Ngày 16 tháng 1 năm 1995
Brent Schlender
Ai nói bạn không thể định giá tình bạn? Khi những người bạn là Bill Gates và Warren Buffett, thì tổng giá trị của tình bạn lên đến gần 19 tỷ đô-la.
Suốt 4 năm cho đến nay, 2 người đàn ông giàu có nhất nước Mỹ, với Buffett đứng số 1 ở thời điểm này, đã vun đắp một tình bạn giữa 2 thế hệ bền chặt. Trong đó sự giàu có chắc hẳn là tương đồng lớn nhất giữa họ. Buffett, Chủ tịch của Berkshire Hathaway Inc và tự xưng là một người không thích công nghệ, nói rằng: “Đại loại chúng tôi là một cặp đôi kỳ lạ phải không?” Buffett, 64 tuổi, là hình ảnh thu nhỏ của các nhà đầu tư thời công nghiệp, kiếm hàng tỷ đô-la từ cổ phần trong các loại hình kinh doanh cơ bản nhất, các công ty sản xuất giày, nước ngọt có ga và lưỡi dao cạo. Trong khi đó, Gates chính là ông vua Midas của thời đại công nghệ thông tin, người đã kiếm hàng tỷ đô-la từ việc bán các ý tưởng đơn thuần.
Cả hai được người bạn chung Meg Greenfield, một biên tập viên trang xã luận của tờ Washington Post, một người gốc Seattle như Gates, giới thiệu để làm quen. Các tỷ phú trao đổi lời khuyên miễn phí cho nhau hết lần này đến lần khác. Trong nhiều năm, Gates đã cố gắng trong vô vọng để thuyết phục Buffett rằng ông nên ít nhất nghĩ về việc mua một chiếc máy tính cá nhân. (Buffett cuối cùng đã mua một chiếc máy theo lệnh của một người bạn khác để ông có thể chơi bài bridge trực tuyến. Trong số những bạn cùng chơi với ông có cha của Bill Gates.) Và Buffett, người đã bay khắp nước Mỹ trong một chiếc máy bay đã qua sử dụng mà ông gọi là Không thể Bảo vệ, đã cho Gates một số lời khuyên khôn ngoan về những vật biểu tượng cho khả năng kinh tế của công ty như vậy. Buffett nói rằng: “Tôi đã nói với anh ấy rằng tôi đã không mua chiếc máy bay này cho đến khi tôi 55 tuổi, và rằng có lẽ anh ấy cũng nên để dành một thứ gì đó cho tuổi già của mình.”
Buffett cũng đã giúp Gates tìm một chiếc nhẫn kim cương giảm giá khi ông đính hôn vài năm trước. Gates lên kế hoạch tạo bất ngờ cho vợ sắp cưới của mình, bà Melinda French, bằng một chuyến đi đến Omaha để chọn nhẫn ở Borsheim’s, cửa hàng đồ trang sức nổi tiếng thuộc sở hữu của Tập đoàn Berkshire Hathaway. Gates cười khúc khích khi ông nhớ lại: “Warren đã mở cửa hàng vào ngày Chủ nhật chỉ để phục vụ chúng tôi. Trên đường đi, ông nói với tôi rằng khi ông đính hôn, ông đã dành 6% giá trị tài sản ròng của mình cho chiếc nhẫn, và đó là một dấu hiệu của sự chung thủy, tôi nên làm điều tương tự cho Melinda.”
Cả hai thỉnh thoảng trêu chọc nhau về việc ai giàu hơn. Biết Gates là một con bạc lâu năm, Buffett đã từng mang một cặp xúc xắc mà ông gọi là “xúc xắc mánh lới” đến buổi gặp mặt. Buffett nói, “Tôi đã cố gắng để đặt ông ấy ở vị trí thứ hai vĩnh viễn, nhưng tất nhiên là Bill đã ngay lập tức bắt kịp.” Buffett cũng đùa rằng, “Nếu tôi biết Bill là người đối đầu với tôi khi đấu giá cuốn sổ tay của Leonardo da Vinci, tôi đã ra giá cao hơn rồi.”
Điều Gates thích nhất về Buffett là gì? Các cuộc trò chuyện. Ông nói, “Warren khiêm tốn nhưng lại rất giỏi mô tả những điều phức tạp. Có vẻ buồn cười khi ông trích dẫn lời của Mae West khi nói về triết lý đầu tư của mình, nhưng tất nhiên ông thực sự có ý sâu xa hơn nhiều. Ông ấy luôn như vậy, do đó tôi luôn có thể học hỏi điều gì đó từ ông.”
Gates nói về Buffett
Ngày 5 tháng 2 năm 1996
Bill Gates
Roger Lowenstein bắt đầu viết cuốn tiểu sử về Warren Buffett với một thông tin phủ nhận. Ông tiết lộ rằng ông là một nhà đầu tư lâu năm tại Berkshire Hathaway, công ty dưới sự dẫn dắt của Buffett đã tăng giá cổ phiếu từ mức 7,6 đô-la đến khoảng 30.000 đô-la trong vòng 33 năm.
Trước khi bình luận về cuốn sách của Lowenstein, tôi cũng phải bắt đầu với một phủ nhận. Tôi không thể giữ sự trung lập hoặc không thiên vị về Warren Buffett, bởi chúng tôi là những người bạn thân thiết. Chúng tôi vừa đi nghỉ cùng nhau tại Trung Quốc với vợ của mình. Tôi nghĩ tất cả câu nói đùa của ông đều buồn cười. Tôi nghĩ chế độ ăn uống với rất nhiều sandwich và Coke mà ông áp dụng là rất tuyệt. Tóm lại, tôi là một người hâm mộ ông.
Thật dễ dàng để trở thành người hâm mộ Warren, và chắc hẳn nhiều độc giả của cuốn Buffett: Quá trình hình thành một nhà tư bản Mỹ1 sẽ gia nhập đội ngũ người hâm mộ đang tăng lên của ông. Cuốn sách của Lowenstein là một bản mô tả trung thực về cuộc sống đáng chú ý của Buffett. Nó không truyền tải toàn bộ tính cách vui vẻ, khiêm tốn, quyến rũ của Buffett, nhưng tính khác biệt duy nhất của ông thì có. Không ai có thể đọc xong cuốn sách và phát biểu rằng: “Ồ, tôi thấy mình giống như ông ấy.”
1. Tên gốc là Buffett: The Making of a Capitalist American, mô tả đầy đủ về con người và cuộc sống của Buffett. Cuốn sách xuất bản năm 1995 này giới thiệu quá trình thành công của Buffett từ khi còn là một cậu bé đến khi trở thành tỷ phú với những kiến thức về đầu tư bổ ích. (Cuốn sách cũng đã được Alpha Books mua bản quyền và xuất bản.)
Các phác thảo khái quát sự nghiệp của Warren đều được biết đến rộng rãi, và cuốn sách cũng cung cấp các chi tiết thú vị. Lowenstein lần theo cuộc sống của Warren từ khi sinh ra ở Omaha năm 1930 cho đến vụ mua cổ phiếu đầu tiên của ông ở tuổi 11, và từ nghiên cứu của ông về nghề chứng khoán theo huyền thoại Benjamin Graham của Đại học Columbia đến quá trình ông thành lập công ty hợp danh Buffett ở tuổi 25. Tác giả miêu tả tính cách thích giữ bí mật của Buffett về các cổ phiếu ông đã chọn cho công ty hợp danh, và sự cởi mở đối lập khi nói về nguyên tắc chỉ đạo của ông, đó là mua cổ phiếu ở mức giá giảm đến tối đa và kiên nhẫn giữ chúng. Như Warren đã từng giải thích trong một lá thư cho các đối tác của mình, “Đây là nền tảng của triết lý đầu tư của chúng tôi: Không bao giờ dựa vào việc bán ra tốt. Nếu giá mua rất hấp dẫn thì ngay cả mức bán ra trung bình vẫn đem lại kết quả tốt.”
Lowenstein mô tả việc Warren tiếp quản Berkshire Hathaway và vận hành ngành kinh doanh dệt may của công ty thế nào để hái ra tiền mua chứng khoán trong các công ty khác. Cuốn sách lần theo quá trình Berkshire phát triển thành công ty cổ phần và cách triết lý đầu tư của nó phát triển khi Buffett học được cách nhìn xa hơn dữ liệu tài chính để nhận ra tiềm năng kinh tế của các thương hiệu độc đáo, chẳng hạn như các tờ báo có ảnh hưởng. Ngày nay Berkshire sở hữu công ty như Kẹo See’s, Buffalo News và World Book, cũng như nắm giữ số lượng cổ phần lớn trong các công ty như American Express, Capital CitiesABC (thuộc Disney), Coca-Cola, Gannett, Gillette và Washington Post.
Sau khi đọc xong cuốn sách, độc giả có thể hiểu rõ hơn về đầu tư và kinh doanh, nhưng liệu các bài học này có thể chuyển thành kết quả đầu tư tốt đẹp hay không thì chưa chắc. Tài năng của Warren chính là khả năng nghĩ xa hơn đám đông, và nó đòi hỏi nhiều hơn là học thuộc lòng các cách ngôn của ông để đạt được khả năng này, mặc dù Warren có nhiều câu nói xứng đáng để thuộc lòng.
Ví dụ, Warren thường nói rằng không có cái gọi là “cú đánh không trúng bóng” trong đầu tư. Cú đánh này chỉ xảy ra khi bạn vung chày và đánh trật. Khi đang ở vị trí đánh bóng, bạn không nên lo lắng về mỗi cú đánh, cũng như không nên tiếc đã không vung chày để đón bóng trong những pha ném tốt. Nói cách khác, bạn không cần phải có ý kiến về tất cả các cổ phiếu hoặc cơ hội đầu tư, cũng không nên cảm thấy tệ hại nếu một cổ phiếu mà bạn không chọn lên giá đáng kể. Warren nói rằng trong cuộc đời mình, bạn nên vung chày tại chỉ vài mươi lượt đón bóng. Ông khuyên bạn nên tập luyện để chắc rằng bạn có thể đánh trúng bóng trong những lần vung chày ít ỏi của mình.
Thiên hướng của ông về đầu tư dài hạn được thể hiện trong một câu cách ngôn khác: “Bạn nên đầu tư vào một doanh nghiệp mà ngay cả một kẻ ngốc cũng có thể điều hành, bởi một ngày nào đó có thể sẽ có một kẻ ngốc lên nắm quyền.” Ông không tin vào các doanh nghiệp dựa vào mọi nhân viên xuất sắc để đạt được thành công. Ông cũng không tin rằng những con người thông minh có thể giúp ích được gì nhiều trong khi nền tảng cơ bản của doanh nghiệp đó quá tệ. Ông nói rằng khi ban quản lý tốt điều hành một doanh nghiệp có nền tảng tệ hại, chỉ tiếng xấu về doanh nghiệp là vẫn không suy suyển.
Warren đề bạt các nhà quản lý giỏi vào những công ty mà Berkshire sở hữu, và ông thường để họ hoạt động khá độc lập. Yêu cầu cơ bản của ông đối với các quản lý chính là họ có thể tin tưởng rằng Warren đang đầu tư một cách đúng đắn vì công ty đang có thể kiếm ra tiền, điều mà chỉ các doanh nghiệp tốt thường làm được. Ông không khuyến khích các nhà quản lý đa dạng hóa. Ông muốn họ tập trung vào các công việc mà họ biết rõ để Warren có thể toàn tâm toàn ý tập trung vào việc ông làm tốt: đầu tư.
Phản ứng của tôi khi gặp Warren đã khiến chính tôi ngạc nhiên. Bất cứ khi nào có người nói với tôi, “Bạn nên gặp người bạn mới này của tôi đi; ông ấy là người thông minh nhất mà tôi biết,” tôi sẽ phòng thủ. Hầu hết mọi người nhanh chóng kết luận rằng một ai đó hoặc một cái gì đó mà chính họ gặp là đặc biệt. Đây chỉ là bản chất con người. Mọi người đều muốn biết một ai đó hoặc một cái gì đó xuất sắc nhất. Kết quả là họ đánh giá quá cao giá trị của thứ hoặc người mà họ đã được tiếp xúc. Vì vậy, việc mọi người cho rằng Warren Buffett độc đáo không gây ấn tượng nhiều với tôi.
Trên thực tế, tôi đã rất nghi ngờ khi mẹ đề nghị tôi nghỉ làm để gặp ông ấy vào ngày 5 tháng 7 năm 1991. Tôi và ông ấy nên nói về điều gì đây, chỉ số PE ư? Ý tôi là, dành cả ngày với một người đàn ông chỉ có nghề chọn cổ phiếu? Đặc biệt là khi tôi có rất nhiều việc phải làm? Chắc mẹ đang đùa tôi rồi?
