Sương mù bao phủ cánh đồng hoang khi buổi sáng tới, và những trận mưa vẫn không ngớt trút xuống. Chẳng thể nào ra ngoài trời được. Martha bận rộn đến mức Mary chẳng có cơ hội trò chuyện với cô, nhưng vào buổi chiều, con bé liền bảo Martha sang ngồi với mình ở phòng khách. Martha bước vào, mang theo chiếc tất mà cô vẫn luôn đan mỗi khi rảnh rỗi.
"Em bị làm sao thế?" Martha vừa ngồi xuống đã hỏi ngay. "Trông mặt em cứ như có điều gì muốn nói ấy."
"Em có chứ. Em đã tìm ra tiếng khóc đó là gì rồi," Mary đáp.
Martha đánh rơi cuộn len xuống đùi, trân trân nhìn con bé với đôi mắt đầy kinh ngạc.
"Em không đời nào làm thế!" cô kêu lên. "Chưa bao giờ!"
"Em nghe thấy nó trong đêm," Mary nói tiếp. "Rồi em dậy và đi xem nó phát ra từ đâu. Đó là Colin. Em đã tìm thấy cậu ấy."
Khuôn mặt Martha đỏ bừng vì sợ hãi.
"Trời ơi! Tiểu thư Mary!" cô vừa nói vừa sụt sùi. "Em không nên làm thế—không nên chút nào! Em sẽ khiến chị gặp rắc rối mất. Chị chưa bao giờ kể cho em nghe điều gì về cậu chủ—nhưng em sẽ hại chị mất thôi. Chị sẽ mất việc và mẹ biết phải làm sao đây!"
"Chị sẽ không mất việc đâu," Mary nói. "Cậu ấy rất vui vì em đã đến. Bọn em nói chuyện mãi và cậu ấy bảo cậu ấy rất mừng vì em đến."
"Thật thế không?" Martha kêu lên. "Em chắc chứ? Em không biết tính cậu ấy lúc nổi giận lên thế nào đâu. Đã lớn từng này mà còn khóc nhè như em bé, nhưng hễ cáu lên là cậu ấy thét lỏi cốt để dọa chúng ta thôi. Cậu ấy biết chúng ta không dám trái ý nửa lời."
"Cậu ấy có cáu đâu," Mary nói. "Em hỏi xem có cần đi ra không và cậu ấy bắt em ở lại. Cậu ấy hỏi em đủ thứ, còn em ngồi trên chiếc đôn lớn kể cho cậu ấy nghe về Ấn Độ, về con chim cổ đỏ và những khu vườn. Cậu ấy không cho em đi. Cậu ấy còn cho em xem bức tranh vẽ mẹ mình. Trước khi rời đi, em đã hát ru cậu ấy ngủ."
Martha há hốc miệng vì kinh ngạc.
"Chị khó mà tin nổi em đấy!" cô phản đối. "Cứ như thể em bước thẳng vào hang hùm ấy. Nếu vẫn như mọi khi thì cậu ấy đã lăn đùng ra ăn vạ và làm náo loạn cả nhà rồi. Cậu ấy không cho người lạ nhìn mặt mình đâu."
Mary đáp: "Cậu ấy cho em nhìn mà. Em nhìn cậu ấy suốt và cậu ấy cũng nhìn em. Bọn em cứ trân trân nhìn nhau!"
"Chị chẳng biết phải làm sao nữa!" Martha hốt hoảng kêu lên. "Nếu bà Medlock phát hiện ra, bà ấy sẽ tưởng chị trái lệnh và kể cho em nghe rồi chị sẽ bị tống cổ về với mẹ cho mà xem."
"Cậu ấy sẽ chưa kể gì với bà Medlock đâu. Mới đầu thì đây sẽ là một loại bí mật," Mary kiên quyết nói. "Và cậu ấy bảo ai cũng phải làm theo ý cậu ấy muốn."
