”. Lục Tốn đã chỉ huy được như ý, chấp hành sự sắp đặt chiến lược là giữ thật tốt để chờ thời cơ phản công, kết quả là một nấm lửa hầu như thiêu sạch quân của Lưu Bị.
Tôn Quyền dùng người đến mức nghi thì không dùng, dùng thì không nghi, chủ yếu là tư tưởng đó được xây dựng trên cơ sở hiểu biết sâu và thử thách kỹ càng với các tướng lĩnh. Dùng người, có tin có ngờ, song đều phải có căn cứ, quyết không được làm theo chủ quan, dễ tin dễ ngờ. Bởi vì dễ nghi ngờ thì sẽ làm mai một nhân tài, sẽ lỡ việc. Dễ tin sẽ dùng lầm người, cùng sẽ lỡ việc. Tôn Quyền dùng người rất thận trọng, vừa tìm hiểu quá khứ, vừa tìm hiểu cả hiện tại, vừa nghe ngóng lời nói, vừa quan sát cử chỉ hành động của họ. Chu Du từng cùng chung sống chết với Tôn Sách, Tôn Sách rất hiểu ông, cho rằng ông có thể làm công việc đối ngoại. Khi sắp chết đã dặn lại rằng: “ngoại sự không quyết được thì hỏi Chu Du”. Tôn Quyền cũng rất hiểu con người này, cho nên khi thấy trong việc chống Tào Tháo liệu có thắng lợi được không vẫn còn chút lấn cấn, nên hỏi ý Chu Du để quyết định. Chu Du đã phân tích địch tình và nêu những lý lẽ tất thắng trong việc chống Tào, Tôn Quyền rất lấy làm cảm phục, bèn ủy thác cho ông toàn quyền quyết định, để ông đem quân đi đánh. Tôn Quyền sở dĩ tin Lục Tốn vì sách lược đánh úp Kinh Châu do Lục Tốn vạch ra đã thể hiện tài ba của Lục Tốn, nên khi các đại thần phản đối đưa Lục Tốn làm tướng, Tôn Quyền đã nói: “Quả nhân đã biết Lục Bá Ngôn là bậc kỳ tài, ý quả nhân đã quyết, các khanh chớ có nhiều lời”.
Quan tâm đến tướng sĩ như tình ruột thịt
Tôn Quyền dùng người đến mức “đã dùng là không nghi ngờ” và có sự tin tưởng đầy đủ, còn vì ông thực sự coi tướng sĩ như tình ruột thịt. Ông từng nói với các tướng rằng: “Ngày nay các ông cùng gánh vác công việc với quả nhân, tuy là nghĩa quân thần, nhưng còn hơn ruột thịt. Vinh nhục vui buồn, đều phải có nhau”. Những tài liệu về mặt này Tam quốc diễn nghĩa nêu ra rất ít. Nhưng trong truyện Lã Mông, Chu Nhiên v.v... trong Tam quốc chí – Ngô Thư lại nói tương đối nhiều. Đối với tướng sĩ, Tôn Quyền đã quan tâm đến nơi đến chốn. Lã Mông ốm nặng, Tôn Quyền đón hẳn vào nội điện, bỏ hàng ngàn lạng vàng mời thày thuốc chữa bệnh cho Lã Mông, và tự mình săn sóc “Có lúc phải châm cứu, Quyền thấy đau buồn lây, muốn vào thăm luôn nhưng lại sợ gây động, nên chỉ nhìn qua kẽ tường, thấy ăn được chút ít thì vui, nhìn tả hữu mà cười, nếu không, lại thấy buồn phiền, đêm ngủ không yên”. Lã Mông chết, Quyền vô cùng đau xót. Chu Nhiên liệt giường hai năm, sau bệnh càng tăng Quyền ngày ăn không biết ngon, đêm ngủ không đầy giấc, còn lo cho thuốc men, thức ăn thức uống.
Do Tôn Quyền dùng người có thể tin tưởng ở họ, xem chư tướng như tình ruột thịt, chư tướng cũng hết lòng với ông, quên mình nơi trận mạc. Chẳng hạn, khi Tôn Quyền bị Sơn Việt vây khốn, Chu Thái đã liều mình để cứu, “mình bị 12 vết thương”. Trước ngày quyết chiến ở Xích Bích, Tào Tháo sai Tưởng Cán sang làm thuyết khách, Chu Du đã nói với người bạn cũ này của mình rằng: “Đại trượng phu xử thế, nếu gặp chúa biết mình, ngoài thì là nghĩa quân thần, trong kết làm ơn ruột thịt, lời tất phải nghe, kế tất phải theo, họa phúc cùng chung hưởng, giả sử có Tô Tần, Trương Nghi, Lục Giả, Lịch Sinh tái xuất, miệng có như suối, lưỡi có như dao, cũng khó động được lòng ta.
Phát huy trí của mọi người, lực của mọi người
Tôn Quyền dùng người tới mức “đã dùng thì không nghi” và tin tưởng tuyệt đối, còn vì ông đã thấy được tác dụng quan trọng của “trí của mọi người”, “sức của mọi người”. Bởi vì ông biết rằng nghi ngờ người thì không tín nhiệm, thì không thể phát huy được lực lượng và trí tuệ mọi người ở thời đại Tam quốc, nên được tác dụng quan trọng về “trí của mọi người”, “sức của mọi người” về mặt lý luận, chỉ có Tôn Quyền là người duy nhất mà thôi. Nhận thức ấy ngay ngày nay cũng vẫn còn là một điều khó thấy và đáng qúi. Ông nói: “trên đời không có con cáo sạch sẽ, mà chỉ có áo bằng da cáo sạch và đẹp, đó là tích tụ sức lực của mọi người vậy. Tức là đã làm cho từ chỗ nhem nhuốc thành sạch sẽ, không phải sức mọi người hay sao. Cho nên biết dùng sức mọi người thì vô địch trong thiên hạ; biết dùng trí mọi người, không sợ cả thánh nhân”.
