Một buổi sáng, bà Bretton bước thẳng vào phòng tôi, bảo tôi mở ngăn kéo và đưa váy ra cho bà xem; tôi liền làm theo mà không nói một lời.
– Thế là được, – bà nói sau khi đã lật xem qua một lượt. – Cháu phải có một chiếc váy mới.
Bà bước ra ngoài. Lát sau bà quay lại cùng một thợ may. Tôi được lấy số đo. – Ý ta là, – bà bảo, – ta sẽ làm theogu thẩm mỹ của mình và quyết định lấy một chút trong chuyện cỏn con này.
Hai ngày sau, một chiếc váy hồng được mang tới nhà!
– Cái này không dành cho cháu, – tôi vội vã nói, cảm thấy thà mặc trang phục của một phu nhân quyền quý Trung Hoa còn hơn.
– Rồi chúng ta sẽ thấy nó có dành cho cháu hay không, – bà đỡ đầu của tôi đáp lại, rồi bồi thêm với sự quả quyết không thể chối cãi: – Nhớ lấy lời ta. Tối nay cháu sẽ mặc nó.
Tôi đinh ninh mình sẽ không mặc; tôi nghĩ chẳng có sức mạnh loài người nào ép nổi tôi chui vào chiếc váy ấy. Một chiếc váy hồng! Tôi nào quen biết nó. Nó cũng chẳng mỏi mòn vì tôi. Tôi chưa từng thử qua.
Bà đỡ đầu tiếp tục phán quyết rằng tối hôm đó tôi sẽ cùng bà và Graham đi dự một buổi hòa nhạc; bà giải thích rằng đó là một sự kiện lớn diễn ra tại phòng đại sảnh, hay phòng lớn, của hội âm nhạc chính. Những học viên ưu tú nhất của Nhạc viện sẽ biểu diễn; tiếp theo sẽ là một buổi xổ số “vì lợi ích của người nghèo”; và đỉnh điểm của mọi sự là Nhà vua, Hoàng hậu cùng Hoàng tử Labassecour sẽ hiện diện. Khi gửi vé, Graham đã dặn dò phải chú ý trang phục như một cách tỏ lòng kính trọng với hoàng gia; cậu ấy cũng khuyên nên chuẩn bị sẵn sàng đúng bảy giờ.
Khoảng sáu giờ, tôi được gọi lên lầu. Chẳng cần đến một chút vũ lực nào, tôi thấy mình bị dẫn dắt và chi phối bởi ý chí của người khác, không một lời hỏi ý, chẳng chút nài nỉ, cứ thế lặng lẽ bị khuất phục. Tóm lại, chiếc váy hồng đã được mặc lên người, làm dịu bớt bởi lớp đăng chấT ren đen. Tôi được tuyên bố là đã ăn vận lạng trang phục dạ hội (en grande tenue), và được yêu cầu soi gương. Tôi làm theo với chút ít sợ hãi và run rẩy; nhưng với nỗi sợ hãi và run rẩy còn lớn hơn, tôi quay mặt đi.
Chuồng điểm bảy giờ; Tiến sĩ Bretton đã đến; tôi và bà đỡ đầu đi xuống. Bà mặc chiếc áo nhung màu nâu; khi tôi bước đi trong bóng hình của bà, tôi mới khao khát làm sao những nếp vải uy nghi, trầm mặc và tối màu ấy của bà! Graham đứng ở khung cửa phòng khách.
– Tôi thực sự hy vọng cậu ấy sẽ không nghĩ rằng mình đang trưng diện để gây chú ý, – đó là nỗi niềm lo lắng của tôi.
– Lucy này, tặng cháu mấy bông hoa nè, – cậu nói và trao cho tôi một bó hoa. Cậu chẳng mảy may để ý đến chiếc váy của tôi ngoại trừ một nụ cười ấm áp và cái gật đầu đầy hài lòng, điều ấy đã xua tan ngay lập tức cảm giác xấu hổ và nỗi sợ bị chế giễu trong tôi. Vả lại, chiếc váy được may vô cùng đơn giản, không hề có diềm nhún hay tua rua; thứ khiến tôi sợ hãi chỉ là chất vải nhẹ và gam màu tươi sáng, nhưng vì Graham không thấy có gì lố bịch ở nó, mắt tôi cũng sớm chịu hòa giải.
Tôi cho rằng những kẻ đêm nào cũng đến chốn vui chơi công cộng hẳn khó lòng thấu hiểu nổi cảm giác rộn ràng tươi mới khi người ta thưởng thức một vở opera hay buổi hòa nhạc như một niềm hiếm hoi: tôi không chắc mình có kỳ vọng niềm vui lớn lao gì từ buổi hòa nhạc hay không, bởi tôi chỉ có khái niệm rất mơ hồ về bản chất của nó, nhưng tôi rất thích chuyến đi xe đến đó. Sự ấm cúng dễ chịu của chiếc xe mui kín trong một đêm lạnh nhưng trời quang, niềm vui khi khởi hành cùng những người bạn tươi vui và thân thiện, cảnh tượng những vì sao lấp lánh ngắt quãng qua hàng cây khi chúng tôi lướt dọc theo đại lộ; rồi bầu trời đêm khoáng đạt hơn khi chúng ta tiến ra con đường lớn mở rộng, việc đi qua những cổng thành, những ngọn đèn cháy sáng ở đó, những lính gác được bố trí ở đó, màn kiểm tra giả định mà chúng ta phải tuân theo ở đó và khiến chúng ta vô cùng thích thú – tất cả những chuyện nhỏ nhặt ấy, với sự mới mẻ của chúng, mang lại cho tôi một sức hút phấn khích kỳ lạ. Bao nhiêu trong số đó nằm trong bầu không khí thân tình lan tỏa quanh tôi, tôi nào hay biết; Tiến sĩ John và mẹ cậu đều ở tâm trạng tuyệt vời nhất, sôi nổi tranh luận với nhau suốt dọc đường, và đối xử với tôi thân thiện chẳng khác nào người thân thích.
Con đường đưa chúng tôi qua những khu phố đẹp nhất của Villette, những con phố sáng rực ánh đèn và sống động hơn nhiều so với giữa ban ngày. Các cửa hàng trông mới rực rỡ làm sao! Dòng người xuôi ngược trên vỉa hè rộng lớn thật hân hoan, vui tươi và tấp nập làm sao! Trong lúc tôi ngắm nhìn, ý nghĩ về phố Rue Fossette bỗng lướt qua tâm trí tôi – về khu vườn tường kín và ngôi nhà trường, cùng những “lớp học” tối tăm, rộng lớn, nơi mà vào giờ này, tôi thường thui thủi một mình bước đi, ngắm nhìn những vì sao qua ô cửa sổ cao không có rèm che, và lắng nghe giọng đọc xa xôi từ phòng ăn tập, vang lên đều đều qua bài “đọc đạo đức” (lecture pieuse). Chẳng mấy chốc tôi lại phải lắng nghe và lang thang như thế; và cái bóng của tương lai ấy đã len lỏi qua thực tại rực rỡ với sự điềm tĩnh đúng lúc.
Lúc này chúng tôi đã hoà vào dòng xe cộ cùng hướng về một phía, và chẳng mấy chốc mặt tiền của một tòa nhà lớn rực rỡ ánh đèn đã bừng sáng trước mắt chúng tôi. Như đã nói trước, tôi chỉ có một ý niệm mơ hồ về những gì mình sẽ nhìn thấy bên trong tòa nhà này; bởi tôi chưa từng có cơ hội đặt chân đến bất kỳ chốn giải trí công cộng nào.
Chúng tôi bước xuống xe dưới một mái hiên đầy náo nhiệt và đông đúc, nhưng tôi không nhớ rõ lắm những chi tiết tiếp theo, cho đến khi thấy mình đang bước lên một chiếc cầu thang nguy nga, rộng rãi, dễ đi, được trải thảm nhung đỏ dày và êm ái, dẫn lên những cánh cửa lớn đóng kín một cách trang nghiêm mà các tấm pa-nô cũng được bọc nhung đỏ.
Tôi hầu như không để ý bằng phép màu nào mà những cánh cửa ấy có thể mở lùi lại – Tiến sĩ John đã lo liệu những việc đó; dẫu sao thì chúng cũng đã mở lùi lại, và bên trong lộ ra một đại sảnh – hoành tráng, rộng và cao, với những bức tường vòng cung bao quanh và chiếc trần vòm hõm sâu, tất cả đối với tôi đều có màu vàng xỉn (được thếp bằng một nghệ thuật tinh tế), được làm nổi bật bởi các gờ phào, đường rãnh và vòng hoa, hoặc sáng bóng như vàng đánh bóng, hoặc trắng như tuyết như thạch cao tuyết hoa, hay pha trộn trắng và vàng trong những vòng lá dát vàng và hoa huệ tinh khôi: bất cứ nơi nào rèm rủ xuống, thảm trải ra, hay đệm đặt vào, gam màu duy nhất được sử dụng đều là đỏ thẳm. Treo lơ lửng từ mái vòm, rực cháy một khối làm tôi lóa mắt – một khối, tôi nghĩ, bằng đá thạch anh, lấp lánh các mặt cắt, tuôn chảy những giọt nước, bùng cháy những vì sao, và nhuốm màu rực rỡ bởi những giọt ngọc trai tan chảy hay những mảnh cầu vồng vỡ vụn. Đọc giả ạ, đó chỉ là một chiếc đèn chùm, nhưng với tôi nó trông như tác phẩm của các vị thần phương Đông: tôi suốt ngẩng lên xem có một bàn tay khổng lồ, đen đúa, mây mù – bàn tay của Thần Đèn – đang lơ lửng trong bầu không khí ngát hương thơm và lấp lánh của mái vòm, canh giữ kho báu kỳ diệu của nó.
