Vườn Bí Mật

Lượt đọc: 110 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8
Chú Chim Cổ Đỏ Chỉ Đường

❊ ❊ ❊

Con bé đứng ngắm chiếc chìa khóa hồi lâu. Nó xoay đi xoay lại và suy ngẫm về món đồ ấy. Như tôi đã từng nói, Mary không phải là đứa trẻ được dạy dỗ thói quen xin phép hay hỏi ý kiến người lớn trước bất cứ việc gì. Tất cả những gì nó nghĩ về chiếc chìa khóa chỉ đơn giản là nếu đây thực sự là chìa khóa mở khu vườn bị khóa kín, và nếu nó tìm được cánh cửa ở đâu, thì rất có thể nó sẽ mở được cửa để xem bên trong có gì, và những cây hoa hồng cổ thụ ra sao. Chính vì nơi đó đã bị bỏ hoang từ lâu nên nó càng khao khát được khám phá. Nơi ấy có vẻ khác biệt hoàn toàn với những chốn khác, và hẳn điều gì kỳ lạ đã xảy ra với nó suốt mười năm qua. Thêm vào đó, nếu thích, nó có thể lui tới mỗi ngày rồi khép cửa lại phía sau, tự vẽ ra những trò chơi của riêng mình và chơi một mình một thế giới, bởi chẳng ai biết nó đang ở đâu, ai nấy đềuinh đinh rằng cánh cửa vẫn khóa chặt và chiếc chìa khóa đã vùi sâu dưới đất. Ý nghĩ đó khiến nó vô cùng thích thú.

Việc sống thui thủi một mình trong một ngôi nhà có tới hàng trăm căn phòng đóng cửa bí ẩn, chẳng có gì để giải trí, đã đánh thức bộ óc lười vận động của nó và khơi nguồn trí tưởng tượng. Không còn nghi ngờ gì nữa, bầu không khí trong lành, mạnh mẽ và tinh khiết từ cánh đồng hoang đã góp phần rất lớn vào sự thay đổi ấy. Tương tự như việc nó giúp con bé thèm ăn hơn, hay những trận cuồng phong chống chọi với gió lớn đã sưởi ấm dòng máu trong người, những yếu tố ấy cũng làm tâm trí nó bừng tỉnh. Ở Ấn Độ, nó luôn cảm thấy oi bức, uể oải và yếu ớt đến mức chẳng bận tâm đến điều gì, nhưng ở chốn này, nó bắt đầu biết quan tâm và muốn làm những điều mới mẻ. Nó đã cảm thấy bớt "bướng bỉnh" đi phần nào, dẫu chẳng hiểu vì sao.

Nó đút chìa khóa vào túi rồi rảo bước dọc theo lối đi. Dường như chẳng có ai lai vãng tới đây ngoài nó, thế nên nó cứ thong thả bước đi, ngắm nhìn bức tường, hay đúng hơn là đám cây thường xuân bám quanh đó. Thường xuân chính là thứ gây tò mò nhất. Dù có tỉ mỉ quan sát thế nào đi nữa, nó cũng chẳng thấy gì ngoài những chiếc lá xanh đậm, dày dặn và bóng bẩy. Mary vô cùng thất vọng. Một chút bướng bỉnh trong người lại trỗi dậy khi nó bước đi dọc lối mòn, phóng tầm mắt qua bức tường để nhìn những ngọn cây ở phía bên trong. Thật ngớ ngẩn làm sao khi ở ngay sát bên mà lại chẳng thể bước vào, nó tự nhủ. Khi quay trở lại ngôi nhà, nó cầm theo chiếc chìa khóa và tự quyết định sẽ luôn mang theo bên mình mỗi khi ra ngoài, để nhỡ đâu có tìm thấy cánh cửa giấu kín thì nó đã sẵn sàng.

Bà Medlock đã cho phép Martha ngủ qua đêm ở nhà, nhưng sáng hôm sau cô bé đã có mặt để làm việc với đôi má đỏ hây hây và tinh thần vô cùng phấn chấn.

"Em dậy từ lúc bốn giờ đấy," cô bé hào hứng kể. "Chà! Sáng sớm trên đồng hoang đẹp lắm cơ, chim chóc ríu rít thức giấc, thỏ chạy nhảy tung tăng và mặt trời thì đang mọc. Em không đi bộ suốt quãng đường đâu. Có một bác nông dân cho em đi nhờ xe ngựa, và em phải thú thực là em đã rất vui."