Cũng chính vì Đông Ngô trên dưới một lòng, nhất trí hợp lực, nên Tôn Quyền mới đứng vững được ở Giang Đông; Ngụy, Thục nhiều phen xâm phạm, nước Ngô vẫn chẳng hề lung lay.
4. DÙNG NGƯỜI PHÁ LỆ, THƯỞNG PHẠT PHÂN MINH: ĐIỂM GIỐNG NHAU VỀ DÙNG NGƯỜI TRONG TAM QUỐC
Ở trên đã lần lượt phân tích về đặc điểm dùng người của Khổng Minh, Tào Tháo, Tôn Quyền. Ở đây muốn thâu tóm lại những điểm giống nhau trong cách dùng người của họ; có thể làm cho ta nhận thức thêm được một ít lý lẽ về dùng người.Không xếp hạng theo tư cách
Khổng Minh, Tào Tháo, Tôn Quyền dùng người không phải là xem lịch sử tư cách họ ngắn hay dài mà xếp bậc cao thấp; xem có phải là người thân hoặc bạn bè không, có đồng hương đồng học không, cũng không phải vì bợ đỡ nịnh nọt, biết khéo nói v.v... mà căn cứ vào sự gan dạ, hiểu biết, tài năng của họ biểu hiện trong thực tiễn, cũng như công trạng lớn nhỏ mà cho quan chức.
Bốn vị đô đốc ở Đông Ngô do Tôn Quyền cất nhắc lên là Chu Du, Lỗ Túc, Lã Mông và Lục Tốn, đều là do họ tài trí hơn người, chiến công nổi bật mà được tin dùng. Trong đó, ngoài Chu Du, sớm đã được Tôn Sách tin tưởng và coi trọng, còn ba người kia đều do Tôn Quyền đề bạt và sử dụng một cách phá lệ. Khi Tôn Quyền kế thừa cơ nghiệp của cha anh, tuổi mới có 15. Có lẽ là người trẻ biết trọng dụng người trẻ hay sao? Những người được Tôn Quyền sử dụng phần lớn là thanh niên. Lão thần văn võ của Đông Ngô không muốn khâm phục vì chuyện này. Năm ba mươi ba tuổi, Chu Du đã được làm thống soái lão thần ba đời của họ Tôn. Trong các tướng, Trình Phổ là người có thứ hạng cao nhất cũng mới chỉ là phó tướng. Thấy Chu Du có tước phẩm cao hơn, Trình Phổ có ý không phục, cho nên khi Chu Du điểm binh, ông thác bệnh cố ý không ra, lệnh cho con cả là Trình Tư ra thay. Trình Tư về nói cho Trình Phổ biết Chu Du điều binh có đầu có cuối như thế nào, Trình Phổ vô cùng kinh ngạc, bèn đến tận hành dinh tạ tội. Đứng trước sự thực đó, Trình Phổ không thể không khâm phục Tôn Quyền đã dùng được người này. Lỗ Túc xuất thân từ một gia đình địa chủ, chỉ là một dân thường nói chung, khi đi theo Tôn Quyền mới chưa đầy 20 tuổi. Tôn Quyền không hề chịu ảnh hưởng trước những lời xiểm nịnh của Trương Chiêu mà không trọng dụng Lỗ Túc, cho nên Lỗ Túc mới phát huy được đầy đủ tài trí của mình, có những đóng góp thật lỗi lạc. Lã Mông xuất thân từ binh nghiệp, do chiến đấu dũng cảm. Năm 20 tuổi đã được Tôn Quyền để bạt làm Hoành dã trung lương tướng. Nhưng con người này thô kệch, không được học hành, ngay đến Lỗ Túc cũng coi thường hắn. Sau này Tôn Quyền động viên Lã Mông học tập, Mông cũng tỏ ra ham học, mưu lược tiến bộ nhanh, Lỗ Túc nói chuyện, mới thấy con người này học thức khá uyên bác, nên kinh ngạc nói: “Khá phục A Mông của nhà Ngô”. Sau này Lã Mông thay Lỗ Túc, đánh úp lấy Kinh Châu, lập được công lớn. Lục Tốn nguyên là một thư sinh, tuổi còn trẻ chưa có ai biết tiếng, nhưng Tôn Quyền lại biết người này có kỳ tài. Cho nên không vì mọi người phản đối mà ảnh hưởng đến việc ông đưa Lục Tốn lên làm đại tướng.
