Hôm nay là ngày đầu tiên của tháng Ba. Khi tỉnh giấc, thức dậy và vén rèm cửa, tôi nhìn thấy ánh mặt trời le lói qua lớp sương mù. Ngay trên đầu tôi, vượt qua những mái nhà, cao gần như ngang với những tầng mây, là một khối cầu uy nghiêm, sẫm tối và mờ ảo—MÁI VÒM. Trong lúc tôi ngắm nhìn, tâm hồn bên trong tôi như chuyển động; tinh thần tôi khẽ vỗ đôi cánh vẫn thường bị xiềng xích; tôi bỗng dâng trào một cảm giác như thể chính mình, kẻ chưa bao giờ thực sự sống, cuối cùng sắp được nếm trải hương vị cuộc đời. Vào buổi sáng hôm ấy, tâm hồn tôi lớn nhanh như dây bầu của Jonah.
“Ta đã làm đúng khi đến đây,” tôi tự nhủ, rồi nhanh chóng và cẩn thận chỉnh đốn trang phục. “Ta thích cái tinh thần của thành Luân Đôn vĩ đại này mà ta cảm nhận được xung quanh mình. Kẻ hèn nhát nào lại muốn chôn vùi cả cuộc đời trong những chòm xóm nhỏ bé, để rồi mãi mãi phó mặc năng lực của bản thân cho sự gỉ sét của chốn vô danh?”
Chỉnh trang xong, tôi bước xuống lầu; không hề mệt mỏi hay rệu rã vì đường sá, mà gọn gàng và tỉnh táo. Khi người phục vụ mang bữa sáng vào, tôi liền cất lời chào hỏi anh một cách điềm đạm nhưng niềm nở; chúng tôi trò chuyện trong mười phút, và qua đó, hai bên đã có được sự làm quen cần thiết.
Anh là một người đàn ông lớn tuổi tóc đã điểm bạc, có vẻ như đã làm việc tại quán trọ này được hai mươi năm. Nắm được điều đó, tôi chắc chắn rằng anh phải nhớ hai người chú của tôi là Charles và Wilmot, những vị khách thường xuyên lui tới đây vào mười lăm năm trước. Tôi nhắc đến tên họ; anh lập tức hồi tưởng lại một cách hoàn toàn chính xác và đầy tôn sùng. Khi tôi hé lộ mối quan hệ của mình, vị thế của tôi trong mắt anh từ đó trở nên rõ ràng và đúng mực. Anh bảo tôi rất giống chú Charles: chắc là anh nói thật, bởi phu nhân Barrett vẫn thường nói y như vậy. Sự nhã nhặn sẵn lòng giúp đỡ giờ đây đã thay thế cho thái độ hoài nghi có phần khó chịu ban đầu của anh; từ nay, tôi không còn phải loay hoay tìm một câu đáp lễ lịch sự cho một câu hỏi hợp tình hợp lý nữa.
Căn phố nơi khung cửa sổ phòng khách nhỏ của tôi nhìn ra vốn hẹp, hoàn toàn yên tĩnh và không hề bừa bộn: lác đác vài người qua lại đúng như những gì người ta thường thấy ở các thị trấn tỉnh lẻ; chẳng có điều gì đáng sợ ở đây cả; tôi cảm thấy mình hoàn toàn có thể tự tin một mình bước ra ngoài.
Dùng xong bữa sáng, tôi bước ra phố. Trong lòng tràn ngập niềm hân hoan và thích thú: việc được một mình đi dạo ở Luân Đôn tựa như một cuộc phiêu lưu thực thụ. Chẳng mấy chốc, tôi thấy mình đang ở Paternoster Row—một vùng đất mang đậm dấu ấn văn chương. Tôi bước vào một hiệu sách do một người tên Jones làm chủ: tôi mua một cuốn sách nhỏ—một sự hoang phí mà tôi khó lòng kham nổi; nhưng tôi nghĩ rằng có lẽ một ngày nào đó mình sẽ đem tặng hoặc gửi nó cho phu nhân Barrett. Ông Jones, một con người khô khan vì thương trường, đứng sau quầy tính tiền: ông trông giống như một trong những nhân vật vĩ đại nhất, còn tôi là một trong những sinh linh hạnh phúc nhất cuộc đời.
Khối lượng trải nghiệm sống mà tôi thu nhận được trong buổi sáng hôm đó thật phi thường. Thấy mình đang đứng trước nhà thờ St. Paul, tôi bước vào; tôi leo lên tận mái vòm: từ đó tôi nhìn ngắm Luân Đôn với dòng sông, những cây cầu và các ngôi nhà thờ; tôi nhìn thấy khu Westminster cổ kính, cùng những khu vườn Temple xanh mướt ngập tràn ánh nắng, phía trên là bầu trời xanh ngắt của đầu mùa xuân; và lơ lửng giữa chúng là một lớp sương mù mỏng nhẹ, không quá dày đặc.
