Tôi từng đề xuất một lý thuyết gọi là ý thức không-thời gian. Đây là lý thuyết có thể kiểm nghiệm, tái lập, phủ định và lượng hóa. Nó không những định nghĩa được tự nhận thức mà còn cho phép chúng ta lượng hóa khái niệm này trên thang đo.
Lý thuyết của tôi bắt đầu với quan niệm rằng dù là động vật, thực vật hay thậm chí máy móc, tất cả đều có thể có ý thức. Theo tôi, ý thức là quá trình lập mẫu chính mình bằng nhiều vòng lặp phản hồi – trong không gian, xã hội, thời gian – nhằm thực hiện một mục tiêu nào đó. Để đo đạc ý thức, ta chỉ cần đếm số lượng và loại hình vòng lặp phản hồi mà chủ thể cần để lập được mẫu của chính nó.
Đơn vị nhỏ nhất của ý thức có ở ngay cả bộ điều nhiệt hay pin quang điện, bởi chúng dùng một chu trình hồi tiếp để lập mẫu chính mình bằng nhiệt độ hoặc ánh sáng. Một bông hoa có khoảng mười đơn vị ý thức do nó có mười vòng lập phản hồi để đo đạc nước, nhiệt độ, hướng trọng lực, ánh sáng mặt trời, vv.. Theo lý thuyết của tôi, các vòng lặp này có thể nhóm lại tùy theo cấp độ ý thức. Bộ điều nhiệt và hoa sẽ thuộc Cấp độ 0.
Cấp độ ý thức 1 bao gồm bò sát, ruồi giấm và muỗi - các loài lập mẫu chính mình về không gian. Bò sát có nhiều vòng lặp phản hồi để xác định vị trí của con mồi, bạn tình, kẻ thù tiềm năng và bản thân.
Cấp độ 2 bao gồm các loài động vật xã hội. Vòng lặp phản hồi của chúng giúp xác định bầy đàn và thiết lập thứ tự xã hội phức tạp trong bầy thông qua các biểu cảm và cử chỉ.
Cách phân chia cấp độ như trên khá giống với các giai đoạn tiến hóa của não bộ ở loài có vú. Phần cổ xưa nhất trong não chúng ta là phần phía sau. Phần này kiểm soát sự thăng bằng, tập tính lãnh thổ và bản năng. Bộ não mở rộng ra phía trước và tạo nên hệ viền, tức phần “não khỉ” điều khiển các cảm xúc và nằm ở trung tâm não. Não trẻ em cũng phát triển từ sau ra trước như vậy.
Vậy ý thức con người nằm ở đâu? Điều gì khiến chúng ta khác với thực vật và động vật?
Giả thuyết của tôi là con người khác với động vật vì ta nhận biết được thời gian. Ta có ý thức về thời gian bên cạnh ý thức về không gian và xã hội. Phần xuất hiện sau cùng trong não chúng ta là phần vỏ não trước trán, nằm ngay sau trán. Nó liên tục mô phỏng tương lai. Động vật tưởng như biết lên kế hoạch, chẳng hạn khi chúng ngủ đông, nhưng những hành vi đó hoàn toàn mang tính bản năng. Không thể nào dạy cho đám chó mèo cưng của bạn ý nghĩa của tương lai, vì chúng sống trong hiện tại. Nhưng con người thì luôn dự tính tương lai, thậm chí cả tương lai sau khi qua đời. Chúng ta luôn luôn lập kế hoạch và mơ mộng. Não chúng ta là một cỗ máy xây dựng kế hoạch.
Ảnh chụp cộng hưởng từ (MRI) cho thấy khi lên kế hoạch thực hiện một việc, ta truy cập và kết hợp các ký ức về việc đó, nhờ vậy mà kế hoạch của chúng ta thực tế hơn. Có thuyết nói rằng động vật không có hệ thống ký ức phức tạp do chúng chỉ sống bằng bản năng nên không cần khả năng hình dung về tương lai. Nói cách khác, mục đích tồn tại của ký ức là để chiếu nó vào tương lai.
Trong khung lý thuyết trên, ta có thể định nghĩa tự nhận thức là khả năng tự đặt chính mình vào một tình huống mô phỏng tương lai, nhất quán với một mục tiêu nhất định.
Áp dụng lý thuyết này vào lĩnh vực máy móc, ta thấy ngay những cỗ máy hiện đại nhất hiện tại nằm ở tầng thấp nhất của Cấp ý thức 1, với khả năng biết xác định vị trí của mình giữa không gian. Phần lớn các robot, như robot tham dự cuộc thi DARPA Robotics Challenge, chỉ đi được quanh phòng trống. Một số robot có thể mô phỏng phần nào tương lai, như máy tính DeepMind của Google, nhưng chỉ trong phạm vi cực hẹp. Nếu bạn yêu cầu DeepMind làm bất cứ việc thứ gì ngoài chơi cờ vây, nó sẽ “chết đứng”.
Vậy ta phải đi bao xa và cần qua những bước nào mới chế tạo được cỗ máy tự nhận thức như Skynet trong phim The Terminator?