"Ừ, điều đó thì đúng lắm—cái cậu nhóc hư đốn này!" Martha thở dài, dùng tạp dề lau trán.
"Cậu ấy bảo bà Medlock cũng phải nghe theo. Và cậu ấy muốn em ngày nào cũng đến trò chuyện với cậu ấy. Chị phải báo cho em biết khi nào cậu ấy cần em."
"Chị á!" Martha nói; "Chị mất việc mất—chắc chắn là thế rồi!"
"Chị không thể mất việc nếu đang làm theo điều cậu ấy muốn và mọi người đều có lệnh phải tuân theo cậu ấy chứ," Mary biện luận.
Martha trân trân mở rộng đôi mắt, kêu lên: "Ý em là cậu ấy đối xử tử tế với em á!"
"Em nghĩ hình như cậu ấy thích em," Mary đáp.
Martha hít một hơi thật sâu rồi kết luận: "Thế thì chắc chắn em đã bỏ bùa cậu ấy rồi!"
"Ý chị là Ma thuật á?" Mary hỏi. "Em từng nghe về Ma thuật ở Ấn Độ, nhưng em không làm được. Em chỉ bước vào phòng cậu ấy và quá ngạc nhiên khi thấy cậu ấy nên cứ đứng chết trân ra nhìn. Rồi cậu ấy quay lại nhìn chằm chằm vào em. Cậu ấy tưởng em là bóng ma hay một giấc mơ, còn em thì nghĩ có lẽ cậu ấy cũng thế. Thật kỳ lạ khi ở đó một mình cùng nhau giữa đêm khuya mà chẳng biết gì về đối phương. Rồi bọn em bắt đầu hỏi nhau đủ điều. Và khi em hỏi có phải em nên đi ra không, cậu ấy bảo không được đi."
Martha há hốc: "Trận tận thế đến nơi rồi!"
"Cậu ấy bị bệnh gì vậy chị?" Mary hỏi.
"Chẳng ai biết chắc chắn cả," Martha nói. "Ông Craven đã phát rồ lên từ lúc cậu chủ sinh ra. Các bác sĩ tưởng ông ấy phải bị đưa vào nhà thương điên. Tất cả là vì cái chết của phu nhân Craven như chị đã kể cho em nghe đấy. Ông ấy không thèm nhìn mặt đứa bé. Ông ấy cứ lảm nhảm và bảo nó cũng sẽ bị gù lưng giống ông ấy và thà chết quách đi còn hơn."
"Colin bị gù lưng à?" Mary hỏi. "Trông cậu ấy không giống người bị gù."
"Bây giờ thì chưa," Martha nói. "Nhưng mọi chuyện đã bắt đầu sai ngay từ đầu. Mẹ bảo rằng có đủ thứ rắc rối và giận dữ trong cái nhà này để làm bất kỳ đứa trẻ nào cũng thành bất thường. Người ta sợ lưng cậu chủ yếu nên lúc nào cũng chăm bẵm—bắt nằm liệt giường và không cho đi lại. Có bận họ bắt cậu ấy đeo nẹp nhưng cậu ấy cáu gắt đến mức phát ốm lên được. Sau đó có một vị đại danh y đến khám và bắt tháo ra. Ông ấy mắng vị bác sĩ kia một trận khá nặng lời—nhưng theo một cách rất lịch sự. Ông ấy bảo đã dùng quá nhiều thuốc và quá nuông chiều theo ý cậu ấy rồi."
"Em nghĩ cậu ấy là một đứa trẻ hư hỏng nặng," Mary nói.