Khi bước xuống, tôi lang thang theo những ngã rẽ tình cờ trong nỗi ngây ngất tĩnh lặng của sự tự do và tận hưởng; và rồi tôi đến được—tôi cũng chẳng hiểu bằng cách nào—trái tim của nhịp sống đô thị. Cuối cùng tôi cũng nhìn thấy và cảm nhận được Luân Đôn: tôi bước vào con phố Strand; tôi đi lên Cornhill; tôi hòa mình vào dòng người qua lại; tôi dám thử thách sự hiểm nguy khi băng qua đường. Làm được điều đó, và làm một cách hoàn toàn cô độc, mang lại cho tôi một niềm vui thực sự, dẫu có lẽ nó chẳng mấy lý trí. Kể từ những ngày đó, tôi đã từng đặt chân đến khu Tây, những công viên, những quảng trường tráng lệ; thế nhưng tôi vẫn yêu khu phố cổ này hơn rất nhiều. Thành phố ấy dường như mang nhiều tâm huyết hơn: công việc, sự hối hả, tiếng gầm rú của nó đều là những sự việc, cảnh sắc và âm thanh vô cùng nghiêm túc. Khu phố cổ đang kiếm sống—còn khu Tây chỉ biết hưởng thụ cuộc vui. Ở khu Tây, bạn có thể tìm thấy sự tiêu khiển, nhưng chính tại nơi chốn thị thành này, bạn mới thực sự bị cuốn vào những xúc cảm mãnh liệt.
Cuối cùng, cảm thấy mệt lả và đói cồn cào (đã mấy năm rồi tôi mới lại cảm nhận được cơn đói lành mạnh đến thế), tôi quay trở lại quán trọ u tối, cổ kính và yên tĩnh của mình vào khoảng hai giờ. Tôi ăn bữa trưa gồm hai món—một phần thịt luộc đơn giản và rau củ; món nào cũng ngon tuyệt: mới mẻ làm sao so với những phần ăn nhỏ nhặt, cầu kỳ mà đầu bếp của cô Marchmont từng mang lên cho người chủ quá cố nhân hậu của tôi và tôi, thứ mà dẫu gộp cả hai đứa lại, chúng tôi cũng chẳng tài nào nuốt nổi nửa phần thèm thuồng! Trong cơn mệt mỏi đầy khoan khoái, tôi nằm dài trên ba chiếc ghế trong suốt một giờ đồng hồ (căn phòng chẳng có lấy nổi một chiếc ghế sô-pha). Tôi ngủ thiếp đi, rồi tỉnh dậy và trầm ngâm suy nghĩ suốt hai tiếng đồng hồ.
Tâm trạng lúc bấy giờ của tôi, cùng với mọi hoàn cảnh xung quanh, vô cùng thuận lợi cho việc đưa ra một quyết định hành động mới mẻ, kiên quyết và táo bạo—có lẽ là cả liều lĩnh nữa. Tôi chẳng còn gì để mất. Nỗi ghê tởm khôn tả đối với một sự tồn tại cô lập trong quá khứ đã tước đi con đường quay trở lại. Nếu tôi thất bại trong những gì mình sắp sửa dấn thân, thì ngoài bản thân tôi ra, ai sẽ là kẻ phải gánh chịu đau khổ? Nếu tôi ngã xuống ở một nơi xa xôi—tôi suýt định thốt lên từ "quê hương", nhưng tôi nào có quê hương—xa nước Anh, thì ai sẽ là người rơi lệ vì tôi?
Tôi có thể chịu đựng đau khổ; tôi đã quen với những đọa đày: bản thân cái chết, ngẫm lại, cũng chẳng mang lại cho tôi những nỗi kinh hoàng như đối với những kẻ từ nhỏ đã được nuông chiều trong nhung lúa. Trước nay, tôi vẫn luôn nhìn ngắm ý niệm về cái chết bằng một ánh mắt bình thản. Thế nên, đã sẵn sàng đón nhận mọi hậu quả, tôi vạch ra một kế hoạch.
Cũng ngay buổi tối hôm đó, tôi dò hỏi người phục vụ quen thuộc về lịch trình hải trình của các con tàu hướng tới một cảng biển lục địa nào đó, Boue-Marine. Tôi nhận ra không thể chần chừ thêm phút nào nữa: ngay trong đêm nay, tôi phải đặt chỗ trên tàu. Thực ra, tôi có thể đợi đến sáng hôm sau rồi mới lên tàu, nhưng tôi không muốn mỉnh may rủi đối mặt với nguy cơ bị muộn giờ.
“Tốt hơn là cô nên đặt chỗ ngay đi, thưa phu nhân,” người phục vụ khuyên nhủ. Tôi đồng ý với anh, và sau khi thanh toán hóa đơn, đồng thời hậu tạ công sức của người bạn vong niên này bằng một khoản tiền mà giờ đây tôi biết là hào phóng đến mức nào, và trong mắt anh chắc hẳn nó phải vô cùng hoang đường—quả thực, khi nhét số tiền vào túi, anh nở một nụ cười nhạt hàm ý đánh giá về độ sành sỏi của người hào phóng—anh liền tiến ra gọi một cỗ xe ngựa. Anh cũng căn dặn người đánh xe cẩn thận, đồng thời dặn dò việc đưa tôi đến thẳng bến tàu, tôi nghĩ thế, và không để tôi rơi vào tay đám chèo thuyền thuê; viên chức đánh xe hứa sẽ tuân thủ, nhưng rồi lại nuốt lời: trái lại, tôi đã bị hắn đem ra làm vật tế thần, đối xử như một miếng thịt quay mỡ màng khi hắn thả tôi xuống giữa một đám đông chèo thuyền ô hợp.