Chúng tôi di chuyển tiếp – tôi hoàn toàn không ý thức được đi đâu – nhưng ở một khúc cua, chúng tôi bất ngờ chạm mặt một nhóm người khác đang tiến đến từ hướng ngược lại. Ngay lúc ấy, tôi nhìn thấy nhóm người đó hiện lên như một tia chớp trong khoảnh khắc. Một phu nhân trung niên xinh đẹp mặc nhung tối màu; một quý ômg có lẽ là con trai bà – khuôn mặt đẹp nhất, vóc dáng đẹp nhất mà tôi từng thấy; và một người thứ ba mặc chiếc váy hồng và áo choàng ren đen.
Tôi chú ý đến tất cả bọn họ – người thứ ba cũng như hai người kia – và trong tích tắc của một khoảnh khắc, tôi đinh ninh tất cả họ đều là người xa lạ, nhờ đó nhận được một ấn tượng khách quan về diện mạo của họ. Nhưng ấn tượng ấy vừa mới thoáng qua chứ chưa kịp định hình, thì ý thức rằng tôi đang đối mặt với một chiếc gương lớn, chiếm trọn khoảng không gian giữa hai cột trụ, đã xua tan đi tất cả: nhóm người đó chính là nhóm của chúng tôi. Thế là, lần đầu tiên và có lẽ cũng là duy nhất trong đời, tôi được tận hưởng “món quà” nhìn thấy chính mình qua con mắt của kẻ khác. Chẳng cần phải bàn dài dòng về kết quả. Nó mang lại một tiếng động lạc điệu, một nỗi đau tiếc nuối; nó chẳng mấy nịnh hót, nhưng suy cho cùng, tôi nên cảm thấy biết ơn; mọi chuyện hoàn thiện có thể còn tồi tệ hơn thế.
Cuối cùng, chúng tôi cũng được xếp chỗ ngồi có tầm nhìn bao quát tốt ra cả một khoảng đại sảnh rộng lớn, lóa mắt nhưng ấm cúng và vui tươi. Nơi đây đã sớm chật kín người, và toàn những thành phần sang trọng. Tôi không biết phụ nữ ở đây có thực sự xinh đẹp hay không, nhưng trang phục của họ quá ư hoàn hảo; và những người ngoại quốc, ngay cả những người vốn xuề xòa trong chốn riêng tư gia đình, dường như cũng sở hữu nghệ thuật tỏ ra duyên dáng ở nơi công cộng: cho dù những cử động thường nhật và ở nhà liên quan đến áo choàng ngủ (peignoir) và giấy uốn tóc (papillotes) có thô kệch và ồn ào đến đâu chăng nữa, thì vẫn có một bước trượt uyển chuyển, một cái cúi chào, một dáng điệu đầu và tay, một phong thái của miệng và mắt, được giữ dành riêng cho dịp lễ hội – luôn được mang ra trưng diện cùng bộ trang phục lộng lẫy (grande toilette), và khoác lên mình đúng điệu cùng bộ nữ trang (parure).
Lác đác nơi đây có vài vóc dáng kiều diễm, là khuôn mẫu cho một vẻ đẹp mang phong cách đặc thù; một phong cách, theo tôi, chưa từng thấy ở nước Anh; một phong cách vững chãi, chắc nịch, tựa như tạc tượng. Những thân hình ấy không hề có góc cạnh: một nữ tượng chống mái hiên bằng cẩm thạch cũng khó mà uyển chuyển hơn; một nữ thần thời Phidias cũng chẳng hoàn hảo hơn ở một vẻ tĩnh lặng và uy nghi nào đó. Họ sở hữu những nét mặt mà các họa sĩ Hà Lan thường ban cho các bức tranh Đức Mẹ của họ: những nét cổ điển vùng đất thấp, đều đặn mà tròn trịa, thẳng thắn mà đần độn; và để đo độ sâu của vẻ bình thản vô cảm, của sự tĩnh lặng không chút đam mê, chỉ có cánh đồng tuyết vùng cực mới có thể mang lại một biểu tượng tương xứng. Những người phụ nữ thuộc tầng lớp này chẳng cần đến đồ trang sức, và họ hiếm khi đeo chúng; mái tóc mượt mà, được chải tết sát da đầu, tạo nên sự tương phản đủ đầy cho cặp má và vòm trán còn mượt mà hơn; trang phục thì không thể đơn giản hơn; cánh tay tròn trịa và chiếc cổ hoàn hảo chẳng cần đến vòng tay hay dây chuyền.
Tôi từng có vinh dự và niềm hạnh phúc được quen biết thân thiết với một trong những mỹ nhân kiểu ấy: sức mạnh ì trịch của tình yêu sâu sắc, lắng đọng mà nàng dành cho bản thân thật kỳ diệu; nó chỉ có thể bị vượt qua bởi sự bất lực kiêu ngạo của nàng trong việc bận tâm đến bất kỳ sinh linh nào khác. Mạch máu của nàng chẳng dẫn dòng lưu chuyển nào; thứ bạch huyết phẳng lặng đã lấp đầy và suýt làm tắc nghẽn các động mạch của nàng.
Một nàng Juno như tôi vừa miêu tả đang ngồi ngay tầm mắt chúng tôi – như một cái đích cho mọi ánh nhìn, và hoàn toàn ý thức được điều đó, nhưng lại miễn nhiễm với sức hút từ ánh mắt hay cái nhìn liếc qua: lạnh lùng, tròn trịa, tóc vàng, và xinh đẹp tựa như chiếc cột trắng, đầu cột mọc vảy vàng, vươn lên ở bên cạnh nàng.
Nhận thấy Tiến sĩ John chú ý đến nàng ta rất nhiều, tôi bèn nhỏm giọng khẩn nài cậu ấy “vì tình yêu trời Phật mà hãy che chắn trái tim mình cho kỹ. Cậu không cần phải đem lòng yêu người phụ nữ đó đâu,” tôi bảo, “bởi tôi nói trước cho mà biết, cậu có chết gục dưới chân nàng thì nàng cũng chẳng mải mai yêu lại cậu đâu.”
– Rất hay, – cậu ta nói, – và sao cậu biết được rằng cảnh tượng sự thờ ơ vĩ đại của nàng lại không phải là sự kích thích mạnh mẽ nhất đối với sự tôn sùng của tôi? Nỗi cay đắng của sự tuyệt vọng, tôi nghĩ, là một thứ kích thích tuyệt vời cho cảm xúc của tôi: nhưng – (nhún vai) – cậu chẳng biết gì về những chuyện này cả; tôi sẽ quay sang nói chuyện với mẹ tôi. Mẹ ơi, con đang lâm vào tình thế nguy hiểm rồi đây.
– Cứ làm như chuyện đó làm tôi hứng thú lắm ấy! – bà Bretton nói.
– Than ôi! Sự tàn nhẫn trong số phận của con! – cậu con trai đáp lời. – Chẳng người đàn ông nào có một người mẹ vô cảm hơn mẹ tôi: bà hình như chẳng bao giờ nghĩ rằng mình có thể vướng phải cái tai họa là một đứa con dâu.
– Nếu ta không nghĩ tới, thì đó không phải vì ta thiếu đi việc cái tai họa ấy cứ lơ lửng trên đầu mình: con đã dọa ta bằng chuyện đó suốt mười năm nay rồi. “Mẹ ơi, chẳng mấy chốc con sẽ kết hôn!” là câu miệng kêu trước khi con kịp cởi bỏ áo khoác trẻ con cơ mà.
– Nhưng thưa mẹ, sẽ có ngày điều đó thành hiện thực. Bỗng nhiên, khi mẹ nghĩ rằng mình đang an toàn nhất, con sẽ ra đi như Jacob hay Esau, hay bất kỳ vị tổ phụ nào khác, và tự rước lấy một người vợ: có lẽ là từ những người con gái của xứ sở này.
– Cứ thử làm xem, John Graham! Thế thôi nhé.
– Người mẹ này của con muốn con phải sống đời cô độc tuổi già. Thật là một bà già ghen tuông làm sao! Nhưng giờ hãy nhìn kìa, sinh vật lộng lẫy trong chiếc váy xa-tanh màu xanh nhạt, với mái tóc nâu nhạt hơn, cùng ánh lấp lánh satin (“reflets satinés”) y như chiếc váy của nàng. Mẹ sẽ không cảm thấy tự hào sao, thưa mẹ, nếu một ngày nào đó con đưa nữ thần ấy về nhà và giới thiệu với mẹ là bà Bretton trẻ?
– Con sẽ chẳng đưa vị nữ thần nào về La Terrasse đâu: cái lâu đài nhỏ bé ấy không thể chứa nổi hai bà chủ đâu; nhất là khi người thứ hai lại có chiều cao, vóc dáng và số đo vòng ngoài hệt như con búp bê vĩ đại bằng gỗ, sáp, da thuộc và xa-tanh kia.
– Thưa mẹ, nàng sẽ ngồi vào chiếc ghế màu xanh của mẹ một cách vô cùng vừa vặn cho mà xem!