Martha bảo: "Nó là đứa vô tích sự tệ hại nhất đời đấy! Chị không phủ nhận là thỉnh thoảng cậu ấy cũng ốm thật. Cậu ấy bị ho và cảm lạnh suýt chết hai ba lần. Có bận bị thấp khớp, có bận lại thương hàn. Trận thương hàn đó làm bà Medlock được một phen hoảng hồn. Cậu ấy đã mê sảng và bà ấy đang nói chuyện với y tá, tưởng cậu ấy chẳng biết gì, liền bảo: 'Phen này chắc nó chết thật rồi, mà thế lại là phúc cho nó lẫn mọi người.' Thế rồi bà ấy nhìn lại thì hóa ra cậu ấy đang mở trân trân đôi mắt to đùng nhìn mình tỉnh táo chẳng kém gì người lớn. Bà ấy chẳng biết điều gì sắp xảy ra nhưng cậu ấy chỉ trân trân nhìn bà ấy rồi bảo: 'Bà lấy cho tôi ít nước rồi câm mồm đi.'"
"Chị có nghĩ cậu ấy sẽ chết không?" Mary hỏi.
"Mẹ bảo chẳng có lý do gì để một đứa trẻ cứ nằm ngửa đọc truyện tranh và uống thuốc mà không được hít thở khí trời lại sống thọ được cả. Cậu ấy yếu ớt và ghét cái cảnh bị bế ra ngoài trời, với lại cậu ấy rất dễ nhiễm lạnh nên bảo rằng điều đó làm cậu ấy phát ốm."
Mary ngồi thừ người ngắm đống lửa.
Chậm rãi, con bé nói: "Em tự hỏi, không biết ra ngoài vườn ngắm cây cối đơm chồi có làm cậu ấy khá lên không nhỉ. Nó đã làm em khá lên đấy chứ."
Martha nói: "Một trong những cơn giận dữ tồi tệ nhất của cậu ấy xảy ra vào cái bận người ta bế cậu ấy ra chỗ giàn hoa hồng cạnh đài phun nước. Cậu ấy đọc được trên báo về một thứ bệnh mà người ta gọi là 'dị ứng hoa hồng' thế là cậu ấy bắt đầu hắt xì và bảo mình đã mắc bệnh đó, rồi đúng lúc ấy có một người làm vườn mới không biết quy tắc đi ngang qua và nhìn cậu ấy tò mò. Cậu ấy nổi cơn lôi đình và bảo người ta nhìn mình vì biết kiểu gì mình cũng bị gù lưng. Cậu ấy khóc lóc đến phát sốt vàổm liệt giường suốt cả đêm."
"Nếu cậu ấy dám nổi giận với em, em sẽ chẳng bao giờ thèm sang gặp nữa đâu," Mary nói.
"Cậu ấy muốn thì cậu ấy vẫn cứ bắt em sang thôi," Martha nói. "Em cứ biết thế đi từ đầu đi cho lành."
Ngay sau đó, một tiếng chuông reo lên và cô cuộn đống len lại.
"Chắc y tá muốn chị ở lại với cậu ấy một lát rồi," cô nói. "Mong là cậu ấy đang vui vẻ."
Cô ra khỏi phòng khoảng mười phút rồi trở lại với vẻ mặt bối rối.
"Đúng là em đã bỏ bùa cậu ấy rồi đấy," cô nói. "Cậu ấy đang nằm trên ghế dài xem sách tranh kìa. Cậu ấy bảo cô y tá đi ra ngoài đến sáu giờ mới được vào. Chị phải đợi ở phòng bên cạnh. Vừa thấy cô ấy đi khuất là cậu ấy gọi chị lại ngay và bảo: 'Ta muốn Mary Lennox đến nói chuyện với mình, và hãy nhớ là không được kể cho ai nghe đấy.' Em mau sang đấy nhanh lên thì hơn."
Mary hoàn toàn sẵn sàng đi ngay. Con bé không tha thiết gặp Colin bằng Dickon, nhưng cũng rất muốn sang đó.