Đó là một tình huống ngặt nghèo và khó chịu. Trời tối như mực. Gã đánh xe vừa nhận xong tiền công liền vội vã quất ngựa phóng đi ngay lập tức. Đám người chèo thuyền lao vào tranh giành tôi và chiếc rương của tôi. Những lời thồi chửi rủa của bọn chúng vang lên bên tai tôi ngay lúc này đây: chúng làm lung lay triết lý sống của tôi hơn cả màn đêm, sự cô lập hay vẻ kỳ lạ của khung cảnh ấy. Một kẻ đã chộp lấy chiếc rương của tôi. Tôi đứng nhìn và chờ đợi trong yên lặng; nhưng khi một kẻ khác nhào tới túm lấy tôi, tôi liền lên tiếng, hất phạn bàn tay hắn ra, bước thẳng lên một chiếc thuyền, nghiêm nghị yêu cầu đặt chiếc rương lại bên cạnh mình—“Ngay chỗ đó,”—và yêu cầu được thực hiện ngay lập tức; bởi chủ nhân của chiếc thuyền tôi vừa chọn giờ đây đã trở thành đồng minh: tôi được chèo ra khơi.
Dòng sông đen kịt như một vòi mực; những đốm lửa hắt lên từ các dãy nhà xung quanh, những con tàu tròng trành trên lồng ngực sóng nước. Họ chèo đưa tôi lướt qua mấy chiếc tàu; tôi căng mắt đọc dưới ánh đèn lồng những cái tên được sơn bằng những chữ cái trắng toát trên nền phông tối sẫm. “The Ocean,” “The Phoenix,” “The Consort,” “The Dolphin” lần lượt lướt qua; thế nhưng “The Vivid” mới chính là con tàu của tôi, và có vẻ như nó nằm ở phía hạ lưu xa hơn nữa.
Lướt đi giữa dòng nước đen thẫm, tôi lại liên tưởng đến dòng sông Styx, và lão Charon đang chèo chống một linh hồn cô độc tới Vùng Đất của Những Bóng Ma. Giữa không gian kỳ lạ ấy, với cơn gió lạnh buốt thổi thốc vào mặt và những đám mây nửa đêm rỏ hạt mưa rơi trên đỉnh đầu; cùng với hai gã chèo thuyền thô lỗ làm bạn đồng hành, những lời thề thốt điên rồ của chúng vẫn cứ tra tấn màng nhĩ tôi, tôi tự hỏi liệu mình có đang khốn khổ hay hoảng sợ hay không. Tôi chẳng hề rơi vào trạng thái nào cả. Đã bao lần trong đời tôi còn cảm thấy tồi tệ hơn thế rất nhiều trong những hoàn cảnh vốn dĩ an toàn hơn so với lúc này. “Sao lại thế nhỉ?” tôi tự nhủ. “Hình như ta đang tràn đầy sinh lực và sự tỉnh táo, thay vì chán nản và lo âu?” Tôi không sao cắt nghĩa nổi tại sao lại như vậy.
Cuối cùng, con tàu “THE VIVID” hiện ra trắng phau và chói lọi giữa màn đêm đen kịt.—“Tới nơi rồi cô nhé!” gã chèo thuyền thông báo, và ngay lập tức đòi sáu đồng shilling.
“Anh đòi quá tay rồi đấy,” tôi nói. Hắn lùi thuyền ra xa khỏi mạn tàu và thề thấu trời rằng hắn sẽ không để tôi lên tàu cho đến khi tôi chịu trả đủ số tiền đó. Một thanh niên trẻ tuổi, mà sau này tôi mới biết là tiếp viên tàu, đang nghếch nhìn qua mạn tàu; hắn cười tủm tỉm đầy vẻ mong đợi màn đụng độ sắp diễn ra; để làm hắn thất vọng, tôi liền trả tiền luôn. Mới chiều hôm đó thôi, tôi đã phải vung ra những đồng vương miện quý giá ở những nơi lẽ ra tôi chỉ phải trả vài đồng shilling; nhưng tôi tự an ủi mình bằng một suy nghĩ: “Đó chính là cái giá của sự trải đời.”
“Bọn chúng lừa cô đấy!” gã tiếp viên thốt lên đầy đắc ý khi tôi vừa bước lên boong tàu. Tôi điềm nhiên đáp rằng “Tôi biết chứ,” rồi đi xuống khoang dưới.
Một người phụ nữ lực lưỡng, xinh đẹp và phô trương đang có mặt trong khoang dành cho nữ. Tôi yêu cầu được chỉ chỗ nằm của mình; bà ta nhìn chằm chằm vào tôi, lầm bầm vài câu về chuyện thật bất thường khi hành khách lại lên tàu vào giờ giấc này, và tỏ vẻ chẳng mấy thiện cảm. Gì mà cái khuôn mặt ấy cơ chứ—vừa ưa nhìn—vừa xấc láo lại vừa ích kỷ làm sao!
“Bây giờ tôi đã lên tàu rồi, chắc chắn tôi sẽ ở lại đây,” câu trả lời của tôi vang lên dứt khoát. “Phiền bà chỉ chỗ nằm cho tôi cái.”
Bà ta đành tuân theo, nhưng với vẻ mặt đầy hằn học. Tôi cởi mũ, sắp xếp lại đồ đạc rồi ngả lưng xuống. Vài khó khăn đã lùi lại phía sau; một dạng chiến thắng nho nhỏ đã giành được: tâm trí lang thang, vô định và không chỗ bấu víu của tôi lại có được khoảnh khắc ngắn ngủi để nghỉ ngơi. Cho đến khi con tàu “Vivid” cập bến cảng, tôi sẽ chẳng phải nhúc nhích làm gì nữa; nhưng rồi…. Ồ! Tôi không dám nghĩ xa hơn. Vừa mệt mỏi rã rời, vừa kiệt sức, tôi nằm lả đi trong trạng thái nửa mê nửa tỉnh.