Khổng Minh lần lượt phá cách đề bạt Bàng Thống và Tưởng Uyển cũng là một thí dụ điển hình của việc dùng người phá lệ. Bàng Thống và Tường Uyển nguyên đều là quan nhỏ cấp huyện; lúc đầu còn chưa được Lưu Bị trọng dụng. Khổng Minh cho rằng hai người này đều “không chỉ tài trong muôn dặm” mà là tài vương tả, dưới sự tiến cử và đề bạt của Khổng Minh, Bàng Thống được phong tri trung tòng sự, thân đãi chỉ dưới có Khổng Minh, đứng bằng vai với Khổng Mình làm quân sư trung lương tướng. Tưởng Uyền từ chỗ được giao làm tướng phủ đồng tào duyên lên thẳng chức thượng thư lệnh. Khương Duy vốn là tướng Nguy, Khổng Mình đánh vào quận Thiên Thủy, hay mẹo của ông mấy lần bị Khương Duy đánh hỏng. Khương Duy còn tương kế tựu kế, nhiều lần đánh bại quân Thục. Đối với người văn võ kiêm toàn như Khương Duy, Khổng Mình rất tán thưởng, bèn dùng kế phản gián, làm cho Khương Duy muốn quay về cũng không được, chỉ còn cách đầu hàng. Khổng Minh đã vui mừng nắm lấy tay Khương Duy nói: “Ta từ ngày ra khỏi lều tranh, đi các nơi câu hiến, để truyền thụ hết học vấn trong đời, vẫn căm là chưa tìm ra người đó. Nay gặp Bá Ước, ta đã thỏa ước nguyện rồi”. Tình cảm bức xúc của Khổng Minh trong việc tìm người “thừa kế” đã thể hiện qua lời nói đó. Lúc ấy Khương Duy mới 27 tuổi. Trong thư Khổng Minh viết cho Tưởng Uyển nói rằng: “Khương Bá Ước trung thành và chăm lo thời sự, cân nhắc kỹ lưỡng, xem xét mọi mặt, Vĩnh Nam (Lý Vĩnh Nam), Lý Thường (Mã Lương) đều không bì kịp, người này là thượng sĩ đất Lạng Châu đấy!” Khổng Minh quả thật là tinh mắt nhìn người, Khương Duy sau này trở thành “cột chống trời” ở cuối đời lưỡng Thục.
Mưu sĩ, võ tướng được Tào Tháo tin dùng phần lớn cũng thuộc tầng lớp trẻ. Tuân Úc lúc đến theo Tào Tháo mới 29 tuổi, vì nhiều lần lập được công lớn, từ tư mã được thăng lên thượng thư lệnh. Tào Tháo cho rằng “Thiên hạ được yên định là công của Úc vậy” và biểu dương Tuân Úc là vạn tuế hưởng hấu. Quách Gia năm 27 tuổi được Tào Tháo biểu dương là không quân tế tửu. Khi Tào Tháo bàn chuyện thiên hạ với Quách Gia đã khâm phục tài trí con người này rất sâu sắc và nói: “Người khiến cho ta thành đại nghiệp, tất phải là người này”. Quách Gia theo đuổi Tào Tháo mười năm có lẻ và đã lập nhiều công lớn, sau cùng đi chinh phục Ô Hoàn ốm chết dọc đường, năm đó mới 38 tuổi. Tam quốc diễn nghĩa dẫn thơ của “người sau”, đánh giá ông rất cao: “Ruột chứa đầy kinh sử, bụng xếp chặt giáp bình, lập mưu ngang Phạm Lãi, tính kế tựa Trần Bình.” Với cái chết của Quách Gia, Tào Tháo tỏ ra rất thương tiếc, ông nói với chư tướng: “Tuổi tác của các tướng, cùng tầm tuổi ta. Chỉ Phụng Hiếu là trẻ nhất, ta muốn ủy thác cho mọi việc sau này, không ngờ mới trung niên đã chết yểu, khiến cho ta tan nát cả cõi lòng”. Sau này mỗi lần nhắc đến Quách Gia, vẫn còn thấy thương tâm chưa nguôi. Những người Tào Tháo biết tên trở thành danh tướng, có người được đề bạt trên đường trận mạc, như Vu Cấm, Nhạc Tiến; có người được lấy trong đám tù binh như Trương Liêu, Từ Hoảng.
Bất luận thân sơ, lấy công – tội để thưởng phạt
Khổng Minh, Tào Tháo, Tôn Quyền dùng người là căn cứ vào công tội của họ để đền đáp và thưởng phạt, mà không kể gì người ấy thân hay sơ. Cho nên tướng sĩ quên mình, quan sứ không dám trễ nải trong công việc.