– Ngồi vào ghế của ta ư? Ta thách kẻ soán ngôi ngoại quốc ấy đấy! Đó sẽ là một chiếc ghế đầy bi ai cho nàng ta: nhưng im lặng nào, John Graham! Câm miệng lại và dùng mắt mà quan sát đi.
Trong lúc cuộc đấu khẩu trên diễn ra, đại sảnh – nơi mà tôi từng nghĩ là đã chật kín lúc mới vào – vẫn tiếp tục đón nhận hết tốp người này đến tốp người khác, cho đến khi khoảng bán nguyệt trước sân khấu biến thành một khối đầu người dày đặc, thoai thoải từ mặt sàn lên tận trần nhà. Sân khấu cũng vậy, hay đúng hơn là chiếc bệ tạm rộng lớn, lớn hơn bất kỳ sân khấu nào, nửa giờ trước hãy còn vắng tanh, nay đã tràn ngập sự sống; quanh hai cây đàn đại dương cầm được đặt ở khoảng giữa, một bầy thiếu nữ mặc áo trắng, những học viên của Nhạc viện, đã lặng lẽ tuôn ra. Tôi đã để ý thấy họ tụ họp lại trong lúc Graham và mẹ cậu đang mải bàn tán về người đẹp mặc áo xa-tanh xanh, và đã chăm chú theo dõi quá trình sắp xếp, điều phối họ. Hai quý ông, mà ở mỗi người tôi đều nhận ra một người quen, đang chỉ huy toán thiếu nữ trinh nguyên này. Một người có vẻ ngoài nghệ sĩ, để râu và tóc dài, là một nghệ sĩ piano nổi tiếng, đồng thời là giáo viên âm nhạc hàng đầu ở Villette; ông đến trường nội trú của Madame Beck tuần hai lần để dạy học cho một số ít học sinh có cha mẹ đủ giàu để cho con gái mình đặc ân được ông chỉ dạy; tên ông là M. Josef Emanuel, và ông là anh em cùng cha khác mẹ với M. Paul: nhân vật có quyền lực này giờ đang xuất hiện qua hình hài của vị quý ông thứ hai.
M. Paul làm tôi thấy buồn cười; tôi mỉm cười một mình khi quan sát ông, trông ông hoàn toàn đúng chất của mình – đứng nổi bật giữa một đám đông rộng lớn và hoành tráng, đang sắp xếp, kiềm chế và dằn mặt khoảng một trăm thiếu nữ. Hơn nữa, ông lại cực kỳ nghiêm túc – đầy năng lượng, tập trung cao độ, và trên hết là vô cùng độc đoán: nhưng mà ông có dính dáng gì ở đây chứ? Ông có liên quan gì đến âm nhạc hay Nhạc viện cơ chứ – một kẻ hầu như chẳng phân biệt nổi nốt nhạc này với nốt nhạc khác? Tôi biết chính niềm đam mê thể hiện bản thân và thói quen uy quyền đã đưa ông đến đây – một sự say mê chẳng có gì đáng ghét, chỉ vì nó quá ư ngây thơ. Chẳng mấy chốc, rõ mười mươi là người anh trai của ông, M. Josef, cũng nằm dưới sự kiểm soát của ông chẳng kém gì mấy nữ sinh kia. Chưa từng có một gã đàn ông nhỏ con hay chớp mắt như diều hâu nào giống như M. Paul ấy! Chẳng bao lâu sau, một số ca sĩ và nhạc sĩ nổi tiếng xuất hiện trên bệ biểu diễn: khi những ngôi sao này mọc lên, vị giáo sư giống như sao chổi liền lặn mất tăm. Mọi thứ nổi danh và tai tiếng đều không tài nào chịu đựng nổi đối với ông: ở đâu không thể lấn át, ông chuồn thẳng.
Và giờ thì mọi thứ đã sẵn sàng: chỉ còn một khu vực của đại sảnh là chờ được lấp đầy – một khu vực được bọc nhung đỏ, giống như cầu thang và các cánh cửa lớn, được trang bị những chiếc băng ghế có đệm nhồi, xếp dọc hai bên của hai chiếc ghế hoàng gia được đặt một cách trang nghiêm dưới một mái vòm.
Một tín hiệu được phát ra, các cánh cửa lùi lại, toàn thể cử tọa đứng dậy, dàn nhạc bùng nổ, và để chào đón một đợt hợp xướng, Nhà vua, Hoàng hậu, cùng Triều đình Labassecour bước vào.
Cho đến lúc đó, tôi chưa từng tận mắt chứng kiến vị vua hay hoàng hậu bằng xương bằng thịt nào; do đó có thể tưởng tượng được tôi đã căng đôi mắt của mình hết cỡ để ngắm nghía những mẫu vật của hoàng gia châu Âu này thế nào. Bất cứ khi nào hoàng gia được nhìn thấy lần đầu tiên, người ta sẽ luôn trải qua một sự ngạc nhiên mơ hồ suýt sát với sự thất vọng, rằng tại sao họ lại không xuất hiện trong tư thế ngồi vĩnh viễn trên ngai vàng, đội vương chiếc mũ miện, và trên tay cầm chiếc vương trượng. Trông chờ một vị vua và hoàng hậu, để rồi chỉ nhìn thấy một người lính trung niên và một phu nhân khá trẻ, tôi cảm thấy nửa như bị lừa gạt, nửa như thích thú.
Tôi nhớ rất rõ vị Vua ấy – một người đàn ông tuổi năm mươi, hơi gù lưng, tóc hơi hoa râm: chẳng có khuôn mặt nào trong cả hội trường hôm đó giống như ông. Tôi chưa từng đọc, chưa từng được kể điều gì về bản tính hay thói quen của ông; và thoạt đầu, những chữ tượng hình khắc sâu như bằng dùi sắt trên trán ông, quanh mắt, bên khóe miệng, đã làm bối rối và đánh lừa bản năng. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, nếu tôi không biết, thì ít ra tôi cũng cảm nhận được ý nghĩa của những ký tự được viết không cần bàn tay ấy. Ngồi đó là một kẻ đang chịu đựng trong im lặng – một người đàn ông u sầu, hay lo âu. Đôi mắt ấy đã chứng kiến những chuyến viếng thăm của một hồn ma nào đó – đã chờ đợi từ lâu những bước đến và đi của con quái vật kỳ lạ nhất, Trầm uất (Hypochondria). Có lẽ ông đang nhìn thấy mụ ta ngay trên sân khấu kia, đối diện với ông, giữa bao nhiêu là đám đông rực rỡ. Trầm uất có thói quen như vậy đấy, trỗi dậy giữa hàng ngàn người – tối tăm như Định mệnh, tái nhợt như Bệnh tật, và suýt sửa mạnh mẽ như Cái chết. Kẻ đồng hành và là nạn nhân của mụ tưởng rằng mình được hạnh phúc lấy một phút – “Không đời nào,” mụ ta bảo; “Ta đến đây.” Và mụ làm đóng băng dòng máu trong tim ông, làm mờ đi ánh sáng trong mắt ông.
Vài người có thể nói rằng chính chiếc vương miện ngoại quốc đang đè nặng lên trán Nhà vua đã uốn cong nó thành nếp nhăn kỳ lạ và đau đớn ấy; vài người khác có thể viện dẫn hậu quả của sự mất mát từ thuở trẻ. Chắc hẳn có một chút của cả hai điều đó; nhưng chúng lại bị làm cho cay đắng thêm bởi kẻ thù tối tăm nhất của nhân loại – căn bệnh u sầu bẩm sinh. Hoàng hậu, vợ ông, biết điều này: với tôi, hình bóng nỗi đau buồn của chồng bà dường như hiện lên như một cái bóng dịu lại trên khuôn mặt nhân từ của chính bà. Vị công chúa ấy trông là một người phụ nữ dịu dàng, trầm ngâm, duyên dáng; không đẹp, hoàn toàn không giống những người phụ nữ có vẻ quyến rũ vững chãi và cảm xúc cẩm thạch được miêu tả ở trang trước. Vóc dáng của bà có phần mảnh khảnh; các nét trên khuôn mặt bà, dẫu đủ sự quý phái, lại gợi nhắc quá nhiều về các triều đại đang trị vì và dòng dõi hoàng tộc để mang lại sự hài lòng trọn vẹn. Biểu cảm bao bọc lấy đường nét khuôn mặt ấy trong trường hợp này là dễ chịu; nhưng bạn không tài nào tránh khỏi việc liên tưởng nó với những bức tượng khắc được ghi nhớ, nơi các đường nét tương tự xuất hiện dưới hình thái kém cõi; yếu ớt, hoặc nhục dục, hoặc xảo quyệt, tùy trường hợp. Tuy nhiên, đôi mắt của Hoàng hậu là của riêng bà; và lòng trắc ẩn, sự lương thiện, niềm đồng cảm ngọt ngào đã ban phước cho nó bằng thứ ánh sáng thần thánh nhất. Bà cử động không phải như một nữ vương, mà như một phu nhân – tử tế, đáng yêu, tao nhã. Đứa con trai nhỏ của bà, Hoàng tử Labassecour kiêm Công tước trẻ xứ Dindonneau, đi cùng bà: hoàng tử nhỏ tựa vào đầu gối mẹ; và, hết lần này đến lần khác, trong suốt buổi tối hôm đó, tôi thấy bà để mắt đến vị quân vương bên cạnh mình, nhận thức được sự tha thẩn bị mây mù che phủ của ông, và mong muốn đánh thức ông dậy bằng cách hướng sự chú ý của ông vào con trai họ. Bà thường cúi đầu lắng nghe những lời nhận xét của cậu bé, rồi sau đó mỉm cười nhắc lại chúng cho vị phụ vương nghe. Vị Vua ủ rũ giật mình, lắng nghe, mỉm cười, nhưng rồi không thể tránh khỏi việc chìm đắm trở lại ngay khi vị thiên thần hộ mệnh của ông ngừng nói. Cảnh tượng ấy thật ê chề và đầy ý nghĩa làm sao! Điều đó càng thêm phần đáng ngại khi mà, đối với cả tầng lớp quý tộc lẫn tầng lớp tư sản chân chính của Labassecour, sự khác thường ấy dường như hoàn toàn vô hình: tôi không thể nhận ra có một tâm hồn nào có mặt ở đó lại bị kinh ngạc hay xúc động.
