Paulina hoàn toàn có lý khi từ chối tiếp tục thư tín với Graham cho đến khi được cha cô chấp thuận. Nhưng bác sĩ Bretton không thể sống cách khách sạn Hôtel Crécy chưa đầy một dặm mà lại không tìm cách lui tới nơi đó thường xuyên. Ban đầu, tôi tin rằng cả hai người yêu nhau đều muốn giữ khoảng cách; họ đã cố gắng duy trì ý định ấy chừng nào còn có thể biểu hiện ra ngoài, nhưng trong tâm hồn, họ sớm xích lại gần nhau vô cùng.
Tất cả những gì tốt đẹp nhất trong con người Graham đều hướng về Paulina; bất cứ phẩm chất cao quý nào ở anh cũng được đánh thức và lớn lên trong sự hiện diện của cô. Với lòng ngưỡng mộ dành cho tiểu thư Fanshawe trước đây, tôi cho rằng trí tuệ của anh ít nhiều chẳng dính líu gì mấy, nhưng giờ đây, toàn bộ trí tuệ cùng những gu thẩm mỹ tinh tế nhất của anh đều được đem ra thử thách. Những điều ấy, cũng như mọi năng lực khác trong anh, đều vô cùng nhạy bén, khao khát được bồi đắp và sẵn sàng rung động trước những niềm vui khi chúng xuất hiện.
Tôi không thể nói rằng Paulina cố tình dẫn dắt anh chuyện trò về sách vở, hay dù chỉ trong chốc lát tự đặt ra cho mình nhiệm vụ lôi kéo anh vào chốn suy ngẫm, hay vạch kế hoạch bồi dưỡng trí tuệ cho anh, hoặc thậm chí tưởng tượng rằng trí tuệ của anh có thể được cải thiện ở bất kỳ điểm nào. Cô nghĩ anh đã vô cùng hoàn hảo; chính Graham mới là người, thoạt đầu chỉ bằng một sự tình cờ ngẫu nhiên nhất, đã nhắc đến một cuốn sách nào đó anh vừa đọc, và khi lời đáp của cô vang lên như một khúc hòa âm đồng điệu đầy chào đón — một thứ âm thanh dễ chịu đối với tâm hồn anh — anh đã tiếp tục trò chuyện, trôi chảy và sâu sắc hơn có lẽ bất cứ điều gì anh từng thổ lộ về những chủ đề tương tự trước đây. Cô lắng nghe với niềm vui sướng và đáp lời bằng tất cả sự sôi nổi. Trong mỗi câu trả lời tiếp nối, Graham lại nghe thấy một thứ âm nhạc ngày càng trở nên tinh tế hơn đối với giác quan của mình; trong mỗi câu nói, anh lại tìm thấy một sức hút đầy gợi mở, thuyết phục và ma mị, đánh thức một kho báu vốn ít ai biết đến ẩn giấu tận đáy lòng, cho anh thấy sức mạnh chưa từng ngờ tới trong chính tâm trí mình, và điều tuyệt vời hơn nữa là sự lương thiện tiềm ẩn trong trái tim anh. Cả hai đều yêu thích cách người kia trò chuyện; giọng nói, từ ngữ và cách diễn đạt đều làm họ say đắm; mỗi người đều vô cùng tận hưởng hương vị dí dỏm của đối phương; họ thấu hiểu ý nhau với một tốc độ kỳ lạ, những suy nghĩ của họ thường hòa hợp với nhau tựa như những viên ngọc được chọn lựa kỹ càng. Bản tính Graham vốn rất vui vẻ, hoạt bát; còn Paulina không hề có sẵn dòng năng lượng tự nhiên dạt dào ấy — nếu không có gì kích thích, cô thường có khuynh hướng trầm ngâm và suy tư — nhưng giờ đây, cô trông vui tươi như một chú chim sơn ca; dưới ánh hào quang dễ chịu của người yêu, cô rạng rỡ tựa một thứ ánh sáng dịu dàng và hạnh phúc. Cô trở nên xinh đẹp nhường nào trong niềm hạnh phúc của mình, tôi khó lòng diễn tả nổi, nhưng bản thân tôi cũng phải ngỡ ngàng khi nhìn ngắm cô. Còn về lớp băng dịu dàng ấy của cô — sự kín đáo mà cô từng dựa dẫm — giờ đã đi đâu mất rồi? À! Graham sẽ không đời nào chịu đựng điều đó lâu; anh mang theo một ảnh hưởng nồng hậu, nhanh chóng làm tan chảy sự rựm rà rụt rè do chính cô tự áp đặt cho mình.
Giờ đây, những ngày tháng cũ ở Bretton đã được nhắc lại; thoạt đầu có lẽ còn ngắt quãng, với một chút rụt rè đầy mỉm cười, rồi sau đó trở nên cởi mở hơn và niềm tin cứ thế lớn dần lên. Graham đã tự tạo ra cho mình một cơ hội tốt hơn cả cơ hội mà anh từng muốn tôi trao cho; anh đã tự giành lấy sự độc lập khỏi thứ sự trợ giúp phụ trợ mà cô Lucy khó tính đã từ chối; tất cả những ký ức về “bé Polly” đều tìm được cách thể hiện thích hợp qua giọng điệu ngọt ngào của chính anh, qua đôi môi nhân hậu và tuấn tú của chính anh; điều đó mới tuyệt vời làm sao, tốt hơn gấp nhiều lần so với việc do tôi gợi ý.
Hơn một lần khi chúng tôi ở một mình, Paulina đã kể cho tôi nghe việc khám phá ra sự phong phú và chuẩn xác trong trí nhớ của anh về vấn đề này mới kỳ diệu và tò mò làm sao. Cô kể rằng, khi anh ngắm nhìn cô, những ký ức dường như chợt bừng tỉnh trong tâm trí anh. Anh nhắc cho cô nhớ có lần cô từng ôm trọn đầu anh trong vòng tay, vuốt ve những lọn tóc bồng bềnh như bờm sư tử của anh và thốt lên: “Graham, em rất thích anh!” Anh kể cho cô nghe cách cô thường đặt một chiếc ghế đẩu bên cạnh, rồi vịn vào đó để trèo lên đùi anh. Đến tận bây giờ, anh nói rằng anh vẫn có thể gợi lại cảm giác những ngón tay nhỏ nhắn của cô đang mơn man gò má anh, hoặc vùi sâu vào mái tóc dày của anh. Anh nhớ cái chạm từ ngón trỏ nhỏ xíu của cô, đặt nửa rụt rè nửa tò mò vào vết lõm trên cằm anh, cùng giọng nói ngọng nghịu và ánh mắt cô thường dùng khi gọi đó là “một lúm đồng tiền xinh xắn,” rồi ngước nhìn vào mắt anh và thắc mắc tại sao chúng lại nhìn thấu tâm can đến thế, bảo rằng anh có một “gương mặt lạ lẫm và đẹp đẽ; đẹp hơn và lạ lẫm hơn nhiều so với mẹ anh hay Lucy Snowe.”