Khổng Minh thưởng phạt không kể gì ơn thù, ai có công thì thưởng, ai có tội thì phạt, Mã Tốc làm trái sự bố trí chiến lược của Khổng Minh để mất địa thế chiến lược Nhai Đình, tuy Khổng Minh với Mã Tốc tình thân như cha con, vẫn phải gạt lệ mà chém. Tưởng Uyển từng có lời can: “Xưa Sở vương giết Đắc Thần mà Văn công mừng. Nay thiên hạ còn chưa định, mà đem chém một tướng đa mưu như thế, không đáng tiếc lắm sao?” Khổng Minh chảy nước mắt nói: “Xưa Tôn Vũ sở dĩ thắng được thiên hạ, là do dùng luật pháp sáng suốt, nay bốn phương phân tranh, giao binh mới bắt đầu, nếu coi thường phép tắc, làm sao mà chống được giặc”. Cho nên phải chém thôi!”. Khổng Minh cũng tự khiển trách mình do dùng người không đúng chỗ dâng biểu tâu hậu chúa, xin biến chức thừa tướng. Và yêu cầu bọn Phí Vĩ ... “nói lên thiếu sót của ta, trách mặt yếu của ta”. Hàng tướng của Ngụy là Vương Bình, là phó tướng giữ Nhai Đình, đã phản đối sự chỉ huy sai lầm của Mã Tốc lại giữ vững trận địa có công lớn, được gia bái tham quân, từ vị trí bài tướng quân được lên là thảo khấu tướng quân, phong đình hầu. Lưu Ba vốn có thù với Khổng Minh, Khổng Minh nhận thấy Lưu Ba là người có tài, nhiều lần tiến cử với Lưu Bị, nên được trọng dụng, địa vị đến hàng thượng thư. Đổng Khôi đi sứ Đông Ngô, đã trả lời chính xác những câu hỏi khó do Tôn Quyền nêu ra, thể hiện được kiến thức sâu rộng của mình, về Thục chưa được ba ngày, Khổng Minh đã vời đến tướng phủ, không lâu sau để bạt làm thái thú Ba Quận. Khổng Minh xét xử cấp dưới, tỏ ra rất công bằng và ai có tội thì kỷ luật người ấy, quyết không để liên lụy đến họ hàng cho nên được nhiều người bị phạt không hề oán thán. Tháng hai mùa xuân năm Kiến Hưng thứ 9, Khổng Minh đem quân đánh nước Ngụy, Lý Nghiêm phụ trách cung ứng quân lương, do quân lương không đủ, để che giấu tội lỗi, ông này liền tính mưu gian. Một mặt phát tin cáo cấp, nói Đông Ngô sẽ mang quân đánh Tứ Xuyên, để buộc Khổng Minh rút quân; một mặt tâu với hậu chúa việc quân lương đã làm, nhưng thừa tướng lại rút quân không lý do. Khổng Minh rút quân về và biết được chuyện này giận lắm, nói: “Bỉ phu chỉ vì một cớ nhỏ của mình mà làm hỏng việc lớn của đất nước”, định đem chém, sau vì thấy người ấy với mình đều là bậc đại thần, bèn dâng sở lên hậu chúa cho phế truất xuống hàng thứ dân, nhưng vẫn để cho sống giàu sang. Tuy nhiên Khổng Minh cũng không vì Lý Nghiêm có tội mà trị lây cả đến con cái, ngược lại còn phong cho Lý Phong là con của Lý Nghiêm làm thừa tướng phủ trưởng sử. Khổng Minh ốm chết ở Ngũ Trượng nguyên, Lý Nghiêm được tin, khóc lóc rồi đâm bệnh mà chết. Bởi Lý Nghiêm còn trông chờ Khổng Minh lại phục chức cho mình để sửa lỗi lầm xưa kia. Giờ Khổng Minh chết rồi sẽ chẳng ai dùng mình nữa.
Tôn Quyền được người đương thời ca ngợi là “thường không chọn ân thù, phạt tất giành cho người có tội”. Tuy ông có giết oan và xử lý nhầm một số người, nhưng nói chung lại quả đúng là như thế. Cam Ninh anh dũng thiện chiến từng có công với Hoàng Tổ, nhưng Hoàng Tổ vẫn coi người này là tên “cướp sông” nên không trọng dụng, Ninh định chạy sang Đông Ngô, nhưng lại sợ Giang Đông thù hắn đã cửu Hoàng Tổ giết Làng Tháo, sẽ không được Đông Ngô thu nạp. Sau được Lã Mông tiến cử, vẫn sang theo Đông Ngô, Tôn Quyền gặp Cam Ninh mừng rỡ nói: “Hưng Bá tới lần này thật đúng với lòng ta, làm gì có chuyện thù hận, xin đừng có nghi ngờ, và hãy bày cho ta cách gì đánh Hoàng Tổ”. Cam Ninh đã trình bày sách lược trước đánh Hoàng Tổ sau lấy Ba Thục, Quyền cho đó là “những lời vàng ngọc”. Sau quả nhiên là phá được Hoàng Tổ. Sau đó nữa lại có nhiều công trạng được thăng là xung tướng quân. Chu Du lập công lớn trong trận Xích Bích, Tôn Quyền lập tức phong làm biến tướng quân, thái thú quận Lĩnh Nam. Từ đó, luôn luôn nhớ công lao của ông. Chu Du ốm chết. Tôn Quyền gạt nước mắt nói: “Công Cẩn đang ở ngôi Vương tá bỗng bị bệnh mà chết yểu, ta biết cậy vào ai?”. Sau này Tôn Quyền xưng đế, nói với các công khanh rằng: “Quả nhân không có Chu Công Cẩn thì không thành đế được” và hết lòng chiếu cố hai người con trai, một người con gái do Chu Du để lại; nhưng đối với mọi hành vi phi pháp của họ thì lại quyết không buông tha. Theo “Tam quốc chí – Ngô thư – Chu Du truyện” ghi chép lại thì: “Đô lương hầu Chu Giận là con thứ của Chu Du, hắn tự cho là con em công thần, “rượu chè be bét”, làm nhiều điều ngang ngược, phi pháp. Tôn Quyền thường “trước sau cáo dự” nhưng chẳng hề hối cải. Tôn Quyền không hề vì Chu Giận là con cái công thần mà dung tha, bên đầy đi Lô lăng quận. Gia Cát Cần thấy Giận là con em công thần không nỡ để hắn bị đấy ải bèn dâng sở lên xin tha và phục chức cho hắn. Tôn Quyền không đồng ý nói đại ý là Chu Giận có tội, không thể không phạt, phải để cho nó được nếm mùi khổ, để nó sửa chữa sai lầm làm lại mọi chuyện, mỗi tội nên được. Do Tôn Quyền có thể thưởng kẻ có công, phạt người có tội nên tướng sĩ chịu hết lòng với ông.