Cùng với nhà Vua và Hoàng hậu là triều đình của họ, bao gồm hai hoặc ba đại sứ ngoại quốc; và đi cùng họ là tinh hoa của những người ngoại quốc đang cư trú tại Villette. Những người này chiếm lấy các hàng ghế nhung đỏ; các phu nhân được xếp ngồi; hầu hết đàn ông vẫn đứng: hàng người mặc đồ đen của họ, xếp thành lớp ở hậu cảnh, trông giống như một tấm nền tối làm nổi bật vẻ lộng lẫy được trưng bày ở phía trước. Sự lộng lẫy này không thiếu đi ánh sáng và bóng tối cùng sự chuyển màu đa dạng: khoảng giữa được lấp đầy bởi các bậc phu nhân mặc nhung và xa-tanh, đội mũ lông vũ và đeo ngọc quý; những hàng ghế ở tiền cảnh, bên tay phải Hoàng hậu, dường như dành riêng cho các thiếu nữ, là bông hoa – có lẽ, tôi nên gọi là nụ hoa – của tầng lớp quý tộc Villette. Ở đây không có ngọc ngà, không có mũ mão, không có nhung tuyết hay lụa là óng ánh: sự tinh khiết, giản dị và vẻ duyên dáng bay bổng ngự trị trong nhóm thiếu nữ trinh nguyên ấy. Những mái đầu trẻ trung được chải tết đơn giản và những vóc dáng ngọc ngà (tôi suýt viết là dáng tiên nữ, nhưng điều đó hoàn toàn sai sự thật: một số trong những “thiếu nữ” này, tuổi chưa quá mười sáu hay mười bảy, lại sở hữu những đường nét cơ thể vạm vỡ và chắc nịch không kém gì một phụ nữ Anh mập mạp tuổi hai mươi lăm) – những vóc dáng ngọc ngà mặc áo trắng, hoặc hồng nhạt, hoặc xanh dịu dàng, gợi lên những suy nghĩ về thiên đường và các thiên thần. Tôi quen ít nhất là một cặp trong số những nguyên mẫu “hồng và trắng” của nhân loại này. Đây là cặp đôi học sinh cũ của Madame Beck – các tiểu thư Mathilde và Angélique: những học sinh mà trong năm học cuối cùng lẽ ra phải ở lớp nhất, nhưng trí óc chưa bao giờ đưa họ vượt qua được phân khu thứ hai. Về môn tiếng Anh, họ từng nằm dưới sự quản lý của chính tôi, và thật là một công việc vất vả khi bắt họ dịch một cách có lý trí một trang sách trong tác phẩm The Vicar of Wakefield. Ngoài ra, trong suốt ba tháng, tôi có một cô ngồi đối diện ở bàn ăn, và lượng bánh mì gia đình, bơ và trái cây hầm mà cô ta thường xuyên ngấu nghiến vào bữa “xế chiều” thực sự là một kỳ quan của thế giới – chỉ có thể bị vượt qua bởi sự thật là cô ta thực sự đã giấu vào túi những lát bánh mà cô ta không ăn hết. Đây là những sự thật – những sự thật lành mạnh đấy chứ.
Tôi quen một vị thiên thần khác trong số này – cô nàng trông xinh xắn nhất, hay ít ra là ít ra vẻ kín đáo và đạo đức giả nhất trong đám: cô ta ngồi cạnh con gái của một vị quý tộc Anh, cũng là một thiếu nữ trông thật thà nhưng kiêu kỳ: cả hai đều đi trong đoàn tùy tùng của đại sứ quán Anh. Cô ấy (tức là người quen của tôi) có một thân hình mảnh mai, uyển chuyển, hoàn toàn không giống những vóc dáng của các thiếu nữ ngoại quốc; tóc cô ấy cũng không được chải tết sát như một chiếc vỏ sò hay mũ sọ bằng xa-tanh; nó trông thực sự là tóc, uốn lượn quanh đầu, dài, xoăn và bồng bềnh. Cô ấy huyên thuyên trò chuyện rôm rả, và có vẻ tràn ngập một thứ sự hài lòng có phần hời hợt với bản thân và vị trí của mình. Tôi không nhìn Tiến sĩ Bretton; nhưng tôi biết rằng cậu ấy cũng nhìn thấy Ginevra Fanshawe: cậu ấy đã trở nên vô cùng im lặng, trả lời rất vắn tắt những lời nhận xét của mẹ mình, cậu ấy nén lại tiếng thở dài hết lần này đến lần khác. Tại sao cậu ấy phải thở dài? Cậu ấy đã thú nhận sở thích theo đuổi tình yêu qua những gian nan; và đây chính là sự thỏa mãn trọn vẹn cho sở thích đó. Người trong mộng của cậu ấy đang rạng ngời hướng về cậu từ một tầng lớp cao hơn cậu: cậu không thể đến gần nàng; cậu không chắc mình có thể giành được một cái nhìn từ nàng hay không. Tôi theo dõi xem liệu nàng có ưu ái cậu đến mức đó không. Chỗ ngồi của chúng tôi không xa những chiếc băng ghế nhung đỏ; chúng tôi chắc chắn sẽ bị nhìn thấy từ đó, bởi những đôi mắt sắc sảo và láo liên như của cô Fanshawe, và chẳng mấy chốc đôi quang học ấy của cô ta đã hướng về phía chúng tôi: ít nhất là hướng về Tiến sĩ và bà Bretton. Tôi nép khá kỹ vào bóng râm và khuất tầm mắt, không muốn bị nhận ra ngay lập tức: cô ta nhìn chằm chằm vào Tiến sĩ John, rồi nâng ống nhòm lên để săm soi mẹ cậu; một hoặc hai phút sau, cô ta cười khúc khích thì thầm với người ngồi cạnh; khi buổi biểu diễn bắt đầu, sự chú ý lang thang của cô ta lại bị thu hút về phía sân khấu.
Về buổi hòa nhạc, tôi không cần phải dài dòng; độc giả hẳn không bận tâm đến những ấn tượng của tôi về nơi đó; và thực ra, cũng chẳng đáng để ghi lại chúng, vì đó chỉ là những ấn tượng của một sự dốt nát cùng cực (ignorance crasse). Các nữ sinh của Nhạc viện, vì quá hoảng sợ nên đã có màn trình diễn khá run rẩy trên hai chiếc đàn đại dương cầm. Mẫu Josef Emanuel đứng bên cạnh họ trong lúc họ chơi đàn; nhưng ông lại không có sự khéo léo hay sức ảnh hưởng như người họ hàng của mình, người mà trong hoàn cảnh tương tự chắc chắn đã buộc các học sinh của mình phải cư xử một cách anh dũng và bình tĩnh. M. Paul hẳn đã đặt những cô nàng mới vào nghề đang hoảng loạn ấy vào giữa hai làn đạn – nỗi sợ khán giả và nỗi sợ chính bản thân ông – và sẽ truyền cho họ lòng dũng cảm của sự tuyệt vọng bằng cách làm cho nỗi sợ thứ hai lớn hơn không gì sánh bằng: M. Josef không thể làm được điều này.
Tiếp theo những nữ nghệ sĩ piano mặc áo mus-lin trắng là một phu nhân bệ vệ, cáu kỉnh mặc chiếc váy xa-tanh trắng. Bà ta hát. Giọng hát của bà ta tác động đến tôi hệt như những trò ảo thuật gia: tôi tự hỏi không biết bà ta làm thế nào – làm sao mà giọng bà ta có thể lên xuống, và thực hiện những cú nhào lộn kỳ diệu đến thế; nhưng một giai điệu Scotland giản dị, do một nghệ sĩ đường phố thô ráp tấu lên, đôi khi lại làm tôi xúc động sâu sắc hơn nhiều.
Sau đó bước lên một quý ông, người mà sau khi cúi gập người một cách đáng kể về hướng Nhà vua và Hoàng hậu, và liên tục đưa bàn tay đeo găng trắng lên vùng ngực, đã thốt lên những lời kêu oan cay đắng chống lại một “Isabelle giả dối” nào đó. Tôi nghĩ dường như ông đặc biệt cầu xin sự đồng cảm của Hoàng hậu; nhưng, trừ khi tôi lầm lẫn to tát, Hoàng hậu đã dành sự chú ý nhiều hơn bằng sự điềm tĩnh của phép lịch sự thay vì sự nhiệt thành của mối quan tâm. Tâm trạng của vị quý ông này rất đau khổ, và tôi đã rất vui mừng khi ông kết thúc màn trình diễn âm nhạc của mình về chuyện đó.