Nữ tiếp viên trò chuyện suốt cả đêm; không phải với tôi mà với gã tiếp viên trẻ tuổi, con trai bà và cũng là bản sao hoàn hảo của bà. Hắn ra vào khoang liên tục: họ tranh cãi, họ cãi vã, rồi lại làm hòa với nhau đến tận hai mươi lần trong suốt đêm đó. Bà ta tuyên bố mình đang viết thư về nhà—bà bảo là gửi cho cha mình; bà đọc lớn từng đoạn trong bức thứ, phớt lờ tôi chẳng khác nào khúc gỗ—có lẽ bà tưởng tôi đã ngủ say. Vẻ như nhiều đoạn trong số đó chứa đựng những bí mật gia đình, đề cập đặc biệt đến một cô “Charlotte”, một người em gái út qua nội dung bức thư dường như đang đứng trước bờ vực thực hiện một cuộc hôn nhân lãng mạn nhưng thiếu suy nghĩ; tiếng phản đối của người phụ nữ lớn tuổi này đối với cuộc hôn nhân chướng tai gai mắt ấy vang lên vô cùng đanh thép. Người con trai hiếu thảo cười chế giễu những dòng thư từ của mẹ mình. Bà bênh vực nó, rồi lại gào thét vào mặt hắn. Họ quả là một cặp đôi kỳ quặc. Bà ta chắc chừng ba mươi chín hoặc bốn mươi tuổi, vậy mà vẫn phơi phới và đầy đặn như một cô gái đôi mươi. Vừa cứng cỏi, ồn ào, kiêu ngạo lại vừa thô tục, cả tâm hồn lẫn thể xác của bà ta trông như đúc bằng đồng thau và chẳng thể nào tàn phai. Tôi đoán rằng từ nhỏ bà ta đã quen sống chốn náo nhiệt công cộng; và thời thanh xuân rất có thể từng là một cô hầu bàn quán rượu.
Gần sáng, câu chuyện của bà ta chuyển sang một chủ đề mới: “gia đình Watsons”, một nhóm hành khách dự kiến sẽ lên tàu mà bà ta quen biết, và có vẻ như rất mực kính trọng bởi những khoản tiền boa hậu hĩnh mà họ mang lại. Bà ta bảo rằng, “Cứ mỗi lần gia đình này qua đây là đời bà lại phất lên như trúng quả.”
Đến rạng đông, mọi người bắt đầu rộn ràng, và khi mặt trời mọc thì hành khách đã lên hết boong tàu. Sự đón tiếp nồng nhiệt đến náo động được nữ tiếp viên dành cho gia đình “Watsons”, và sự tất bật diễn ra để tôn vinh họ lớn lao làm sao. Họ có bốn người, gồm hai nam và hai nữ. Ngoài họ ra, chỉ còn duy nhất một hành khách khác—một tiểu thư trẻ tuổi, được tháp tùng bởi một người đàn ông trông rất lịch thiệp dẫu phảng phất nét uể oải. Hai nhóm người tạo ra một sự tương phản rõ rệt. Gia đình Watsons đích thực là những kẻ giàu có, bởi dáng vẻ của họ toát lên sự tự tin của một khối tài sản hiển h hiện; những người phụ nữ—cả hai đều còn rất trẻ, và một người sở hữu vẻ đẹp thể hình hoàn mỹ—diện trang phục lộng lẫy, sặc sỡ và lố bịch đến mức chẳng phù hợp chút nào với hoàn cảnh. Những chiếc mũ gắn hoa rực rỡ, những chiếc áo choàng nhung và váy lụa của họ trông có vẻ hợp với công viên hay những buổi dạo phố hơn là trên một boong tàu ẩm ướt. Những người đàn ông thì thấp lùn, thô kệch, béo ú và tục tằn; kẻ lớn tuổi nhất, phàm tục nhất, nhếch nhác nhất và bè ngang nhất, chẳng mấy chốc tôi nhận ra chính là người chồng—có lẽ là chú rể, bởi vì cô ta còn rất trẻ—của vị tiểu thư xinh đẹp nọ. Cơn kinh ngạc của tôi dâng trào tột độ khi phát hiện ra điều đó; và sự kinh ngạc ấy càng sâu sắc hơn nữa khi tôi nhận ra rằng thay vì đau khổ tuyệt vọng trong một cuộc hôn nhân như thế, cô ta lại vui vẻ đến mức ngớ ngẩn. “Tiếng cười của cô ta,” tôi thầm nghĩ, “chắc hẳn chỉ là thứ sự điên rồ của kẻ cùng đường.” Và ngay trong khoảnh khắc ý nghĩ đó lướt qua tâm trí tôi, khi tôi đang đứng tựa người lặng lẽ và cô độc bên mạn tàu, cô ta bước tới chỗ tôi với vẻ tung tăng, một người hoàn toàn xa lạ, tay cầm chiếc ghế gấp, nở một nụ cười mà sự phù phiếm của nó vừa khiến tôi bối rối vừa giật mình, dù nó để lộ một hàm răng hoàn hảo không tì vết, cô nhã ý nhường chiếc ghế ấy cho tôi. Đương nhiên tôi từ chối, với tất cả sự lịch thiệp mà tôi có thể dồn vào thái độ của mình; cô ta nhún nhảy bỏ đi, vô tư và nhẹ nhõm. Cô ta hẳn là một người tốt bụng; thế nhưng điều gì đã khiến cô ta kết hôn với cái con người trông ít nhất giống một thùng dầu hơn là một người đàn ông cơ chứ?