Còn Tào Tháo, “Ngụy Thư” nói về con người này: “Công thành, bạt ấp, được thít gì đẹp thì để thưởng cho người có công; người vất vả cần thưởng ngàn vàng không tiếc, người không có công muốn xin, một các cũng không cho, vật các nơi hiến ngự, cùng chia ra hưởng đều trên dưới”. Tào Tháo sau khi thống nhất phương Bắc, không hề coi công lao đó là của mình, mà thừa nhận đó là công lao của cấp dưới, nói: “Quân khởi nghĩa của ta dẹp bạo loạn, đến nay đã 19 năm trời, đánh đâu được đấy, lẽ nào lại là công ta cả sao? Đó là sức của các bậc hiền sĩ, trượng phu vậy!”. Và năm Kiến An thứ 12, hạ lệnh các nơi bình công xét thưởng, phong cho hơn 20 công thần làm liệt hầu, số còn lại, cùng lần lượt được thụ phong. Nếu đem so sánh sự thưởng phạt giữa Viên Thiệu và Tào Tháo càng rõ ra Tào Tháo là người sáng suốt.
Viên Thiệu quyết định ra quân, quyết sống mái một phen với Tào Tháo. Điền Phong ra sức khuyên ngăn. Cho rằng lúc ấy ra quân không hợp, nên dồn góp lực lượng để chờ thời cơ. Viên Thiệu không nghe lời Điền Phong. Sau này bị bại trận mới vô cùng hối hận nói: “Ta không nghe lời Điền Phong, binh bại tướng vong, nay quay về còn mặt mũi nào mà nhìn thấy ai nữa”. Vì ngượng gặp Điền Phong mà đem giết đi. Tào Tháo định đánh Ô Hoàn ở hướng Tây, các tướng như Tào Hồng cũng hết lời khuyên ngăn nhưng không nghe, sau phải qua bao nhiêu khó khăn hiểm trở mới thắng. Sau khi bình định Ô Hoàn, Tào Tháo thu quân, trọng thưởng cho những người trước đã khuyên ngăn và nói với các tướng: “Quả nhân trước đã mạo hiểm viễn chinh, may mà thành công. Tuy có thắng, cũng là do trời phù hộ vậy... Những lời can ngăn của chư quân là kế giá ngàn vàng, đáng được trọng thưởng”. Về việc này, Mao Tôn Cương đã mượn lời Tô Lão Tuyền rằng: “Đó là điều sở dĩ Mạnh Đức, Bản Sơ hưng hay vong vậy”. “Mưu và trung với minh chúa, lời nói đó tuy không nghiệm mà thấy đáng khen; mưu và trung với Chúa đần, lời nói đó đã được nghiệm và thấy tội, hai việc khác nhau như thế đó!”... Thưởng phạt phân minh hay không, hiệu quả khác nhau nhiều, và đó cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự hưng vong của Tào, Viên.
5. AI CŨNG CÓ MẶT MẠNH MẶT YẾU: SỰ KHÁC NHAU VỀ VIỆC DÙNG NGƯỜI TRONG TAM QUỐC
Khổng Minh, Tào Tháo, Tôn Quyền tuy đều là “Bá Nhạc” của một thời nhưng cách dùng người của họ không phải đã mười phân vẹn mười, mà ai cũng có mặt yếu, mặt mạnh, có cái hay cái dở. Vả lại sự vật vốh rất biện chứng, cái ưu điểm trong việc dùng người của họ cũng thường hay hàm chứa mặt yếu trong cách dùng người của họ. Mặt tốt của họ ở một khía cạnh nào đó thì hơn người khác, nhưng ở khía cạnh kia lại kém hơn người khác.Hơi nghiêng về đức, lờ tài nên chưa đủ
Khổng Minh coi đức tài song song là chuẩn mực để dừng người, nến rút bỏ cái nội dung cụ thể của nó, chỉ vay mượn ở khía cạnh trừu tượng, thì bất kể với một giai cấp thống trị phong kiến nào đều thích hợp cả, bởi lẽ bất kể một xã hội nào đều có khuôn mẫu về đạo đức của nó, mà những khuôn mẫu đạo đức đó đều phục vụ cho giai cấp thống trị của xã hội đó, “Đức” mà Khổng Minh nói đến ở đây, là “đức” của xã hội phong kiến; từ trong lời nói và hành động, chủ yếu chỉ là: một là “ý chí trung thành”, “hết lòng vì nhà Hán”; hai là “chuyên cần trong công việc”; ba là “nói hết lời trưng thực”; bốn là “ngay thẳng, thật thà, trong sạch”, Tóm lại là đức mà Khổng Minh mong muốn là vì công mà quên tư, tức là “hết lòng vì nhà Hán”, thống nhất thiên hạ, không tính toán lợi riêng cá nhân mình. Tài mà ông yêu cầu chủ yếu là tài trí để trị nước, giành thiên hạ. Do Khổng Minh tìm kẻ sĩ với chuẩn mực đức tài song song, những người kế tiếp ông như Tưởng Uyển, Phí Vĩ, Khương Duy đều có thể trung với nhà Thục Hán, giữ được thanh liêm, đoàn kết đối địch, cho nên không xuất hiện sự kèn cựa đấu đá nhau, tranh quyền đoạt lợi trong nội bộ như ở hai nước Ngụy, Ngô. Bởi vậy mà nước Thục chỉ chiếm chưa đến một phần mười thiên hạ, lại chống nổi nước Ngụy chiếm 7/10 thiên hạ lâu gần nửa thế kỷ. Cũng bởi vậy mà A Đẩu mới được ngồi yên trên ngai vàng 41 năm ròng. Đương nhiên, chính sách dùng người đức tài song song của Khổng Minh cũng có mặt thiếu sót của nó, ông tuy không phải ai có tài mà thiếu đức thì không dùng nhưng cũng hơi có chút nghiêng về đức. Chẳng hạn như đối với Ngụy Diên, tuy ông “bằng lòng vì sự anh dũng” nhưng lại chê rằng tính hơi kiêu”, không thể đoàn kết mọi người, và không thật yên tâm về con người này, Diên có mưu lạ, cũng không cân nhắc kỹ lưỡng, cho nên Diên mới “hận vì tài mình chưa được dùng hết”. Phương châm dùng người hơi nghiêng về đức của Khổng Minh, ít nhất cũng là một trong những nguyên nhân làm cho nước Thục thiếu những bậc kỳ tài. Mà phương châm “có tài là cất nhắc” trong cách dùng người của Tào Tháo, xem ra về mặt này lại có ưu điểm của nó.