Cô bé huyên náo kể về những điều tuyệt vời trong ngày nghỉ của mình. Mẹ cô rất vui mừng khi thấy con gái về thăm, và hai mẹ con đã nhanh chóng hoàn tất việc làm bánh giặt giũ. Cô thậm chí còn làm cho mỗi đứa em một chiếc bánh bột có pha chút đường nâu.

"Em nướng xong là chúng vừa đi chơi trên đồng hoang về, bánh hãy còn nóng hổi bốc nghi ngút khói. Cả ngôi nhà thơm ngức mùi bánh nướng nóng giòn, lại thêm lò sưởi ấm áp nữa, khiến lũ trẻ hò reo vì sung sướng. Cậu Dickon nhà em còn bảo nhà mình đáng giá bằng cả cung điện vua ở."

Buổi tối, tất cả quây quần bên đống lửa, Martha cùng mẹ vá víu lại những bộ quần áo rách và khâu lại tất, trong khi Martha kể cho gia đình nghe về cô bé từ Ấn Độ mới chuyển đến, người suốt đời chỉ quen được phục vụ bởi những kẻ mà Martha gọi là "người da đen" đến mức chẳng biết tự xỏ tất cho mình.

"Chà, chúng thích nghe chuyện về chị lắm đấy," Martha nói. "Chúng muốn biết tất tần tật về những người da đen và con tàu mà chị đã đi. Em kể mãi mà chúng vẫn chưa chán."

Mary trầm ngâm suy nghĩ một lát.

"Tôi sẽ kể cho cô nghe nhiều điều thú vị nữa trước ngày nghỉ tới của cô," con bé nói, "để cô có thêm chuyện mà kể. Tôi cá là chúng sẽ rất thích nghe chuyện cưỡi voi, cưỡi lạc đà, hay chuyện các vị quan đi săn hổ đấy."

"Ôi trời ơi!" Martha kêu lên đầy phấn khích. "Chắc chúng phát cuồng lên mất thôi! Chị làm thật thế chứ, thưa tiểu thư? Sẽ giống hệt như gánh xiễu thú hoang mà người ta đồn từng đến York diễn vậy."

Mary chậm rãi suy ngẫm rồi đáp: "Ấn Độ khác hẳn vùng Yorkshire. Tôi chưa từng nghĩ đến điều đó. Dickon và mẹ cô thích nghe cô kể về tôi à?"

"Ôi chao, mắt cậu Dickon nhà em trố cả lên, mở to tròn vo ấy chứ," Martha đáp. "Nhưng mẹ em thì lo lắng khi thấy chị cứ thui thủi một mình như vậy. Mẹ hỏi: 'Thế ông Craven không thuê gia sư hay vú em gì cho con bé à?' và em bảo: 'Không ạ, dù bà Medlock bảo thế nào ông ấy cũng sẽ nhớ ra thôi, nhưng bà ấy bảo có khi phải hai ba năm nữa ông ấy mới nghĩ đến.'"

"Tôi không cần gia sư," Mary lạnh lùng đáp.

"Nhưng mẹ em bảo ở tuổi này chị phải học chữ rồi, lại cần có người phụ nữ chăm sóc nữa chứ. Mẹ bảo rằng: 'Này Martha, con thử đặt mình vào hoàn cảnh đó xem, sống ở một nơi rộng lớn thế này, cứ lang thang một mình chẳng có mẹ bên cạnh. Con hãy cố gắng làm cho con bé vui lên nhé,' và em đã hứa là sẽ làm như vậy."

Mary nhìn cô bé chăm chú và lâu hơn bình thường.

"Cô làm tôi vui lên thật mà," con bé nói. "Tôi thích nghe cô trò chuyện."

Lát sau, Martha đi ra khỏi phòng rồi quay lại với thứ gì đó được giấu phía sau tạp dề.

Cô bé cười tươi rói và nói: "Đố chị biết em mang gì về này. Em mua quà cho chị đấy."

"Quà á!" Tiểu thư Mary kinh ngạc thốt lên. Một gia đình mười bốn miệng ăn nghèo túng thì làm sao có thể tặng quà cho ai được cơ chứ!

