Villette

Lượt đọc: 197 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 40
Cặp Đôi Hạnh Phúc.

❊ ❊ ❊

Ngày tiếp theo sau đêm Giữa Hạ đáng nhớ ấy hoàn toàn không phải là một ngày bình thường. Tôi không có ý nói rằng nó mang theo những điềm báo trên bầu trời hay dị tượng dưới mặt gian; tôi cũng chẳng ám chỉ những hiện tượng khí tượng học nào như bão tố, lụt lội hay cuồng phong. Trái lại: mặt trời mọc lên vui tươi, rạng rỡ như một ngày tháng Bảy. Buổi sáng khoác lên sắc đẹp của mình những hạt hồng ngọc, lại chất đầy vào lòng nàng những đóa hồng đến mức chúng rơi lả tả xuống làm ứng hồng cả lối đi; các Nữ Thần Giờ Giấc thức giấc tươi tắn như những nàng tiên suối, trút những vò sương sớm lên các ngọn đồi, bước ra mà chẳng còn vương chút khói sương nào: không bóng râm, trong xanh và rực rỡ, họ dẫn dắt cỗ xe của mặt trời trên một chặng đường chói lọi và không một gợn mây.

Tóm lại, đó là một ngày đẹp trời nhất mà mùa hạ nào có thể tự hào; nhưng tôi hồ nghi không biết mình có phải là cư dân duy nhất trong phố Rue Fossette bận tâm hay nhớ để ghi nhận thực tế thú vị này hay không. Một ý nghĩ khác chiếm trọn tâm trí tất cả mọi người; quả thực, đó là một ý nghĩ cũng từng chiếm một phần trong những suy ngẫm của tôi; thế nhưng, vì mối bận tâm lớn lao này không mang lại cho tôi sự mới mẻ hoàn toàn, sự bất ngờ choáng váng, và đặc biệt là sự bí ẩn sâu sắc như những gì nó đem lại cho đa số những kẻ cùng tò mò với tôi, nên nó khiến tôi có phần cởi mở hơn những người khác đối với bất kỳ quan sát hay ấn tượng bên lề nào.

Dẫu vậy, khi đi dạo trong vườn, cảm nhận ánh nắng và ngắm nhìn những luống cây đang đơm hoa nảy lộc, tôi vẫn nghiền ngẫm đúng cái đề tài mà cả nhà đang bàn tán.

Đề tài gì?

Chỉ đơn giản thế này thôi. Khi giờ kinh sáng bắt đầu, có một chiếc giường trống ở hàng ghế đầu tiên của các nữ sinh nội trú. Khi bữa sáng được dọn lên, vẫn còn một tách cà phê không có ai nhận. Khi người hầu phòng đi dọn giường, cô tìm thấy ở một chiếc giường, người ta đặt dọc một chiếc gối ôm, được mặc cho một chiếc mũ trùm đầu và áo ngủ; và khi cô giáo dạy nhạc của Ginevra Fanshawe đến sớm như thường lệ để dạy buổi sáng, thì cái tiểu thư tài năng đầy triển vọng ấy, tức học trò của cô, lại hoàn toàn không xuất hiện.

Người ta lùng sục cô tiểu thư Fanshawe từ trên xuống dưới, lục tung cả ngôi nhà từ đầu đến cuối; nhưng vô ích; không một dấu vết, không một manh mối, thậm chí không một mẩu giấy nhắn nào để thưởng cho cuộc tìm kiếm; nàng tiểu thư đã biến mất, chìm nghỉm vào màn đêm vừa qua, tựa như một ngôi sao băng bị bóng tối nuốt chửng.