Có tài là dùng mang sẵn mối lo gian nghịch
Tào Tháo thì bất kể là người như thế nào, kể cả người bất nhân bất hiếu chỉ cần là có tài cán là được chọn dùng, cho nên Tào Ngụy nhân tài đông đảo, hết lớp nọ đến lớp kia. Chẳng hạn sau Tuân Úc thì có Tư Mã Ý v.v..., Sau Tư Mã Ý thì có Chung Hội, Đặng Ngải. Có điều, nếu nhìn về khía cạnh củng cố chính quyền, cái thứ phương châm “có tài là cất nhắc”, chỉ nói tài mà không nói đức trong việc dùng người của Tào Tháo, so với phương châm dùng người đức tài song song của Khổng Minh thì thấy sai kém nhau xa. Đối với việc Tào Tháo lôi kéo nhân tài, Cố Viên Vũ đời Thanh nói: “Mạnh Đức đã có Ký Châu, ân thưởng cho bọn kẻ sĩ phóng đãng, thấy ra lệnh đến mấy lần; ngay đến cả những tên ô nhục, những hành động đáng cười, những kẻ bất nhân bất hiếu và có thuật dùng binh trị nước.
Thế là quyền trá ngày một nhiều, nảy sinh mầm gian nghịch... Cố Viên Vũ chưa nhìn ra chỗ đáng quý của phương châm dùng người “có tài là cất nhắc” của Tào Tháo, mà đã xóa toẹt đi hết cả, như vậy là chưa đúng, nhưng ông nói chính sách này dẫn đến “quyền trá ngày một nhiều” là có căn cứ. Tư Mã Ý tuy lỗi lạc một thời, nhưng sự xảo trá về thủ đoạn khống chế chính quyền Tào Ngụy thì chẳng kém gì Tào Tháo o ép chính quyền nhà Hán. Sau này Tư Mã Ý cũng đã học vở cũ mà họ Tào ép buộc vua nhà Hán thiện nhượng, để cướp chính quyền Tào Ngụy, và đã giết sạch hàng loạt người của tập đoàn họ Tào. Chung Hội, Đặng Ngải sau khi diệt Thục cũng mỗi người mang một dã tâm, muốn trừ béng đối phương đi, để độc chiếm Tây Thục. Chung Hội phản loạn trước, kết quả là hai lần thất bại rồi chết. Ở đây chúng ta không bàn đến sự phải trái của việc họ Tư Mã thay Ngụy và Chung Hội phản loạn, mà muốn làm rõ một điều thế này: Bất kể một chính quyền nào muốn được củng cố thì điều quan trọng là nhân vật cốt lõi nắm chính quyền phải là người trung với chính quyền đó.
Nghi ngờ lẫn nhau thì làm sao xong việc lớn
Về mặt dùng người, thì Tôn Quyền dùng mà yên tâm, Tào Tháo dùng mà nghi ngờ. Tào Tháo là con người có máu ham quyền, ông ta hiểu được tầm quan trọng của quyền và nhất là bình quyền, có được quân quyền rồi thì muốn gì được nấy, có thể đạt được những mục đích mà mình muốn đạt. Nếu mất quân quyền thì sẽ rất nguy hiểm. Cho nên, dù cho ông ta có “có tài là cất nhắc” khi dùng người, tất cả các loại nhân tài đều dùng; nhưng dùng đến nước độ nào, thì ông ta đã tính sẵn trong bụng rồi. Ông ta tín nhiệm nhất vẫn là thân thuộc của họ Tào, như Tào Hồng, Tào Chân, Hạ Hầu Đôn, Hạ Hầu Uyên v.v... Quân quyền của Tào Ngụy chủ yếu là nằm trong tay bàn thân ông ta và thân thuộc họ Tào. Tào Tháo không tùy tiện để các tướng lĩnh khác một mình đem quân ra trận, đánh trận nào lớn phần nhiều là tự mình cầm quân. Để củng cố chính quyền Tào Ngụy, ông ta chẳng tiếc gì không dùng những thủ đoạn tàn nhẫn để đối phó với những phần tử chống lại mình. Ông ta ngoài thì rộng lượng nhưng trong thì hẹp hòi, ngoài mặt thì không chấp chuyện cũ, thậm chí đối với cấp dưới tư thông với địch cũng giả vờ không thèm hỏi đến, thế nhưng bên trong ngấm theo dõi rất chặt chẽ. Ông ta tổ chức ra “hiệu sự” là để thăm dò tư tình của tướng sĩ và dân chúng. Chỉ trong vòng mấy năm, “hiệu sự” đã tìm ra hàng vạn vụ án”. Tổ chức này thực sự là tổ chức mật vụ. Bởi thế có thể nói rằng việc xây dựng tổ chức mật vụ có từ thời Tào Tháo, Tào Tháo là người sáng lập ra tổ chức mật vụ. Như thế, không thể nào thực hiện được trên dưới một lòng một dạ. Lấy thành kiến nhìn nhau, tất nhiên sẽ nghi ngờ lẫn nhau, mỗi người một mưu tính riêng. Cấp dưới của ông ta cũng suốt ngày thấp thỏm luôn phải sờ lên gáy mà sống. Chẳng hạn như Hà Qùy người có họ hàng với Tào Tháo mà cũng luôn phải mang thuốc độc bên mình đề phòng bất trắc. Rất nhiều người bị ông ta tình nghi mà bị giết, Thôi Yến, Hứa Du, Khương Quế v.v... đều chỉ vì một lời sinh nghi mà bị chém đầu.