“Dù khi ấy tôi chỉ là một đứa trẻ,” Paulina nhận xét, “tôi vẫn tự hỏi sao mình lại dám bạo dạn đến thế. Đối với tôi bây giờ, anh ấy hoàn toàn thiêng liêng, mái tóc ấy là điều bất khả chạm tới, và này Lucy, tôi cảm thấy một nỗi sợ mơ hồ khi nhìn chiếc cằm bằng cẩm thạch rắn rỏi của anh ấy, nhìn những đường nét Hy Lạp thẳng tắp ấy. Phụ nữ thường được ca tụng là xinh đẹp, hỡi Lucy; anh ấy không giống phụ nữ, thế nên chắc là anh ấy không đẹp, nhưng vậy thì anh ấy là gì? Những người khác có nhìn thấy anh ấy qua đôi mắt của tôi không? Cậu có ngưỡng mộ anh ấy không?”
“Tớ nói cho cậu hay tớ làm gì, Paulina,” câu trả lời của tôi khi ấy trước vô số câu hỏi của cô. “Tớ chẳng bao giờ nhìn anh ấy cả. Tớ đã ngắm anh ấy hai hay ba lần vào khoảng một năm trước, trước khi anh ấy nhận ra tớ, rồi sau đó tớ nhắm nghiền mắt lại; và giả sử bóng dáng anh ấy có lướt qua tầm mắt tớ mười hai lần từ lúc hoàng hôn cho đến khi bình minh mỗi ngày, thì ngoại trừ trí nhớ ra, tớ khó lòng biết được hình thù nào vừa đi qua.”
“Lucy, ý cậu là gì?” cô khẽ hỏi.
“Ý tớ là tớ quý trọng thị giác, và sợ bị mù hẳn.”
Tốt nhất là đáp lại cô thật dứt khoát một lần cho xong, và dập tắt vĩnh viễn những lời tâm tình dịu dàng, nồng cháy vốn để lại trên môi cô vị ngọt như mật, nhưng đôi khi nhỏ vào tai tôi chẳng khác nào chì tan chảy. Từ đó về sau, cô không còn bình luận gì trước mặt tôi về vẻ đẹp của người yêu nữa.
Thế nhưng, nhắc đến anh là điều cô vẫn làm; lúc thì ngượng ngùng trong những câu nói ngắn gọn, trầm lắng; lúc lại với một âm điệu dịu dàng và khúc nhạc từ giọng nói vốn dĩ đã vô cùng tuyệt vời; nhưng đôi khi điều đó lại khiến tôi bực bội đến khốn khổ; và rồi, tôi biết, tôi đã dành cho cô những ánh nhìn và lời lẽ nghiêm khắc; thế nhưng hạnh phúc không một bóng mây đã làm lu mờ đi đôi mắt vốn dĩ tinh tường của cô, và cô chỉ nghĩ rằng Lucy thật đồng bóng.
“Đứa con gái xứ Sparta! Hỡi Lucy kiêu kỳ!” cô thường thốt lên, mỉm cười với tôi. “Graham bảo cậu là người phụ nữ kỳ lạ và thất thường nhất mà anh ấy từng biết; nhưng dẫu sao cậu vẫn rất tuyệt vời; cả hai chúng tôi đều nghĩ vậy.”
“Cả hai các cậu đều nghĩ cái quái gì chẳng biết,” tôi đáp. “Làm ơn hãy biến tôi ra khỏi những câu chuyện và suy nghĩ của hai người nhiều chừng nào hay chừng ấy càng tốt. Tôi có lối sống riêng của mình, tách biệt khỏi thế giới của hai người.”
“Nhưng thế giới của chúng tớ, Lucy, là một cuộc đời tươi đẹp, hoặc sẽ là như thế; và cậu sẽ được chia sẻ nó.”
“Tôi sẽ chẳng chia sẻ cuộc đời của bất kỳ người đàn ông hay người phụ nữ nào trên cõi đời này theo cách mà các người hiểu đâu. Tôi nghĩ mình có một người bạn đích thực, nhưng lại chẳng dám chắc; và cho đến khi chắc chắn, tôi cứ sống thui thủi một mình.”
“Nhưng sự cô độc là nỗi buồn.”
“Phải; đó là nỗi buồn. Tuy nhiên, cuộc đời còn có những thứ tồi tệ hơn thế. Sâu thẳm hơn cả nỗi u sầu, chính là sự tan nát cõi lòng.”
“Lucy, tớ tự hỏi liệu có ai trên đời này thấu hiểu được trọn vẹn con người cậu không.”
Ở những kẻ đang yêu, luôn tồn tại một sự mê muội của lòng ích kỷ; họ muốn có một nhân chứng cho hạnh phúc của mình, mặc cho nhân chứng ấy phải trả giá đắt thế nào đi nữa. Paulina đã cấm thư từ, vậy mà bác sĩ Bretton vẫn viết; cô đã quyết định đoạn tuyệt thư tín, vậy mà cô vẫn đáp lời, dẫu chỉ để trách móc. Cô cho tôi xem những bức thư ấy; với chút bướng bỉnh của trẻ con được chiều chuộng và sự hống hách của một tiểu thư thừa kế, cô bắt tôi phải đọc chúng. Khi đọc thư của Graham, tôi hầu như chẳng ngạc nhiên trước sự đòi hỏi của cô, và hiểu được niềm kiêu hãnh nơi cô: đó là những bức thư tuyệt vời — nam tính và đắm say — khiêm nhường mà hào hiệp. Thư của cô chắc hẳn đã hiện lên trong mắt anh vô cùng xinh đẹp. Chúng không được viết ra để khoe khoang tài năng của cô; lại càng không phải, tôi nghĩ vậy, để bày tỏ tình yêu. Ngược lại, có vẻ như cô đã tự đặt ra cho mình nhiệm vụ che giấu cảm xúc ấy và kìm hãm sự nồng nhiệt của người yêu. Nhưng làm sao những bức thư như thế lại có thể phục vụ cho mục đích đó cơ chứ? Graham đã trở nên quý giá như sinh mạng của cô; anh lôi cuốn cô như một thỏi nam châm cực mạnh. Đối với cô, có một sức mạnh không thể diễn tả bằng lời trong tất cả những gì anh thốt lên, viết ra, suy nghĩ hoặc nhìn ngắm. Kèm theo lời thú nhận chưa từng thốt ra ấy, những bức thư của cô bừng sáng; nó sưởi ấm chúng từ lời chào đầu cho đến khi từ biệt.
“Tớ ước gì cha biết; tớ thực sự ước gì cha biết!” giờ đây đã trở thành tiếng thì thầm đầy lo lắng của cô. “Tớ khao khát, thế nhưng lại sợ hãi. Tớ khó lòng ngăn Graham không thổ lộ với cha. Chẳng có gì tớ mong mỏi hơn là chuyện này được định đoạt — được nói ra một cách thẳng thắn; vậy mà tớ lại khiếp sợ thời khắc quyết định ấy. Tớ biết, tớ chắc chắn rằng cha sẽ nổi giận lúc ban đầu; tớ sợ ngài sẽ gần như ghét bỏ tớ; đối với ngài, đây sẽ là một chuyện chẳng lành; đó sẽ là một sự bất ngờ, một cú sốc: tớ khó lòng lường trước được toàn bộ ảnh hưởng của nó đối với ngài.”