Nữ hành khách còn lại, đi cùng người bạn đồng hành nam giới, hãy còn là một thiếu nữ, xinh xắn và có làn da trắng ngát: bộ váy in hoa giản dị, chiếc mũ rơm không viền trang trí cùng chiếc khăn choàng lớn được quàng một cách duyên dáng tạo nên một bộ trang phục mộc mạc đến mức giống như phái Quaker: thế nhưng, lại vô cùng phù hợp với cô. Trước khi người đàn ông rời đi, tôi quan sát thấy anh ta đảo mắt rà soát khắp lượt hành khách, như thể muốn xác định xem người được mình bảo bọc sẽ phải ở lại với những thành phần nào. Ánh mắt anh ta quay phắt đi với một vẻ vô cùng bất mãn khi nhìn lướt qua những người phụ nữ mang những bông hoa sặc sỡ; anh ta nhìn về phía tôi, rồi nói gì đó với cô con gái, cháu gái, hay bất kỳ mối quan hệ nào của cô bé: cô bé cũng liếc về hướng tôi, và khẽ cong cái môi chúm chím xinh xắn của mình lên. Có lẽ là vì chính bản thân tôi, hoặc cũng có thể vì bộ trang phục tang lễ mộc mạc của tôi, đã khơi gợi nên dấu hiệu khinh miệt ấy; mà khả năng cao là cả hai điều đó. Tiếng chuông reo lên; người cha của cô (sau này tôi mới biết đó là cha cô) hôn tạm biệt cô và quay trở lại bờ. Tàu nhổ neo.
Người nước ngoài thường bảo rằng chỉ có những thiếu nữ Anh quốc mới dám một mình đi du lịch như thế, và sự ngạc nhiên của họ trước lòng dũng cảm đầy tự tin của các bậc phụ huynh cũng như người giám hộ xứ sở sương mù là vô cùng sâu sắc. Còn về phần các “jeunes Meess”, sự gan dạ của họ bị một số người phán xét là mang tính đàn ông và “kém duyên”, trong khi những người khác lại coi họ như những nạn nhân thụ động của một hệ thống giáo dục và thần học tùy tiện vứt bỏ đi sự “giám sát” đúng đắn. Liệu vị tiểu thư trẻ tuổi cụ thể này có thuộc tuýp người có thể an tâm để mặc một mình hay không, tôi không hay biết; hay đúng hơn là lúc đó chưa biết; nhưng chẳng mấy chốc liền lộ rõ vẻ rằng sự uy nghiêm của chốn cô độc chẳng hề lọt vào mắt xanh của cô ta.
Cô ta rảo bước trên boong tàu một hai bận qua lại; cô ta liếc nhìn với chút ít vẻ kiêu kỳ chua chát vào những tấm lụa là nhung gấm diêm dúa cùng những gã đàn ông thô kệch vây quanh chúng, và cuối cùng thì cô ta cũng tiến lại gần tôi và bắt chuyện.
“Cô có thích những chuyến hải trình trên biển không?” đó là câu hỏi của cô.
Tôi giải thích rằng tình yêu dành cho những chuyến hải trình biển của tôi vẫn còn phải trải qua sự thử thách của thực tế; tôi chưa từng đi biển bao giờ.
“Ôi, thật tuyệt vời làm sao!” cô kêu lên. “Tôi thực sự ghen tị với sự mới lạ của cô đấy: bạn biết đấy, những ấn tượng đầu tiên luôn vô cùng dễ chịu. Còn tôi, vì đã đi quá nhiều lần, tôi quên bén mất cảm giác lần đầu tiên ra sao rồi: tôi hoàn toàn chán ngấy biển khơi và mọi thứ đại loại thế.”
Tôi không sao kìm được nụ cười.
“Sao cô lại cười tôi?” cô thắc mắc, với một vẻ hờn dỗi bộc trực khiến tôi cảm thấy thiện cảm hơn là những lời nói khác của cô.
“Bởi vì cô còn quá trẻ để mà có thể cảm thấy chán ngấy bất cứ thứ gì.”
“Tôi mười bảy tuổi rồi đấy” (có chút tự ái).
“Trông cô khó mà được mười sáu. Cô có thích một mình đi du lịch không?”
“Xì! Tôi chẳng bận tâm đến điều đó. Tôi đã vượt qua Eo biển này mười lần rồi, một mình; nhưng bù lại tôi luôn cẩn thận để không bao giờ phải ở một mình quá lâu: tôi lúc nào cũng kết bạn.”
“Tôi nghĩ chuyến đi này cô khó lòng mà kết thân được với nhiều người đấy” (liếc nhìn nhóm người nhà Watson, lúc này đang cười nói và làm ầm ĩ cả một góc boong tàu).
“Không đời nào tôi kết bạn với đám đàn ông đàn bà đáng ghét đó,” cô bảo: “những kẻ như thế lẽ ra chỉ nên làm hành khách khoang hạng ba. Cô có đang đi học không?”
“Không.”
“Thế cô đi đâu?”
“Tôi chẳng có lấy một ý niệm nào cả—ít nhất là vượt qua cảng Boue-Marine.”