Tôi đã nói với mẹ, “Con sẽ làm việc vào ngày 5 tháng 7. Chúng con thực sự rất bận. Con xin lỗi.” Bà nói rằng, “Kay Graham sẽ ở đó.”
Và điều này làm tôi chú ý. Tôi chưa bao giờ gặp Graham, nhưng tôi đã rất ấn tượng với cách mà bà ấy điều hành Washington Post và vai trò của tờ báo này trong lịch sử chính trị. Vì Kay và Warren là bạn thân trong nhiều năm, và một trong những vụ đầu tư khôn ngoan nhất của Warren chính là đầu tư vào cổ phiếu Post. Kay, Warren và một vài nhà báo nổi tiếng tình cờ đã ở khu vực Seattle cùng nhau. Vì dịp trùng hợp lạ thường này nên sáng hôm đó tất cả bọn họ đều chen chúc trên một chiếc xe hơi để di chuyển đến ngôi nhà cuối tuần của gia đình tôi, cách thành phố vài giờ chạy xe. Một số người trong xe cũng hoài nghi như tôi. Một người nào đó trên chiếc xe chật chội cất tiếng hỏi: “Chúng ta sẽ dành cả ngày tại căn nhà của họ phải không? Chúng ta sẽ phải làm gì cho hết ngày?”
Mẹ tôi đã rất kiên quyết muốn tôi đến. Tôi nói với bà ấy, “Con sẽ ở lại một vài giờ, sau đó con phải đi.”
Khi tôi đến, Warren và tôi bắt đầu nói chuyện về việc ngành kinh doanh báo chí thay đổi vì sự xuất hiện của các nhà bán lẻ, họ ít chi tiền cho quảng cáo hơn. Sau đó, ông bắt đầu hỏi tôi về IBM: “Nếu anh xây dựng IBM từ đầu, anh sẽ làm thế nào để tạo ra sự khác biệt? Đâu là ngành kinh doanh tăng trưởng cho IBM? Họ đã thay đổi những gì?”
Ông đặt ra những câu hỏi hay và kể các câu chuyện mang tính giáo dục. Không có gì làm tôi thích nhiều như là học hỏi, và tôi chưa bao giờ gặp bất cứ ai nghĩ về kinh doanh một cách rõ ràng như vậy. Vào ngày đầu tiên, ông đã giới thiệu với tôi một bài tập phân tích hấp dẫn mà ông thực hiện. Ông sẽ chọn một năm, ví dụ là năm 1970 và kiểm tra 10 công ty thị trường vốn cao nhất vào thời điểm này. Sau đó, ông sẽ đi tiếp đến năm 1990 và kiểm tra xem các công ty này đang ra sao. Sự nhiệt tình của ông dành cho các hoạt động này mang tính lây lan. Tôi đã ở lại đó cả ngày, và trước khi ông lái xe rời đi với bạn bè của mình, tôi thậm chí đã đồng ý bay tới Nebraska để xem một trận bóng đá với ông ấy.
Khi tiếp xúc với Warren, bạn có thể thấy ông yêu công việc của mình nhường nào. Kết luận này đến bằng nhiều cách. Khi giải thích về một điều gì đó, ông không bao giờ nói kiểu như “Này, tôi biết nó rất rõ, và tôi sẽ làm anh ấn tượng.” Thay vào đó là “Điều này rất thú vị, và nó thực sự rất đơn giản. Tôi sẽ giải thích cho anh, để anh nhận thấy nó dễ đến nỗi tôi đã phải dành rất nhiều thời gian để tìm ra.” Và khi ông kể điều đó với bạn, bằng cách nói hài hước của mình để làm rõ ý, điều đó nghe có vẻ đơn giản.
Tôi và Warren luôn thấy vui nhất khi cùng xem xét một dữ liệu mà những người khác nghiên cứu và đưa ra những cách nhìn mới vừa rất khác biệt và, trong một nghĩa nào đó, vừa hiển nhiên. Mỗi người trong chúng tôi luôn cố gắng thực hiện việc này cho các công ty của chúng tôi, nhưng thật đặc biệt thú vị và hào hứng khi thảo luận những ý nghĩ này với nhau.
Chúng tôi khá thẳng thắn và ít bất đồng. Lợi ích kinh doanh của chúng tôi không trùng nhau nhiều, mặc dù cuốn Bách khoa toàn thư World Book của ông ấy cạnh tranh với phiên bản điện tử Microsoft Encarta của tôi. Warren tránh xa các công ty công nghệ vì ông thích đầu tư vào những công ty nơi ông có thể dự đoán người chiến thắng từ trước một thập kỷ, một việc gần như không thể đối với các công ty công nghệ. Không may cho Warren, thế giới công nghệ không có ranh giới. Theo thời gian, hầu hết các công ty kinh doanh sẽ bị ảnh hưởng bởi độ phủ rộng của công nghệ, mặc dù Gillette, Coca-Cola và See’s có thể an toàn.
Một lĩnh vực mà chúng tôi luôn đối đầu với nhau chính là toán học. Có lần Warren giới thiệu tôi với 4 con xúc xắc khác thường. Mỗi con đều có những con số (từ 0 đến 12) được kết hợp độc đáo trên cả hai mặt. Ông đề xuất rằng mỗi chúng tôi sẽ lựa chọn 1 trong số 4 con xúc xắc, bỏ qua xúc xắc thứ 3 và thứ 4, và đánh cược xem ai sẽ là người thường xuyên có tổng số điểm cao nhất. Ông tử tế dành cho tôi lựa chọn đầu tiên. Sau đó, ông nói, “Được rồi, vì anh được quyền chọn đầu tiên, anh sẽ cho tôi loại tỷ lệ cược nào đây?”
Tôi biết có điều gì đó xảy ra rồi. “Hãy để tôi xem xét những con xúc xắc này đã,” tôi nói.
Sau một lúc nghiên cứu những con số trên các mặt của nó, tôi nói, “Đây là một đề xuất kém ưu thế. Ông hãy chọn trước đi.”
Khi ông ấy chọn xong một con xúc xắc, tôi cần vài phút để xem xét nên chọn con nào trong số 3 xúc xắc còn lại. Do những con số trên mỗi xúc xắc đều được lựa chọn cẩn thận nên chúng không có quan hệ bắc cầu với nhau. Mỗi xúc xắc đều có thể bị một xúc xắc còn lại đánh bại: xúc xắc A có thể đánh bại xúc xắc B, xúc xắc B có thể đánh bại xúc xắc C, xúc xắc C có thể đánh bại xúc xắc D, và xúc xắc D có thể đánh bại xúc xắc A. Có nghĩa là người chọn xúc xắc đầu tiên sẽ không thể thắng, chỉ người chọn xúc xắc thứ hai mới có thể. Điều này là phản trực giác và rất nhiều thứ trong kinh doanh cũng vậy.
Warren rất giỏi về con số, còn tôi cũng thích toán học. Nhưng giỏi về con số không có nghĩa là giỏi về đầu tư. Warren không giỏi hơn các nhà đầu tư khác vì ông tính toán tỷ lệ cược tốt hơn. Hoàn toàn không phải như vậy. Warren không bao giờ quyết định đầu tư vào một thương vụ mà sự khác nhau giữa việc có thực hiện hay không thực hiện phụ thuộc vào chữ số thứ 2 trong phép tính. Ông ấy sẽ không đầu tư, tương tự như vung chày đánh bóng, trừ khi một cơ hội tốt đến khó tin xuất hiện.
Một thói quen của Warren mà tôi ngưỡng mộ chính là ông loại các cuộc họp ra khỏi lịch làm việc của mình. Ông ấy giỏi nói không với mọi thứ. Ông biết mình thích làm gì, và khi làm, ông đều làm rất tốt. Ông thích ngồi trong văn phòng để đọc và suy nghĩ. Đối với một số vấn đề, ông sẽ làm nhiều hơn là đọc và nghĩ, nhưng con số này không nhiều. Một ý kiến của Lowenstein mà tôi thấy hoàn toàn đúng chính là Warren là người của thói quen. Ông lớn lên ở Omaha và muốn sống ở Omaha. Ông quen biết một số người nhất định và muốn dành nhiều thời gian cho những người này. Ông không phải là mẫu người tìm kiếm sự mới lạ. Warren, người vừa bước sang tuổi 65, vẫn sống trong ngôi nhà ở Omaha mà ông đã mua ở tuổi 25. Sở thích giữ thói quen còn thể hiện ở phong cách đầu tư của ông. Warren đầu tư vào các công ty ông thấy thoải mái. Ông không thực hiện nhiều vụ đầu tư bên ngoài nước Mỹ.
Một số công ty mà ông quyết định đầu tư đều là những thương vụ đầu tư dài hạn tuyệt vời. Bất chấp sự thật hiển nhiên là sẽ có một mức giá hoàn toàn xứng đáng với thành tích kinh doanh tốt mà công ty đạt được trong tương lai, ông sẽ không bán cổ phiếu của nó ở bất cứ giá nào. Tôi nghĩ rằng việc ông không sẵn lòng bán cổ phiếu mang nhiều triết lý hơn là vì hướng đến tối ưu hóa, nhưng tôi là ai mà có thể bình luận về nhà đầu tư thành công nhất thế giới này? Việc Warren không sẵn lòng bán cổ phiếu phù hợp với các khuynh hướng khác của ông.
Warren và tôi có chung những giá trị nhất định. Cả hai đều cảm thấy may mắn vì được sinh ra trong thời đại mà các kỹ năng của chúng tôi hóa ra lại là lợi thế. Nếu chúng tôi được sinh ra vào một thời điểm khác, kỹ năng của chúng tôi có thể không có nhiều giá trị. Vì không có kế hoạch chi tiêu hầu hết những gì đã tích lũy, nên chúng tôi có thể chắc chắn rằng tài sản của mình sẽ đem lại lợi ích cho xã hội. Ở một nghĩa khác, chúng tôi đều làm từ thiện. Trong bất cứ trường hợp nào, những người thừa kế của chúng tôi sẽ chỉ nhận được một phần nhỏ những gì chúng tôi tích lũy, bởi cả hai đều tin rằng cho con cái thừa hưởng tài sản lớn không đem lại lợi ích gì cho bản thân chúng hay xã hội. Warren thường nói rằng ông muốn cho các con mình đủ tiền để làm bất cứ điều gì nhưng không đủ để chúng không phải làm gì cả. Tôi nghĩ về điều này trước khi gặp Warren, và khi nghe ông ấy nói như vậy, tôi càng chắc chắn.
Lowenstein là một nhà sưu tập các sự kiện giỏi. Ông đã viết cuốn Buffett: Quá trình hình thành một nhà tư bản Mỹ một cách điêu luyện. Warren đã nói với tôi rằng cuốn sách này chính xác ở hầu hết các khía cạnh. Ông nói một ngày nào đó ông sẽ tự viết sách, nhưng xét thấy ông yêu công việc nhiều như thế nào và việc viết sách khó khăn ra sao (dựa trên kinh nghiệm cá nhân của riêng tôi), tôi nghĩ rằng còn nhiều năm nữa ông mới có thể thực hiện được. Khi sách của ông ra mắt, tôi chắc chắn rằng đó sẽ là một trong những cuốn sách kinh doanh có giá trị hơn bao giờ hết.
Những lá thư Warren gửi các cổ đông trong báo cáo thường niên của Berkshire Hathaway đã và đang là một trong những tài liệu kinh doanh hay nhất. Phần lớn các phân tích của Lowenstein được rút ra từ những lá thư. Sau khi đọc xong cuốn sách về Buffett, nếu bạn cảm thấy con người Buffett và phương pháp của ông hấp dẫn thì bạn nên đọc thêm những bản báo cáo thường niên, ngay cả những bản được viết từ 10 hay 15 năm trước đây. Tài liệu này có sẵn tại nhiều thư viện.
Có nhiều cuốn sách viết về Warren Buffett và chiến lược đầu tư của ông, nhưng cho đến khi Warren giới thiệu cuốn sách do ông viết thì cuốn sách trên là một lựa chọn đáng đọc.
Bài viết có tiêu đề là “Những gì tôi học được từ Warren Buffett” của Bill Gates. Bản quyền của Tập đoàn Microsoft 1995, được giới thiệu lần đầu tiên trên Harvard Business Review (Số tháng 1/tháng 2 năm 1996). In lại với sự cho phép của Tập đoàn Microsoft.