Một vài bản hợp xướng sôi nổi đã gây ấn tượng với tôi như là phần hay nhất trong chương trình giải trí của buổi tối. Có sự hiện diện của các đại biểu từ tất cả các hội hợp xướng cấp tỉnh xuất sắc nhất; những con người Labassecour chính hiệu, tròn vo như thùng rượu. Những bậc đáng kính này cất giọng hát hết mình chẳng kiêng dè gì – những nỗ lực nhiệt tình của họ ít nhất cũng đem lại một kết quả tốt đẹp này – tai người nghe cảm nhận được một sự thỏa mãn về mặt âm lượng.
Xuyên suốt toàn bộ buổi biểu diễn – những bản song tấu nhạc cụ rụt rè, những bản đơn ca kiêu kỳ, những bản hợp xướng vang dội, mạnh mẽ như kèn đồng – sự chú ý của tôi chỉ dành một con mắt và một cái tai cho sân khấu, phần còn lại thường trực phụng sự Tiến sĩ Bretton: tôi không thể quên cậu ấy, cũng chẳng thể ngừng tự vấn xem cậu ấy đang cảm thấy thế nào, đang nghĩ gì, liệu cậu ấy có thấy vui hay ngược lại. Cuối cùng cậu ấy cũng lên tiếng.
– Và cậu thấy mọi thứ thế nào, Lucy? Cậu im lặng quá, – cậu nói bằng giọng tươi vui quen thuộc của mình.
– Tôi im lặng, – tôi nói, – bởi vì tôi đang vô cùng, vô cùng hứng thú: không chỉ với âm nhạc, mà còn với mọi thứ xung quanh mình.
Cậu ấy sau đó tiếp tục đưa ra một số nhận xét với sự bình thản và điềm tĩnh đến mức tôi bắt đầu nghĩ rằng quả thực cậu ấy đã không nhìn thấy những gì tôi đã thấy, và tôi thì thầm: – Tiểu thư Fanshawe có mặt ở đây đấy: cậu có để ý thấy cô ta không?
– Ồ, có chứ! Và tôi nhận thấy cậu cũng để ý thấy cô ta đấy.
– Cậu có nghĩ là cô ta đến cùng bà Cholmondeley không?
– Bà Cholmondeley đang ở đó với một nhóm rất hoành tráng. Đúng vậy; Ginevra đi trong đoàn của bà ấy; và bà Cholmondeley lại nằm trong đoàn của phu nhân ——, người thuộc đoàn tùy tùng của Hoàng hậu. Nếu đây không phải là một trong những tiểu vương quốc châu Âu nhỏ bé, gọn gàng, nơi mà các nghi thức chẳng có gì hơn ngoài sự suồng sã, và sự lộng lẫy trong ngày lễ hội chỉ là sự mộc mạc trong y phục ngày Chủ nhật, thì nghe có vẻ to tát lắm đấy.
– Ginevra nhìn thấy cậu rồi phải không, tôi nghĩ thế?
– Tôi cũng nghĩ thế. Tôi đã để mắt đến cô ta vài lần kể từ khi cậu không nhìn nữa; và tôi có vinh dự được chứng kiến một màn trình diễn nhỏ mà cậu đã được tha miễn.
Tôi không hỏi đó là gì; tôi chờ đợi thông tin tự nguyện, và nó đã được đưa ra ngay sau đó.
– Tiểu thư Fanshawe, – cậu nói, – có một người bạn đồng hành – một phu nhân quý tộc. Tôi tình cờ biết phu nhân Sara qua mặt; người mẹ quý phái của cô ấy đã mời tôi đến khám bệnh. Cô ấy là một cô gái kiêu hãnh nhưng hoàn toàn không hống hách, và tôi nghi ngờ liệu Ginevra có ghi điểm được trong mắt cô ấy bằng cách lấy những người hàng xóm ra làm trò cười hay không.
– Những người hàng xóm nào?
– Chỉ là tôi và mẹ tôi. Đối với tôi thì mọi chuyện rất đỗi tự nhiên: tôi đoán chẳng có gì là con mồi ngon hơn anh bác sĩ tư sản trẻ tuổi; nhưng mẹ tôi! Tôi chưa từng thấy bà bị chế giễu bao giờ. Cậu có biết không, cái bĩu môi và chiếc ống nhòm được đưa lên một cách mỉa mai hướng về phía đó đã mang lại cho tôi một cảm giác kỳ lạ làm sao?
– Đừng nghĩ ngợi gì về nó cả, Tiến sĩ John: chẳng đáng đâu. Nếu Ginevra đang ở tâm trạng bồng bột, như cô ta cực kỳ tỏ ra tối nay, cô ta sẽ chẳng mảy may do dự khi cười nhạo vị Hoàng hậu dịu dàng, trầm tư đó, hay vị Vua u sầu nọ. Cô ta không bị chi phối bởi ác ý, mà chỉ là sự ngu ngốc hoàn toàn, bốc đồng. Đối với một cô nữ sinh nhẹ dạ cạn tàu ráo máng thì chẳng có gì là thiêng liêng cả.
– Nhưng cậu quên mất: tôi vốn không quen nhìn tiểu thư Fanshawe dưới lăng kính của một cô nữ sinh nhẹ dạ. Chẳng phải nàng là nữ thần của tôi – thiên thần của sự nghiệp tôi sao?
– Hừm! Đó là sai lầm của cậu đấy.
– Nói thật lòng, không chút hoa mỹ hay lãng mạn giả tạo nào, thực sự đã có một khoảnh khắc, sáu tháng trước, khi tôi coi nàng là thần thánh. Cậu còn nhớ cuộc trò chuyện của chúng ta về những món quà chứ? Tôi đã không hoàn toàn cởi mở với cậu khi thảo luận về chủ đề đó: sự nhiệt tình mà cậu tiếp nhận nó đã làm tôi thích thú. Để có được toàn bộ lợi ích từ những góc nhìn của cậu, tôi đã để cậu nghĩ rằng tôi mù mờ hơn thực tế rất nhiều. Chính bài kiểm tra về những món quà đó đã chứng minh lần đầu tiên rằng Ginevra chỉ là phàm trần. Tuy nhiên, vẻ đẹp của nàng vẫn giữ được sức hút: ba ngày – ba giờ trước, tôi vẫn là nô lệ của nàng. Khi nàng bước qua tôi tối nay, kiêu hãnh trong sắc đẹp, cảm xúc của tôi đã bày tỏ lòng tôn kính với nàng; nếu không vì một cái bĩu môi xui xẻo, tôi vẫn sẽ là kẻ hầu hạ khiêm nhường nhất của nàng. Nàng có thể chế giễu tôi, và trong khi làm tổn thương, nàng sẽ không sớm làm tôi xa lánh: qua bản thân tôi, nàng không thể trong mười năm làm được điều mà chỉ trong một khoảnh khắc, nàng đã làm qua mẹ tôi.
Cậu ấy im lặng một lát. Chưa bao giờ tôi thấy đôi mắt xanh của Tiến sĩ John lại nhiều ngọn lửa và ít ánh nắng đến thế như lúc này.
– Lucy, – cậu bắt đầu lại, – hãy nhìn mẹ tôi cho kỹ, và nói xem, không thiên vị hay sợ hãi, dưới ánh sáng nào bà hiện lên trong mắt cậu lúc này.
– Như mọi khi – một quý cô trung lưu người Anh; ăn mặc giản dị nhưng trang nhã, thường ngày không phô trương, điềm tĩnh và vui vẻ bẩm sinh.
– Trong mắt tôi cũng vậy – chúc phúc cho người! Những kẻ vui vẻ có thể cười cùng má, nhưng chỉ những kẻ yếu đuối mới cười nhạo bà. Bà sẽ không bị chế giễu, ít nhất là với sự đồng ý của tôi; hay nếu không có sự – sự khinh miệt của tôi – sự ác cảm của tôi – sự –
Cậu ấy dừng lại: và đã đến lúc – bởi vì cậu đang trở nên kích động – dường như vượt quá những gì hoàn cảnh đòi hỏi. Lúc đó tôi không biết rằng cậu đã chứng kiến nguyên nhân kép dẫn đến sự bất mãn với tiểu thư Fanshawe. Nét mặt hồng hào, cánh mũi phồng lên, đường cong táo bạo mà sự khinh miệt mang lại cho đôi môi dưới được cắt gọt hoàn hảo của cậu, đã cho thấy một dáng vẻ mới và nổi bật ở cậu. Tuy nhiên, cơn thịnh nộ hiếm hoi của một kẻ vốn ôn hòa và thanh thản không phải là một cảnh tượng dễ chịu; tôi cũng không thích luồng cảm giác báo thù chạy qua cơ thể trẻ trung, vạm vỡ của cậu.
– Tôi làm cậu sợ đấy à, Lucy? – cậu hỏi.
– Tôi không thể hiểu nổi tại sao cậu lại tức giận đến thế.
– Vì lý do này, – cậu thì thầm vào tai tôi. – Ginevra không phải là một thiên thần thuần khiết, cũng chẳng phải là một người phụ nữ tâm hồn trong sáng.
– Vớ vẩn! Cậu phóng đại lên rồi: cô ấy chẳng có ác ý gì lớn lao đâu.
– Quá nhiều đối với tôi là đằng khác. Tôi nhìn thấy nơi mà cậu mù quáng. Giờ hãy dẹp chủ đề đó đi. Hãy để tôi tự giải trí bằng cách trêu chọc má: tôi sẽ khẳng định rằng má đang xuống sức. Má ơi, xin hãy xốc lại tinh thần đi.