Martha giải thích: "Có một người đàn ông đi xe ngựa qua đồng hoang bán hàng rong. Ông ấy dừng xe ngay trước cửa nhà em. Trên xe bán đủ thứ xoong nồi cùng linh tinh đủ kiểu, nhưng mẹ em thì chẳng có đồng nào để mua. Đúng lúc ông ấy sắp đi thì con 'Lizabeth Ellen nhà em hét lên: 'Mẹ ơi, chú ấy có dây nhảy cán đỏ cán xanh kìa.' Thế là mẹ em vội vàng gọi giật giọng: 'Này, dừng lại đã bác gì ơi! Bao nhiêu tiền một chiếc thế ạ?' Ông ấy bảo 'Hai xu', và mẹ em bắt đầu lục lọi túi xách rồi bảo em rằng: 'Martha, con đã đưa hết tiền công cho mẹ như một đứa con ngoan, mẹ đã chia từng xu vào bốn chỗ rồi, nhưng mẹ vẫn sẽ lấy ra hai xu để mua cho đứa trẻ kia cái dây nhảy,' thế là mẹ mua đấy, nó đây này."

Cô bé lấy món đồ từ dưới tạp dề ra và tự hào khoe nó. Đó là một sợi dây thừng chắc chắn, mảnh mai, với hai đầu cán cầm được bọc sọc đỏ và xanh, nhưng Mary Lennox thì chưa từng nhìn thấy sợi dây nhảy nào bao giờ. Con bé ngước nhìn nó với vẻ mặt đầy khó hiểu.

"Cái này dùng để làm gì?" nó tò mò hỏi.

"Để làm gì á!" Martha kêu lên. "Ý chị là ở Ấn Độ không có dây nhảy chắc, dù họ có cả voi, hổ và lạc đà á? Hèn chi mà phần lớn bọn họ đều da đen cả. Nó dùng để làm thế này này; cứ nhìn em làm mẫu nhé."

Nói rồi cô bé chạy ra giữa phòng, tay cầm hai đầu cán và bắt đầu nhảy, nhảy liên hồi, trong khi Mary ngẩn người ngồi quay ghế lại nhìn, còn những bức chân dung cũ kỹ trên tường dường như cũng đang trố mắt nhìn cô bé, thầm tự hỏi tại sao một đứa con nhà quê thấp kém này lại dám cả gan làm cái trò hỗn xược ấy ngay trước mặt họ. Nhưng Martha chẳng mảy may để ý đến họ. Sự tò mò và hứng thú hiện rõ trên khuôn mặt tiểu thư Mary khiến cô bé vô cùng thích thú, thế là cô cứ tiếp tục nhảy và đếm đều đặn cho đến khi chạm mốc một trăm.

"Em còn nhảy lâu hơn thế cơ," cô bé ngừng lại và nói. "Hồi mười tuổi em đã từng nhảy liền một mạch năm trăm cái rồi, chỉ có điều hồi đó em không béo như bây giờ và lúc nào cũng luyện tập thường xuyên."

Mary đứng dậy khỏi ghế, bản thân cũng bắt đầu cảm thấy phấn khích.

"Trông thú vị phết nhỉ," con bé nói. "Mẹ cô là một người tốt bụng. Cô nghĩ tôi có thể nhảy được như thế không?"

Martha vừa đưa dây nhảy cho Mary vừa giục giã: "Chị cứ thử xem đi. Mới đầu thì không nhảy được một trăm cái đâu, nhưng cứ luyện tập rồi sẽ tăng dần lên thôi. Mẹ em bảo thế đấy. Mẹ bảo rằng: 'Chẳng có gì tốt cho con bé hơn là nhảy dây cả. Đó là món đồ chơi thiết thực nhất mà một đứa trẻ có thể có. Cứ để nó ra ngoài hít thở không khí trong lành mà nhảy nhót, chân tay sẽ dẻo dai và khỏe mạnh lên ngay.'"

Rõ ràng là chân tay tiểu thư Mary chẳng lấy gì làm khỏe khoắn cho lắm khi mới bắt đầu tập nhảy. Con bé không khéo léo gì cho cam, nhưng vì quá thích thú nên chẳng muốn dừng lại chút nào.

"Mặc áo khoác vào rồi ra ngoài trời mà nhảy đi chị," Martha giục. "Mẹ bảo em phải nhắc chị ra ngoài trời càng nhiều càng tốt, kể cả khi trời có lất phất mưa đi nữa, miễn là mặc ấm vào là được."