Làm rõ sự phức tạp của chứng khoán phái sinh
Ngày 20 tháng 3 năm 1995
Carol Loomis
Dưới đây là hai đoạn cuối của bài báo:
Vì chứng khoán phái sinh rất phức tạp, nên các giám đốc ngoài cuộc không thể nào hiểu rõ các hợp đồng mà công ty họ đã ký. Hầu hết các giám đốc điều hành trực tiếp cũng không thể nắm rõ. Cuối cùng thì việc lựa chọn rủi ro nào để phòng hộ, các phái sinh nào cần mua nhằm phòng hộ, và làm thế nào để tách bạch giữa quản lý rủi ro và đầu cơ đa phần là dành cho những nhân viên tài chính ngoài kia. Một vài người trong số các nhân viên này nghĩ rằng mình đang điều hành một trung tâm lợi nhuận bất chấp những thảm họa gần đây. Và ở đầu dây bên kia trên điện thoại, nhân viên bán chứng khoán phái sinh đang cố gắng để bán ra các phái sinh mới nhất, những thứ chắc chắn sẽ không phải là phương án phòng hộ đơn giản nhất. Thật là một bức tranh không mấy vui tươi về một vấn đề lớn như chứng khoán phái sinh. Do đó, có lẽ những gì chúng tôi cần là lối tư duy mới, một cách tiếp cận mới, một đề nghị hoàn toàn cấp tiến. Dưới đây là một ý kiến như vậy: Chủ tịch của Berkshire Hathaway, Warren E. Buffett, nói rằng ông muốn đối phó với các chứng khoán phái sinh bằng cách yêu cầu mỗi giám đốc điều hành khẳng định trong báo cáo thường niên của mình rằng họ hiểu rõ về mỗi hợp đồng phái sinh mà công ty họ đã ký. Buffett nói: “Nếu thêm vào điều khoản này, tôi đoán rằng các bạn sẽ có thể giải quyết gần như mọi vấn đề đang tồn tại.” Trong một thị trường dường như phát triển mạnh dựa trên sự phức tạp và mập mờ, thì một giải pháp như vậy sẽ không xảy ra. Nó quá đơn giản. Nhưng ông ấy đã nói đúng.
Hai trích đoạn từ bài báo “Hãy nghe từ đây!”
Ngày 3 tháng 4 năm 1995
Warren E. Buffett, 64 tuổi, Chủ tịch Berkshire Hathaway, tập đoàn kinh doanh kẹo, giày dép và các sản phẩm khác, đã phát biểu trong buổi họp thường niên:
“Mặc dù chúng ta muốn xem cuộc họp như một trải nghiệm thần thánh, chúng ta phải nhớ rằng ngay cả những tôn giáo thánh thiện nhất cũng có nghi lễ dùng đĩa thu tiền quyên góp.”
Ngày 29 tháng 5 năm 1995
Charles T. Munger, 71 tuổi, Phó Chủ tịch của Berkshire Hathaway, đã nhắc đến vụ kiện tụng liên quan đến công ty:
“Họ muốn xem các hợp đồng nhân sự của chúng tôi. Chúng tôi không chỉ không có bất kỳ hợp đồng nhân sự nào, mà còn không có bất kỳ nhân viên nào.”
Tại sao Warren Buffett đặt cược lớn vào American Express?
Ngày 30 tháng 10 năm 1995
Linda Grant
Khi Buffett đang tích lũy một cổ phiếu, ông không muốn ai biết đến nó. Khi tin tức lộ ra, thông thường là vì nó có trong hồ sơ của Ủy ban Chứng khoán và Sàn Giao dịch Mỹ, và nếu Buffett nhận định rằng ông vẫn sẽ mua thêm các cổ phiếu, ông sẽ không nói nhiều về lý do tại sao ông thích cổ phiếu đó. Đó là trường hợp của American Express vào năm 1995. Các tờ báo kinh doanh, bao gồm cả tạp chí Fortune, đã gọi hỏi thông tin, nhưng Buffett không tiếp chuyện.
Dù sao đi nữa chúng tôi cũng phải viết bài báo, thậm chí đưa nó lên trang bìa với tựa đề ẩn chứa sự ngờ vực hơn là tiêu đề ở trên. Trên bìa báo là câu hỏi: “Tại sao Warren Buffett đánh cược hàng tỷ đô-la vào một công ty bấp bênh?” Thực tế, các phóng viên và biên tập viên của tờ Fortune phụ trách bài viết này không hề tin vào triển vọng của cổ phiếu Amex, nhưng họ đã phải chấp nhận thực tế chán chường rằng Buffett có vẻ thích.
Cách tiếp cận của chúng tôi đối với vấn đề này là viết một bài báo dài với mở đầu và kết thúc về Buffett, và bao gồm một phần thông tin phụ đính kèm về ông ấy, nhưng mặt khác chúng tôi cũng phải cân nhắc về độ dài bài viết vì chúng tôi cũng muốn đề cập đến những khó khăn mà Harvey Golub, Giám đốc Điều hành mới của công ty phải đối mặt. Golub trước đây công tác ở công ty tư vấn McKinsey. Tạp chí Fortune nhận định rằng khả năng cắt giảm chi phí và bán các phòng ban của một chuyên gia tư vấn nói riêng có thể không mấy lý tưởng trong việc giúp khôi phục lại uy tín mà Amex đã mất vào đầu năm 1990.
Dưới đây là những gì tạp chí Fortune đã viết về Buffett trong một số đoạn và phần thông tin phụ đính kèm. Cuối bài, chúng tôi sẽ đề cập đến những điều ông đã nói về vấn đề này. – CL
Bài báo bắt đầu:
Warren Buffett thích kể dụ ngôn về sự phi lý của thị trường chứng khoán. Vào năm 1963, một vụ bê bối liên quan đến hàng tồn kho giả dầu trộn salad tại một công ty con của American Express đã làm giá cổ phiếu của Amex lao dốc. Rắc rối này tồi tệ cỡ nào? Để tìm hiểu, Buffett đã dành một buổi tối quan sát thủ quỹ tại nhà hàng Ross’s Steak House ở Omaha để xem liệu mọi người có ngừng sử dụng thẻ xanh của Amex hay không. Vụ bê bối dường như không ảnh hưởng đến bất kỳ thực khách nào, do đó Buffett đã nắm lấy cơ hội mua 5% cổ phần của công ty với giá 13 triệu đô-la. Sau đó ông đã bán cổ phần của mình để thu về lợi nhuận 20 triệu đô-la.
Hiện thời Buffett hy vọng sẽ làm câu chuyện sống lại với những con số lớn hơn nhiều. Trong vài năm qua, Giám đốc Điều hành của Berkshire Hathaway đã tích lũy được hơn 49 triệu đô-la cổ phiếu của American Express, tương đương 10,1% cổ phần. Giá trị của nó vào khoảng 2,2 tỷ đô-la, là một trong những khoản đầu tư lớn nhất của Buffett, cùng với Coca-Cola, Gillette và Capital CitiesABC. Một lần nữa ông nghĩ rằng Phố Wall đã đẩy cổ phiếu Amex xuống thấp phi lý. Lần này vấn đề không phải về dầu trộn salad, mà là một danh mục xung đột dài và được nhiều người biết đến: Một đội ngũ quản lý điên cuồng do James Robinson III dẫn đầu đã làm thương hiệu bị thiệt hại trong những năm đầu thập niên 1990; chiến lược xây dựng một siêu thị tài chính của ông gặp thất bại, hậu quả là công ty con về môi giới Shearson Lehman của Amex đã làm thâm hụt 4 tỷ đô-la vốn trước khi được bán ra vào năm ngoái. Hơn nữa gần đây, thẻ American Express thất sủng đã bị mất thị phần vào tay thẻ Visa và Master Card vì uy tín – quyền lợi chính dành cho người tiêu dùng của thẻ Amex trở nên khó thuyết phục người dùng hơn. Các nhà phân tích cho rằng việc kinh doanh quốc tế của công ty cũng ảm đạm.
Luôn là một nhà đầu tư kiên nhẫn, Buffett, người có tài sản trị giá 14,2 tỷ đô-la (ở lần thống kê mới nhất) tin rằng những rắc rối mới nhất chỉ làm phiền ông một chút. Thứ ông thích chính xác là những gì trước đây đã giúp ông giàu có: một thương hiệu hùng mạnh cùng với một dòng tiền dồi dào. Sau tất cả, theo nhóm tiếp thị Interbrand ở London, American Express vẫn là một trong 10 thương hiệu quen thuộc nhất trên thế giới. Buffett tin rằng cái tên của thương hiệu vẫn “đồng nghĩa với sự toàn vẹn tài chính và các loại tiền thay thế trên thế giới”. Như ông giải thích cho các cổ đông của Berkshire Hathaway tại cuộc họp thường niên gần đây: “Cho đến nay, yếu tố quan trọng nhất trong tương lai Amex nhiều năm tới sẽ là thẻ tín dụng. Chúng tôi nghĩ rằng ban quản trị Amex đang suy nghĩ rất kỹ về việc phải làm thế nào để chiếc thẻ của họ thật đặc biệt.” Chắc hẳn Buffett không quá lo ngại về việc công ty mất thị phần. Mà ông đặt cược rằng thậm chí nếu Amex không thể tăng trưởng mạnh mẽ, nó vẫn sẽ trở thành một nhân tố ngách1 với lợi nhuận cao trong thị trường thẻ.
1. Nhân tố ngách (niche player): Một nhân tố tham gia vào thị trường ngách (niche market) – một phân đoạn nhỏ của thị trường với nhóm khách hàng và nhu cầu riêng biệt thay vì toàn bộ thị trường.
Nhưng nếu American Express muốn đáp ứng sự mong đợi của Buffett, nó sẽ phải làm sống lại thương hiệu – một nhiệm vụ không dễ dàng…
Phần kết của bài báo:
Bất chấp những thách thức đang chờ đợi Amex phía trước, việc đặt cược chống lại Warren Buffett hiếm khi sáng suốt. Sau tất cả, ông đặt cược vào những thương hiệu vững mạnh như Coke và Gillette để thu về lợi nhuận. Ông cũng đầu tư thành công vào bảo hiểm GEICO, giống như Amex, công ty với dòng tiền dồi dào. Khi Buffett phất lên, thường là bởi ông có một đội ngũ quản lý giỏi. Lần này điều khó có thể nhìn thấy chính là làm sao một loạt các chuyên gia tư vấn lại có thể tìm kiếm lợi nhuận trong trò chơi thực sự khốc liệt này.
BUFFETT ĐÃ ĐÁNH GIÁ CỔ PHIẾU AMEX ĐÁNG MUA NHƯ THẾ NÀO?
NGÀY 30 THÁNG 10 NĂM 1995
Linda Grant
Hầu như mọi người đều biết rằng Warren Buffett là một môn đệ nhiệt thành của phương pháp đầu tư giá trị của huyền thoại Phố Wall Benjamin Graham trong những năm 1930 và 1940. Các nhà đầu tư giá trị chỉ mua cổ phiếu khi họ tin rằng thị trường đang tạm thời và không hợp lý, dẫn đến một công ty được đánh giá dưới mức mà họ gọi là giá trị nội tại của nó.
Nhưng nhiều người đang bối rối vì vụ mua lại khoảng 2 tỷ đô-la cổ phiếu American Express của Buffett. Phố Wall đã phớt lờ các cổ phiếu này trong những năm gần đây khi Amex bắt đầu mất dần thị phần và bị ảnh hưởng vì rắc rối tại công ty con môi giới trước đây của nó, Shearson Lehman. Nhưng có lẽ những tin xấu này đã thu hút Buffett ngay từ đầu. Sau tất cả, nguyên lý chính của Graham là nghĩ cho chính mình và hiểu sự khác biệt giữa giá cả và giá trị. Ông cũng khuyên những người theo đuổi nguyên lý này hãy lùng sục thị trường để tìm cổ phiếu giá rẻ.
Nhà đầu tư giá trị Robert G. Hagstrom Jr., tác giả của cuốn The Warren Buffett Way (tạm dịch: Phong cách Đầu Tư của Warren Buffett) và là quản lý danh mục đầu tư của quỹ tín thác Focus ở Philadelphia, chỉ ra rằng để hiểu được bất kỳ vụ đầu tư nào của Buffett, nhà đầu tư phải bắt đầu với triết lý của ông được thể hiện trong bức thư năm 1989 gửi cổ đông của Berkshire Hathaway. Buffett viết rằng giá trị của bất kỳ doanh nghiệp ngày nay được “tính bằng cách lấy tất cả dòng tiền, vào và ra, trong tương lai chiết khấu đi lãi suất hiện hành. Vì vậy, giá trị của tất cả các doanh nghiệp, từ các nhà sản xuất xe ngựa cho đến nhà sản xuất điện thoại di động, sẽ bình đẳng về kinh tế.