Sự thật là — người cha vốn điềm tĩnh bấy lâu của cô, nay bắt đầu có chút xao động; mù lòa trước một vấn đề suốt thời gian dài, một thứ ánh sáng bức bách nay bắt đầu xâm phạm vào tầm nhìn của ông.
Với cô, ông chẳng nói gì cả; nhưng khi cô không nhìn, hoặc có lẽ không nghĩ đến ông, tôi thấy ông ngắm nhìn và trầm ngâm về phía cô.
Vào một buổi tối — Paulina đang ở trong phòng thay đồ, hình như đang viết thư cho Graham; cô đã để mặc tôi ở thư viện đọc sách — ông de Bassompierre bước vào; ông ngồi xuống: tôi toan đứng dậy lánh đi; ông ra hiệu bảo tôi cứ ở lại — nhẹ nhàng, nhưng theo cách cho thấy ông muốn tôi vâng lời. Ông đã chọn một chiếc ghế gần cửa sổ, cách xa chỗ tôi; ông mở một chiếc hộp đựng tài liệu; lấy ra từ đó thứ trông giống như một cuốn sổ ghi chép; ông chăm chú nghiên cứu một mục ghi chú nào đó trong cuốn sổ này suốt mấy phút liền.
“Cô Snowe,” ông vừa nói vừa đặt nó xuống, “cô có biết tuổi của con bé nhà tôi không?”
“Khoảng mười tám phải không ngài?”
“Xem chừng là vậy. Cuốn sổ tay cũ này cho tôi biết nó sinh ngày 5 tháng 5 năm 18—, cách đây mười tám năm. Thật kỳ lạ; tôi đã quên mất tuổi chính xác của nó. Tôi vẫn nghĩ nó mới mười hai — mười bốn — một mốc thời gian mơ hồ nào đó; nhưng nó vẫn mãi là một đứa trẻ.”
“Con bé khoảng mười tám tuổi rồi,” tôi nhắc lại. “Nó đã trưởng thành; sẽ chẳng cao thêm nữa.”
“Viên ngọc nhỏ của tôi!” ông de Bassompierre cất lời, với một giọng điệu thấm đượm vào lòng người tựa như những lời lẽ của cô con gái.
Ông ngồi chìm đắm trong suy tư.
“Thưa ngài, xin đừng đau buồn,” tôi lên tiếng; bởi tôi hiểu tâm sự của ông, dù chúng hoàn toàn không được thốt thành lời.
“Nó là viên ngọc duy nhất tôi có,” ông nói; “và giờ đây những kẻ khác sẽ nhận ra rằng nó vừa thuần khiết vừa đắt giá: họ sẽ thèm muốn nó.”
Tôi không đáp lời. Graham Bretton đã dùng bữa tối với chúng tôi ngày hôm đó; anh nổi bật cả về chuyện trò lẫn diện mạo: tôi chẳng rõ niềm kiêu hãnh của sự nở rộ nào đã tô điểm cho vẻ bề ngoài và làm dịu đi phong thái giao thiệp của anh. Dưới sự khích lệ của một niềm hy vọng lớn lao, có một điều gì đó đã bừng nở trong toàn bộ cung cách của anh, buộc người ta phải chú ý. Tôi nghĩ ngày hôm đó anh đã có ý định hé lộ nguồn cội của những nỗ lực cùng đích đến cho hoài bão của mình. Ông de Bassompierre dường như bị buộc phải nhận ra phương hướng và nắm bắt bản chất của sự tôn sùng ấy. Vốn chậm chạp trong việc nhận thức, nhưng ông lại rất logic trong suy luận; một khi đã túm được đầu mối, nó đã dẫn dắt ông xuyên qua cả một mê cung dài.
“Nó đâu rồi?” ông hỏi.
“Con bé ở trên lầu ạ.”
“Nó đang làm gì thế?”
“Dạ đang viết thư.”
“Nó viết thư cơ à? Nó có nhận thư không?”
“Chẳng có bức nào ngoài những bức nó có thể cho tôi xem. Và — thưa ngài — nó — họ đã từ lâu muốn tham vấn ý kiến của ngài.”
“Chà! Chúng nó có màng gì đến tôi — một ông già cổ lỗ sĩ! Tôi chỉ vướng chân vướng tay mà thôi.”
“Ôi, thưa ông de Bassompierre — không phải vậy đâu — điều đó không thể nào xảy ra! Nhưng chính Paulina phải lên tiếng vì bản thân con bé: và bác sĩ Bretton cũng vậy, anh ấy phải tự biện hộ cho mình.”
“Hơi muộn rồi đấy. Có vẻ như mọi chuyện đã đi quá xa rồi.”
“Thưa ngài, cho đến khi ngài chấp thuận, chẳng có chuyện gì xảy ra cả — chỉ là chúng yêu nhau mà thôi.”
“Chỉ là!” ông nhắc lại tiếng thở dài.
Được định mệnh trao cho vai trò làm người giữ bí mật và kẻ trung gian, tôi buộc phải nói tiếp: “Đã hàng trăm lần bác sĩ Bretton định đến thưa chuyện trực tiếp với ngài, thưa ngài; nhưng với tất cả lòng dũng cảm ngút trời ấy, anh ấy lại sợ ngài chết khiếp.”
“Nó sợ tôi là phải — sợ tôi là phải. Nó đã chạm vào báu vật quý giá nhất mà tôi có. Giá như nó cứ để con bé yên, thì Paulina vẫn sẽ là một đứa trẻ thêm nhiều năm nữa. Ra vậy. Chúng đính hôn rồi chắc?”
“Chúng không thể đính hôn mà không có sự cho phép của ngài.”
“Cô Snowe thật khôn ngoan khi nói năng và suy nghĩ theo cái phong thái đứng đắn luôn hiện hữu ở cô; nhưng vấn đề này lại là một nỗi đau buồn đối với tôi; con bé nhà tôi là tất cả những gì tôi có: tôi chẳng còn cô con gái nào khác hay con trai nào nữa; cậu Bretton hoàn toàn có thể tìm kiếm ở nơi khác; ngoài kia có biết bao nhiêu phụ nữ giàu có và xinh đẹp, tôi dám cá là họ sẽ chẳng chê cậu ta đâu: cậu ta có mã ngoài, có tư cách lại lắm mối quan hệ. Chẳng lẽ không có ai lọt vào mắt xanh của cậu ta ngoài con bé Polly của tôi sao?”
“Nếu anh ấy chưa từng gặp ‘Polly’ của ngài, thì những người khác có thể và đã làm anh ấy hài lòng — chẳng hạn như cháu gái ngài, tiểu thư Fanshawe.”
“A! Tôi sẵn sàng gả Ginevra cho cậu ta bằng cả tấm lòng; nhưng còn Polly! — tôi không thể giao nó cho cậu ta được. Không — tôi không thể. Cậu ta không xứng với nó,” ông khẳng định, có phần cộc cằn. “Cậu ta xứng ở điểm nào cơ chứ? Người ta cứ bàn về tài sản! Tôi không phải là kẻ tham lam hay vụ lợi, nhưng người đời vẫn hay để ý đến những chuyện đó — và Polly sẽ rất giàu có.”