– John, mẹ nhất định sẽ xốc lại tinh thần của con nếu con không chịu cư xử cho phải phép. Hai đứa có chịu im lặng để mẹ nghe hát không?
Lúc đó họ đang gầm rú trong một bản hợp xướng, che đậy cho toàn bộ cuộc đối thoại vừa rồi diễn ra.
– Mẹ nghe thấy tiếng hát đấy chứ, má! Giờ thì, con đánh cược đôi khuy măng-sét thật của con với chiếc trâm cài bằng thủy tinh ép của má nhé –
– Chiếc trâm thủy tinh ép của mẹ á, Graham? Thằng bé báng bổ! Con thừa biết đó là một viên đá quý cơ mà.
– Ồ! Đó là một trong những sự mê tín của mẹ thôi: mẹ bị lừa trong vụ đó rồi.
– Mẹ ít bị lừa hơn con tưởng tượng đấy. Làm thế nào mà con lại quen biết những tiểu thư trong triều đình vậy, John? Mẹ đã quan sát thấy hai người trong số họ dành cho con không ít sự chú ý trong suốt nửa giờ qua đấy.
– Con ước gì mẹ đừng quan sát họ.
– Sao lại không? Bởi vì một trong số họ mang tính mỉa mai giơ kính lúp về phía mẹ à? Nó là một cô bé xinh xắn, ngốc nghếch: nhưng con sợ tiếng cười khúc khích của nó sẽ làm phiền lòng bà già này sao?
– Bà già cảm thông và tuyệt vời! Mẹ ơi, mẹ còn tốt với con hơn mười người vợ gom lại ấy chứ.
– Đừng có bày tỏ thái độ quá đà, John, kẻo mẹ ngất đi và con sẽ phải bế mẹ ra ngoài đấy; và nếu gánh nặng đó đặt lên vai con, con sẽ đảo ngược lại câu nói vừa rồi và thốt lên rằng: “Mẹ ơi, mười người vợ chắc cũng chẳng làm con khổ sở hơn mẹ đâu!”
Buổi hòa nhạc kết thúc, tiếp theo là phần Xổ số “vì lợi ích của người nghèo”; khoảng thời gian giữa hai sự kiện là lúc mọi người được thả lỏng hoàn toàn và tận hưởng sự nhốn nháo, náo nhiệt dễ chịu có thể tưởng tượng được. Đàn chim trắng đã được dọn sạch khỏi bệ biểu diễn; thay vào đó là một đám đông bận rộn các quý ông chen chúc chuẩn bị cho việc rút thăm; và trong số này – bận rộn nhất trong tất cả – lại xuất hiện cái hình dáng quen thuộc ấy, không cao nhưng đầy năng động, tràn đầy sinh lực và sự chuyển động của ba người đàn ông cao lớn. M. Paul làm việc hăng hái làm sao! Ông vừa đưa ra chỉ dẫn, vừa tự mình xắn tay áo vào việc! Nửa tá trợ lý đứng chờ lệnh để dọn dẹp đàn piano, v.v.; mặc kệ họ, ông vẫn phải cộng thêm sức của chính mình vào. Sự nhanh nhẹn thái quá của ông vừa gây bực bội, vừa buồn cười; trong thâm tâm tôi vừa không đồng tình vừa chế giễu phần lớn sự lăng xăng này. Tuy nhiên, giữa sự định kiến và khó chịu ấy, khi theo dõi, tôi không thể không nhận ra một nét ngây thơ không đến nỗi khó ưa trong mọi việc ông làm và nói; tôi cũng không thể làm ngơ trước những đặc điểm mạnh mẽ trên nét mặt của ông, nay càng trở nên nổi bật bởi sự tương phản với một đám đông những khuôn mặt tẻ nhạt hơn: sự sắc sảo sâu sắc và tập trung trong đôi mắt ông, quyền uy trên vầng trán tái nhợt, rộng và đầy đặn của ông – sự uyển chuyển của cái miệng vô cùng linh hoạt ấy. Ông thiếu đi sự bình thản của sức mạnh, nhưng sự chuyển động và ngọn lửa của nó thì ông sở hữu một cách rõ rệt.
Trong khi đó, toàn bộ đại sảnh đang nhốn nháo; hầu hết mọi người đứng dậy và tiếp tục đứng để thay đổi không khí; vài người đi lại, tất cả đều trò chuyện và cười đùa. Khu vực nhung đỏ hiện lên một khung cảnh vô cùng sinh động. Dải dài các quý ông vỡ ra thành từng mảnh, hòa lẫn với dãy màu cầu vồng của các quý bà; hai hoặc ba người có tác phong sĩ quan tiến đến chỗ Nhà vua và trò chuyện với ông. Hoàng hậu rời khỏi ghế của mình, lướt dọc theo hàng các thiếu nữ đứng dậy khi bà đi qua; và tôi thấy bà ban cho từng người một dấu hiệu tử tế – một lời nói, cái nhìn hoặc nụ cười duyên dáng. Đối với hai cô gái xinh đẹp người Anh, phu nhân Sara và Ginevra Fanshawe, bà đã nói mấy câu; khi rời khỏi họ, cả hai, và đặc biệt là người sau, dường như bừng sáng lên vì thỏa mãn. Sau đó, họ được tiếp chuyện bởi một vài quý bà, và một vòng tròn nhỏ các quý ông quây quần quanh họ; trong số đó – người đứng gần Ginevra nhất – chính là Bá tước de Hamal.
– Căn phòng này nóng đến ngạt thở, – Tiến sĩ Bretton nói, đứng dậy với sự thiếu kiên nhẫn đột ngột. – Lucy – má – hai người có muốn ra hít thở không khí trong lành một lát không?
– Đi cùng con đi, Lucy, – bà Bretton nói. – Mẹ thích ngồi ở chỗ này hơn.
Tôi cũng sẵn lòng ngồi lại, nhưng mong muốn của Graham phải được ưu tiên hơn của tôi; tôi đi cùng cậu ấy.
Chúng tôi thấy không khí ban đêm buốt giá; hoặc ít nhất là tôi thấy thế: cậu ấy có vẻ không cảm thấy gì; nhưng trời rất tĩnh lặng, và bầu trời đính đầy sao trải rộng không một bóng mây. Tôi được quấn trong một chiếc khăn choàng lông thú. Chúng tôi đi dạo vài vòng trên vỉa hè; khi đi dưới ánh đèn đường, Graham bắt gặp ánh mắt tôi.
– Trông cậu có vẻ đăm chiêu, Lucy: có phải vì tôi không?
– Tôi chỉ sợ rằng cậu đang đau buồn thôi.
– Không hề gì: cứ vui lên – như tôi đây này. Bất cứ khi nào tôi chết, Lucy, tôi tin chắc rằng đó sẽ không phải vì bệnh tim. Tôi có thể bị chích nhói, tôi có thể chùng xuống trong chốc lát, nhưng chưa có nỗi đau hay căn bệnh tình cảm nào thấm sâu vào toàn bộ hệ thống của tôi cả. Cậu luôn thấy tôi vui vẻ ở nhà mà?
– Nhìn chung là thế.
– Tôi rất mừng vì cô ta đã cười nhạo mẹ tôi. Tôi sẽ không đổi bà già lấy một tá mỹ nhân đâu. Cái nhếch mép đó làm tôi thấy dễ chịu nhất trên đời. Cảm ơn cô Fanshawe nhé! – Và cậu nhấc chiếc mũ khỏi mái tóc gợn sóng của mình, cúi chào một cách giả vờ.
– Đúng vậy, – cậu nói, – tôi cảm ơn cô ta. Cô ta đã khiến tôi cảm thấy chín phần mười trái tim mình vẫn khỏe mạnh như chuông, và phần thứ mười chỉ rỉ máu từ một vết thủng nhỏ: vết chích kim sẽ lành ngay tức khắc.
– Cậu đang tức giận đấy, đang nóng giận và phẫn nộ; ngày mai cậu sẽ suy nghĩ và cảm nhận khác đi thôi.
– Tôi nóng giận và phẫn nộ á! Cậu không hiểu tôi đâu. Ngược lại, cơn nóng đã tan biến: tôi mát mẻ như đêm tối đây – nhân tiện, trời có thể quá lạnh đối với cậu đấy. Chúng ta quay lại thôi.
– Tiến sĩ John, đây là một sự thay đổi đột ngột đấy.
– Không hề: hoặc nếu có, thì có những lý do chính đáng cho việc đó – hai lý do chính đáng: tôi đã kể cho cậu nghe một cái rồi. Nhưng giờ chúng ta vào lại thôi.