Mary mặc áo khoác, đội mũ rồi vắt sợi dây nhảy lên tay. Nó mở cửa bước ra ngoài, nhưng rồi chợt nhớ ra điều gì đó nên quay người bước vào khá chậm chạp.

"Martha," con bé nói, "đó là tiền công của cô. Thực ra đó là hai xu của cô. Cảm ơn cô nhé." Nó nói một cách cứng nhắc bởi vốn chẳng quen với việc cảm ơn ai hay để ý đến việc người khác làm vì mình. "Cảm ơn cô," nó nói tiếp và chìa tay ra vì chẳng biết phải làm gì hơn.

Martha nắm lấy bàn tay ấy rồi lắc nhẹ một cách vụng về, cứ như thể cô bé cũng chẳng quen với kiểu đối xử này mấy. Rồi cô bé bật cười.

"Chà! Chị đúng là một con ranh cụ non kỳ lạ," cô bé bảo. "Nếu chị mà là con 'Lizabeth Ellen nhà em thì thể nào cũng thơm má em một cái rồi."

Khuôn mặt Mary càng lúc càng trở nên cứng đờ hơn.

"Cô muốn tôi hôn cô à?"

Martha lại cười lớn.

"Thôi đi, em nào dám. Nếu chị là người cởi mở thì có lẽ chị đã tự muốn thế rồi. Nhưng chị thì không đâu. Thôi ra ngoài kia mà chơi dây đi."

Tiểu thư Mary cảm thấy hơi ngượng ngùng khi bước ra khỏi phòng. Người dân Yorkshire có vẻ thật kỳ lạ, và Martha thì lúc nào cũng là một câu đố đối với nó. Ban đầu nó ghét cô bé lắm, nhưng giờ thì không còn thế nữa.

Sợi dây nhảy quả là một vật tuyệt diệu. Nó vừa đếm vừa nhảy, nhảy rồi lại đếm cho đến khi hai má đỏ hừng hực, cảm thấy hứng thú hơn bất cứ thứ gì kể từ khi sinh ra đời. Mặt trời đang tỏa nắng và một làn gió nhẹ thổi qua—không phải cơn gió dữ dội, mà là những đợt gió thoảng qua dịu ngọt mang theo hương thơm tươi mới của đất vừa được xới lên. Nó nhảy vòng quanh khu vườn có đài phun nước, chạy dọc lối này rồi lại lượn sang lối khác. Cuối cùng, nó nhảy vào khu vườn trồng rau củ và bắt gặp Ben Weatherstaff đang cào đất, vừa làm vừa trò chuyện với chú chim cổ đỏ đang nhảy nhót xung quanh ông. Nó nhảy chầm chậm tiến về phía ông, và ông ngẩng đầu lên, nhìn nó với một ánh mắt đầy tò mò. Mary đã tự hỏi liệu ông có để ý đến mình không. Thực lòng nó rất muốn ông thấy mình đang nhảy dây.

"Chà!" ông thốt lên. "Ôi chao! Hóa ra mày cũng chỉ là một đứa trẻ, và trong huyết quản mày vẫn chảy dòng máu trẻ thơ chứ không phải thứ sữa bơ chua ngoét. Mày đã nhảy đến mức đỏ cả má lên rồi đấy, thề có danh dự Ben Weatherstaff này. Tao cứ tưởng mày chẳng đời nào làm nổi."

"Tôi chưa bao giờ nhảy dây cả," Mary đáp. "Tôi mới bắt đầu tập thôi. Tôi mới chỉ đếm được đến hai mươi."

"Cứ nhảy tiếp đi," Ben bảo. "Dáng nhảy thế là khá khẩm lắm rồi đấy, đối với một con nhóc sống với lũ ngoại đạo. Cứ nhìn cách nó đang quan sát mày kìa," ông hất đầu về phía chú chim cổ đỏ. "Hôm qua nó đã bám theo mày rồi đấy. Hôm nay thế nào nó cũng lại giở chứng ấy cho xem. Kiểu gì nó cũng phải tìm cho ra sợi dây nhảy là cái quái gì. Nó chưa thấy bao giờ đâu. Chà!" ông vừa lắc đầu về phía con chim vừa nói, "cái tính tò mò sớm muộn gì cũng hại chết mày đấy chú ạ, nếu không cẩn thận vào."