Khi bước vào phòng Colin, một ngọn lửa bập bùng cháy trong lò sưởi, và dưới ánh ban ngày, con bé thấy đây quả thực là một căn phòng vô cùng đẹp đẽ. Những tấm thảm, rèm cửa rực rỡ sắc màu cùng những bức tranh và sách treo trên tường khiến căn phòng trở nên ấm áp và bừng sáng dẫu bên ngoài trời xám xịt và mưa vẫn rơi tầm tã. Bản thân Colin trông cũng giống như một bức tranh. Cậu bé được quấn trong một chiếc áo choàng nhung và tựa lưng vào chiếc gối thêu gấm lớn. Trên mỗi bên má có một vệt đỏ ửng.
"Vào đi," cậu nói. "Sáng giờ tớ vẫn nghĩ về cậu đấy."
"Em cũng nghĩ về anh," Mary đáp. "Anh không biết Martha sợ thế nào đâu. Chị ấy bảo bà Medlock sẽ tưởng chị ấy kể chuyện anh cho em nghe rồi đuổi chị ấy đi."
Cậu nhíu mày.
"ĐI gọi chị ta đến đây," cậu nói. "Chị ta đang ở phòng bên cạnh."
Mary đi gọi Martha trở lại. Tội nghiệp Martha, chân đang run lẩy bẩy. Colin vẫn đang nhíu mày.
"Ngươi phải làm theo ý ta hay không?" cậu chất vấn.
Martha run rẩy, mặt đỏ bừng: "Tôi phải làm theo ý ngài chứ ạ, thưa ngài."
"Medlock có phải làm theo ý ta không?"
"Ai cũng phải thế cả, thưa ngài," Martha đáp.
"Ừ, thế thì nếu ta ra lệnh cho ngươi đưa tiểu thư Mary đến gặp ta, Medlock có thể đuổi việc ngươi nếu bà ta phát hiện ra không?"
"Xin ngài đừng để bà ấy đuổi con ạ," Martha nài nỉ.
Thiếu gia Craven kiêu hãnh đáp: "Ta sẽ tống cổ bà ta đi nếu bà ta dám hé răng nói nửa lời về chuyện đó. Ta bảo đảm là bà ta sẽ không thích thế đâu."
Martha nhún gối chào: "Cảm ơn ngài, con muốn làm tròn bổn phận của mình ạ, thưa ngài."
Colin còn ra vẻ kiêu kỳ hơn nữa: "Cái ta muốn chính là bổn phận của ngươi đấy. Ta sẽ bảo vệ ngươi. Giờ thì lui ra đi."
Khi cánh cửa khép lại sau lưng Martha, Colin thấy tiểu thư Mary đang nhìn mình trân trân như thể cậu vừa khiến con bé phải tò mò.
"Sao cậu cứ nhìn tớ thế?" cậu hỏi. "Cậu đang nghĩ gì vậy?"
"Em đang nghĩ về hai chuyện."
"Là chuyện gì nào? Ngồi xuống và kể cho tớ nghe đi."
Mary ngồi lên chiếc đôn lớn, nói: "Chuyện thứ nhất đây. Hồi ở Ấn Độ, em từng thấy một cậu bé là tiểu vương. Trên người cậu ấy gắn đầy hồng ngọc, ngọc lục bảo và kim cương. Cậu ấy ra lệnh cho thần dân của mình y hệt như anh vừa nói với Martha vậy. Mọi thứ cậu ấy bảo họ phải làm ngay lập tức. Em nghĩ nếu không nghe lời chắc họ bị giết rồi."
"Lát nữa tớ sẽ bắt cậu kể cho nghe về các tiểu vương," cậu nói, "nhưng trước tiên hãy nói cho tớ nghe chuyện thứ hai đi."
"Em đang nghĩ," Mary nói, "anh khác Dickon biết bao."
"Dickon là ai?" cậu hỏi. "Cái tên nghe kỳ cục thật!"