Sự hoang mang của các giáo viên giám thị sâu sắc bao nhiêu, thì sự kinh hoàng của nữ viện trưởng thất trách lại sâu sắc bấy nhiêu. Chưa bao giờ tôi thấy Madame Beck tái mét hay hoảng sợ đến thế. Đây là một đòn giáng vào phần nhạy cảm nhất, điểm yếu của bà; đây là một tổn hại giáng vào lợi ích của bà. Hơn nữa, sự kiện trớ trêu này đã xảy ra bằng cách nào nhỉ? Kẻ trốn chạy đã cất cánh qua lối nào? Không một ô cửa sổ nào mở hé, không một tấm kính nào vỡ; tất cả các cửa đều đã được chốt cài cẩn thận. Cho đến tận ngày nay, Madame Beck vẫn chưa nhận được một lời giải đáp thỏa đáng nào về điểm này, và thực ra cũng chẳng có ai khác liên quan, ngoại trừ đúng một người duy nhất, là tôi, Lucy Snowe – người không thể quên rằng, để tạo thuận lợi cho một mưu đồ nào đó, một cánh cửa lớn nào đó đã được khép nhẹ vào khung, thực ra là đã đóng lại, nhưng chẳng hề chốt hay khóa an toàn. Cỗ xe ngựa đôi phóng như bay bắt gặp lúc trước giờ đây cũng được gợi nhớ lại, cùng với tín hiệu khó hiểu ấy là chiếc khăn tay vẫy vẫy.

Từ những tiền đề này, cùng với một vài chi tiết khác mà ngoài tôi ra không ai có thể tiếp cận, tôi chỉ có thể rút ra một kết luận duy nhất. Đó là một vụ trốn theo người yêu. Hoàn toàn chắc chắn về điểm này, và thấy được sự bối rối tột cùng của Madame Beck, cuối cùng tôi đã bày tỏ niềm xác tín của mình. Sau khi nhắc đến cuộc theo đuổi của M. de Hamal, tôi nhận ra, đúng như dự đoán, Madame Beck đã nắm rõ như lòng bàn tay về vụ việc ấy. Từ lâu bà đã bàn bạc chuyện này với Mrs. Cholmondeley và trút bỏ trách nhiệm của mình trong vụ này lên vai người phụ nữ đó. Giờ đây, bà đành phải cầu cứu Mrs. Cholmondeley và M. de Bassompierre.

Chúng tôi phát hiện ra rằng khách sạn Hôtel Crécy đã hay tin về những gì xảy ra. Ginevra đã viết thư cho người họ hàng Paulina của mình, úp mở về ý định kết hôn; những thông báo từ gia đình de Hamal cũng đã được gửi tới; M. de Bassompierre đang lần theo dấu vết của đôi uyên ương. Ông đã bắt kịp họ nhưng quá muộn.

Trong tuần đó, bưu điện gửi cho tôi một bức thư. Tôi cứ chép lại nguyên văn thì hơn; nó chứa đựng lời giải thích cho không chỉ một vấn đề:—

“TIM GIÀ THÂN MẾN (viết tắt của Timon),— Thấy chưa, tôi chuồn đây—biến nhanh như một mũi tên. Alfred và tôi dự định cưới nhau theo cách này hầu như ngay từ đầu; tụi này chưa bao giờ có ý định kết hôn theo cái lối tẻ nhạt nhàm chán của người khác; Alfred quá ư hào phóng để làm thế, và tôi cũng vậy—Chúa phù hộ! Cậu có biết không, Alfred, kẻ từng gọi cậu là ‘con rồng,’ đã dành thời gian gặp cậu rất nhiều trong vài tháng qua, đến mức anh ấy bắt đầu cảm thấy vô cùng thân thiện với cậu. Anh ấy hy vọng cậu sẽ không thấy nhớ anh ấy giờ đây khi anh ấy đã đi rồi; anh ấy gửi lời xin lỗi vì bất kỳ phiền phức nhỏ nào mà anh ấy từng gây ra cho cậu. Anh ấy sợ rằng mình đã hơi làm phiền cậu một lần khi anh ấy bất ngờ xuất hiện trước mặt cậu trên gác mái, ngay lúc cậu đang đọc một bức thư có vẻ cực kỳ quan trọng; nhưng anh ấy không thể cưỡng lại sự cám dỗ muốn làm cậu giật mình, vì trông cậu có vẻ quá đỗi tập trung vào người gửi thư. Bù lại, anh ấy bảo rằng có lần cậu đã làm anh ấy hoảng sợ khi xông vào để lấy một chiếc váy, hay khăn choàng, hay một món đồ vặt vãnh nào đó, đúng vào lúc anh ấy vừa đánh lửa và chuẩn bị hút một điếu xì gà cho thư thả trong lúc chờ tôi.