Nói cách khác, Hagstrom tin rằng Buffett xác định giá trị của một cổ phiếu như thể nó là một trái phiếu. Ông bắt đầu với “thu nhập ròng của chủ sở hữu”, con số được tính bằng lợi nhuận cộng với các khoản khấu hao trừ đi vốn đầu tư. Đối với Amex kết quả này là 1,4 tỷ đô-la vào năm ngoái, bằng với con số thu nhập của công ty, mặc dù không phải luôn như vậy. Rồi ông đặt câu hỏi: Nếu Amex là một trái phiếu với phiếu trả lãi hằng năm có trị giá 1,4 tỷ đô-la, các phiếu trả lãi có thể tăng trưởng thế nào, và trái phiếu sẽ đáng giá bao nhiêu sau 10 năm phát hành?
Hagstrom cho biết, “Thật khó để xác định giá trị phiếu trả lãi của một công ty vì bạn phải đặt ra những dự đoán chính xác nhất về tốc độ tăng trưởng.”
Đây là một lý thuyết tài chính rất cơ bản, nhưng dĩ nhiên bí mật nằm ở trong quá trình thực hiện. Cho đến nay chưa có ai phá được mật mã định giá của Buffett, nhưng Hagstrom đã từng thử. Cách tính của ông tính ra giá trị nội tại của Amex trên mỗi cổ phiếu là 86,77 đô-la. Sự chênh lệch giữa con số 86,77 đô-la và mức 44 đô-la giá thị trường gần đây của cổ phiếu Amex cho thấy một biên độ an toàn. Hagstrom cho rằng, “Đây là một khoảng cách lớn để bảo vệ nhà đầu tư thậm chí nếu Amex thua lỗ vào một năm kinh doanh tệ nào đó.” Vì thích phương trình này, Hagstrom quyết định mua 8.000 cổ phiếu Amex cho riêng ông.
Tất cả những thông tin viết về Buffett và American Express trên được phát hành trên tạp chí Fortune ra ngày 30 tháng 10 năm 1995. Cuối cùng thì Buffett cũng chia sẻ về chủ đề này trong lá thư gửi cổ đông hằng năm vào năm 1997. Liệu ông cũng đặt ra một tập hợp các nguyên nhân được phân tích kỹ càng về việc tại sao ông đã mua cổ phiếu Amex? Không hề. Thay vào đó, ông thừa nhận mình đã nhận được một lời khuyên trong một trận đánh golf.
Bối cảnh diễn ra lời khuyên là vào năm 1991, khi Berkshire mua 300 triệu đô-la cổ phiếu của American Express Percs, về cơ bản là một chứng khoán thường và trong 3 năm đầu tiên, nó đã thể hiện sự đánh đổi1. Cụ thể, Berkshire đã nhận được thêm các thanh toán cổ tức trong những năm qua, nhưng cũng đồng thời bị giới hạn về việc tăng giá cổ phiếu. Vào tháng 8 năm 1994, cổ phiếu Percs đến hạn phải chuyển đổi thành cổ phiếu thường, và trong mùa hè trước đó Buffett đã cố gắng đưa ra quyết định về việc có nên giữ hay bán cổ phiếu Amex đi.
1. Sự đánh đổi (trade-off): Dùng để chỉ việc cân nhắc việc bỏ ra một chi phí, tài sản hay thứ gì đó để thu được một tài sản hay một vật khác. Quyết định được đưa ra dựa trên sự nhận thức rõ cái được và mất giữa các cách lựa chọn.
Các sự kiện đã đẩy ông theo 2 hướng như Buffett viết trong bức thư năm 1997 của ông: Ông nghĩ Giám đốc Điều hành Amex Harvey rất xuất sắc và sẽ biến toàn bộ tiềm năng của công ty thành hiện thực; dù sao ông cũng đã lo lắng về sự cạnh tranh không ngừng nghỉ giữa các công ty thẻ khác, đặc biệt là Visa với Amex. Buffett nói: “Khi cân nhắc các điểm được mất, tôi nghiêng về quyết định bán cổ phiếu này.”
Tuy nhiên sau đó, vào một ngày năm 1994, ông đã có dịp chơi golf với Frank Olson, Giám đốc Điều hành Hertz ở Prouts Neck, Maine. Buffett viết trong thư: “Frank là một nhà quản lý giỏi, có kiến thức sâu sắc về ngành kinh doanh thẻ. Vì vậy, ngay từ cú phát bóng đầu tiên tôi đã bắt đầu chất vấn ông ấy về ngành này. Vào thời điểm chúng tôi tiến đến vùng cỏ quanh lỗ golf thứ hai, Frank đã thuyết phục tôi rằng thẻ tín dụng Amex là một thương hiệu tuyệt vời, và tôi đã quyết định không bán nó. Khi chúng tôi tiếp tục chơi đến 9 hố sau trên sân golf, tôi đã quyết định mua vào, và chỉ trong một vài tháng Berkshire đã sở hữu 10% cổ phần của công ty.”
Kể từ cuối năm 1994, thời điểm giữa trong giai đoạn Buffett mua vào chứng khoán của American Express, cho đến giữa năm 2013, Berkshire đã đạt tỷ lệ lợi nhuận kép trung bình thường niên gần 14%. (Trong đó bao gồm giá trị tại thời điểm phát hành của chứng khoán Ameriprise – một công ty tách ra từ Amex vào năm 2005; chứng khoán này được phát hành như một cổ tức Amex đặc biệt, giống như tất cả cổ tức, nó cũng được cộng vào tổng lợi nhuận.) Vào giữa năm 2013, chứng khoán Amex của Berkshire có chi phí cơ sở là 1,3 tỷ đô-la và giá trị thị trường là 11,3 tỷ đô-la.
Rất tuyệt vời, nhưng không có nghĩa là quá trình nắm giữ Amex của Berkshire không có kịch tính. Giữa tháng 7 năm 2007 và tháng 3 năm 2009, khi cổ phiếu tài chính gặp thất bại nặng nề, giá cổ phiếu Amex giảm từ 65 đô-la xuống còn 10 đô-la, trước khi nó bắt đầu quay chiều. Đương nhiên, Buffett chỉ kiên nhẫn theo dõi. Đến giữa năm 2013, cổ phiếu Amex đã đạt đỉnh cao mới khi tăng lên giá gần 80 đô-la. Trong khi đó Amex đã mua vào một lượng lớn cổ phiếu của chính nó, dẫn đến tổng số cổ phần của Berkshire hiện đang sở hữu trong công ty là 13%. – CL
Bản đầy đủ của “Tại sao Warren Buffett đánh cược lớn vào American Express?” có thể được xem tại fortunecombuffettbook.
Món quà trao tặng – Một chút của Buffett
Ngày 18 tháng 3 năm 1996
Bethany McLean
Mức giá 32.800 đô-la một cổ phiếu Berkshire Hathaway đã cản trở các chủ sở hữu muốn cho tặng (ngay cả một cổ phiếu cũng sẽ gánh các loại thuế quà tặng) và những người ngoài cuộc muốn sở hữu cổ phiếu hấp dẫn này của Warren Buffett. Ngày 6 tháng 5, các cổ đông sẽ bỏ phiếu về kế hoạch của Buffett để bán ít nhất 100 triệu đô-la cổ phiếu Loại B mới với giá chỉ 1.000 đô-la hoặc hơn. Các cổ phiếu hiện tại, sẽ được đổi tên thành Loại A, có thể chuyển đổi sang Loại B bất cứ lúc nào. Buffett nói, “Chúng tôi chỉ muốn thu hút những người đang thấy cổ phiếu của chúng tôi hấp dẫn.” Để ngăn chặn sự chuyển đổi đồng loạt, ông khuyên rằng Loại B “kém hơn một chút” so với cổ phiếu Loại A hiện hữu: Các cổ phiếu này có ít quyền biểu quyết hơn và thiếu phần đóng góp cho hoạt động từ thiện của doanh nghiệp như loại A. Nhưng đối với những người mua để tặng hay kẻ có hầu bao ít, cổ phiếu Loại B giúp họ thật sự sở hữu cổ đông của Buffett.
Chương trình biểu diễn của Bill và Warren
Ngày 20 tháng 7 năm 1998
Brent Schlender
Bill Gates và Warren Buffett đã đứng trên sân khấu trường Đại học Washington để thuyết giảng, nói vậy thôi, chủ yếu 2 ông đã làm việc đó bằng cách trả lời các câu hỏi của sinh viên. Để mở đầu bài viết này, tôi sẽ in lại với những chỉnh sửa nhỏ trong các trích đoạn tuyệt vời do Brent Schlender biên tập. Nhờ bài báo này mà tạp chí Fortune đã dẫn đầu trong sự kiện lịch sử thể hiện quyền lực của cả hai người đàn ông. – CL
Sinh viên xếp hàng dài chờ đợi từ hành lang ra đến tận ngoài cổng của trường Union Building Husky trực thuộc Đại học Washington tại Seattle vào một buổi chiều thứ Sáu dịu mát cuối tháng 5. Bạn có thể đoán rằng đây không phải là hàng người xếp hàng chờ mua vé cho buổi biểu diễn nhạc Phish vì nhiều người mặc trang phục quần vải màu, áo sơ mi (và ít có ai xỏ khuyên mũi). Thay vào đó, nhóm những người ăn mặc chỉnh tề này đang giành những chỗ tốt nhất để tham gia nghe một bài giảng rất đặc biệt. Các sinh viên và một vài người khách may mắn được thưởng thức một buổi đối thoại hiếm hoi công khai giữa 2 doanh nhân “giàu nhất trong hệ mặt trời”: Bill Gates và Warren Buffett.
2 người bạn thân tỷ phú lên lịch tham dự sự kiện trùng hợp với chuyến thăm nhà Gates vào dịp cuối tuần của Buffett, theo sau cuộc họp thượng đỉnh hằng năm của Microsoft dành cho các Giám đốc Điều hành. Nhà siêu đầu tư và ông trùm công nghệ đã kêu gọi khoảng 350 sinh viên trường kinh doanh tham gia buổi trò chuyện và mời Hệ thống Phát thanh Công cộng và tạp chí Fortune ghi lại sự kiện.
Trong khi các sinh viên tranh nhau xuống cầu thang, Gates và Buffett cười đùa cùng vợ họ và vài người bạn, trong đó có Katharine Graham, cựu Giám đốc Điều hành của Washington Post, cùng cha và chị gái của Bill. Họ nhâm nhi trái cây tươi ở phòng trang điểm trong khi một chuyên gia trang điểm đang phủ phấn lên mũi Bill và tỉa tót đôi lông mày ngang bướng của Warren, nhiều đến mức Susie Buffett cũng cảm thấy buồn cười. Vào một thời điểm Nhà tiên tri của Omaha khuấy động cả nhóm với một hành động ngốc nghếch mô phỏng dấu hiệu “V tượng trưng cho chiến thắng” của Richard Nixon.
Khi giờ bắt đầu đến gần, cả hai tự tin tạo dáng để chụp ảnh và giễu cợt nhau như 2 đồng môn. Mối quan tâm của những vị khách khác chính là 2 người khổng lồ này sẽ không nói quá dài dòng, để mọi người có thể quay về nhà của Gates kịp lúc chơi bài bridge. Đây giống như buổi họp mặt vui vẻ được ban tặng của một gia đình quyền cao chức trọng.
Đối với một khách mời trong phòng trang điểm, có lẽ ấn tượng lâu dài nhất chính là tình cảm giữa 2 thế hệ tỷ phú nổi tiếng nhất của Mỹ. (Bàn về kỷ lục, vào ngày hôm đó giá trị tài sản của Gates 42 tuổi dao động quanh con số 48 tỷ đô-la, so với Buffett là 36 tỷ đô-la. Buffett, người chỉ vài năm trước đây được xem là giàu hơn Bill Gates, đã xoay xở để duy trì khoảng cách hơn 25 tuổi giữa ông và Gates.) Sự hiện diện của Buffett dường như làm Gates bình tĩnh. Ông đã cởi mở hơn và thích chuyện trò bất chấp những tranh cãi về pháp lý giữa Microsoft với các viên chức chống độc quyền liên bang và sự căng thẳng vì phải đón tiếp hàng chục Giám đốc Điều hành xuất sắc 2 ngày trước đó. Mặc dù cuối cùng diện mạo của Bill đã bắt đầu phản ánh tuổi tác của ông, những nếp nhăn làm khóe mắt của ông trông mệt mỏi, và dù ông không còn là một người cao kều như ông đã từng, nhưng hai vợ chồng Buffett và Graham vẫn yêu thích ông như thể ông là một gương mặt trẻ thành công xuất chúng. Ông đối xử với lần lượt từng người bằng một chút tôn kính ấm áp, khá tương phản với thái độ tranh luận thông thường của mình.