Cô ta trợn tròn mắt, rồi thản nhiên tuôn một mạch:
“Tôi đang đi học. Ôi, chẳng nhớ nổi trong đời tôi đã từng học ở bao nhiêu ngôi trường nước ngoài nữa! Thế mà tôi vẫn là một kẻ dốt đặc cán mai. Tôi chẳng biết gì sất—chẳng biết gì trên đời này cả—tôi thề với cô đấy; ngoại trừ việc tôi chơi đàn và khiêu vũ cực kỳ cừ khôi,—còn tiếng Pháp và tiếng Đức thì đương nhiên tôi biết nói rồi; nhưng tôi lại chẳng thể đọc hay viết chúng cho tử tế. Cô có biết là dạo trước họ bắt tôi dịch một trang sách tiếng Đức dễ ợt sang tiếng Anh mà tôi đành chịu chết không. Cha tôi đã vô cùng xấu hổ: ông bảo trông có vẻ như ngài M. de Bassompierre—cha đỡ đầu của tôi, người chi trả mọi hóa đơn học phí cho tôi—đã ném tiền qua cửa sổ. Rồi thì, trong các vấn đề kiến thức—như lịch sử, địa lý, toán học vân vân, tôi chẳng khác nào một đứa trẻ sơ sinh; và tôi viết tiếng Anh tệ khủng khiếp—cả chính tả lẫn ngữ pháp đều bị chê tơi bời. Đã thế tôi còn quên sạch cả tôn giáo của mình; người ta gọi tôi là tín đồ Tin Lành đấy, cô biết đấy, nhưng thực tình tôi cũng chẳng chắc mình có phải hay không: tôi chẳng phân biệt nổi sự khác biệt giữa Công giáo và Tin Lành. Tuy nhiên, tôi chẳng mảy may bận tâm đến điều đó. Đã có lần tôi là tín đồ Luteran ở Bonn—thành phố Bonn thân yêu!—Bonn quyến rũ!—nơi có biết bao nhiêu là sinh viên tuấn tú. Mọi cô gái xinh xắn ở trường chúng tôi đều có người theo đuổi; họ nắm rõ giờ giấc đi dạo của chúng tôi, và hầu như lúc nào cũng đi ngang qua chúng tôi trên lối đi dạo: ‘Schönes Mädchen,’ chúng tôi thường nghe họ thốt lên như thế. Tôi đã vô cùng hạnh phúc ở Bonn!”
“Và bây giờ cô đang ở đâu?” tôi hỏi.
“Ồ! Ở—chose,” cô đáp.
Này nhé, cô Ginevra Fanshawe (tên của thiếu nữ này chính là như vậy) chỉ dùng từ “chose” này để thay thế tạm thời khi chợt quên mất cái tên thực sự. Đó là một thói quen của cô: từ “chose” xuất hiện trong mọi ngóc ngách của cuộc trò chuyện—đó là từ thay thế vô cùng tiện lợi cho bất kỳ từ ngữ nào bị thiếu trong bất kỳ ngôn ngữ nào mà cô có dịp sử dụng vào thời điểm đó. Các cô gái Pháp thường hay làm thế; cô đã nhiễm thói quen đó từ họ. Tuy nhiên, trong trường hợp này, tôi nhận ra “chose” chính là Villette—thủ đô lớn của vương quốc Labassecour hùng mạnh.
“Cô có thích Villette không?” tôi hỏi.
“Cũng tạm ổn. Cô biết đấy, dân bản địa vô cùng đần độn và thô tục; nhưng bù lại có vài gia đình người Anh rất tử tế.”
“Cô đang học ở một trường nội trú à?”
“Vâng.”
“Trường tốt chứ?”
“Ồ, không đâu! Kinh khủng lắm: nhưng tôi được ra ngoài vào mọi Chủ nhật, và chẳng mảy may quan tâm đến các maîtresses (nữ giáo viên), professeurs (giám thị) hay élèves (học sinh) gì sất, cứ vứt đống bài tập au diable (ở tiếng Anh thì người ta không dám nói thế đâu, nhưng nói bằng tiếng Pháp nghe rất chuẩn); và cứ thế tôi sống phơi phới…. Cô lại cười tôi nữa à?”
“Không—tôi chỉ đang mỉm cười với những suy nghĩ của chính mình thôi.”
“Chúng là gì thế?” (Không đợi tôi trả lời)—“Nào, hãy nói cho tôi biết cô đang đi đâu đi.”
“Nơi nào số phận dẫn dắt tôi. Công việc của tôi là kiếm sống ở bất cứ nơi nào tôi tìm được.”
“Kiếm sống á!” (với vẻ hoảng hốt) “Thế ra cô nghèo lắm à?”
“Nghèo rách mồng tơi.”
(Sau một khoảng lặng) “Xì! Chán chết đi được! Nhưng tôi cũng thừa biết cảnh nghèo khó là thế nào: gia đình tôi ở nhà cũng nghèo rớt mồng tơi—cha mẹ và tất cả mọi người. Cha tôi được gọi là Đại úy Fanshawe; ông là một sĩ quan hưởng lương hưu bán phần, nhưng dòng dõi danh giá, và vài họ hàng của chúng tôi cũng thuộc hàng tai to mặt lớn; thế nhưng chú kiêm cha đỡ đầu De Bassompierre của tôi, người sống ở Pháp, mới là người duy nhất giúp đỡ chúng tôi: ông lo chi phí ăn học cho tụi con gái chúng tôi. Tôi có năm người em gái và ba anh trai. Mai mốt chúng tôi sẽ phải kết hôn—chắc là với những quý ông có tuổi một chút, khá giả một chút; cha mẹ tôi lo toan chuyện đó mà. Chị Augusta của tôi giờ đã kết hôn với một người đàn ông trông già hơn cả cha tôi. Augusta rất xinh đẹp—không theo gu của tôi—nhưng da ngăm đen; chồng chị ấy, ngài Davies, từng mắc bệnh vàng da ở Ấn Độ, và cho đến giờ da dã vẫn mang màu của đồng tiền vàng guinea; nhưng bù lại ông ta rất giàu, và Augusta có xe ngựa riêng cùng cơ ngơi bề thế, và tất cả chúng tôi đều cho rằng chị ấy đã có một ván bài hoàn hảo. Này nhé, thế này còn hơn là ‘kiếm sống’ như cô nói đấy. Nhân tiện, cô có thông minh không?”