“Đến lúc này cậu đã bắt đầu hiểu ra rằng M. le Comte de Hamal chính là nữ tu trên gác mái, và rằng anh ấy đến để thăm cô hầu hạ bé nhỏ của cậu chưa? Tôi sẽ kể cho cậu nghe anh ấy đã xoay sở thế nào. Cậu biết đấy, anh ấy có quyền ra vào trường Athénée, nơi có hai hoặc ba người cháu của anh ấy, các con của người chị cả, Madame de Melcy, đang theo học. Cậu biết sân của trường Athénée nằm ở bên kia bức tường cao bao quanh lối đi dạo của các cậu, cái lối allée défendue. Alfred leo trèo cừ khôi chẳng kém gì khiêu vũ hay đấu kiếm: trò tiêu khiển của anh ấy là vượt rào cái trường nội trú của chúng ta bằng cách trèo qua trước tiên là bức tường; sau đó—nhờ sự trợ giúp của cái cây cao tỏa bóng trùm lên vòm cây lớn, với một vài cành vắt sang mái của các tòa nhà thấp hơn trong khuôn viên chúng ta—anh ấy đã xoay sở leo lên được phòng học lớn thứ nhất và phòng đại sảnh. Nhân tiện, có một đêm, anh ấy ngã từ trên cây này xuống, làm gãy vài cành cây, suýt gãy cả cổ, và xét cho cùng, lúc bỏ chạy lại còn bị một phen hoảng sợ tột độ, suýt bị bắt bởi hai người, mà anh ấy nghĩ là Madame Beck và M. Emanuel đang đi dạo trong lối đi. Từ phòng đại sảnh, việc leo lên dãy nhà cao nhất, kết thúc ở căn gác mái lớn, không hề khó khăn. Ô lấy sáng, cậu biết đấy, cứ để hé một nửa cả ngày lẫn đêm để lấy thoáng khí; anh ấy đã đột nhập vào qua ô cửa ấy. Gần một năm trước, tình cờ tôi kể cho anh ấy nghe truyền thuyết về bà sơ của chúng ta; điều đó đã gợi lên trong đầu anh ấy ý tưởng lãng mạn về lớp cải trang ma quái, mà tôi nghĩ cậu phải thừa nhận là anh ấy đã thực hiện một cách cực kỳ khéo léo.

“Nếu không nhờ chiếc áo choàng đen và khăn voan trắng của bà sơ, thì anh ấy đã bị bắt đi bắt lại không biết bao nhiêu lần bởi cả cậu lẫn tay linh hồn Dòng Tên hổ báo đó, M. Paul. Anh ấy nghĩ cả hai cậu đều là những kẻ thấy ma xuất sắc và rất dũng cảm. Điều làm tôi ngạc nhiên hơn chính là tính bảo mật chứ không phải lòng dũng cảm của cậu. Sao cậu có thể chịu đựng những chuyến viếng thăm của con ma cao lênh khênh đó, hết lần này đến lần khác, mà không hề kêu lên, không kể cho mọi người nghe, rồi làm náo động cả nhà lẫn khu phố chứ?

“Ồ, thế còn cậu thấy bà sơ làm bạn cùng giường thế nào? Tôi đã trang điểm cho ả đấy: tôi làm khéo chứ? Cậu có thét lên khi thấy ả không chứ? Tôi chắc đã phát điên lên rồi; nhưng ngặt nỗi cậu lại có thứ thần kinh thép như vậy!—đích thị là sắt với da thuộc uốn! Tôi tin là cậu chẳng cảm thấy gì sất. Cậu không hề có sự nhạy cảm như một người có cấu trúc cơ thể như tôi. Cậu đối với tôi có vẻ dơ dở ương ương, vô cảm trước cả đau đớn, sợ hãi lẫn buồn đau. Cậu đúng là một lão Diogenes chính cược.