“Vâng, điều đó ai cũng biết,” tôi đáp: “cả Villette đều xem con bé là một tiểu thư thừa kế.”
“Họ bàn tán về đứa con gái nhỏ của tôi theo chiều hướng đó sao?”
“Đúng vậy thưa ngài.”
Ông chìm vào suy nghĩ sâu xa. Tôi đánh bạo lên tiếng: “Thưa ngài, ngài có nghĩ ai là người xứng đôi với Paulina không? Ngài có ưu ái ai hơn bác sĩ Bretton không? Ngài có nghĩ địa vị cao sang hơn hay nhiều tài sản hơn sẽ tạo ra sự khác biệt lớn trong cảm xúc của ngài đối với một người con rể tương lai không?”
“Cô chạm đúng chỗ hiểm của tôi rồi đấy,” ông nói.
“Hãy nhìn vào giới thượng lưu của Villette đi — ngài chắc sẽ không thích họ đâu, phải không thưa ngài?”
“Tôi không thích — chưa bao giờ ưa bất kỳ một vị công tước, nam tước hay tử tước nào trong số đó cả.”
“Tôi được biết rất nhiều người trong số họ đang tơ tưởng đến con bé đấy, thưa ngài,” tôi tiếp lời, lấy lại can đảm khi thấy mình nhận được sự chú ý thay vì sự chối từ. “Những kẻ theo đuổi khác sẽ lại xuất hiện, vì thế nếu bác sĩ Bretton bị từ chối. Đi đến bất cứ đâu, tôi đoán rằng những kẻ khao khát sẽ chẳng bao giờ thiếu. Không kể đến gia thế tiểu thư thừa kế, đối với tôi, Paulina có sức hút với hầu hết những ai nhìn thấy con bé.”
“Thế sao? Bằng cách nào? Con bé nhà tôi đâu được coi là một mỹ nhân.”
“Thưa ngài, tiểu thư de Bassompierre vô cùng xinh đẹp.”
“Nói nhảm! — xin lỗi cô Snowe, nhưng tôi nghĩ cô quá ư bênh vực rồi. Tôi yêu quý Polly: tôi thích tất cả mọi cử chỉ lẫn diện mạo của nó — nhưng dù sao tôi cũng là cha nó; và ngay cả tôi chưa bao giờ nghĩ đến nhan sắc. Con bé mang lại niềm vui, tựa như tiên nữ, và đầy cuốn hút đối với tôi; — chắc là cô nhầm lẫn khi cho rằng nó đẹp rồi chứ?”
“Con bé có sức hút, thưa ngài; nó vẫn sẽ có sức hút ngay cả khi không có sự hậu thuẫn về tài sản và địa vị của ngài.”
“Tài sản và địa vị của tôi ư? Chúng có phải là mồi nhử đối với Graham đâu? Nếu tôi nghĩ như thế——”
“Bác sĩ Bretton thừa biết những điểm này, như ngài có thể chắc chắn, thưa ngài de Bassompierre, và anh ấy coi trọng chúng như bất kỳ một quý ông nào — như chính ngài vậy, trong cùng hoàn cảnh đó — nhưng chúng không phải là mồi nhử của anh ấy. Anh ấy yêu con gái ngài rất nhiều; anh ấy cảm nhận được những phẩm chất tuyệt vời nhất ở con bé, và chúng tác động đến anh ấy một cách vô cùng xứng đáng.”
“Cái gì! Cục cưng nhỏ của tôi lại có ‘những phẩm chất tuyệt vời’ cơ à?”
“Ôi, thưa ngài! ngài có để ý đến con bé vào buổi tối hôm đó khi có rất nhiều nhân vật kiệt xuất và uyên bác dùng bữa ở đây không?”
“Quả thực tôi khá ấn tượng và ngạc nhiên trước phong thái của nó ngày hôm đó; vẻ ra dáng người lớn của con bé khiến tôi phải mỉm cười.”
“Và ngài có thấy những quý ông người Pháp tài hoa ấy tụm lại quanh con bé trong phòng khách không?”
“Tôi có thấy; nhưng tôi cứ nghĩ đó là cách để giải khuây — giống như người ta đùa giỡn với một đứa trẻ xinh xắn vậy.”
“Thưa ngài, con bé đã thể hiện vô cùng xuất sắc; và tôi đã nghe các quý ông người Pháp khen rằng con bé ‘tràn ngập sự thông minh và duyên dáng.’ Bác sĩ Bretton cũng nghĩ như vậy.”
“Con bé là một đứa trẻ ngoan và đáng yêu, điều đó thì chắc chắn rồi; và tôi tin là nó cũng có chút bản lĩnh. Nghĩ lại xem, đã có lần tôi đổ bệnh; chính Polly đã chăm sóc tôi; người ta tưởng tôi không qua khỏi; tôi nhớ là con bé bỗng trở nên mạnh mẽ và dịu dàng hơn hẳn khi sức khỏe của tôi tồi tệ đi. Và khi tôi hồi phục, con bé mới rạng rỡ làm sao trong căn phòng bệnh của tôi! Đúng vậy; nó quẩn quanh chiếc ghế của tôi nhẹ nhàng và vui tươi tựa ánh sáng. Thế mà giờ đây nó lại được hỏi cưới! Tôi không muốn phải rời xa nó,” ông nói, và rên rỉ.
“Ngài đã quen biết bác sĩ và phu nhân Bretton lâu đến thế,” tôi gợi ý, “giao con bé cho anh ấy sẽ đỡ mang cảm giác chia ly hơn là gả cho người khác.”
Ông trầm ngâm có phần ảm đạm.
“Đúng thế. Tôi đã quen biết Louisa Bretton từ lâu lắm rồi,” ông lẩm bẩm. “Cô ấy và tôi thực sự là những người bạn tri kỷ lâu năm; cô ấy từng là một thiếu nữ ngọt ngào và tốt bụng khi còn trẻ. Cô cứ nhắc đến nhan sắc, cô Snowe ạ! cô ấy mới thực sự đẹp, nếu cô muốn biết — cao ráo, thẳng thắn và phơi phới — chứ không chỉ là một đứa trẻ hay yêu tinh như con bé Polly của tôi đối với tôi lúc này: vào tuổi mười tám, Louisa mang phong thái và vóc dáng của một nàng công chúa. Giờ đây cô ấy là một người phụ nữ đoan trang và nhân hậu. Cậu thanh niên ấy rất giống mẹ; từ trước đến nay tôi vẫn luôn nghĩ vậy, đồng thời quý mến và chúc phúc cho cậu ta. Thế mà giờ đây cậu ta lại đáp ơn tôi bằng vụ trộm cắp này! Báu vật nhỏ của tôi từng yêu quý người cha già này tha thiết và chân thành. Giờ thì mọi chuyện chấm hết rồi còn đâu — tôi chỉ là kẻ thừa thãi vướng víu.”