Con bé nghĩ thầm thà kể cho cậu ấy nghe còn hơn. Con bé có thể nói về Dickon mà không cần nhắc đến khu vườn bí mật. Con bé rất thích nghe Martha kể về cậu ta. Hơn nữa, con bé rất khao khát được nhắc đến Dickon. Làm vậy có cảm giác như cậu ta đang ở gần mình hơn.
"Cậu ấy là em trai của Martha. Mười hai tuổi," con bé giải thích. "Cậu ấy không giống bất kỳ ai trên đời. Cậu ấy có thể sai khiến cáo, sóc và chim chóc y hệt như những thổ dân ở Ấn Độ sai khiến rắn vậy. Cậu ấy thổi một khúc nhạc rất êm dịu bằng ống sáo và chúng sẽ đến lắng nghe."
Có mấy cuốn sách lớn đặt trên chiếc bàn cạnh bên, cậu liền bất ngờ kéo thốc một cuốn về phía mình.
"Trong này có hình vẽ một kẻ thôi miên rắn đấy," cậu kêu lên. "Đến đây xem này."
Đó là một cuốn sách tuyệt đẹp với những hình minh họa màu tuyệt vời và cậu giở đến một trang trong số đó.
"Cậu ta làm được thế thật à?" cậu hào hứng hỏi.
Mary giải thích: "Cậu ấy thổi sáo và chúng lắng nghe. Nhưng cậu ấy không gọi đó là Ma thuật. Cậu ấy bảo đó là vì cậu ấy sống trên đồng hoang quá lâu nên hiểu rõ thói quen của chúng. Cậu ấy bảo đôi khi chính cậu ấy cũng cảm thấy mình giống như một con chim hay chú thỏ vì quá yêu quý chúng. Em nghĩ cậu ấy đã hỏi han cả chim cổ đỏ nữa. Trông chúng có vẻ như đang trò chuyện với nhau bằng những tiếng hót ríu rít dịu dàng."
Colin ngả người ra gối, đôi mắt ngày một mở lớn và hai gò má đỏ bừng lên vì nóng.
"Kể cho tớ nghe thêm về cậu ta đi," cậu nói.
Mary nói tiếp: "Cậu ấy rành tuốt tuột về trứng và tổ chim. Cậu ấy biết cả hang của cáo, lửng và rái cá nằm ở đâu. Cậu ấy giấu kín để mấy đứa trẻ khác không tìm ra cửa hang mà làm chúng hoảng sợ. Mọi sinh vật hay cây cỏ sống trên đồng hoang cậu ấy đều biết rõ."
Colin bảo: "Cậu ấy thích đồng hoang lắm à? Sao lại có thể thích một nơi bao la, trơ trọi và ảm đạm thế cơ chứ?"
Mary phản đối: "Đó là nơi tuyệt đẹp nhất đấy. Hàng ngàn sinh vật đáng yêu mọc lên trên đó và có hàng ngàn sinh vật nhỏ bé đang bận rộn xây tổ, đào hang và ríu rít kêu hay hót ca với nhau. Chúng bận rộn và vui đùa biết bao dưới lòng đất, trên cây hoặc giữa những khóm thạch nam. Đó là thế giới của chúng mà."
Colin chống khuỷu tay nhìn con bé và hỏi: "Sao cậu biết rõ thế?"
Mary chợt nhớ ra, bèn đáp ngay: "Thực ra em chưa từng ở đó bao giờ. Em chỉ ngồi xe đi qua trong bóng tối. Em cứ tưởng nó gớm ghiếc lắm. Martha kể cho em nghe trước, rồi đến Dickon. Khi Dickon nói về nó, cậu có cảm giác như đang nhìn thấy và nghe thấy mọi thứ, như thể cậu đang đứng giữa cánh đồng thạch nam ngập tràn ánh nắng và hương hoa kim tước thơm ngát mùi mật ong—với vô số ong và bướm."
Colin bồn chồn nói: "Cậu chẳng bao giờ thấy được gì nếu cứ ốm đau." Trông cậu giống như một người đang lắng nghe một âm thanh lạ ở đằng xa và tự hỏi đó là gì.