Khéo dùng sức mạnh mọi người
Về mặt đối xử với cấp dưới, Tôn Quyền lại trái hẳn với Tào Tháo, Tôn Quyền đối với tướng lĩnh vừa tin tưởng vừa mạnh dạn. Phàm là chiến đấu, sau khi ông cùng cấp dưới bàn bạc về quyết sách và sắp xếp chiến lược rồi, đều giao phó cho tướng lĩnh đắc lực cầm quân đi đón đánh, bản thân ông ngồi yên xây nghiệp lớn và chờ tin thắng trận. Hai trận đánh lớn là Xích Bích và Gia Lăng, quan hệ đến sự sống còn, mạnh yếu của Đông Ngô, vậy mà Tôn Quyền lại chỉ lần lượt để Chu Du và Lục Tốn đem quân đi đánh, kết quả đã giành chiến thắng vẻ vang. Điều đó nói lên rằng Tôn Quyền khéo dùng sức mạnh của mọi người, trí tuệ của mọi người. Về mặt này, so với Tào Tháo ông hơn hẳn một cái đầu. Tôn Quyền sở dĩ làm được như vậy, một là vì ông nhận ra rằng phát huy sức lực và trí tuệ của mọi người mới có thể “không sợ cả thánh nhân”, “vô địch trong thiên hạ”. Thế mà muốn biến “sức mọi người”, “trí mọi người” thành của riêng mình, thì phải tin tưởng triệt để ở người khác. Hai là từ sai sót của cha anh mình, ông rút ra bài học. Tôn Kiên, Tôn Sách đều chỉ ỷ vào dũng khí của mình, coi nhẹ mà không đề phòng. Với 30 quân kỵ, Tôn Kiên khinh suất nên toi mạng, Tôn Sách một mình một ngựa khinh địch xông ra cũng bị đâm. Điều đó nói lên rằng chỉ dựa vào dũng khí của riêng mình không thể giành thiên hạ được. Tôn Quyền cũng từng khinh địch đi đánh Trương Liêu, nếu không được Trình Phổ nhanh chân ứng cứu, có lẽ cũng chết vào tay Trương Liêu. Trưởng sử Trương Chiêu đã can ngăn rằng: “Chúa công lấy sự hăng hái của mình, coi khinh kẻ địch lớn mạnh, đông đảo ba quân, ai cũng chột dạ. Cho rằng có chém tướng giật cờ, vai lừng bờ cõi thì đấy cũng chỉ là trách nhiệm của một vị tướng, không xứng với chúa công. Mong hãy kìm mình lại, cho tăng thêm dũng khí để lo kế vương bá”. Quyền đã nghe lời nói đó, tỏ ra “từ rày sẽ sửa chữa”. Vết xe trước xe sau tránh, khiến ông nhận ra rằng: làm một vị thống soái, chủ yếu là xác định quyết sách và dùng người chỉ dựa vào một mình xông xáo sa trường là không ổn do không có những bấy tôi giỏi, tài đức song toàn đứng ra trị vì đất nước, chính quyền Đông Ngô mâu thuẫn lục đục, bốn phía đều có nguy cơ, ngày càng đi xuống dốc.
Nước Thục không có tướng tài
Về mặt dùng kẻ sĩ và đối xử với kẻ sĩ, Khổng Minh với Tôn Quyền mỗi người mỗi vẻ khác nhau. Khổng Minh sau khi trở thành mưu sĩ của Lưu Bị, trong việc cầu hiền để phò trợ Thục Hán thực đã không tiếc sức mình. Ích Châu vừa mới bình định xong, cùng một lúc ông dùng “Kinh Sở túc sĩ” còn hết sức tranh thủ kẻ sĩ ở hai tập đoàn Đông Châu, Ích Châu, từ đó làm cho ba lực lượng ở Tây Thục đoàn kết lại làm một, cùng dốc sức cho Lưu Bị. Đỗ Vì nguyện theo với Lưu Chương, sau dựa vào bệnh bỏ quan. Sau khi Lưu Chương đầu hàng, ông ta giả vờ điếc, đóng cửa ngồi trong nhà. Khổng Minh đã thân chỉnh đến thăm, vì ông ta giả vờ điếc nên hỏi cũng chẳng trả lời bèn dùng cách bút đàm, khẩn thiết mời ông ta “lấy đức giúp đời”, Đỗ Vi vì thế mà cảm động, đồng ý nhận làm gián nghị đại phu. Hứa Tĩnh là một danh sĩ, nguyên nhậm chức ở Ba Quận, Quảng Hán thái thú. Lưu Bị chiếm Thục, phong Tình làm tả tướng quân trưởng sử, sau lại giao chức thái phó. Khổng Minh rất kính trọng ông này, thường đến thăm và xin ý kiến ông ta. Khổng Minh tuy lấy pháp để trị nước, nhưng đối với sai sót nhỏ của sĩ phu cũng không hay so đo. Pháp Chính đã hỗ trợ Lưu Bị lấy nước Thục, lập công lớn. Lưu Bị trọng dụng ông này, coi là mưu sĩ và giao chức thái thú Thục quận. Khi đã có quyền trong tay, đã báo thù báo oán, lạm giết vô số người có hại cho mình. Có người cho rằng Pháp Chính quá lộng hành, cần báo cáo với Lưu Bị, “ngăn chận sự tác oai tác quái”. Khổng Minh lại vì công lao của Pháp Chính mà tha thứ hết. Do Khổng Minh hết lòng tranh thủ và đoàn kết sĩ phu, dùng được nhiều sĩ phu; mà việc trị nước ở đất Thục lại có liên quan tới tầng lớp này nhiều. Cũng có thể do bản thân Khổng Minh cũng là một danh sĩ, cho nên hơi có chút thiên vị với văn sĩ mà không coi trọng lắm đến đám võ tướng. Trong “Tam quốc chí – Thục thư”, những sự việc đối xử với võ tướng cũng kính trọng như văn sĩ không có mấy, điều đó có thể là một trong những nguyên nhân khiến “nước Thục không có tướng tài”.