Cánh cửa mở ra — “báu vật nhỏ” của ông bước vào. Con bé ăn diện, có thể nói là vậy, theo kiểu lộng lẫy của buổi tối; nét rạng rỡ vốn thỉnh thoảng xuất hiện vào lúc chập tối đã sưởi ấm đôi mắt và gò má cô; một chút sắc đỏ mùa hè làm tăng thêm vẻ hồng hào cho làn da; những lọn tóc xoăn buông dài rủ xuống chiếc cổ trắng ngần; chiếc váy trắng rất phù hợp với cái nóng tháng Sáu. Tưởng rằng tôi ở một mình, cô cầm trên tay bức thư vừa viết xong — mang theo nó ở trạng thái đã gấp nhưng chưa dán kín. Tôi phải đọc nó. Khi nhìn thấy cha mình, bước chân thoăn thoắt của cô khựng lại đôi chút, chững lại một nhịp — sắc hồng trên gò má lan tràn rực rỡ khắp khuôn mặt.
“Polly,” ông de Bassompierre cất giọng trầm trầm, với một nụ cười điềm đạm, “con đỏ mặt khi nhìn thấy cha cơ à? Chuyện này lạ đấy chứ.”
“Con đâu có đỏ mặt — con chẳng bao giờ đỏ mặt cả,” cô khẳng định, trong khi một đợt sóng hồng khác từ trái tim lại dâng trào nhuộm đỏ khuôn mặt. “Nhưng con tưởng cha đang ở phòng ăn, và con đang tìm Lucy.”
“Con tưởng cha đang ở cùng John Graham Bretton chứ gì? Nhưng cậu ta vừa được gọi ra ngoài rồi: cậu ta sẽ lại sớm quay lại thôi, Polly ạ. Cậu ta có thể giúp con gửi bức thư đó; sẽ đỡ cho Matthieu một chuyến ‘chạy việc,’ như hắn vẫn hay gọi.”
“Con chẳng gửi thư đi đâu cả,” cô nói, có phần hờn dỗi.
“Thế con định làm gì với chúng? — lại đây nói cho cha nghe xem nào.”
Cả tâm trạng lẫn cử chỉ của cô dường như chần chừ trong giây lát — như muốn cất lời “Con có nên qua không?” — nhưng rồi cô vẫn bước đến.
“Từ khi nào mà con lại trở thành người viết thư thế hả Polly? Mới ngày nào con còn tập viết từng nét móc, chật vật khổ sở dùng cả hai tay cầm bút cơ mà.”
“Cha ơi, đây đâu phải là thư để bỏ vào túi thư của cha đem gửi bưu điện; chúng chỉ là những tấm thiệp, thỉnh thoảng con trao tận tay người ấy, cốt để cho yên tâm thôi ạ.”
“Người ấy! Ý con là cô Snowe đấy phỏng?”
“Không thưa cha — không phải Lucy.”
“Thế ai? Hay là phu nhân Bretton?”
“Không thưa cha — cũng chẳng phải phu nhân Bretton.”
“Thế rốt cuộc là ai hỡi cô con gái nhỏ của ta? Nói cho cha nghe sự thật xem nào.”
“Ôi, cha ơi!” cô thốt lên đầy khẩn thiết, “con sẽ nói — con sẽ kể cho cha nghe sự thật — toàn bộ sự thật; con rất sẵn lòng kể — sẵn lòng, dẫu cho con đang run rẩy đây.”
Cô thực sự đang run rẩy: sự xúc động ngày càng dâng cao, cảm xúc sục sôi và cả sự can đảm đang tụ hội lại khiến cô run lên bần bật.
“Con rất ghét phải che giấu những việc làm của mình trước mặt cha. Con sợ cha và yêu cha hơn bất cứ thứ gì trên đời ngoại trừ Chúa. Xin hãy đọc bức thư này; hãy nhìn vào phần địa chỉ.”
Cô đặt nó lên đùi ông. Ông cầm lấy và đọc từ đầu đến cuối; bàn tay run rẩy, đôi mắt ngấn lệ trong suốt quãng thời gian ấy.
Ông gấp lại lần nữa, và ngắm nhìn người viết với vẻ ngạc nhiên đầy kỳ lạ, dịu dàng và thương cảm.
“Con bé có thể viết thế ư — cái sinh linh bé nhỏ chỉ mới hôm qua còn đứng cạnh đầu gối mình? Nó biết rung động đến thế cơ à?”
“Cha ơi, có điều gì sai trái ư? Nó làm cha đau lòng sao?”
“Chẳng có gì sai trái trong này cả, bé Mary ngây thơ của ta ạ; nhưng nó làm cha đau đớn.”
“Nhưng cha ơi, hãy nghe con nói! Cha sẽ không bị tổn thương vì con đâu. Con sẽ từ bỏ tất cả — hầu như” (cự cãi lại chính mình); “con thà chết còn hơn là làm cha không vui; điều đó quá ư độc ác!”
Cô rùng mình.
“Bức thư không làm cha hài lòng sao? Nó không được đi ư? Phải xé đi sao? Con sẽ làm thế, vì cha, nếu cha ra lệnh.”
“Ta chẳng ra lệnh gì sất.”
“Xin hãy ra lệnh đi cha; hãy bày tỏ mong muốn của cha; chỉ xin đừng làm tổn thương, đừng làm Graham đau khổ. Con không thể, tuyệt đối không thể chịu nổi điều đó. Con yêu cha, cha ạ; nhưng con cũng yêu cả Graham — bởi vì — bởi vì — không thể nào khác được.”
“Tên Graham phô trương này chỉ là một gã ranh con, Polly ạ — đó là suy nghĩ của ta về hắn lúc này: con sẽ ngạc nhiên khi nghe điều đó, bởi phần ta, ta chẳng ưa gì cậu ta môt chút nào đâu. Chà! Nhiều năm trước ta đã nhìn thấy trong ánh mắt của gã trai đó điều gì mà ta chưa bao giờ thấu hiểu trọn vẹn — thứ gì đó mà mẹ cậu ta không có — một chiều sâu cảnh báo người ta đừng dấn thân quá sâu vào dòng nước ấy; để rồi giờ đây, bất ngờ thay, ta lại thấy mình bị nhấn chìm đến tận đỉnh đầu.”
“Cha ơi, cha không — cha đâu có bị cuốn vào; cha đang đứng an toàn trên bờ đấy thôi; cha muốn làm gì chẳng được; quyền lực của cha là tối thượng; cha có thể nhốt con vào tu viện, và bẻ gãy trái tim Graham vào ngày mai, nếu cha muốn tàn nhẫn như thế. Nào, hỡi vị độc tài, hỡi bạo chúa, cha có làm thế không nào?”
“Tống cổ hắn tới Siberia đi, mang theo cả bộ râu đỏ quạch ấy nữa; ta bảo là ta không ưa cậu ta, Polly, và ta ngạc nhiên là sao con lại thích hắn được cơ chứ.”