“Nào, bà ngoại thân mến! Cậu không hề nổi giận đùng đùng trước chuyến trốn chạy dưới ánh trăng và cuộc cưới gả lén lút của tôi sao? Tôi đảm bảo với cậu là nó cực kỳ vui nhộn, và một phần tôi làm thế là để chọc tức cái con ranh Paulina đó, cùng với gã gấu ngựa Dr. John: để chứng minh cho họ thấy rằng, dù có ra điều kiêu kỳ đến đâu đi nữa, tôi vẫn có thể lấy chồng tốt chẳng kém gì họ. M. de Bassompierre ban đầu nổi giận lôi đình với Alfred; ông ấy đe dọa kiện tội ‘dụ dỗ trẻ vị thành niên,’ và tôi chẳng biết gì nữa; ông ấy tỏ ra nghiêm túc đến mức gớm ghiếc, khiến tôi thấy mình buộc phải diễn một chút kịch u sầu—quỳ sụp xuống, nức nở, khóc lóc, làm đẫm ướt cả ba chiếc khăn tay. Tất nhiên, ‘người bác’ cũng sớm chịu thua; mà thực ra làm ầm ĩ lên thì được ích gì chứ? Tôi đã kết hôn rồi, và mọi chuyện chỉ có thế thôi. Ông ấy vẫn bảo cuộc hôn nhân của chúng tôi là không hợp pháp, vì suy cho cùng tôi chưa đủ tuổi vị thành niên! Cứ làm như điều đó tạo ra sự khác biệt nào không bằng! Tôi đã kết hôn trọn vẹn chẳng khác gì khi tôi đã trăm tuổi. Dù sao thì, chúng tôi sẽ tổ chức cưới lại lần nữa, và tôi sẽ có một bộ đồ cưới do chính Mrs. Cholmondeley giám sát; và có hy vọng là M. de Bassompierre sẽ cho tôi một chút của hồi môn tươm tất, điều đó sẽ rất tiện lợi vì anh Alfred thân yêu chẳng có gì ngoài tước vị quý tộc bẩm sinh, gia truyền cùng tiền lương của anh ấy. Tôi chỉ ước gì bác chịu làm mọi thứ một cách vô điều kiện, theo kiểu hào phóng, đúng chất quý ông; ông ấy lại tỏ ra khó tính đến mức bắt của hồi môn phải phụ thuộc vào việc Alfred đưa ra cam kết bằng văn bản rằng anh ấy sẽ không bao giờ sờ đến bài bạc hay xúc xắc kể từ ngày tiền được trao tay. Họ buộc tội thiên thần của tôi có khu hướng cờ bạc: tôi chẳng biết gì về chuyện đó, nhưng tôi biết chắc anh ấy là một sinh vật đáng yêu, ngọt ngào.

“Tôi không thể ca ngợi cho xiết thiên tài mà de Hamal đã xoay sở cho cuộc trốn chạy của chúng ta. Thật khôn ngoan làm sao khi anh ấy chọn đúng đêm diễn ra lễ hội, lúc Madame (vì anh ấy nắm rõ thói quen của bà), như anh ấy nói, chắc chắn sẽ vắng mặt tại buổi hòa nhạc trong công viên. Chắc là cậu đã đi cùng bà ấy rồi. Tôi đã dõi theo cậu đứng dậy và rời khỏi phòng ngủ tập thể vào khoảng mười một giờ. Làm sao mà cậu có thể trở về một mình và đi bộ được nhỉ, tôi thật không tài nào đoán nổi. Chẳng phải đó là cậu mà chúng tôi đã gặp ở con phố hẹp cổ kính Rue St. Jean đấy chứ? Cậu có thấy tôi vẫy khăn tay từ cửa sổ xe ngựa không?

“Tạm biệt nhé! Hãy vui mừng cho vận may của tôi: hãy chúc mừng cho hạnh phúc tột đỉnh của tôi, và hãy tin tôi, hỡi kẻ hoài nghi và bất yếm thế thân mến, ký tên:

GINEVRA LAURA DE HAMAL,

nhũ danh FANSHAWE.