Cuối cùng, cả hai bước lên sân khấu, đứng đợi ở cánh gà để vị hiệu trưởng Bill Bradford của Đại học Kinh doanh Washington phát biểu khai mạc. Thật không may, vị hiệu trưởng đã chia sẻ lạc đề khi chủ yếu ca ngợi Microsoft vì đã tuyển dụng các sinh viên của trường Đại học Washington. Cuộc trò chuyện hài hước, triết lý và khác thường sau đây có nhiều thứ để chờ đợi hơn là những lời động viên từ một nhà tuyển dụng địa phương và bạn thân của ông. Mời bạn nghiền ngẫm nhé! – Brent Schlender.
Bạn sẽ nhận được gì khi đưa tiết mục trò chuyện giữa đôi bạn tỷ phú ra trước 350 sinh viên? 84 tỷ đô-la cảm hứng. Trong một cuộc gặp gỡ giữa 2 bộ óc có 1 không 2 (với giá trị ròng không thể đo đếm được), Buffett và Gates đã bàn về việc chấp nhận rủi ro, động viên nhân viên, đối diện với sai lầm, và đóng góp cho xã hội. Kết quả thu được là một điều gì đó rất gần với sự khai sáng.
1. Chúng tôi đã đạt đến vị trí này như thế nào?
Warren và Bill giải thích họ đã làm thế nào để trở nên giàu có hơn cả Chúa
Buffett: Tôi nghĩ mình nên bắt đầu bằng tuyên bố rằng tôi và Bill đã đặt cược nho nhỏ để xem ai sẽ nhận được nhiều tràng pháo tay nhất. Tôi đề nghị đặt cược ngôi nhà của mình và cậu ấy đặt cược nhà của cậu ấy. Chúng tôi đặt cược bằng một khoản tiền nhỏ, nhưng rõ ràng nó không phải là một khoản tiền nhỏ với Bill, vì chỉ ngay trước khi chúng tôi xuất hiện cậu ấy đã đưa cho tôi mặc chiếc áo Nebraska Cornhusker này, còn cậu ấy mặc chiếc áo tím của Đại học Washington.
Họ mời chúng tôi bắt đầu buổi nói chuyện. Cả hai chúng tôi bàn về điều gì đã giúp chúng tôi đứng ở đây, và sau đó là câu hỏi của bạn. Trong trường hợp của tôi, câu trả lời khá đơn giản. Đó không phải nhờ chỉ số IQ, tôi chắc chắn bạn sẽ thấy vui khi nghe điều này. Lý trí mới là quan trọng. Tôi luôn cho rằng chỉ số IQ và tài năng là đại diện cho mã lực của động cơ, nhưng mà kết quả, hiệu năng của động cơ thì lại phụ thuộc vào lý trí. Rất nhiều người bắt đầu với động cơ 400 mã lực nhưng chỉ nhận được 100 mã lực kết quả. Tốt hơn là có một động cơ 200 mã lực và chuyển hết số này thành kết quả.
Vậy tại sao những người thông minh thực hiện những việc ảnh hưởng đến những kết quả họ được hưởng? Đó là vì thói quen, tính cách và cách hành xử hợp lý. Chứ không phải vì họ làm theo cách riêng. Như tôi đã nói, tất cả mọi người ở đây hoàn toàn có khả năng để làm bất cứ điều gì tôi làm và nhiều hơn thế nữa. Đối với những người không làm được, đó là bởi bạn làm theo cách riêng của bạn, chứ không phải vì thế giới không cho phép bạn.
Do đó tôi có một gợi ý nhỏ cho bạn: Hãy chọn một người bạn ngưỡng mộ nhất, và viết ra lý do tại sao bạn ngưỡng mộ họ. Bạn không được đưa tên mình vào đây. Sau đó hãy cho biết tên người mà bạn thật sự không thể chịu đựng nổi và viết ra những phẩm chất bạn không thích ở người đó. Các phẩm chất của người mà bạn ngưỡng mộ chính là các đặc điểm mà bạn có thể sở hữu với một chút luyện tập, và nếu được luyện tập, các đặc điểm này sẽ hình thành nên thói quen.
Chuỗi thói quen rất mong manh cho đến khi chúng trở nên không thể phá vỡ. Ở độ tuổi của tôi, tôi không thể thay đổi bất kỳ thói quen nào của mình nữa. Tôi bị mắc kẹt. Nhưng bạn sẽ sở hữu thói quen sau 20 năm nữa nếu quyết định luyện tập thói quen đó ngay hôm nay. Vì vậy tôi đề nghị bạn quan sát các hành vi bạn ngưỡng mộ ở người khác và biến nó thành thói quen của chính mình, sau đó tìm ra những gì bạn thật sự thấy đáng bị khiển trách ở người khác và xác định rằng chúng sẽ không phải là thứ bạn muốn thực hiện. Nếu làm vậy, bạn sẽ thấy mình đang chuyển đổi toàn bộ mã lực thành kết quả.
Gates: Tôi nghĩ Warren nói hoàn toàn đúng về thói quen. Tôi đã khá may mắn khi tiếp xúc với máy tính từ khi còn khá trẻ. Đó là những thứ rất đắt đỏ và có vẻ hạn chế về những gì nó thể làm, nhưng vẫn rất hấp dẫn. Một vài người bạn và tôi đã trò chuyện về vấn đề này rất nhiều và quyết định rằng, nhờ vào công nghệ chíp kỳ diệu, chúng đã trở thành thứ mà mọi người đều có thể sử dụng. Chúng tôi không thấy bất kỳ hạn chế nào về tiềm năng của máy tính, và chúng tôi thật sự nghĩ rằng viết phần mềm chính là việc đòi hỏi sự khéo léo. Vì vậy chúng tôi đã thuê bạn bè viết phần mềm để xem máy tính có thể thật sự trở thành công cụ như thế nào, một công cụ cho Kỷ nguyên Thông tin nhằm làm tăng năng lực trí tuệ thay vì chỉ tăng sức mạnh cơ bắp.
Bằng cách theo đuổi mục tiêu này với một sự tập trung không tưởng và vì đã có mặt ở đó từ giai đoạn sơ khai của ngành công nghiệp, nên chúng tôi đã có thể dựng nên một công ty đóng vai trò trọng yếu trong cuộc cách mạng lớn. Hiện tại, may mắn thay, cuộc cách mạng này chỉ mới bắt đầu. Chúng tôi đã mở công ty từ 23 năm trước. Nhưng chắc hẳn nếu gắn bó với những thói quen chúng tôi tạo nên, 23 năm tiếp theo sẽ đem lại cho chúng tôi rất nhiều tiềm năng và thậm chí có thể giúp chúng tôi tiến gần đến với tầm nhìn ban đầu của mình: “Máy tính có mặt trên mọi chiếc bàn và trong mọi gia đình”.
Các ông định nghĩa thành công là gì, đứng trên phương diện cá nhân?
Buffett: Tôi chắc chắn có thể định nghĩa được hạnh phúc, bởi hạnh phúc là bản chất của tôi. Tôi được làm những gì tôi muốn làm mỗi ngày trong năm. Tôi được làm việc đó với những người tôi thích, và tôi không cần phải làm việc với bất cứ ai làm tôi khó chịu. Tôi nhảy thiết hài đến công sở, và khi đến đó tôi nghĩ rằng tôi nên ngả lưng và nhìn lên trần nhà. Làm việc đem lại niềm vui to lớn. Điều duy nhất trong công việc mà tôi không thích, và điều này chỉ xảy ra mỗi 3 hoặc 4 năm, là đôi khi tôi phải sa thải ai đó.
Họ nói rằng thành công là nhận được những gì bạn muốn và hạnh phúc là muốn những gì bạn được nhận. Tôi không biết cái nào được áp dụng trong trường hợp này, nhưng tôi biết tôi sẽ không thể làm bất cứ điều gì khác. Tôi muốn khuyên bạn rằng khi bạn ra ngoài làm việc, hãy làm việc cho một tổ chức của những người mà bạn ngưỡng mộ, bởi nó sẽ giúp bạn hứng khởi. Tôi luôn lo lắng về những người nói rằng, “Tôi sẽ làm việc này trong 10 năm; Tôi thực sự không thích nó nhiều lắm. Sau đó tôi sẽ làm việc khác…” Nó giống như để dành việc sinh hoạt tình dục cho tuổi già vậy. Đây không phải là một ý tưởng tốt.
Tôi đã từ chối các giao dịch kinh doanh có tiềm năng vì tôi không thích những người mà tôi sẽ làm việc cùng. Tôi không thấy có bất kỳ lý do nào để phải giả vờ. Theo tôi, hợp tác với những người làm tôi khó chịu cũng giống như kết hôn vì tiền vậy. Đây chắc hẳn là một ý tưởng tồi trong bất kỳ trường hợp nào.
Gates: Tôi đồng ý rằng điểm mấu chốt đó là bạn phải yêu thích những gì bạn làm mỗi ngày. Đối với tôi, đó là làm việc với những người rất thông minh và giải quyết các vấn đề mới. Mỗi lần nghĩ rằng, “Này, chúng ta đã thành công đôi chút,” chúng tôi khá thận trọng để không bám víu vào nó quá nhiều bởi tiêu chuẩn đã được nâng cao. Luôn có thông tin phản hồi từ khách hàng rằng những chiếc máy tính quá phức tạp và không đủ tự nhiên. Các đối thủ cạnh tranh, những đột phá công nghệ và các nghiên cứu tạo nên ngành công nghiệp máy tính, đặc biệt là phần mềm, lĩnh vực thú vị nhất trong đó, và tôi nghĩ rằng tôi đang có công việc tuyệt vời nhất trong ngành kinh doanh đó.
Buffett: Cậu có nghĩ rằng Dairy Queen còn quan trọng hơn? (Berkshire Hathaway đã mua Dairy Queen International vào mùa thu năm ngoái với giá 585 triệu đô-la.)
Gates: Ông có thể quản lý Dairy Queen, Warren à. Tôi sẽ rời đi và mua Dilly Bars.
Buffett: Chúng tôi sẽ tăng giá khi cậu quay lại.
Thành lập một công ty mới thường rất rủi ro. Làm thế nào mà các ông xác định được khi nào là thời điểm tốt nhất để thành lập một công ty mới?
Gates: Khi thành lập Microsoft, tôi rất hăng hái, đến nỗi tôi không nghĩ rằng nó có thể tiềm ẩn nhiều rủi ro. Đó là sự thật, tôi có thể bị phá sản, nhưng tôi sở hữu một nhóm kỹ năng rất được trọng dụng. Và cha mẹ tôi luôn sẵn sàng giúp tôi quay trở lại Harvard để hoàn thành việc học nếu tôi muốn.
Buffett: Cậu luôn được chào đón ở chỗ tôi, Bill.
Gates: Điều đáng sợ đối với tôi là khi tôi bắt đầu tuyển dụng bạn bè, và họ mong đợi sẽ được trả tiền. Sau đó khách hàng của chúng tôi, những người duy nhất giúp chúng tôi thành công, bị phá sản. Vì vậy tôi đã sớm đưa ra cách tiếp cận cực kỳ bảo thủ rằng tôi muốn có đủ tiền trong ngân hàng để trả lương nhân viên trong một năm, ngay cả khi chúng tôi không nhận được bất kỳ khoản thanh toán nào sắp tới. Tôi gần như luôn làm đúng như thế. Chúng tôi hiện có khoảng 10 tỷ đô-la, khá đủ cho năm tiếp theo.
Dù sao, nếu bạn sắp thành lập một công ty, một việc mất rất nhiều năng lượng, vì thế tốt hơn hết là bạn phải vượt qua nỗi lo ngại rủi ro của mình. Ngoài ra, tôi không nghĩ nhất thiết bạn phải thành lập một công ty khi bắt đầu sự nghiệp. Trước tiên, hãy làm việc cho một công ty và quan sát cách họ hoạt động sẽ giúp ích rất nhiều cho bạn. Trong trường hợp của chúng tôi, tôi và Paul Allen đã lo sợ một người nào đó có thể đạt được điều đó trước chúng tôi. Hóa ra, trên thực tế chúng tôi có thể chờ đợi thêm một năm nữa, bởi mọi thứ bắt đầu hơi chậm, nhưng việc đón đầu thị trường rất quan trọng đối với chúng tôi.
Ông đã làm thế nào để khiến mọi người ủng hộ ông?
Gates: Ban đầu, bạn sẽ vấp phải một vài nghi ngờ. Nếu bạn còn trẻ, thật khó để có thể đi thuê cơ ngơi. Bạn không thể thuê một chiếc xe hơi nếu bạn dưới 25 tuổi, vì vậy tôi luôn đi taxi đến gặp khách hàng. Có lúc đối tác mời tôi đến quán rượu để bàn công việc, nhưng tôi chưa đủ tuổi.