“Cha ơi,” cô nói, “cha có biết là cha rất hư đốn không? Con chưa bao giờ thấy cha trông khó ưa, bất công, và gần như thù hằn đến thế trước đây cả. Trên khuôn mặt cha đang có một biểu cảm vốn không thuộc về con người cha.”
“Tống cổ hắn đi!” ông Home tiếp lời, trông ông quả thực vô cùng bực bội và khó chịu — thậm chí có phần cay đắng; “nhưng ta đoán là, nếu hắn đi, Polly sẽ gói ghém hành lý chạy theo hắn mất thôi; trái tim con bé đã hoàn toàn bị chinh phục — bị chinh phục và dứt bỏ khỏi người cha già này rồi.”
“Cha ơi, con phải nói rằng thật hư đốn, hoàn toàn sai trái khi ăn nói theo kiểu đó. Con không hề dứt bỏ cha, và chẳng có con người hay sức mạnh trần thế nào có thể làm con dứt bỏ cha được.”
“Lập gia đình đi, Polly! Hãy kết hôn với bộ râu đỏ ấy đi. Thôi làm con gái nữa; hãy đi mà làm vợ người ta đi!”
“Râu đỏ! Con tự hỏi ý cha là gì cơ chứ. Cha nên cẩn thận với định kiến của mình đi. Thỉnh thoảng cha vẫn hay bảo với con rằng tất cả người Scotland, đồng bào của cha, đều là nạn nhân của định kiến. Giờ thì chứng minh rõ rồi đấy, thiết nghĩ khi chẳng thể phân biệt được đâu là râu đỏ và đâu là màu hạt dẻ đậm.”
“Tránh xa cái lão người Scotland đầy định kiến này ra; đi đi.”
Cô đứng ngắm ông trong giây lát. Cô muốn thể hiện sự vững vàng, sự vượt trội trước những lời châm chọc; vốn hiểu rõ tính cách của cha, phỏng đoán được vài thói nhỏ của ông, cô đã lường trước được màn kịch đang diễn ra này; nó không khiến cô bất ngờ, và cô muốn để nó trôi qua trong sự đường hoàng, đặt niềm tin vào phản ứng ngược lại. Nhưng sự đường hoàng ấy chẳng cứu vớt được cô lúc này. Bất chợt tâm hồn cô tan chảy trong ánh mắt; cô ngã gục vào cổ ông: — “Con không bỏ cha đâu; con sẽ không bao giờ bỏ cha. Con sẽ không làm cha đau lòng! Con sẽ không bao giờ làm cha đau lòng!” là tiếng khóc của cô.
“Con cừu nhỏ của ta! Báu vật của ta!” vị phụ huynh dù cộc cằn nhưng vô cùng yêu thương lẩm bẩm. Ông không nói thêm gì nữa trong khoảnh khắc ấy; quả thực, hai từ ấy nghẹn ngào khàn đợt.
Căn phòng giờ đây đang tối dần. Tôi nghe thấy tiếng động, một bước chân ngoài hành lang. Nghĩ rằng có lẽ là người hầu mang nến đến, tôi nhẹ nhàng mở cửa để ngăn sự quấy rầy. Đứng ở phòng ngoài không phải là người hầu: một quý ông cao lớn đang đặt chiếc mũ lên bàn, từ từ tháo găng tay — chần chừ, chờ đợi, theo tôi cảm nhận là vậy. Anh gọi tôi chẳng bằng dấu hiệu cũng chẳng bằng lời; thế nhưng ánh mắt anh lại nói rằng: — “Lucy, lại đây.” Và tôi đã bước tới.
Một nụ cười lướt nhẹ trên khuôn mặt anh khi anh cúi nhìn tôi: chẳng có tâm trạng nào, ngoại trừ của riêng anh, lại có thể diễn tả qua một nụ cười thứ tâm trạng bồn chồn đang nung nấu anh lúc này.
“Ông de Bassompierre ở trong đó — phải không cô?” anh hỏi, chỉ tay về phía phòng thư viện.
“Vâng.”
“Ngài ấy có để ý đến tôi trong bữa tối không? Ngài ấy có hiểu ý tôi không?”
“Có chứ, Graham.”
“Vậy là tôi được đưa lên để phán xét rồi, và cô ấy cũng vậy phải không?”
“Ông Home” (chúng tôi vẫn luôn và mãi tiếp tục gọi ông ấy là ông Home vào những lúc như thế) “đang nói chuyện với con gái mình.”
“Hà! Những khoảnh khắc này thật căng thẳng làm sao, Lucy!”
Anh thực sự vô cùng xao xuyến; bàn tay tuổi trẻ run lên; một sự hồi hộp mang tính sinh tử (tôi suýt viết là chí mạng, nhưng những từ ngữ ấy thật khó áp dụng cho một người tràn đầy sức sống như anh) — một sự hồi hộp sinh tử lúc thì kìm nén, lúc lại giục giã nhịp thở của anh: giữa bao nhiêu ruồi ro ấy, nụ cười trên môi anh chưa bao giờ phai nhạt.
“Ông ấy có giận lắm không, Lucy?”
“Cô ấy rất chung thủy, hỡi Graham.”
“Điều gì sẽ giáng xuống đầu tôi đây?”
“Graham, vận mệnh của anh chắc hẳn phải may mắn lắm.”
“Phải thế không? Nhà tiên tri nhân hậu! Được cổ vũ thế này, quả thực tôi phải là kẻ hèn nhát lắm mới dám chùn bước. Tôi nghĩ mình thấy mọi người phụ nữ đều chung thủy, Lucy ạ. Tôi nên yêu mến họ, và tôi thực sự thế. Mẹ tôi rất tuyệt vời; bà thật thiêng liêng; và cậu thì trung thực như sắt thép. Đúng thế không hả?”
“Vâng, Graham.”
“Vậy thì hãy cho tôi xin bàn tay của cô, người em đỡ đầu bé nhỏ của tôi: đó luôn là một bàn tay thân thiện với tôi từ trước đến nay. Và giờ thì cho canh bạc lớn thôi. Chúa hãy phù hộ cho lẽ phải. Lucy, hãy nói Amen đi!”
Anh quay lại, đợi cho đến khi tôi nói “Amen!” — điều mà tôi làm để chiều lòng anh: thứ ma lực cũ kỹ mỗi khi tôi làm theo lời anh bỗng quay trở lại. Tôi chúc anh thành công; và tôi thừa biết anh sẽ thành công. Anh sinh ra đã là kẻ chiến thắng, cũng như có những kẻ sinh ra đã là kẻ bại trận.
“Theo tôi!” anh nói; và tôi theo chân anh bước vào sự hiện diện của ông Home.
“Thưa ngài,” anh hỏi, “phán quyết dành cho tôi là gì ạ?”
Người cha nhìn anh: người con gái vẫn che giấu khuôn mặt.
“Này Bretton,” ông Home cất lời, “cậu đã dành cho tôi phần thưởng quen thuộc nhất của lòng hiếu khách. Tôi tiếp đón cậu; cậu lại tước đoạt đi thứ quý giá nhất của tôi. Tôi luôn vui mừng khi thấy cậu; cậu thì vui mừng khi thấy báu vật duy nhất tôi có. Cậu nói lời ngon ngọt với tôi; và trong lúc đó, tôi sẽ không nói là cậu đã cướp mất nó, nhưng tôi đang chịu cảnh tang tóc, và những gì tôi mất đi, xem ra cậu đã giành lấy được rồi.”