Trọng võ khinh văn nên không có bầy tôi giỏi
Tôn Quyền về mặt này lại trái hẳn với Khổng Minh, ông ta kính yêu tướng sĩ mà coi khinh văn nhân. Với tướng sĩ thì ông quan tâm hết mực, thậm chí ngay cả với sai lầm của họ cũng không cần truy cứu. Chẳng hạn, Cam Ninh đối xử với mọi người rất thô bạo “thường trái lệnh Tôn Quyền”, nhưng ông vẫn tha thứ. Nhưng với quan văn thì không giống thế chút nào. Thẩm Hữu là một sĩ phu tài cao học rộng, người đương thời cũng phải thừa nhận: “Cái khéo của ngòi bút, của đầu lưỡi, của mũi dao của ông, cả ba thứ đều tuyệt diệu hơn người”. Quyền dùng lễ mời, ông này mới đến, bàn mưu lược về văn hóa, về công việc lúc đó, Quyền tỏ ra kính trọng. Thẩm Hữu là người cương trực, dám bàn việc triều chính nên đám bày tôi ngu độn sinh ra ghen ghét với tài năng đó, vu cho ông muốn làm phản. Tôn Quyền chẳng còn biết phải trái ra sao đem giết luôn. Khi chết, Thẩm Hữu mới 29 tuổi. Trương Ôn đức tài đều hơn người, Tôn Quyền bái làm nghị lang, tuyển Tào thượng thư, đồ thái tử thái phó, được tin tưởng hết mức. Sau tuân lệnh đi sứ nước Thục, người nước Thục rất kính trọng tài ông. Chỉ vì ông này lúc trở về khen hay cho chính quyền nước Thục, lại sợ rằng tiếng tăm ông lan rộng sợ sau không lợi cho
mình, Tôn Quyền nghe đã sau này sẽ có hại. Đến vụ án Hộ Nhân Hí Diệm, Quyền cho rằng ông đã từng tiến cử Diệm lại năng có chuyện đi lại, bèn gán tội Trương Ôn, cách chức và đổi về Ngô Quận. Tướng quân Lạc Thống thấy đó là điều đơm đặt, đã ca ngợi Ôn là “người siêu quần, người đời ít ai sánh kịp”, nhưng Tôn Quyền vẫn không nghe. Khổng Minh nghe tin Ôn bị oan khuất, chưa biểu rõ tại sao, suy nghi mấy hôm sau, mới bàng hoàng nhận ra rằng: “Ta nghĩ ra rồi, con người này trong đục quá rành, thiện ác quá rạch ròi”. Ngu Phiên là cựu thần của Tôn Sách, rất được Sách kính trọng. Sau khi Tôn Quyền kế vị cho làm kỵ đô úy. Phiên nhiều lần can ngăn thẳng thắn, Quyền rất không vui lòng bèn đẩy đến huyện Kinh ở Dương Châu. Quyền là Ngô vương yến đãi quần thần, tự tay đi chúc rượu, Phiên giả say không uống, Quyền nổi nóng, rút gươm định giết. Sau có nhiều người can, Phiên mới được thoát chết. Phiên không vì thế mà sợ hãi vẫn giữ thói “không bằng lòng là nói”, cuối cùng bị Quyền đuổi đi. Từ những việc nói trên, đủ thấy những người bị Tôn Quyền giết đi, đuổi đi đều là tài đức song toàn, là những sĩ phu mà người đương thời kính nể, mà nguyên nhân chỉ là vì những người này giám nói, giám can ngăn. Điều đó nói lên rằng Tôn Quyền là một kẻ “trung ngôn nghịch nhĩ” (lời trung khó vào lỗ tai). Tôn Quyền đối xử với những kẻ sĩ đức cao vọng trọng, tài trí hơn người như thế, cũng là một nguyên nhân quan trọng khiến nước Ngô thiếu người kinh bang trị quốc. Khi Tôn Quyền còn sống, dựa vào uy quyền của mình và sự quên mình của tướng sĩ, chính quyền tạm gọi là ổn định. Sau khi ông chết đi do không có những bầy tôi giỏi, tài đức song toàn đứng ra trị vì đất nước, chính quyền Đông Ngô mâu thuẫn lục đục, bốn phía đều có nguy cơ, ngày càng xuống dốc.