Việc này rất vui vì ban đầu khi mọi người còn hoài nghi, họ sẽ nói: “Thằng nhóc này chẳng biết gì cả.” Nhưng khi bạn cho họ thấy đúng là bạn có một sản phẩm tốt và bạn biết một điều gì đó, họ thường sẽ trở nên rất nhiệt tình. Vì vậy, ít nhất ở Mỹ, tuổi trẻ từng là một tài sản lớn đối với chúng tôi khi chúng tôi đạt đến một ngưỡng nhất định.
2. Bạn có thể làm bất cứ điều gì bạn muốn
Tại sao Warren chắc chắn rằng tất cả mọi người ở Trung Quốc đều muốn uống Coke?
Hai ông đã làm thế nào để đưa công ty ra toàn cầu?
Bufett: Tại Berkshire Hathaway, chúng tôi không đưa công ty phát triển toàn cầu một cách trực tiếp. 2 vụ đầu tư lớn nhất của chúng tôi là Coke và Gillette. Coca-Cola với 80% doanh thu đến từ nước ngoài còn ở Gillette, con số này là 2/3 tổng doanh thu. Do cả hai công ty đang tham gia cải thiện chất lượng sống trên toàn thế giới, chúng tôi bành trướng toàn cầu bằng cách đứng trên lưng họ. Tôi có thể làm việc ở Omaha và để Doug Ivester (Giám đốc Điều hành của Coca-Cola) đến khắp nơi trên thế giới.
Gates: Ngành kinh doanh của chúng tôi thực sự có quy mô toàn cầu. Tiêu chuẩn máy tính là tiêu chuẩn toàn cầu. Những gì bạn cần cho bảng tính Excel ở Hàn Quốc hoặc Ai Cập cũng giống như những gì bạn cần ở Mỹ. Chúng tôi phải thực hiện một số điều chỉnh theo các ngôn ngữ địa phương, và đó là một phần thú vị trong ngành kinh doanh của chúng tôi – hiểu được những ngôn ngữ hai chiều và các bảng chữ cái đa dạng trong tiếng Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Thực ra, thị phần của chúng tôi ở ngoài nước Mỹ cao hơn nhiều so với trong nước, vì thiết lập các công ty con tại địa phương và hiểu các điều kiện địa phương, hình thức phân phối ở địa phương và các mối quan hệ là việc khá khó khăn. Vì hầu hết các đối thủ cạnh tranh của chúng tôi đến từ Mỹ và không giỏi làm kinh doanh trên thị trường quốc tế, nên chúng tôi phát triển rất tốt ở các nước khác.
Hầu hết sự tăng trưởng của chúng tôi đến từ bên ngoài nước Mỹ. Sẽ đến một thời điểm nơi này trở thành một thị trường thay thế lớn. Hiện thời, điều này không có nghĩa là khách hàng Mỹ không muốn sở hữu những phần mềm tốt hơn có thể thấy, nghe và học. Nhưng bên ngoài nước Mỹ, chúng tôi vẫn tăng trưởng mạnh ở thời kỳ đầu.
Điều gì thôi thúc 2 ông thực hiện một chuyến đi cùng nhau đến Trung Quốc vào năm 1995, và chuyến đi đã ảnh hưởng như thế nào đến quyết định kinh doanh toàn cầu của 2 ông kể từ đó?
Gates: Chúng tôi đến Trung Quốc vì rất nhiều lý do. Một phần để thư giãn và vui chơi. Chúng tôi tìm thấy một vài cửa hàng McDonald’s ở đó, vì vậy chúng tôi không cảm thấy đang ở quá xa nhà. Thật thú vị khi đi và nhìn thấy tất cả những thay đổi đang diễn ra, để tham quan các khu vực khác nhau của đất nước này và để gặp một số nhà lãnh đạo.
Trung Quốc là một thị trường mà Microsoft đang đầu tư vào. Chúng tôi đã tăng cường đầu tư rất nhiều kể từ đó. Dù sao thì mức đầu tư cũng chỉ chiếm chưa đến 1% doanh thu của chúng tôi. Mặc dù con số này sẽ tăng trưởng gấp đôi mỗi năm trong 5 năm tới, nhưng thực sự chỉ bằng cách nhìn lại tổng thể 10 năm chúng tôi mới có thể biết liệu giá trị của nó có xứng đáng với tầm quan trọng mà chúng tôi đang đặt lên nó.
Mặc dù có khoảng 3 triệu máy tính được bán ra mỗi năm ở Trung Quốc, nhưng người ta không trả tiền để mua phần mềm. Một ngày nào đó họ cũng sẽ phải làm vậy. Chỉ cần họ vẫn có ý định ăn cắp phần mềm, chúng tôi vẫn muốn họ ăn cắp phần mềm của chúng tôi. Họ sẽ phần nào trở nên nghiện, và rồi chúng tôi sẽ tìm ra bằng cách này hay cách khác buộc họ phải trả tiền mua nó vào một lúc nào đó ở thập kỷ tiếp theo.
Buffett: Gia đình tôi rất ngạc nhiên khi tôi đi. Tôi chưa bao giờ đi đâu ra khỏi vùng giáp hạt Omaha ở Nebraska. Tôi đã có một khoảng thời gian tuyệt vời và cũng đã xác nhận dự đoán của tôi rằng Coca-Cola sẽ có thể bán được rất nhiều sản phẩm ở đó trong tương lai. Tôi đã nói với mọi người ở đó là thức uống này hoạt động như một chất kích thích.
3. Cải cách “là” chính chúng tôi
Warren cân nhắc về kẹo cao su trên Internet
Cả hai ông đều là những nhà cải cách trong các lĩnh vực riêng của mình. Theo 2 ông, sáng tạo là gì?
Buffett: Tôi không thực hiện nhiều cải cách trong công việc. Tôi thật sự chỉ làm 2 phận sự: Một là phân bổ vốn, việc mà tôi thích làm. Và hai là giúp 15 hoặc 20 nhà quản lý cao cấp truyền lửa cho một nhóm người về việc họ làm khi họ không có bất kỳ nhu cầu tài chính nào thúc đẩy họ phải làm việc. Ít nhất 3/4 các nhà quản lý của chúng tôi giàu đến mức không có bất kỳ nhu cầu tài chính nào, do đó công việc của tôi là khiến họ luôn cảm thấy thú vị đủ để rời khỏi giường vào lúc 6 giờ sáng và bắt đầu công việc với sự nhiệt thành họ từng có khi còn nghèo và chỉ mới bắt đầu sự nghiệp. Nếu tôi thực hiện 2 công việc này, họ sẽ giúp tôi thực hiện việc cải cách.
Gates: Ngành kinh doanh công nghệ luôn có rất nhiều thay đổi và ngã rẽ. Có lẽ lý do một ngành kinh doanh hấp dẫn là vì không một công ty nào được ngủ quên trên đỉnh vinh quang. IBM đã từng chiếm ưu thế hơn so với bất kỳ công ty nào trong ngành công nghệ, nhưng họ đã bỏ lỡ một vài thay đổi trong quá trình hoạt động. Điều đó khiến bạn thức dậy mỗi ngày và suy nghĩ, “Hãy cố gắng để bảo đảm hôm nay không phải là ngày chúng ta bỏ lỡ một ngã rẽ nào đó trên đường. Hãy tìm hiểu những gì đang xảy ra trong việc nhận dạng giọng nói, hoặc trong trí tuệ nhân tạo. Hãy chắc chắn rằng chúng ta đang thuê những kiểu người có thể thực hiện những việc này, và hãy chắc chắn rằng chúng ta sẽ không bất ngờ.”
Đôi khi chúng tôi cũng bị làm cho bất ngờ. Ví dụ, khi Internet xuất hiện, chúng tôi đã xem nó như là ưu tiên thứ 5 hoặc thứ 6. Không phải khi một số người nói với tôi về Internet và tôi trả lời, “Tôi còn không biết cách đánh vần từ đó.” Tôi đã nói rằng, “Vâng, tôi đã có ưu tiên đó trong danh sách của mình, vì vậy tôi ổn.” Nhưng đến một thời điểm chúng tôi nhận ra rằng Internet đang phát triển nhanh hơn và là một hiện tượng lớn hơn nhiều so với những gì chúng tôi dự đoán trong chiến lược. Vì vậy, khi hành động ở vị trí lãnh đạo, tôi đã dự cảm về khủng hoảng. Chúng tôi dành một vài tháng trao đổi ý tưởng và e-mail cùng nhau, sau đó chúng tôi đã thay đổi. Cuối cùng một chiến lược mới đã thành hình, để chúng tôi có thể nói, “Được rồi, đây là những gì chúng ta sẽ làm; đây là cách chúng ta sẽ đo lường nội bộ; và đây là những gì thế giới cần phải biết về những gì chúng ta sẽ làm.”
Loại khủng hoảng như vậy sẽ xuất hiện mỗi 3 hoặc 4 năm. Bạn phải lắng nghe cả những người thông minh trong công ty một cách chăm chú. Đó là lý do tại sao một công ty như công ty chúng tôi thu hút được rất nhiều người có tư duy khác biệt, nó phải chấp nhận rất nhiều sự bất đồng quan điểm, để rồi sau đó nó công nhận những ý tưởng đúng và đặt những nguồn năng lượng thực sự đằng sau chúng.
Những quốc gia và công ty nào đã chuẩn bị tốt nhất để tận dụng lợi thế của kỷ nguyên thông tin, thứ đang tạo ra cuộc cách mạng xã hội?
Buffett: Bạn cứ nghĩ đi, 15 năm trước nước Mỹ gần như luôn thường trực một mặc cảm tự ti về khả năng cạnh tranh trên thế giới.
Gates: Mọi người đều nói về cách mà người Nhật thống trị ngành thiết bị điện tử tiêu dùng và tiếp theo sẽ là ngành công nghiệp máy tính, và rằng hệ thống làm việc chăm chỉ của họ bằng cách nào đó là ưu việt hơn, và rằng chúng tôi phải xét lại những gì chúng tôi đã làm. Bây giờ, nếu bạn nhìn vào những gì đang xảy ra về ngành máy tính cá nhân hoặc trong kinh doanh nói chung, hoặc cách chúng tôi phân bổ vốn, cách chúng tôi để nhân lực di chuyển khắp nơi, nước Mỹ đã nổi lên với vị thế mạnh mẽ. Do đó, nơi hưởng lợi đầu tiên nhờ công nghệ thông tin này chính là nước Mỹ.
Ở những nơi như Singapore, Hồng Kông và các nước Bắc Âu, người ta đang áp dụng công nghệ cơ bản ở cùng một tốc độ với chúng ta. Có một vài quốc gia, vì lý do tương đồng với mức thu nhập của họ, đang theo sau công nghệ với một tốc độ còn cao hơn so với chúng tôi bởi họ rất tin vào giáo dục. Tại Hàn Quốc và nhiều vùng của Trung Quốc, chúng tôi nhận thấy sự xâm nhập đáng kinh ngạc của các máy tính cá nhân ngay cả ở mức thu nhập rất thấp, bởi mọi người xác định đó là một công cụ để giúp con cái họ vươn lên.
Cả thế giới sẽ được hưởng lợi lớn. Sẽ có sự thay đổi ở nơi mà, thay vì mức thu nhập của bạn được xác định dựa vào đất nước bạn sinh sống, nó sẽ được xác định bởi trình độ học vấn của bạn. Ngày nay, một tiến sĩ ở Ấn Độ không kiếm được nhiều tiền như một tiến sĩ ở Mỹ. Khi Internet cho phép truyền tải các dịch vụ và những thông tin tư vấn một cách hiệu quả như khi vận chuyển hàng hóa, thì cơ bản bạn sẽ có thể đấu thầu công khai kỹ sư ở Ấn Độ và kỹ sư ở Mỹ. Điều này có lợi cho tất cả mọi người, bởi bạn đang tận dụng tốt hơn những nguồn nhân lực. Vì vậy, các nước phát triển sẽ nhận được những lợi ích này từ sớm. Nhưng về lâu dài, những người đủ may mắn để có được một nền giáo dục tốt ở các nước đang phát triển sẽ chắc chắn nhận được sự hỗ trợ lớn nhất nhờ sự thay đổi này.
Buffett: Tôi không bắt lấy lĩnh vực công nghệ ngay từ đầu, nhưng lĩnh vực này lớn thật. Các cải tiến công nghệ sẽ thay đổi thế giới một cách sâu sắc và nhanh chóng. Tuy nhiên, trớ trêu thay, cách đối phó với việc này của chúng tôi ngược so với cách của Bill. Tôi tìm kiếm các doanh nghiệp mà tôi nghĩ mình có thể dự đoán được nó sẽ phát triển như thế nào trong 10, 15 hay 20 năm nữa. Có nghĩa là các doanh nghiệp có thể thay đổi ít nhiều so với hiện tại, ngoại trừ việc doanh nghiệp sẽ bành trướng lớn hơn và kinh doanh quốc tế nhiều hơn.