“Thưa ngài, tôi không thể hối hận.”
“Hối hận! Chẳng đời nào cậu hối hận! Không còn nghi ngờ gì nữa, cậu đang đắc thắng: John Graham ạ, cậu có một phần dòng máu lai giữa người vùng cao nguyên và tù trưởng, và có một chút vết tích của người Celt trong mọi thứ cậu nhìn, cậu nói và cậu suy nghĩ. Cậu mang thứ sự ranh mãnh và nét quyến rũ của họ. Mái tóc đỏ — (Thôi được rồi, Polly, mái tóc màu sáng) đấy, cái lưỡi đầy xảo trá và cái đầu lắm mưu mô, tất cả đều được di truyền lại hết.”
“Thưa ngài, tôi cảm thấy mình đủ chân thành,” Graham đáp; và một sắc đỏ chân chất của người Anh phủ kín khuôn mặt anh như bằng chứng ấm áp cho sự thành thật. “Và dẫu vậy,” anh nói thêm, “tôi không phủ nhận rằng ở vài phương diện, ngài đã buộc tội tôi hoàn toàn chính xác. Khi đối diện với ngài, tôi vẫn luôn ấp ủ một tâm tư mà mình không dám bày tỏ cho ngài thấy. Tôi thực sự xem ngài là chủ nhân của món quà quý giá nhất trên đời này đối với tôi. Tôi đã khao khát nó. Tôi đã cố gắng vì nó. Thưa ngài, giờ đây tôi xin được cầu xin nó.”
“John, cậu đòi hỏi nhiều quá đấy.”
“Rất nhiều thưa ngài. Nó phải đến từ sự hào phóng của ngài, như một món quà; từ công lý của ngài, như một phần thưởng. Con người tôi chẳng bao giờ đủ sức tự mình kiếm được nó cả.”
“Ái chà! Hãy lắng nghe cái giọng điệu miền cao nguyên ấy xem!” ông Home thốt lên. “Ngước lên nào, Polly! Hãy trả lời ‘gã cầu hôn bảnh bao’ này đi; đuổi cậu ta đi đi!”
Cô ngước nhìn lên. Cô ngượng ngùng liếc nhìn người kẻ cầu hôn đang hừng hực khí thế và tuấn tú. Cô đắm nhìn người cha có vầng trán nhăn nheo của mình bằng ánh mắt đầy trìu mến.
“Cha ơi, con yêu cả hai người,” cô nói; “con có thể chăm sóc cho cả hai. Con chẳng cần phải đuổi Graham đi đâu — anh ấy có thể sống ở đây; anh ấy sẽ chẳng phiền phức gì đâu,” cô quả quyết với cái vẻ ngây thơ trong cách dùng từ thỉnh thoảng vẫn khiến cả cha cô lẫn Graham phải mỉm cười. Lúc này họ cũng đang mỉm cười.
“Cậu ta sẽ cực kỳ phiền phức đối với ta ấy chứ,” ông Home vẫn kiên quyết. “Ta không cần cậu ta, Polly, cậu ta cao quá khổ; vướng chân vướng tay ta. Bảo cậu ta xéo đi.”
“Rồi cha sẽ quen với anh ấy thôi. Lúc đầu con thấy anh ấy cao khủng khiếp — cứ như một tòa tháp khi con ngước nhìn lên; nhưng nhìn chung, con thà cứ để anh ấy như thế còn hơn.”
“Ta phản đối cậu ta hoàn toàn, Polly ạ; ta sống thiếu con rể cũng chẳng sao. Ta chưa bao giờ có ý định nhờ vả người xuất sắc nhất cõi đời này đứng vào mối quan hệ đó với ta cả. Từ chối gã quý ông này đi.”
“Nhưng anh ấy đã quen biết cha lâu đến thế cơ mà, và lại rất hợp với cha nữa.”
“Hợp với ta lắm cơ đấy! Phải; cậu ta đã vờ như biến những quan điểm và sở thích của ta thành của chính mình. Cậu ta đã nịnh bợ ta vì những mục đích tốt đẹp. Ta nghĩ là, Polly, cha con mình sẽ nói lời tạm biệt với cậu ta thôi.”
“Chỉ đến ngày mai thôi mà. Hãy bắt tay với Graham đi cha.”
“Không: ta không nghĩ thế: ta chẳng phải bạn bè gì với cậu ta đâu. Đừng có hòng nịnh bọt ta giữa hai người.”
“Thật đấy, thật đấy, hai người là bạn mà. Graham, hãy chìa tay phải của anh ra đi. Cha, hãy đưa tay cha ra nào. Nào, để chúng chạm vào nhau đi. Cha ơi, đừng có cứng nhắc thế; hãy khép các ngón tay lại; hãy uyển chuyển lên nào — đấy! Nhưng thế đâu phải là nắm lấy — mà là bóp chặt thì có! Cha ơi, cha bóp mạnh như cái ê-tô ấy. Cha đang siết chặt tay Graham đến tận xương rồi kìa, cha làm anh ấy đau đấy!”
Chắc hẳn ông đã làm anh đau; bởi ông đang đeo một chiếc nhẫn lớn gắn đầy kim cương, những mặt cắt sắc nhọn của nó đã cứa vào da thịt Graham và rớm máu: nhưng sự đau đớn chỉ khiến bác sĩ John bật cười, cũng như sự lo lắng từng khiến anh mỉm cười vậy.
“Đi theo ta vào phòng làm việc,” cuối cùng ông Home bảo vị bác sĩ. Họ bước đi. Cuộc trao đổi của họ diễn ra không lâu, nhưng tôi đoán là nó mang tính quyết định. Kẻ cầu hôn phải trải qua một cuộc tra khảo và soi xét kỹ lưỡng về rất nhiều điều. Dù bác sĩ Bretton đôi khi có xảo quyệt trong ánh mắt và ngôn từ hay không, thì bên dưới vẫn là một nền tảng vững chắc. Những câu trả lời của anh, tôi được biết về sau, đã minh chứng cho cả sự khôn ngoan lẫn sự chính trực. Anh đã xoay sở ổn thỏa các công việc của mình. Anh đã vượt qua những rắc rối; cơ ngơi của anh đang trên đà khôi phục; anh chứng minh được rằng bản thân đã ở vị trí sẵn sàng để kết hôn.
Một lần nữa, người cha và người tình lại xuất hiện ở phòng thư viện. Ông de Bassompierre khép cửa lại; ông chỉ tay về phía con gái mình.
“Dắt nó đi,” ông nói. “Dắt nó đi, John Bretton: và cầu xin Chúa đối xử với anh thế nào tùy thuộc vào cách anh đối xử với con bé!”