“T.S.—Hãy nhớ rằng bây giờ tôi là một nữ bá tước rồi nhé. Cha, mẹ, và các cô em gái ở nhà sẽ vô cùng hạnh phúc khi nghe điều đó. ‘Con gái ta là Nữ bá tước!’ ‘Em gái ta là Nữ bá tước!’ Hoan hô! Nghe lọt tai hơn cái mác Mrs. John Bretton nhiều phải không, hử?”

Khi khép lại những dòng hồi ức của cô nàng Fanshawe, hẳn độc giả sẽ trông đợi được nghe rằng cuối cùng nàng cũng phải gánh chịu sự đền tội cay đắng cho những thói hời hợt thời trẻ dại của mình. Tất nhiên, một phần lớn đau khổ vẫn đang chờ đón nàng ở tương lai.

Chỉ vài lời thôi cũng đủ để gói gọn những hiểu biết xa hơn của tôi về nàng.

Tôi đã gặp nàng vào khoảng cuối tuần trăng mật. Nàng đến thăm Madame Beck và cho gọi tôi ra phòng khách. Nàng lao vào vòng tay tôi và cười phá lên. Trông nàng vô cùng phơi phới và xinh đẹp: những lọn tóc xoăn dài hơn, đôi má ửng hồng hơn bao giờ hết: chiếc mũ trắng và tấm mạng che mặt vùng Flanders, những đóa hoa cam và chiếc váy cô dâu thực sự rất hợp với nàng.

“Tôi đã nhận được của hồi môn rồi!” nàng reo lên ngay lập tức; (Ginevra lúc nào cũng bám chặt lấy những giá trị vật chất; tôi luôn nghĩ trong tính cách của nàng ẩn chứa một tố chất buôn bán rất lớn, dẫu nàng có khinh bỉ tầng lớp ‘trưởng giả’ đến đâu đi nữa); “và bác de Bassompierre đã hoàn toàn nguôi giận. Tôi chẳng bận tâm việc ông ấy gọi Alfred là ‘kẻ ngốc nghếch’—đó chỉ là cách nói thô lỗ của người Scotland thôi; và tôi tin là Paulina đang ghen tị với tôi, còn Dr. John thì phát cuồng vì ghen tuông—tức đến mức muốn tự sát đến nơi rồi—và tôi hạnh phúc quá đi mất! Tôi thực sự nghĩ rằng mình chẳng còn gì để mong ước nữa—trừ phi đó là một cỗ xe ngựa và một căn biệt thự, và, ồ! Tôi—phải giới thiệu với cậu ‘mon mari’ mới được. Alfred, lại đây nào!”

Và Alfred xuất hiện từ căn phòng khách bên trong, nơi anh đang trò chuyện với Madame Beck, nhận những lời chúc mừng lẫn quở trách pha trộn từ người phụ nữ đó. Tôi được giới thiệu bằng những cái tên quen thuộc của mình: Con Rồng, Diogenes, và Timon. Viên Đại tá trẻ tuổi rất lịch sự. Anh gửi lời xin lỗi được trau chuốt, lựa lời gọn gẽ về những vụ viếng thăm của con ma, v.v., rồi kết luận bằng câu nói rằng “lời xin lỗi tốt nhất cho mọi tội lỗi của anh ấy đang đứng kìa!” vừa nói vừa chỉ tay về phía cô dâu của mình.

Và rồi cô dâu đẩy anh trở lại chỗ Madame Beck, còn nàng kéo tôi về phía mình và tiến hành bóp nghẹt tôi theo đúng nghĩa đen bằng tinh thần không kiềm chế nổi, những trò vô nghĩa ngây ngô, chóng mặt và hoang dại của một thiếu nữ. Nàng khoe chiếc nhẫn với vẻ hân hoan tột độ; nàng tự gọi mình là Madame la Comtesse de Hamal, và hỏi câu đó nghe thế nào đến cả chục lần. Tôi nói rất ít. Tôi chỉ cho nàng thấy lớp vỏ bánh cứng nhắc và khô cằn trong bản chất của mình. Chẳng sao cả—nàng chẳng mong đợi gì hơn ở tôi—nàng hiểu tôi quá rõ để mà trông đợi những lời khen ngợi—những lời châm chọc khô khan của tôi làm nàng hài lòng, và bộ dạng càng vô cảm, càng phàm tục bao nhiêu, nàng lại càng cười vang bấy nhiêu.