Mary nhảy vòng qua tất cả các khu vườn và cả vườn cây ăn trái, cứ cách vài phút lại dừng lại nghỉ chân. Cuối cùng, nó tiến về lối đi quen thuộc của riêng mình và quyết tâm thử xem có nhảy suốt chiều dài của nó được không. Đó là một đoạn đường khá dài và nó bắt đầu với tốc độ chậm rãi, nhưng đi chưa được nửa đường thì nó đã thở hồng hộc vì nóng và buộc phải dừng lại. Nó chẳng buồn lắm vì dẫu sao cũng đã đếm được đến ba mươi rồi. Nó dừng lại với một tiếng cười nhỏ đầy thích thú, và kìa, ngay trước mắt nó, chú chim cổ đỏ đang đung đưa trên một cành thường xuân dài. Con chim đã bám theo nó và cất tiếng hót líu lo chào hỏi. Khi Mary nhảy hướng về phía nó, con bé cảm thấy có vật gì đó nặng trịch trong túi nảy lên va đập vào người theo mỗi nhịp nhảy, và khi nhìn thấy chú chim cổ đỏ, nó lại bật cười.

"Hôm qua mày đã chỉ cho ta chỗ giấu chìa khóa," nó nói. "Hôm nay mày phải chỉ cho ta cánh cửa chứ; nhưng ta hoài nghi là mày chẳng biết đâu!"

Chú chim bay từ cành thường xuân đang đung đưa lên đỉnh bức tường, mở mỏ cất tiếng hót vang lừng, du dương chỉ để khoe mẽ. Trên đời này chẳng có gì đáng yêu đến thế cho bằng một chú chim cổ đỏ khi chúng khoe giọng — và lúc nào chúng cũng làm thế.

Mary Lennox từng nghe rất nhiều chuyện về Phép thuật qua lời kể của vú nuôi Ayah, và nó luôn quả quyết rằng những gì diễn ra ngay sau đó chính là Phép thuật.

Một trong những cơn gió thoảng dễ chịu lướt xuống lối đi, mạnh hơn hẳn những đợt khác. Nó đủ sức làm lay động những cành cây, và dư sức uốn cong những ngọn thường xuân leo um tùm rủ xuống từ bức tường. Mary đã bước sát lại gần chú chim cổ đỏ, và bất thình lình, cơn gió thổiạt đám dây thường xuân sang một bên, đột ngột hơn nữa là con bé chồm tới chộp lấy chúng trong tay. Nó làm vậy bởi vì nó vừa nhìn thấy thứ gì đó ẩn bên dưới — một núm nắm tròn đã bị những chiếc lá rủ xuống che khuất. Đó chính là nắm đấm của một cánh cửa.

Nó luồn tay dưới những tán lá, bắt đầu vạch và gạt chúng sang hai bên. Dù dây thường xuân bám dày đặc đến mấy thì hầu hết chúng cũng chỉ như một tấm rèm buông lơi đu đưa, dẫu có vài nhánh đã bám sâu vào gỗ và sắt. Trái tim Mary bắt đầu đập thình thịch và đôi tay run lên bần bật vì vui sướng lẫn phấn khích. Chú chim cổ đỏ vẫn ra rả hót và líu lo, nghiêng đầu sang một bên cứ như thể chú cũng hào hứng không kém gì con bé. Thứ nằm dưới đôi tay nó, hình vuông, bằng sắt và có một cái lỗ mà ngón tay nó vừa khít vào, rốt cuộc là gì thế này?

Đó chính là ổ khóa của cánh cửa đã bị niêm phong suốt mười năm trời; con bé liền thọc tay vào túi, rút chìa khóa ra và nhận thấy nó vừa khít với ổ. Nó đút chìa vào rồi vặn. Phải dùng đến cả hai tay mới xoay được, nhưng cuối cùng chiếc chìa cũng quay.

Rồi nó hít một hơi thật sâu, ngoái đầu nhìn ngược lại lối đi dài phía sau xem có ai tới không. Chẳng có ai cả. Dường như chẳng bao giờ có bóng người qua lại nơi đây, và nó lại hít một hơi dài nữa vì không thể kìm ném lại được, đoạn nó vạch tấm rèm thường xuân sang một bên và đẩy cánh cửa đang từ từ — từ từ hé mở.

Rồi nó lách người bước qua, khép cửa lại phía sau, đứng tựa lưng vào đó, đưa mắt ngắm nhìn xung quanh và thở gấp vì phấn khích, ngạc nhiên lẫn thích thú tột cùng.

Nó đang đứng bên trong khu vườn bí mật.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.