"Cậu không thể thấy được nếu cứ rúc trong phòng," Mary đáp.
Cậu nói với giọng hằn học: "Tớ có ra đồng hoang được đâu."
Mary im lặng một phút rồi nói một câu đầy bạo dạn.
"Biết đâu có ngày anh ra được."
Cậu cựa mình như thể bị giật mình.
"Ra đồng hoang ư? Làm sao tớ đi nổi? Tớ sắp chết rồi cơ mà."
Mary đáp lại với vẻ lãnh đạm: "Sao anh biết?" Con bé không thích cái cách cậu cứ mở miệng ra là nói chuyện chết chóc. Con bé chẳng thấy thương cảm mấy. Ngược lại, con bé có cảm giác như cậu đang cố khoe khoang điều đó thì đúng hơn.
Cậu bực bội đáp: "Ôi, tớ nghe người ta nói điều đó suốt từ hồi còn bé xíu. Họ cứ thì thầm mãi và tưởng tớ không để ý. Hẳn là họ cũng mong tớ chết quách đi ấy chứ."
Tiểu thư Mary bỗng đâm ra bướng bỉnh. Con bé mím chặt môi lại.
"Nếu họ mong em chết," con bé nói, "em sẽ chẳng thèm chết đâu. Ai mong anh chết cơ chứ?"
"Bọn gia nhân—và tất nhiên là cả bác sĩ Craven nữa vì ông ấy sẽ được thừa chiếm Misselthwaite và trở nên giàu có thay vì nghèo túng. Ông ta không dám nói ra, nhưng lúc nào cũng tỏ ra vui vẻ khi bệnh tình của tớ nặng thêm. Hồi tớ bị thương hàn, mặt ông ta béo múp míp lên đấy. Tớ nghĩ bố tớ cũng mong thế."
Mary kiên quyết phủ nhận: "Em không tin bác ấy lại thế đâu."
Câu nói ấy khiến Colin quay lại nhìn con bé lần nữa.
"Thật thế không?" cậu hỏi.
Rồi cậu ngả đầu ra gối, nằm im lìm như đang suy nghĩ. Cả hai chìm vào một khoảng lặng khá dài. Có lẽ cả hai đang nghĩ ngợi về những điều kỳ lạ mà bọn trẻ bình thường chẳng mấy khi nghĩ tới.
Cuối cùng Mary lên tiếng: "Em thích vị đại danh y ở Luân Đôn, vì ông ấy đã bắt họ tháo cái nẹp sắt ra. Ông ấy có bảo anh sắp chết không?"
"Không."
"Thế ông ấy nói gì?"
Colin đáp: "Ông ấy không thầm thì. Có lẽ ông ấy biết tớ ghét tiếng thì thầm. Tớ nghe rõ mồn một một câu ông ấy nói to. Ông ấy bảo: 'Thằng bé có thể sống nếu nó thực sự quyết tâm. Hãy tạo cho nó tâm trạng thoải mái đi.' Nghe cứ như thể ông ấy đang nổi giận ấy."
Mary ngẫm nghĩ rồi bảo: "Em sẽ nói cho anh biết ai có thể tạo cho anh tâm trạng thoải mái, biết đâu đấy. Em tin là Dickon có thể làm được. Cậu ấy lúc nào cũng nói về những sinh vật sống. Cậu ấy chẳng bao giờ nói về những thứ đã chết hay đang ốm đau cả. Cậu ấy luôn ngước lên trời ngắm chim bay—hoặc cúi xuống mặt đất ngắm cây cỏ đơm chồi. Cậu ấy có đôi mắt tròn vo màu xanh lam và luôn mở trân trân vì mải quan sát xung quanh. Cậu ấy có nụ cười sảng khoái với cái miệng rộng—và đôi má đỏ hây hây—đỏ như quả anh đào ấy."