“Không—chẳng thông minh tẹo nào.”
“Cô có thể chơi đàn, ca hát, nói được ba bốn thứ tiếng chứ?”
“Hoàn toàn không.”
“Thế mà tôi cứ nghĩ cô thông minh đấy” (một khoảng lặng và một cái ngáp dài).
“Cô có bị say sóng không?”
“Còn cô?”
“Ôi, kinh khủng ấy chứ! Ngay khi chúng ta vừa nhìn thấy biển: thực ra tôi bắt đầu cảm thấy nó rồi đây. Tôi phải xuống khoang dưới thôi; và tôi sẽ bắt gã tiếp viên béo ú đáng ghét đó phải phục vụ quần quật cho xem! Heureusement je sais faire aller mon monde (May là tôi biết cách sai khiến người ta).”
Cô ta tót xuống dưới.
Chẳng bao lâu sau, những hành khách khác cũng lũ lượt đi theo; suốt cả buổi chiều tôi cứ thế một mình đứng trên boong tàu. Khi nhớ lại tâm trạng bình thản, thậm chí có phần hạnh phúc mà tôi đã trải qua trong những giờ phút đó, và đồng thời nhớ lại hoàn cảnh mà tôi đang đặt mình vào lúc bấy giờ; một hoàn cảnh đầy rẫy hiểm nguy—mà một số người sẽ gọi là vô vọng—tôi cảm thấy rằng, đúng như—
“Những bức tường đá đâu thể làm nên ngục thất,
Cũng chẳng thể giam cầm bằng song sắt xiềng xông,”
thì hiểm nguy, sự cô đơn, một tương lai bất định, vốn chẳng phải là những tai họa đè nặng lên ta, chừng nào thể xác còn khỏe mạnh và các giác quan còn hoạt động; chừng nào, hơn hết thảy, Tự do ban cho ta đôi cánh, và Hy vọng dẫn lối ta bằng vì sao của nàng.
Tôi không hề bị say sóng cho đến tận mãi sau khi chúng tôi qua khỏi Margate, và niềm vui sướng mà tôi hít hà cùng làn gió biển sâu sắc biết bao; sự diệu kỳ mà tôi chắt chiu từ những con sóng nhấp nhô ngoài eo biển, từ những cánh chim hải âu chao lượn trên đỉnh sóng, từ những cánh buồm trắng lấp ló ở khoảng trời xa thẳm tăm tối, từ bầu trời tĩnh mịch mà bảng lảng mây bao trùm vạn vật. Trong cơn mơ màng, tôi ngỡ như mình nhìn thấy lục địa châu Âu, tựa như một vùng đất mộng ảo rộng lớn, trải dài phía xa xăm. Ánh nắng vương vấn trên đó, biến dải bờ biển dài thành một đường viền vàng óng; những đường nét tinh xảo nhất của những cụm thị trấn và ngọn tháp nhấp nhô ánh bạc tuyết, của những cánh rừng rậm rạp, của những dãy núi nhấp nhô đỉnh nhọn, của những đồng cỏ êm đềm và dòng sông ngoằn ngoèo, khắc nổi lên khung cảnh lấp lánh như kim loại. Làm nền phía sau, trải rộng một bầu trời trang nghiêm và xanh thẫm, và—huy hoàng với lời hứa hẹn đế vương, dịu dàng với những sắc thái bồng bềnh quyến rũ—vắt ngang từ bắc xuống nam một chiếc cung do Thượng đế uốn cong, một nhịp cầu hy vọng.
Hãy xóa sạch toàn bộ đoạn đó đi nếu cô muốn, hỡi độc giả—hoặc tốt hơn là cứ để nó ở đó, rồi rút ra từ đấy một bài học—một bản tập viết theo mẫu điệp âm—
Những giấc mơ ban ngày chỉ là ảo tưởng của ma quỷ.
Bắt đầu bị cơn say sóng hành hạ dữ dội, tôi lảo đảo bước xuống khoang dưới.
Khoang giường của cô Fanshawe tình cờ nằm ngay sát cạnh khoang của tôi; và, tôi lấy làm tiếc phải nói rằng, cô ta đã hành hạ tôi bằng một sự ích kỷ không một chút khoan dung trong suốt khoảng thời gian cả hai cùng khốn khổ. Không gì có thể vượt qua sự thiếu kiên nhẫn và cáu kỉnh của cô ta. Nhà Watsons, những người cũng đang nônốc mửa mửa tơi bời, và được nữ tiếp viên chăm sóc với sự thiên vị không chút hổ thẹn, bỗng trở thành những bậc khắc kỷ nếu đem ra so sánh với cô ta. Đã bao nhiêu lần kể từ dạo đó, tôi nhận ra ở những con người mang tính cách hời hợt, vô tư và vẻ đẹp mong manh dễ vỡ như Ginevra Fanshawe, một sự bất lực hoàn toàn trong việc chịu đựng nghịch cảnh: họ dường như trở nên chua chát khi gặp hoạn nạn, giống như thứ bia chua ngoét giữa cơn chớp giông sấm sét. Kẻ nào dám lấy một người phụ nữ như thế làm vợ, kẻ đó chắc chắn phải chuẩn bị tinh thần để bảo đảm cho cô ta một cuộc sống chỉ toàn nắng ấm. Cuối cùng, vì quá phẫn nộ trước thói cáu kỉnh hay gây sự của cô ta, tôi cộc lốc yêu cầu cô ta “câm miệng lại.” Lời rebuff đó đã có tác dụng tích cực với cô ta, và thật đáng chú ý là cô ta chẳng hề ghét tôi hơn sau chuyện đó.