Chúng tôi không dễ dàng gì lấy lại được chỗ ngồi của mình; buổi xổ số đã bắt đầu và mọi thứ hỗn độn trong sự phấn khích; đám đông chặn kín lối hành lang mà chúng tôi phải đi qua: cần phải dừng lại một lúc. Tình cờ liếc nhìn xung quanh – thực ra tôi suýt tưởng tượng mình nghe thấy tên mình được gọi – tôi thấy ngay gần đó, sự hiện diện khắp nơi, không thể tránh khỏi của M. Paul. Ông đang nhìn tôi một cách nghiêm nghị và đắm đuối: nhìn tôi, hay đúng hơn là nhìn chiếc váy hồng của tôi – lời bình mỉa mai lóe lên trong mắt ông. Giờ đây, thói quen của ông là chỉ trích trang phục của cả giáo viên lẫn học sinh tại trường của Madame Beck – một thói quen mà ít nhất là các giáo viên coi là sự xấc láo khó chịu: cho đến nay tôi vẫn chưa phải chịu đựng điều đó – trang phục hằng ngày tối màu của tôi không nhằm thu hút sự chú ý. Tối nay tôi không có tâm trạng để cho phép bất kỳ sự xâm phạm mới nào: thà phớt lờ sự hiện diện của ông còn hơn là chấp nhận lời trêu chọc của ông, và vì vậy tôi kiên quyết quay mặt vào tay áo khoác của Tiến sĩ John; tìm thấy ở chiếc tay áo đen ấy một viễn cảnh mang lại nhiều niềm vui và sự thoải mái hơn, thân thiện hơn, tôi nghĩ thế, so với vẻ ngoài khó ưa của vị giáo sư nhỏ con tối tăm kia. Tiến sĩ John dường như vô tình đồng tình với sự ưu ái đó bằng cách cúi xuống và nói bằng giọng thân thiện: – Nào, cứ đứng sát bên tôi, Lucy: mấy gã thị dân chen chúc này chẳng nể nang ai đâu.
Tuy nhiên, tôi không thể kiên định với chính mình. Đầu hàng trước một thứ ảnh hưởng nào đó, từ tính hay đại loại thế – một ảnh hưởng không chào đón, khó chịu, nhưng lại hiệu quả – tôi lại liếc nhìn xung quanh xem M. Paul đã đi chưa. Không, ông vẫn đứng ở chỗ cũ, vẫn nhìn với ánh mắt không đổi; ông đã thấu được suy nghĩ của tôi và đọc được mong muốn tránh né ông. Ánh nhìn giễu cợt nhưng không hề ác ý đã biến thành một cái cau mày sầm sì, và khi tôi cúi đầu với ý định làm hòa, tôi chỉ nhận lại được một cái gật đầu cứng nhắc và nghiêm khắc nhất.
– Cậu đã làm ai tức giận thế, Lucy? – Tiến sĩ Bretton thì thầm, mỉm cười. – Kẻ trông hung dữ giống người hoang dã là ai thế?
– Một trong những giáo sư ở trường Madame Beck: một lão lùn khó tính lắm.
– Trông lão ta có vẻ cực kỳ khó tính đấy: cậu đã làm gì lão thế? Tất cả chuyện này là sao vậy? À, Lucy, Lucy! Hãy nói cho tôi biết ý nghĩa của chuyện này xem nào.
– Chẳng có bí mật gì đâu, tôi đảm bảo đấy. M. Emanuel rất khó tính, và bởi vì tôi nhìn vào tay áo khoác của cậu thay vì nhún gối cúi chào lão, lão nghĩ tôi thiếu tôn trọng.
– Gã lùn – Tiến sĩ John bắt đầu nói: tôi không biết cậu ấy định nói thêm gì nữa, vì đúng lúc đó tôi suýt bị xô ngã xuống dưới chân đám đông. M. Paul đã thô lỗ chen qua và đang huých cùi chỏ mở đường với sự bất chấp hoàn toàn đến sự thoải mái và an toàn của mọi người xung quanh, hậu quả là tạo ra một sức ép rất khó chịu.
– Tôi nghĩ lão ta chính là kiểu người mà bản thân lão gọi là “đáng ghét” (“méchant”), – Tiến sĩ Bretton nói. Tôi cũng nghĩ vậy.
Chậm chạp và khó khăn, chúng tôi lách qua hành lang và cuối cùng cũng lấy lại được chỗ ngồi của mình. Lượt rút thăm kéo dài gần một giờ; đó là một khung cảnh sôi động và thú vị; và vì mỗi người chúng tôi đều giữ vé, chúng tôi cùng chia sẻ những đợt thăng trầm của hy vọng và sợ hãi do mỗi lần quay bánh xe mang lại. Hai bé gái, năm và sáu tuổi, rút các con số; và các giải thưởng được xướng lên từ bệ biểu diễn một cách trang trọng. Những giải thưởng này rất nhiều, dù giá trị nhỏ. Tình cờ là Tiến sĩ John và tôi mỗi người trúng một giải: của tôi là một chiếc hộp đựng xì gà, của cậu ấy là chiếc mũ trùm đầu của phụ nữ – một dạng khăn xếp màu xanh và bạc vô cùng bồng bềnh, với dải ruy băng lông vũ rủ xuống một bên, giống như một đám mây tuyết. Cậu ấy vô cùng khao khát được đổi cho tôi, nhưng tôi không đời nào chịu nghe lý lẽ, và cho đến tận ngày nay tôi vẫn giữ chiếc hộp đựng xì gà đó: khi nhìn ngắm nó, nó giúp tôi nhớ về những ngày xưa cũ, và một buổi tối hạnh phúc.
Về phần mình, Tiến sĩ John cầm chiếc khăn xếp bằng hai ngón tay giơ ra xa hết cỡ, nhìn nó với tâm trạng hỗn độn giữa sự kính trọng và lúng túng gây buồn cười tột độ. Ngắm chán chê, cậu ta định thản nhiên vứt cái cấu trúc mỏng manh đó xuống sàn nhà giữa hai chân mình; cậu ta dường như chẳng có mảy may ý niệm nào về việc nó nên được đối xử hay cất giữ ra sao: nếu mẹ cậu không đến giải cứu, tôi nghĩ cuối cùng cậu sẽ vò nát nó dưới cánh tay mình giống như chiếc mũ opera; bà đã trả lại nó vào chiếc hộp đựng mũ vốn sinh ra dành cho nó.
Graham tỏ ra vô cùng phấn chấn suốt buổi tối, và sự phấn chấn của cậu có vẻ tự nhiên, không hề gượng ép. Phong thái, ánh mắt của cậu không dễ gì miêu tả; có cái gì đó rất đặc biệt và nguyên bản ở trong đó. Tôi đọc được ở đó sự làm chủ tuyệt vời đối với cảm xúc và một nguồn sức mạnh sâu sắc, lành mạnh, không cần tốn chút sức lực kiệt quệ nào mà vẫn đè bẹp được Nỗi thất vọng và rút đi nanh độc của nó. Phong thái của cậu lúc này gợi cho tôi nhớ đến những phẩm chất tôi từng nhận thấy ở cậu khi làm việc nghề nghiệp giữa những người nghèo khổ, tội lỗi và đau khổ ở Basse-Ville: cậu trông vừa quyết đoán, vừa nhẫn nại, lại vừa điềm đạm. Ai mà không yêu mến cậu cho được? Cậu không hề bộc lộ sự yếu đuối nào khiến mọi cảm xúc của bạn phải phiền muộn với những suy tính về việc liệu sự suy sụp đó phải được chống đỡ ra sao; từ cậu không trào ra sự cáu kỉnh nào làm giật mình sự bình yên và dập tắt niềm vui; đôi môi cậu không thốt ra lời cay độc nào đốt cháy đến tận xương; ánh mắt cậu không phóng ra những mũi tên ủ rột lạnh lẽo, gỉ sét và tẩm độc xuyên qua trái tim bạn; bên cạnh cậu là sự bình yên và chốn nương thân – xung quanh cậu là ánh nắng ấm áp dưỡng nuôi.
Và thế mà cậu vẫn chưa tha quên hay tha thứ cho tiểu thư Fanshawe. Một khi đã nổi giận, tôi nghi ngờ liệu Tiến sĩ Bretton có dễ dàng được làm cho nguôi giận hay không – một khi đã xa lánh, liệu cậu có bao giờ được kéo về hay không. Cậu nhìn cô ta không chỉ một lần; không phải lén lút hay hèn m hạ, mà bằng một cử động quan sát thẳng thắn, táo bạo. De Hamal giờ đây đã trở thành một vật cố định bên cạnh cô ta; bà Cholmondeley ngồi gần đó, và họ cùng bà hoàn toàn đắm chìm trong những cuộc trò chuyện, niềm vui và sự náo kích khiến cho những chiếc ghế nhung đỏ rộn ràng chẳng kém gì bất kỳ khu vực bình dân nào trong hội trường. Trong một cuộc tranh luận có vẻ sôi nổi nào đó, Ginevra đã giơ tay và cánh tay lên một hoặc hai lần. Chiếc vòng tay xinh đẹp lấp lánh trên cánh tay cô ta. Tôi thấy ánh kim loại đó chớp lóe trong mắt Tiến sĩ John – khuấy động trong đó một tia sáng chế giễu, tức giận; cậu bật cười:——
– Tôi nghĩ rằng, – cậu nói, – tôi sẽ đặt chiếc khăn xếp của mình lên bệ thờ dâng cúng quen thuộc; ít nhất ở đó, nó chắc chắn sẽ tìm được sự sủng ái: chẳng có cô gái thợ may nào lại dễ dãi nhận đồ hơn thế. Lạ thật! vì suy cho cùng, tôi biết cô ấy là một cô tiểu thư con nhà gia thế.
– Nhưng cậu đâu có biết về nền giáo dục của cô ta, Tiến sĩ John, – tôi nói. – Bị ném đi khắp nơi suốt cả cuộc đời từ trường ngoại quốc này sang trường ngoại quốc khác, cô ấy hoàn toàn có quyền đưa ra lời biện hộ là sự thiếu hiểu biết để giảm nhẹ phần lớn lỗi lầm của mình. Và hơn nữa, từ những gì cô ấy kể, tôi tin rằng cha mẹ cô ấy cũng được nuôi dạy theo kiểu giống như cô ấy vậy.