Vì vậy, tôi tập trung vào ngành kinh doanh ít thay đổi. Lấy ví dụ, khi tôi nhìn vào Internet, tôi cố gắng để tìm hiểu xem làm thế nào mà một ngành công nghiệp hay một công ty có thể bị ảnh hưởng hoặc bị nó thay đổi, để tôi có thể tránh nó. Điều này không có nghĩa là tôi không nghĩ rằng sự thay đổi này sẽ mang lại rất nhiều tiền, tôi chỉ không nghĩ rằng tôi là người kiếm được nhiều tiền từ việc thay đổi.
Hãy bàn về kẹo cao su Wrigley. Tôi không nghĩ rằng Internet sẽ thay đổi cách mọi người đang nhai kẹo cao su. Bill chắc hẳn cũng nghĩ vậy. Tôi không nghĩ rằng nó sẽ thay đổi một thực tế rằng Coke sẽ là thức uống yêu thích và sẽ tăng mức tiêu thụ trên đầu người ở khắp thế giới; tôi không nghĩ rằng sẽ có gì thay đổi cho dù người dân có cạo râu hay không hoặc họ cạo râu như thế nào. Vì vậy, chúng tôi đang tìm kiếm những thứ có thể dự đoán được, và bạn sẽ không thể tìm thấy những thứ có thể dự đoán được trong những việc Bill làm. Là một thành viên trong xã hội, tôi hoan nghênh những gì anh ấy đang làm, nhưng là một chủ đầu tư, tôi sẽ thận trọng.
Gates: Đây là lĩnh vực mà tôi hoàn toàn đồng ý với Warren. Tôi nghĩ rằng các việc tăng giá của cổ phiếu công nghệ sẽ thấp hơn một chút so với khả năng tăng của cổ phiếu như Coke và Gillette, vì chúng tôi phải trải qua những thay đổi hoàn toàn trong luật chơi. Tôi biết rất rõ rằng trong 10 năm tới, nếu Microsoft vẫn là một công ty thủ lĩnh, chúng tôi sẽ phải vượt qua ít nhất 3 cuộc khủng hoảng.
4. Gặp bạn ở tòa!
Bill và Warren nói về rắc rối với những viên chức chống độc quyền
Vai trò thích hợp của luật chống độc quyền trong kinh doanh ở Mỹ là gì?
Buffett: Chúng tôi đã trải qua một trường hợp chống độc quyền dân sự cho hãng tin Buffalo Evening News vào năm 1977. Và bạn có tin hay không, trong vụ Salomon vào năm 1991, ngoài việc có vấn đề với Cục Dự trữ Liên bang ở New York, Ủy ban Chứng khoán và Sàn Giao dịch Mỹ, Bộ Tài chính Mỹ và các luật sư Mỹ phụ trách các Quận phía Nam của New York, thì Vụ Chống Độc quyền thuộc Bộ Tư pháp cũng phản đối chúng tôi. Tôi không biết những gì đã xảy ra với Văn phòng Ngoại giao Ấn Độ. Họ bỏ qua chúng tôi vì một vài lý do nào đó. Đây là hai kinh nghiệm duy nhất mà tôi có, và trong cả hai trường hợp tôi không biết chúng tôi đã làm điều gì sai trái. Tôi có thể nói thêm là không bao giờ có bất kỳ phán quyết nào chống lại chúng tôi trong hai lần trên.
Tôi không phải là một học giả chống độc quyền. 8 năm trước, tôi đã gặp Bill. Anh ấy là một người thầy tuyệt vời. Bill đã dành 6-7 tiếng liền để giải thích về Microsoft cho tôi. Tôi là người mù công nghệ, nhưng anh ấy đã giải thích rất dễ hiểu. Khi anh ấy giải thích xong, tôi đã mua 100 cổ phiếu để có thể theo dõi nó. Điều này cho thấy hai điều: Một là chỉ số IQ của tôi là khoảng 50, và hai là tôi không nghĩ rằng anh ấy có tính độc quyền.
Gates: Vai trò quan trọng của luật cạnh tranh là để bảo vệ người tiêu dùng và để đảm bảo rằng các sản phẩm mới ra đời phải rất sáng tạo. Bạn có thể nhìn vào các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế và đặt câu hỏi, “Việc này diễn ra nhiều trong lĩnh vực nào?” Bất chấp bạn đánh giá nó thế nào, ngành công nghiệp máy tính cá nhân vẫn là một lĩnh vực sáng giá nhất trong nền kinh tế. Tôi không nhắc đến ngành công nghiệp máy tính nói chung, vì bạn hãy nhớ rằng trước khi máy tính cá nhân xuất hiện, cấu trúc của nền kinh tế đã từng rất khác biệt. Mọi người bị bó buộc. Một khi bạn mua một máy tính từ hãng Digital, IBM, Hewlett-Packard hay bất cứ thương hiệu khác, các phần mềm mà bạn tạo ra chỉ có thể chạy trên chiếc máy đó.
Tầm nhìn của Microsoft chính là tất cả các máy tính sẽ hoạt động như nhau. Lý do cho ý tưởng này là vì nếu bạn muốn có nhiều phần mềm tuyệt vời, bạn cần phải có rất nhiều máy tính ngoài kia, hàng triệu và hàng triệu máy. Vì vậy, bạn nên sản xuất chúng với giá rẻ, và hoàn thiện các máy tính đến mức bạn không cần phải chạy thử phần mềm trên tất cả các máy khác nhau. Mục tiêu của ngành công nghiệp máy tính chính là các công ty phải cạnh tranh với nhau để sản xuất ra sản phẩm dễ mang theo nhất, hoặc nhanh nhất, hoặc rẻ nhất. Điều này sẽ rất tuyệt cho người tiêu dùng, và nó sẽ châm ngòi cho thị trường phần mềm phát triển lớn.
Giá của máy tính trước khi máy tính cá nhân xuất hiện đã giảm với một tốc độ nhất định, và từ khi máy tính cá nhân xuất hiện, giá này càng giảm xuống với một tốc độ đáng kinh ngạc. Sự đa dạng và chất lượng của phần mềm cũng đã tăng với tốc độ phi thường. Chúng tôi chắc chắn rằng hiện thời nó đã ở đỉnh cao. Số lượng các công ty phần mềm mới được thành lập, số lượng việc làm mới được tạo ra, mức độ đầu tư, số lượng các công ty tiến hành cổ phần hóa và nhiều hơn nữa. Mức độ phát triển còn xa hơn những gì nó đạt được 3 năm trước đây. Vì vậy, người tiêu dùng đang làm rất tốt.
Một phần sự uyển chuyển của máy tính cá nhân chính là thay vì yêu cầu các nhà phát triển phần mềm nhân bản các sản phẩm của họ, chúng tôi chọn lọc bất kỳ các điểm nào điển hình trong tất cả các ứng dụng và đưa những tính năng này vào trong Windows. Vì vậy, đối với những việc như kết nối Internet, thay vì tất cả mọi người cần phải tự thực hiện điều đó, chúng tôi đưa nó vào trong máy tính. Đó là một sự tiến hóa, giao diện người dùng đồ họa xuất hiện, hỗ trợ ổ cứng, hỗ trợ mạng, và bây giờ là hỗ trợ Internet, bao gồm cả trình duyệt.
Tôi nghĩ rằng các điều luật chống độc quyền được ban hành là tốt. Có những người sẽ tranh cãi rằng liệu những luật lệ này có nên mềm mỏng hơn, nhưng đó là mối quan tâm về học thuật. Khi tôi bắt tay vào kinh doanh, tôi kiểm tra rất cẩn thận với các luật sư của chúng tôi để chắc chắn rằng chúng tôi đang tiến hành theo hướng tránh xa bất cứ điều gì đáng ngờ. Vì vậy, tôi sẽ bất ngờ nếu chúng tôi lọt vào một cuộc tranh cãi chống độc quyền. Thật cảm kích về bộ máy tư pháp, một môi trường nơi các sự kiện được điều tra và mọi người có thể suy xét liệu sự cạnh tranh được thực hiện theo cách nên làm và đã mang lại lợi ích cho người tiêu dùng hay chưa. Chúng tôi không có nghi ngờ gì về việc nó sẽ đem lại những gì.
Trong khi đó, chúng tôi sẽ là tiêu điểm của rất nhiều tranh cãi vì nộp đơn kiện là một việc rất nghiêm trọng. Chính phủ quan tâm đến thách thức và đưa ra rất nhiều lý lẽ. Chúng tôi sẽ phải chắc chắn rằng những điều này không đánh lạc hướng chúng tôi khỏi những gì chúng tôi thực sự quan tâm.
5. Một công ty thật sự đáng giá thế nào?
Warren giải thích tại sao cổ phiếu Berkshire đáng giá hơn một chiếc Lexus
Ông Buffett, tôi được biết ông có chính sách không chia tách cổ phiếu, nên tôi tự hỏi liệu ông có thể bình luận về lịch sử chia tách cổ phiếu của Microsoft?
Buffett: Tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc sẽ đi vào một nhà hàng và nói, “Tôi muốn hai ô giữ mũ thay vì chỉ một cho chiếc mũ của tôi,” thực sự là tôi không nên làm vậy. Nhưng tôi cũng không tranh cãi với các công ty tách cổ phiếu của họ, và tôi không nghĩ rằng Microsoft đã bị ảnh hưởng vì việc này.
Tôi nghĩ chính sách của chúng tôi phù hợp với bản thân chúng tôi. Không gì trong sự giáo dục tôn giáo nghiêm khắc của tôi có thể làm tôi chùn bước vì các vụ chia tách cổ phiếu. Tôi có mặt trong hội đồng quản trị của 3 công ty, 2 trong số đó đã tách cổ phiếu trong vài năm qua. Tôi nghĩ rằng bằng cách không tách cổ phiếu của Berkshire, chúng tôi sẽ thu hút nhiều hơn nhóm các nhà đầu tư có định hướng lâu dài. Những gì bạn muốn làm là thu hút những cổ đông giống như bạn, với cùng tầm nhìn và kỳ vọng. Chúng tôi không bàn về thu nhập hằng quý, chúng tôi không có một bộ phận quan hệ với nhà đầu tư, và chúng tôi không có những cuộc hội nghị điện đàm với các nhà phân tích Phố Wall, bởi chúng tôi không chào đón những người chỉ đang tập trung vào những gì sẽ xảy ra trong quý tiếp theo hoặc thậm chí năm tiếp theo. Chúng tôi muốn mọi người cùng tham gia vì họ muốn gắn bó với chúng tôi cho đến khi họ qua đời.
Nếu tôi chia tách đáng kể các cổ phiếu, liệu tôi có muốn thay đổi thành phần cổ đông nắm giữ các cổ phiếu nhiều không? Không, nhưng tôi sẽ muốn thay đổi một chút. Bạn hãy nhớ rằng, tất cả những chỗ ngồi của cổ đông đã được lấp đầy, giống như thính phòng này. Nếu tôi nói điều gì đó xúc phạm đến tất cả các bạn, tất cả các bạn sẽ rời đi và một nhóm khác đến, vậy thì tôi làm tốt hơn hoặc tệ hơn? Vâng, điều đó phụ thuộc vào việc họ là người ra sao và bạn là người ra sao. Nhưng tôi nghĩ rằng tôi đã có một nhóm các cổ đông rất tốt, những người bị thu hút bởi các chính sách này, và tôi nghĩ rằng chính sách này đã củng cố ý kiến của tôi.
Gates: Warren đã thực hiện những việc đáng ngưỡng mộ bằng cách báo hiệu cho mọi người rằng đó là một “chứng khoán khác biệt” và rằng họ sẽ nghĩ cổ phiếu của Berkshire Hathaway có một chút khác biệt với công ty đặc trưng của bạn. Sở hữu mức giá cổ phiếu bất thường có thể là một điều tốt, miễn là báo chí không làm nó rối tung lên. Bạn biết đấy, ông ấy đã gây ra rất nhiều rắc rối, có thể thấy bằng chiều rộng của các cột này trong bảng chứng khoán.
Ông Buffett, ông trả lời thế nào đối với những người nói rằng các phương pháp truyền thống định giá doanh nghiệp là lỗi thời trong thị trường này?
Buffett: Tôi nghĩ rằng thật khó để tìm thấy các công ty đáp ứng được các bài kiểm tra của chúng tôi mà lại bị đánh giá thấp trong thị trường này, nhưng tôi không nghĩ rằng các phương pháp định giá đã thay đổi. Chỉ là ở một số thị trường, như vào giữa những năm 1970, mỗi chứng khoán mà bạn xem xét đều thực sự bị đánh giá thấp một cách đáng kể. Tôi đã từng điều hành một công ty hợp danh đầu tư trong khoảng 13 năm, kết thúc vào năm 1969. Tôi giải thể nó vì tôi không thể tìm thấy gì cả. Tôi không mất đi khả năng đánh giá các công ty; chỉ là không có gì còn lại với giá đủ rẻ, và tôi đã không tham gia kinh doanh bán khống cổ phiếu.