Khi màn đêm buông xuống, biển bắt đầu động mạnh hơn: những con sóng lớn hơn vỗ ầm ầm và mạnh mẽ vào mạn tàu. Thật kỳ lạ khi ngẫm lại rằng xung quanh chúng ta toàn là bóng tối và nước, và cảm nhận con tàu vẫn đang rẽ sóng lao thẳng về phía trước trên con đường mông quạnh, bất chấp tiếng ồn ào, bão tố và gió giật ngày càng lớn. Những vật dụng trong phòng bắt đầu rơi lả tả, và việc chằng buộc chúng vào vị trí cố định trở nên cấp thiết; hành khách ngày càng say sóng nặng hơn bao giờ hết; cô Fanshawe rên rỉ tuyên bố rằng cô ta sắp chết đến nơi rồi.
“Chưa chết được đâu cô em,” nữ tiếp viên thản nhiên đáp. “Chúng ta sắp cập cảng rồi đấy.” Và quả nhiên, chỉ mười lăm phút sau đó, một sự yên bình bao trùm lên tất cả chúng tôi; và vào khoảng nửa đêm thì chuyến hải trình kết thúc.
Tôi cảm thấy hụt hẫng: vâng, tôi cảm thấy hụt hẫng. Thời gian nghỉ ngơi của tôi đã qua đi; những khó khăn của tôi—những khó khăn ngặt nghèo—lại bắt đầu tái diễn. Khi tôi bước lên boong tàu, bầu không khí lạnh ngắt và cái lườm nguýt đen tối của màn đêm dường như đang quở trách sự cả gan của tôi khi có mặt ở chốn này: ánh đèn của thị trấn cảng nước ngoài, lấp lánh xung quanh vùng bến cảng xa lạ, nhìn tôi chằm chằm như vô số đôi mắt đầy đe dọa. Bạn bè kéo lên tàu chào đón gia đình Watsons; cả một đại gia đình bạn bè vây quanh và rước cô Fanshawe đi mất; còn tôi—thì tôi hoàn toàn không dám dù chỉ một phút giây nghĩ đến việc so sánh hoàn cảnh của mình.
Thế nhưng tôi phải đi đâu đây? Tôi buộc phải đến một nơi nào đó. Kẻ cùng đường thì chẳng thế nào mà kén cá chọn canh được. Khi tôi đưa tiền công cho nữ tiếp viên—và bà ta có vẻ ngạc nhiên khi nhận được một đồng tiền có mệnh giá lớn hơn mức mà những tính toán thô thiển của bà ta có thể đoán trước được từ một đối tượng như tôi—tôi nói: “Làm ơn chỉ giúp tôi đến một quán trọ nào yên tĩnh và lịch sự, nơi tôi có thể tá túc qua đêm nay.”
Bà ta không chỉ cung cấp cho tôi hướng dẫn cần thiết, mà còn gọi một người khuân vác, ra lệnh cho hắn lo liệu cho tôi, và—không phải chiếc rương của tôi, bởi vì nó đã được chuyển đến phòng hải quan rồi.
Tôi lẽo đẽo bước theo người đàn ông này dọc theo một con phố trải đá gồ ghề, lúc này được thắp sáng bởi ánh trăng chập chờn lúc ẩn lúc hiện; hắn đưa tôi đến quán trọ. Tôi đưa cho hắn sáu xu, nhưng hắn từ chối nhận; nghĩ rằng số tiền đó chưa đủ, tôi đổi thành một đồng shilling; thế nhưng hắn cũng từ chối nốt, và càu nhàu bằng một ngôn ngữ mà tôi hoàn toàn không biết. Một người phục vụ bước ra từ lối đi tối mờ ánh đèn của quán trọ, nhắc nhở tôi bằng thứ tiếng Anh bập bẹ rằng tiền của tôi là tiền nước ngoài, không được lưu hành ở đây. Tôi đưa cho hắn một đồng bảng Anh để đổi. Khi vấn đề nhỏ nhặt đó đã được giải quyết xong xuôi, tôi hỏi thuê một phòng ngủ; tôi chẳng thể nuốt nổi bữa tối: tôi vẫn đang bị say sóng, người rã rời và run lẩy bẩy từ đầu đến chân. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm và biết ơn biết bao khi cánh cửa của một căn phòng nhỏ xíu cuối cùng cũng khép lại, giấu đi tôi và sự kiệt quệ của mình. Một lần nữa tôi lại có thể nghỉ ngơi: mặc dù ngày mai đám mây ngờ vực vẫn sẽ dày đặc như cũ; nhu cầu phải lao động kiếm sống càng cấp thiết hơn, mối hiểm họa (về sự khốn cùng) càng đến gần hơn, và cuộc chiến đấu (để tồn tại) càng trở nên khắc nghiệt hơn.