– Tôi vẫn luôn hiểu rằng cô ấy chẳng có gia tài gì; và có lúc tôi từng thấy vui vì ý nghĩ đó, – cậu nói.
– Cô ấy kể với tôi rằng, – tôi đáp, – nhà họ ở quê rất nghèo; cô ấy luôn nói chuyện khá thẳng thắn về những điểm đó; cậu sẽ không bao giờ thấy cô ấy nói dối như những kẻ ngoại quốc thường hay nói dối. Cha mẹ cô ấy có một gia đình đông đúc: họ chiếm giữ một địa vị và sở hữu những mối quan hệ mà, theo quan điểm của họ, đòi hỏi sự phô trương; hoàn cảnh túng thiếu ngặt nghèo và bản tính vô tư vốn có kết hợp lại đã đẻ ra sự vô lương tâm một cách liều lĩnh về việc làm sao để có được phương tiện duy trì vẻ bề ngoài tốt đẹp. Đây là tình trạng sự việc, và là tình trạng duy nhất mà cô ấy được chứng kiến từ thuở nhỏ cho đến nay.
– Tôi tin điều đó – và tôi từng nghĩ sẽ nhào nặn cô ấy thành một điều gì đó tốt đẹp hơn: nhưng, Lucy, nói thật lòng nhé, tối nay tôi đã cảm thấy một điều mới mẻ khi nhìn vào cô ấy và de Hamal. Tôi đã cảm thấy nó trước khi để ý đến sự xấc láo hướng về mẹ tôi. Tôi thấy một cái nhìn trao đổi giữa họ ngay sau khi họ bước vào, điều đó rọi một thứ ánh sáng cực kỳ khó chịu vào tâm trí tôi.
– Ý cậu là sao? Cậu đã biết từ lâu về việc họ tán tỉnh nhau mà?
– À, tán tỉnh! Đó có thể là một chiêu trò ngây thơ của thiếu nữ để dụ dỗ người tình đích thực; nhưng điều tôi nhắc tới không phải là tán tỉnh: đó là một cái nhìn đánh dấu sự ngầm hiểu lẫn nhau và đầy bí mật – nó chẳng có vẻ thiếu nữ cũng chẳng ngây thơ chút nào. Không một người phụ nữ nào, dù đẹp tựa Aphrodite, kẻ có thể trao hay nhận một ánh mắt như thế, lại được tôi cầu hôn: thà tôi cưới một cô thôn nữ mặc váy ngắn và đội mũ cao – còn hơn, và chắc chắn rằng cô ta trung thực.
Tôi không kìm được nụ cười. Tôi cảm thấy chắc chắn rằng cậu đang phóng đại vấn đề lên: Ginevra, tôi quả quyết, dẫu có bồng bột đến đâu thì vẫn đủ sự trung thực. Tôi nói với cậu ấy điều đó. Cậu lắc đầu, bảo rằng cậu sẽ không phải là kẻ khờ dại đem danh dự của mình ra để tin tưởng cô ta.
– Điều duy nhất, – tôi nói, – mà cậu có thể an tâm tin tưởng cô ta. Cô ta có thể vô tình làm tổn hại đến ví tiền và tài sản của người chồng, liều lĩnh thử thách sự kiên nhẫn và tính khí của anh ta: nhưng tôi không nghĩ cô ta sẽ làm vấy bẩn, hay để người khác làm vấy bẩn danh dự của anh ta đâu.
– Cậu đang trở thành luật sư bênh vực cho cô ấy rồi đấy, – cậu nói. – Cậu có muốn tôi xỏ lại chiếc xiềng xích cũ không?
– Không: tôi rất vui khi thấy cậu được tự do, và hy vọng rằng cậu sẽ còn tự do lâu dài. Tuy nhiên, đồng thời hãy công bằng đi chứ.
– Tôi công bằng đây: công bằng như Rhadamanthus ấy, Lucy. Một khi đã hoàn toàn xa lánh, tôi không thể tránh khỏi việc trở nên cay nghiệt. Nhưng kìa! Nhà vua và Hoàng hậu đang đứng dậy. Tôi thích vị Hoàng hậu đó: bà ấy có một khuôn mặt hiền hậu. Má cũng cực kỳ mệt rồi; chúng ta sẽ chẳng bao giờ đưa được bà già về nhà nếu cứ ở lại lâu hơn nữa.
– Tôi mệt á, John? – bà Bretton kêu lên, trông có vẻ hào hứng và tỉnh táo chẳng kém gì con trai mình. – Mẹ dám cá cược là mẹ vẫn có thể ngồi thi với con đấy: cứ để cả hai chúng ta ở lại đây cho đến sáng, và chúng ta sẽ xem ai là kẻ trông phờ phạc nhất khi mặt trời mọc.
– Con không muốn thử thí nghiệm đó đâu; vì thực ra, má ạ, má là loài cây thường xanh bất tử và là vị phu nhân tươi tắn nhất. Vậy thì đành phải lấy lý do thần kinh mỏng manh và thể trạng mong manh của đứa con trai này để đưa ra thỉnh cầu chúng ta nhanh chóng cáo lui thôi.
– Cái thằng con lười biếng này! Chắc chắn con đang muốn lên giường ngủ rồi chứ gì, và ta đoán là chiều theo con thôi. Kìa có cả Lucy nữa, trông phờ phạc hẳn ra. Xấu hổ thay, Lucy! Ở tuổi của con, một tuần đi chơi tối sẽ chẳng làm cho mặt má nhạt đi một ly nào đâu. Cả hai mau đứng dậy ra về đi; và các con có thể cười nhạo bà già này bao nhiêu tùy thích, nhưng về phần mình, ta sẽ tự tay lo chiếc hộp đựng mũ và cái khăn xếp.
Và bà đã làm đúng như vậy. Tôi đề nghị giúp đỡ nhưng bị từ chối bằng một sự coi khinh đầy thân ái: bà đỡ đầu cho rằng tôi đã đủ việc để tự chăm sóc bản thân rồi. Giờ thì không cần giữ lễ nghi gì nữa, giữa khung cảnh “sự hỗn độn tồi tệ hơn cả hỗn độn” đầy vui tươi nối tiếp sau sự ra đi của Nhà vua và Hoàng hậu, bà Bretton đi trước chúng tôi, nhanh chóng mở ra một lối đi giữa đám đông. Graham đi theo sau, gọi mẹ mình là cô thợ may phơi phới nhất mà cậu từng may mắn thấy phụ trách việc mang hộp đựng mũ; cậu cũng giục tôi ghi nhận tình yêu của bà dành cho chiếc khăn xếp màu xanh da trời, đồng thời tuyên bố niềm tin chắc chắn rằng một ngày nào đó bà dự định sẽ đội nó.
Trời lúc này đã rất lạnh và tối đen như mực, nhưng chẳng mấy chốc chúng tôi đã tìm thấy xe ngựa. Chẳng mấy chốc chúng tôi đã được xếp gọn gàng trong xe, ấm áp và ấm cúng hệt như bên lò sưởi; và chuyến đi xe về nhà, tôi nghĩ, còn dễ chịu hơn cả chuyến đi đến buổi hòa nhạc. Nó dễ chịu thật đấy, ngay cả khi người đánh xe – sau khi la cà ở quán rượu (“marchand de vin”) một khoảng thời gian chúng tôi ở buổi hòa nhạc – đã chở chúng tôi chạy dọc theo con đường lớn tối tăm và vắng vẻ vượt qua cả lối rẽ dẫn xuống La Terrasse; chúng tôi, những người mải mê trò chuyện và cười đùa, đã không nhận ra sự đi lạc đó cho đến tận khi, cuối cùng, bà Bretton lên tiếng bóng gió rằng, dẫu bà vẫn luôn nghĩ trang viên là một chốn quạnh hiu, bà không hề biết nó nằm ở tận cùng thế giới như những gì bà tuyên bố lúc này, bởi bà tin rằng chúng tôi đã lê la trên đường suốt một tiếng rưỡi mà vẫn chưa rẽ vào đại lộ.
Lúc bấy giờ Graham mới ngó đầu ra ngoài, và chỉ nhận ra những cánh đồng mờ mịt trải dài, với những hàng cây dương và cây đoạn lạ lẫm mọc dọc theo những rãnh hào chìm vốn chẳng thể nhìn thấy rõ, bèn bắt đầu phỏng đoán sự tình, rồi ra lệnh dừng xe và trèo xuống, tự mình leo lên ghế đánh xe và cầm lấy dây cương. Nhờ có cậu ấy, chúng tôi đã về đến nhà an toàn, trễ hơn dự định khoảng một tiếng rưỡi.
Martha đã không quên chúng tôi; một ngọn lửa vui tươi đang bùng cháy, và một bữa tối gọn gàng được bày biện trong phòng ăn: chúng tôi mừng rỡ đón nhận cả hai. Bình minh mùa đông thực sự đang ló dạng trước khi chúng tôi về đến phòng mình. Tôi cởi chiếc váy hồng và chiếc áo choàng ren ra với cảm giác hạnh phúc hơn nhiều so với lúc mặc chúng vào. Không phải tất cả những ai từng tỏa sáng rực rỡ trong trang phục lộng lẫy tại buổi hòa nhạc đó đều có thể nói được điều tương tự; bởi không phải ai cũng thỏa mãn với tình bạn – với sự thoải mái tĩnh lặng và niềm hy vọng khiêm nhường của nó.