Con bé kéo chiếc đôn xích lại gần chiếc ghế dài, nét mặt hoàn toàn thay đổi khi nhớ đến cái miệng rộng chúm chím và đôi mắt mở to ấy.
Con bé nói: "Này nhé. Đừng nói chuyện chết chóc nữa; em không thích đâu. Hãy nói về sự sống đi. Chúng ta cứ trò chuyện mãi về Dickon nhé. Rồi sau đó bọn mình sẽ xem sách tranh của anh."
Đó là điều tuyệt vời nhất mà con bé có thể thốt ra. Nói về Dickon đồng nghĩa với việc nói về đồng hoang, về ngôi nhà nhỏ và mười bốn con người sinh sống ở đó với mức thu nhập mười sáu shilling một tuần—cùng lũ trẻ béo múp míp nhờ cỏ đồng hoang y như những chú ngựa hoang vậy. Và về mẹ của Dickon—về sợi dây nhảy—về cánh đồng hoang ngập tràn ánh nắng—cùng những chồi non xanh nhạt nhô lên từ lớp đất đen. Mọi thứ tràn đầy sức sống đến mức Mary nói nhiều hơn cả trước kia—cả Colin cũng vừa nói vừa lắng nghe chăm chú như chưa từng làm thế bao giờ. Rồi cả hai bắt đầu cười vang vì những chuyện chẳng đâu vào đâu đúng như bản tính của trẻ con khi vui vẻ bên nhau. Chúng cười to đến mức cuối cùng tạo ra thứ âm thanh ồn ào hệt như hai đứa trẻ mười tuổi bình thường, khỏe mạnh và tự nhiên—chứ không phải là một cô bé cứng nhắc, thiếu tình thương và một cậu bé ốm yếu từng đinh ninh rằng mình sắp chết.
Chúng vui chơi say sưa đến mức quên cả sách tranh lẫn thời gian. Cả hai đang cười rũ rượi vì chuyện của Ben Weatherstaff và con chim cổ đỏ, thậm chí Colin còn đang ngồi thẳng lưng lên như thể quên bẵng đi cái lưng yếu ớt của mình thì bỗng nhiên cậu sực nhớ ra điều gì đó.
"Cậu có biết là có một chuyện nãy giờ chúng ta chưa hề nghĩ tới không," cậu nói. "Chúng ta là họ hàng đấy."
Mọi chuyện kỳ lạ ở chỗ chúng đã trò chuyện rôm rả biết bao mà không hề nhớ ra điều đơn giản ấy, khiến chúng lại càng cười lớn hơn nữa vì đang đà vui vẻ nên chuyện gì cũng có thể cười được. Và giữa lúc cuộc vui đang hồi cao trào thì cánh cửa bật mở, bác sĩ Craven và bà Medlock bước vào.
Bác sĩ Craven giật nảy mình hoảng hốt, còn bà Medlock suýt ngã ngửa vì vô tình va phải ông.
Tội nghiệp bà Medlock trợn trừng mắt kêu lên: "Lạy Chúa! Lạy Chúa tôi!"
Bác sĩ Craven bước lên trước hỏi: "Cái gì thế này? Chuyện này có nghĩa là gì?"
Lúc đó Mary lại nhớ đến cậu bé tiểu vương. Colin đáp lời tỉnh queo như thể sự hoảng hốt của vị bác sĩ hay nỗi sợ hãi của bà Medlock chẳng mảy may quan trọng. Cậu chẳng hề bối rối hay sợ hãi chút nào, y như thể có một con chó và con mèo già vừa đi vào phòng vậy.
"Đây là họ hàng của cháu, Mary Lennox," cậu nói. "Cháu bảo con bé đến nói chuyện với cháu. Cháu thích con bé. Mỗi khi cháu sai người gọi, con bé phải đến nói chuyện với cháu."
Bác sĩ Craven quay sang nhìn bà Medlock đầy trách móc.