Chẳng bao lâu sau đám cưới, M. de Hamal được thuyết phục rời khỏi quân ngũ như là cách chắc chắn nhất để tách anh ta khỏi một số hội nhóm và thói quen vô bổ; một chức vụ tùy viên ngoại giao đã được lo liệu cho anh, và anh cùng người vợ trẻ đã lên đường ra nước ngoài. Tôi cứ ngỡ bây giờ cô ta sẽ quên béng tôi đi mất, nhưng không phải thế. Trong nhiều năm trời, cô ta vẫn duy trì một kiểu thư từ thất thường, ngẫu hứng. Trong một hoặc hai năm đầu, cô ta chỉ viết về bản thân mình và Alfred; sau đó, Alfred lùi dần vào hậu trường; bản thân cô ta và một nhân vật mới xuất hiện chiếm ưu thế; một tiểu sinh tên là Alfred Fanshawe de Bassompierre de Hamal bắt đầu trị vì thay cho người cha. Đã có rất nhiều lời khoe khoang về nhân vật này, những sự phóng đại quá mức về những điều kỳ diệu của sự phát triển sớm, kết hợp với những lời chỉ trích gay gắt chống lại sự hoài nghi lạnh lùng mà tôi dành cho chúng. Tôi chẳng biết “làm mẹ là thế nào cả;” “một kẻ vô cảm như tôi thì sự nhạy cảm của trái tim người mẹ hoàn toàn là tiếng Hy Lạp với tiếng Hebrew đối với tôi,” cứ thế và vân vân. Đúng theo quy luật tự nhiên, cậu ấm này cũng vượt qua các cột mốc tốt nghiệp như mọc răng, sởi, ho gà: đó là một khoảng thời gian kinh khủng đối với tôi—những bức thư của người làm mẹ bỗng biến thành những tiếng kêu gào thảm thiết; chưa từng có người phụ nữ nào bị hành hạ bởi tai họa đến thế; chưa từng có con người nào lại cần sự đồng cảm đến mức độ ấy. Ban đầu tôi thấy sợ hãi, và viết thư hồi âm đầy cảm thông; nhưng tôi sớm nhận ra chuyện đó chẳng khác nào “lời kêu to nhưng ít lông,” và tôi lại rơi trở lại vào bản chất vô cảm tàn nhẫn vốn có của mình. Còn về phần cậu tiểu vương chịu đựng kia, cậu ta vượt qua từng cơn bão giông như một anh hùng. Năm lần cậu nhóc ấy rơi vào cảnh “thập tử nhất sinh,” và năm lần cậu ta đều hồi sinh một cách kỳ diệu.

Qua năm tháng, những lời bàn tán đầyềm gở bắt đầu nổi lên chống lại Alfred đệ nhất; M. de Bassompierre lại phải được cầu cứu, những khoản nợ phải được thanh toán, một vài trong số đó thuộc cái loại ảm đạm và đen tối mang tên “nợ danh dự;” những lời kêu ca hèn mọn và những rắc rối trở nên cơm bữa. Dưới mọi đám mây giông, bất kể bản chất của nó là gì, Ginevra vẫn cất cao giọng đòi đồng cảm và giúp đỡ như thuở nào. Nàng chẳng có khái niệm gì về việc tự mình đối mặt với bất kỳ sự khốn khó nào. Dưới hình thức này hay hình thức khác, từ nguồn này hay nguồn khác, nàng hầu như chắc chắn đạt được ý nguyện, và cứ thế nàng sống sót qua ngày—chiến đấu với trận chiến cuộc đời qua tay kẻ khác, và nhìn chung, chịu đựng ít đau khổ nhất trong số những con người mà tôi từng biết.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Charlotte Brontë

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.