Chẳng bao lâu sau, có lẽ khoảng nửa tháng, tôi nhìn thấy ba người, bá tước de Bassompierre, con gái ông và bác sĩ Graham Bretton, đang ngồi trên cùng một chiếc ghế dưới tán lá xum xuê thấp lè tè của một cội cây trong khuôn viên cung điện ở Bois l’Etang. Họ đến đó để tận hưởng buổi tối mùa hè: bên ngoài những chiếc cổng nguy nga, cỗ xe đang đợi sẵn để đón họ về nhà; những thảm cỏ xanh rờn trải dài xung quanh tĩnh lặng và mờ ảo; tòa nhà cung điện ẩn hiện đằng xa, trắng ngần như vách đá trên núi Pentelicus; ngôi sao buổi chiều lấp lánh bên trên nó; cả một khu rừng cây bụi nở hoa ướp hương cho bầu không khí chốn này; giờ phút thật tĩnh mịch và ngọt ngọt; khung cảnh, ngoại trừ nhóm người này ra, chẳng một bóng người.
Paulina ngồi giữa hai người đàn ông: trong lúc họ trò chuyện, đôi tay nhỏ bé của cô đang bận rộn với công việc gì đó; thoạt đầu tôi cứ nghĩ cô đang kết một bó hoa. Không; với chiếc kéo nhỏ xíu lấp lánh trên lòng đùi, cô vừa cắt những lọn tóc từ mái đầu nam tính của mỗi người bên cạnh, và giờ đang bận rộn tết lọn tóc bạc và gợn tóc vàng lại với nhau. Khi chiếc bết tóc đã hoàn thành — vì không có sẵn chỉ lụa để buộc — một lọn tóc của chính cô đã được dùng thay cho mục đích đó; cô thắt nó lại như một nút thắt, cất giấu nó trong một chiếc mề-đay và áp lên trái tim mình.
“Nào,” cô nói, “một chiếc bùa hộ mệnh đã được tạo ra, có phép thuật giữ cho hai người luôn là bạn. Hai người sẽ chẳng bao giờ có thể cãi nhau chừng nào em còn đeo cái này.”
Một chiếc bùa hộ mệnh thực sự đã được tạo ra, một thứ bùa chú được thiết lập khiến cho thù hận trở thành điều bất khả. Cô đã trở thành sợi dây liên kết cả hai, một sức mạnh chi phối mỗi người, một sự hòa hợp tương hỗ. Từ họ, cô thu nhận hạnh phúc, và những gì cô vay mượn, cô đều hoàn trả lại kèm theo cả lãi suất.
“Liệu có thực sự tồn tại hạnh phúc nhường này trên cõi đời ư?” tôi tự hỏi, khi ngắm nhìn người cha, người con gái, và người chồng tương lai, giờ đây đã quy tụ lại — tất cả đều tràn ngập phúc lành và mang lại hồng phúc.
Vâng; sự thật là thế. Chẳng cần bất kỳ sự tô hồng nào của tiểu thuyết, hay bất kỳ sự phóng đại nào của trí tưởng tượng, nó đích thực là vậy. Một vài cuộc đời thực sự — trong một số ngày tháng hay năm tháng nhất định — đã dự hưởng trước hạnh phúc nơi Thiên đường; và tôi tin rằng, nếu thứ hạnh phúc hoàn hảo ấy một khi đã được cảm nhận bởi những con người lương thiện (chúng không bao giờ đến với kẻ ác), thì hiệu ứng ngọt ngào của nó sẽ không bao giờ phai nhạt hoàn toàn. Bất chấp những thử thách nào nối tiếp, bất chấp mọi đớn đau bệnh tật hay bóng tối của tử thần, vinh quang đi trước vẫn chiếu rọi xuyên qua, sưởi ấm nỗi đau buốt giá và nhuộm thắm những tầng mây u ám.
Tôi sẽ tiến xa hơn thế. Tôi thực sự tin rằng có những con người sinh ra đã thế, được nuôi dưỡng thế, được dẫn dắt từ chiếc nôi êm đềm cho đến nấm mồ bình yên và muộn màng, đến mức không một nỗi thống khổ tột cùng nào có thể len lỏi vào số phận họ, và chẳng một giông bão đen tối nào có thể phủ bóng hành trình của họ. Và thường thì, họ không phải là những kẻ được nuông chiều, ích kỷ, mà là những lựa chọn ưu tú của Tạo Hóa, hài hòa và nhân hậu; những người đàn ông và đàn bà dịu dàng với lòng bác ái, là sứ giả tử tế cho những đặc tính nhân hậu của Chúa Trời.
Xin đừng để tôi trì hoãn chân lý hạnh phúc ấy. Graham Bretton và Paulina de Bassompierre đã kết hôn, và bác sĩ Bretton đã chứng minh bản thân chính là một sứ giả như thế. Theo thời gian, anh không hề thoái hóa; những thói hư tật xấu của anh mai một đi, những đức tính chín muồi thêm; anh thăng hoa trong sự tinh tế về trí tuệ, thu hoạch thêm những ích lợi về đạo đức: mọi cặn bã được lọc sạch, ly rượu trong suốt lắng đọng lại sáng ngời và yên bình. Tươi sáng thay, số phận của người vợ ngọt ngào của anh cũng vậy. Cô giữ được tình yêu của chồng, phò tá anh trên con đường tiến bước — và cô chính là hòn đá tảng cho hạnh phúc của anh.
Cặp đôi này quả thực đã được ban phước, bởi năm tháng mang đến cho họ, đi kèm với sự thịnh vượng lớn lao, chính là những đức hạnh cao cả: họ ban phát rộng rãi nhưng đầy khôn ngoan. Chắc chắn họ cũng từng nếm trải những trắc trở, thất vọng, khó khăn; nhưng tất cả đều được vượt qua một cách xuất sắc. Hơn một lần, họ cũng phải đối mặt với Ngài — Đấng mà khuôn mặt phàm trần khó lòng nhìn thấy mà vẫn sống sót: họ phải dâng lên tấm lòng thành kính của mình cho Vua của cõi chết. Khi tuổi đời đã viên mãn, ông de Bassompierre được rước đi; Louisa Bretton cũng ra đi ở tuổi xế chiều viên mãn. Thậm chí đã có lần vang lên trong dinh thự của họ tiếng khóc than của Rachel vì những đứa con đã mất; nhưng những đứa trẻ khác lại ra đời khỏe mạnh và phơi phới để thay thế cho những sinh linh đã khuất: bác sĩ Bretton thấy mình sống lại lần nữa trong hình hài một người con trai thừa hưởng diện mạo và tính khí của anh; anh cũng có những cô con gái kiều diễm, giống hệt mình: những đứa con ấy được anh nuôi dạy bằng một bàn tay vừa uyển chuyển vừa cương nghị; chúng lớn lên đúng theo sự di truyền và nền nếp gia phong.
Tóm lại, tôi chỉ nói sự thật khi cho rằng cuộc đời của cặp đôi Graham và Paulina được ban phước, tựa như đứa con được sủng ái của Jacob, với “những phúc lành từ thiên đàng bên trên, những phúc lành từ vực sâu nằm bên dưới.” Mọi chuyện vốn dĩ là thế, bởi Chúa nhìn thấy rằng điều đó thật tốt lành.