Bà thở hồng hộc: "Ôi thưa ngài, tôi không biết mọi chuyện xảy ra thế nào nữa. Chẳng có tên gia nhân nào trong cái nhà này dám bén mảng đến đây đâu—tất cả đều có lệnh nghiêm ngặt mà."
Colin nói: "Chẳng có ai kể gì cho con bé cả, con bé nghe thấy tiếng con khóc rồi tự tìm đến đây. Con rất mừng vì con bé đã đến. Đừng có ngốc nghếch thế nữa, Medlock."
Mary thấy bác sĩ Craven trông có vẻ không hài lòng, nhưng rõ ràng ông ta không dám trái ý bệnh nhân của mình. Ông ngồi xuống bên cạnh Colin và bắt mạch cho cậu.
"Bác e là đã có quá nhiều sự kích động. Kích động không tốt cho cháu đâu, con trai ạ," ông nói.
Đôi mắt Colin bắt đầu ánh lên vẻ sắc lạnh đầy nguy hiểm, cậu đáp: "Cháu mới là người bị kích động nếu con bé không ở đây đấy chứ. Cháu đỡ hơn rồi. Con bé làm cháu thấy khá hơn. Cô y tá phải mang trà của con bé lên ăn cùng trà của cháu. Bọn cháu sẽ uống trà chung với nhau."
Bà Medlock và bác sĩ Craven nhìn nhau đầy lo lắng, nhưng hiển nhiên chẳng còn cách nào khác.
Bà Medlock rụt rè lên tiếng: "Trông thằng bé có vẻ khá hơn thật đấy ngài ạ. Nhưng"—bà ngẫm nghĩ lại—"sáng nay lúc con bé chưa vào phòng thì trông thằng bé đã khá hơn rồi cơ mà."
Colin nói: "Con bé đã vào phòng từ tối qua. Con bé ở lại với cháu rất lâu. Con bé hát cho cháu nghe một khúc ca Ấn Độ và nó làm cháu chìm vào giấc ngủ. Cháu thấy khỏe hơn khi tỉnh dậy. Cháu thèm ăn sáng. Và bây giờ cháu muốn uống trà. Bảo y tá đi, Medlock."
Bác sĩ Craven không ở lại lâu lắm. Ông trò chuyện với y tá vài phút khi cô bước vào phòng và dặn dò Colin vài điều. Cậu không được nói chuyện quá nhiều; không được quên rằng mình đang ốm; không được quên là bản thân rất dễ mệt mỏi. Mary thầm nghĩ hình như có vô số điều khó chịu mà cậu không được phép quên.
Colin tỏ vẻ cáu kỉnh, dán chặt đôi mắt có hàng mi đen kỳ lạ vào khuôn mặt bác sĩ Craven.
Cuối cùng cậu nói: "Cháu muốn quên nó đi. Con bé làm cháu quên hết. Đó là lý do cháu cần con bé."
Bác sĩ Craven bước ra khỏi phòng với gương mặt không mấy vui vẻ. Ông liếc nhìn đầy khó hiểu về phía cô bé đang ngồi trên chiếc đôn lớn. Ngay khi ông bước vào, con bé lại biến thành một đứa trẻ cứng nhắc và im lặng trở lại khiến ông chẳng tài nào hiểu nổi điểm thu hút nằm ở đâu. Tuy nhiên, trông cậu nhóc có vẻ tươi tắn hơn thật—và ông thở dài nặng nhọc khi bước dọc theo hành lang.
Khi y tá bưng ấm trà vào đặt lên chiếc bàn cạnh ghế dài, Colin nói: "Họ lúc nào cũng bắt cháu ăn những thứ cháu chẳng muốn ăn. Giờ thì, nếu cậu ăn, tớ cũng sẽ ăn. Mấy chiếc bánh nướng trông nóng hổi ngon thế kia cơ mà. Kể cho tớ nghe về các tiểu vương đi."