Nhưng tôi nghĩ rằng không có phép thuật để đánh giá bất kỳ tài sản tài chính nào. Theo định nghĩa, tài sản tài chính có nghĩa là bạn đặt tiền bây giờ để lấy lại tiền trong tương lai. Nếu mọi tài sản tài chính được định giá đúng, chúng sẽ đều được bán ở một mức giá phản ánh tất cả số tiền có thể được nhận từ chúng mãi mãi cho đến ngày Phán xét1, chiết khấu về hiện tại cùng mức lãi suất. Sẽ không có bất kỳ phần bù rủi ro nào, vì bạn biết rằng loại phiếu trả lãi nào đã được in trên “trái phiếu” này từ đây về sau. Đó là phương pháp xác định giá trị chính xác nên được sử dụng cho dù bạn ở năm 1974 hay năm 1998. Nếu không thể làm điều đó, thì tôi sẽ không mua. Vì vậy, tôi sẽ chờ đợi.
1. Ngày Phán xét (Judgement Day): Thời điểm thế giới tận thế. Nhiều người tin rằng đây là ngày tất cả những người đã chết sẽ quay lại thế giới để Chúa có thể xét xử các tội lỗi của họ khi còn sống.
Ông sẽ tìm kiếm một hệ số PE cao tại thời điểm này hơn là mức ông đạt được trong năm 1969?
Buffett: Tỷ lệ trên sẽ bị ảnh hưởng bởi lãi suất. Sự khác biệt giữa hiện tại và năm 1969 hay các mốc thời gian khác, về mặt định giá, sẽ không bị ảnh hưởng bởi bất cứ yếu tố nào khác. Bây giờ, nếu bạn nhìn vào tổng thể thị trường, lợi nhuận trên vốn đang cao hơn nhiều so với những năm 1969 hoặc 1974, hoặc bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử. Vì vậy, nếu bạn muốn nói rằng bạn sẽ định giá tổng thể thị trường, câu hỏi sẽ là: “Bạn có bằng lòng với con số 20% lợi nhuận trên vốn hiện tại đối với doanh nghiệp Mỹ trong tổng thể hay không, và cho đó là một con số thực tế để gắn với nó mãi mãi?” Tôi muốn nói đây là một giả định khá liều lĩnh và không đem lại biên độ an toàn lớn. Tôi thấy mức độ thị trường hiện nay làm giảm biên độ này rất nhiều, vì vậy việc này khiến tôi khá thận trọng.
Hai ông có cảm thấy công nghệ đã làm cho các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn đến mức ông có thể trả thêm tiền cho họ?
Gates: Chắc chắn đó là một sự thay đổi hoàn toàn khi bạn bắt đầu sử dụng công nghệ, đặc biệt là nếu các công ty Mỹ đang sử dụng nó tốt hơn so với các đối thủ ngoài nước Mỹ. Bạn sẽ có khả năng giao tiếp tốt hơn, và bạn cũng nhìn thấy quy mô toàn cầu trong rất nhiều doanh nghiệp vốn không có nó trước đây.
Khi bạn nhìn vào những công ty có lợi nhuận thực sự lớn, bạn sẽ thấy các công ty tạo ra mức lợi nhuận trên vốn 20% và đang tiến vào thị trường thế giới như Coca-Cola, Microsoft, Boeing hay General Electric (GE). Tôi biết rằng mỗi công ty trong số này đều được công nghệ hỗ trợ. Nhưng điều đó không thể giải thích tại sao sau 10 năm nữa kể từ bây giờ họ sẽ thu về mức lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu như vậy. Gần như chắc chắn tình trạng hiện tại sẽ mau chóng tàn lụi.
Buffett: Tôi chắc chắn công nghệ đã giúp các công ty hoạt động hiệu quả hơn, và nếu tôi nghĩ khác, tôi sẽ thấy ngại nếu nói như vậy vì Bill đang ngồi ngay kế bên tôi. Nhưng câu hỏi bạn có thể sẽ cân nhắc chính là: Hãy cho rằng tôi tìm thấy một cách để nhân bản Jack Welch1 thành 499 bản sao. Jack tiếp tục điều hành GE, và 499 bản sao còn lại điều hành phần còn lại trong danh sách Fortune 500. Liệu Fortune 500 sẽ đạt mức lợi nhuận trên vốn cao hơn trong 5 năm tới hay không?
Tôi không nghĩ rằng câu trả lời sẽ có một cách dễ dàng. Bởi nếu bạn có 500 bản sao của Jack Welch ngoài kia, họ sẽ làm việc theo một cách cạnh tranh để tạo ra mức lợi nhuận thấp cho doanh nghiệp Mỹ hơn là nếu ngoài kia toàn những kẻ ngốc, và chỉ có một anh chàng như Jack cạnh tranh với họ. Nếu có sự đa dạng về chất lượng quản lý, cơ hội tương đối đáng kể đạt được lợi nhuận tuyệt vời sẽ tăng.
Vì vậy, tôi muốn nói rằng rất nhiều lĩnh vực trong kinh doanh, bao gồm cả công nghệ, thực sự có tác động tương tự như khi bạn tham gia một cuộc diễu hành và ban nhạc bắt đầu di chuyển xuống các đường phố, bạn sẽ vô thức nhón chân đứng lên để nhìn cho rõ. Trong 30 giây tiếp theo, khi mọi người khác đều đứng nhón chân, lúc này đôi chân của bạn đã mỏi nhừ, bạn vẫn không thể nhìn thấy rõ hơn.
Chủ nghĩa tư bản có xu hướng tự trung hòa như vậy để cùng tiến bộ. Thật tuyệt bởi điều đó có nghĩa là tất cả mọi thứ chúng tôi có đều tốt hơn, thay vì ngược lại. Nhưng bí quyết thực sự chính là nhón chân đứng lên và không để ai chú ý đến bạn.
1. Jack Welch: Một trong những nhà lãnh đạo kinh doanh nổi tiếng nhất trên thế giới. Tạp chí Fortune gọi ông là “nhà quản lý của thế kỷ XX”. Welch đạt được thành tựu với hơn 20 năm làm Chủ tịch và Giám đốc Điều hành của General Electric.
Làn sóng các vụ sáp nhập gần đây thật đáng kinh ngạc. Hai ông có thể nhận xét về cách mà bất kỳ vụ sáp nhập nào trong số này sẽ tạo ra giá trị cho cổ đông?
Buffett: Trên thực tế, cả hai chúng tôi có một thông báo nhỏ muốn nói…
[Cười]
Nó sẽ không dừng lại. Việc sáp nhập sẽ được thúc đẩy bằng những cân nhắc rất kỹ càng. Thật sự có những sự kết hợp trong nhiều thương vụ sáp nhập lớn. Nhưng cho dù có hay không sự phối hợp, các vụ sáp nhập sẽ tiếp tục xảy ra. Bạn không thể trở thành Giám đốc Điều hành của một công ty lớn nếu là một người nhút nhát. Bạn không thể thiếu tinh thần sôi nổi. Và điều đó dễ lây lan. Tôi là Giám đốc của 19 công ty đại chúng khác nhau trong những năm qua, và tôi có thể nói với bạn rằng các cuộc đối thoại sẽ dễ chuyển thành những thương vụ mua lại và sáp nhập hơn khi có đối thủ cạnh tranh của công ty đó tham gia vào. Miễn là nền kinh tế vận hành theo cách nó nên làm, tôi nghĩ nên kinh tế đang vận hành rất tốt, bạn sẽ thấy rất nhiều thương vụ tương tự. Một thị trường có xu hướng tăng giá nhìn chung sẽ hướng đến việc cổ vũ sự sáp nhập, bởi đồng tiền của tất cả mọi người sẽ hữu ích hơn trong những trường hợp này. (Một vài tuần sau đó, Berkshire Hathaway đã đồng ý trả 23,5 tỷ đô-la chứng khoán để mua lại General Re, công ty tái bảo hiểm lớn thứ 3 trên thế giới.)
Gates: General Motors đã ra đời nhờ cơ cấu lại ngành công nghiệp ô tô từ một định hướng đặc biệt đối với các công ty thực hiện sản xuất ô tô hoàn chỉnh. Bất cứ công ty nào không theo kịp về cơ bản đã bị xóa sổ.
Chúng tôi đã mua rất nhiều các công ty nhỏ, và tôi cho rằng việc này rất quan trọng đối với chúng tôi. Đó là những công ty mà khi đứng riêng sẽ không thể thành công, nhưng khi khả năng của họ kết hợp với khả năng chúng tôi, cả hai có thể tạo ra một danh mục sản phẩm tốt hơn nhiều so với sản phẩm chúng tôi làm riêng rẽ.
Tôi nghĩ rằng hiện thời trong ngành ngân hàng, một ngân hàng cỡ trung bình chắc hẳn sẽ phải tham gia vào tất cả những việc đang xảy ra này. Việc có quá nhiều ngân hàng trong nước là không hợp lý cho lắm, vì vậy chắc hẳn một số ngân hàng trong số đó chỉ có quy mô nhỏ. Nhưng cũng có rất nhiều công ty thâu tóm ngớ ngẩn.
Cuối cùng thì các cổ đông sẽ có lợi sau khi sáp nhập?
Buffett: Trong hầu hết các vụ mua lại, nên ở vị trí công ty được mua hơn là ở vị trí công ty mua. Công ty thâu tóm phải trả tiền cho một thực tế rằng họ sẽ có thể đem về chiến lợi phẩm là công ty được mua lại.
Dù sao tôi cũng nghi ngờ những người cứ thực hiện mua lại gần như hằng tuần. Nếu bạn nhìn vào các công ty nổi bật chẳng hạn như Microsoft, Intel hay Wal-Mart, sự tăng trưởng mạnh mẽ của họ đều xảy ra trong nội bộ. Nếu một số công ty đang say sưa tham gia vào trò chơi sáp nhập, họ thường xuyên cảm thấy họ đang sử dụng tiền chùa, và việc này phần nào giống như trò chơi ghép chữ.
Ngoài ra, tôi trông đợi đến một thời điểm mà các công ty bị sáp nhập có thể tự điều hành sau thương vụ thành công, chứ không phải chỉ lòng vòng quanh việc hạch toán và đề xuất các chi phí tái cơ cấu lớn. Tôi cảm thấy nghi ngờ nếu có quá nhiều hoạt động. Tôi muốn nhìn thấy sự tăng trưởng hữu cơ.
6. Ôi, tiếc quá!
Warren và Bill đăm chiêu về những sai lầm của họ, về các đối tác kinh doanh và hoạch định người kế nhiệm quản lý
Quyết định kinh doanh tốt nhất hai ông đã làm là gì?
Buffett: Chỉ cơ bản là nhảy vào cuộc chơi. Điều tuyệt vời về ngành đầu tư đó là bạn không cần rất nhiều giao dịch để thành công. Trong thực tế, nếu khi bạn bước ra khỏi trường kinh doanh ở đây, bạn nhận được một thẻ tích điểm với 20 ô trên đó. Mỗi khi bạn thực hiện một quyết định đầu tư là bạn đã sử dụng hết một ô. Và đó là tất cả những gì bạn có, bạn sẽ có thể thực hiện 20 quyết định đầu tư tuyệt vời. Thế là tình cờ, bạn sẽ có thể trở nên rất giàu có. Bạn không hề cần đến 50 ý tưởng tốt.
Tôi hy vọng quyết định đầu tư tôi thực hiện hôm qua là một quyết định tốt. Nhưng những quyết định này luôn có vẻ đơn giản và rõ ràng với tôi. Sự thật là, bạn chỉ biết chúng khi bạn nhìn thấy chúng. Chúng có giá rất rẻ. Khi rời khỏi Đại học Columbia, tôi đã đọc qua từng trang một cẩm nang của Moody: phần hướng dẫn về ngành công nghiệp, phần hướng dẫn về giao thông, về ngân hàng và tài chính chỉ để tìm kiếm thông tin. Và tôi đã tìm thấy những cổ phiếu có giá bằng một lần lợi nhuận. Một là Genessee Valley Gas, nằm ở ngoại ô New York, một công ty công ích với giá cổ phiếu bằng một lần lợi nhuận. Không có báo cáo của nhà môi giới trong sách, không có gì cả, nhưng tất cả những gì bạn phải làm là lật sang trang tiếp theo. Cuốn sách đã giúp ích nhiều đến nỗi tôi thực sự đã tìm đến nó lần thứ hai. Tại thời điểm đó Bill đang đọc cuốn bách khoa toàn thư World Book. Kể từ lúc đó ông ấy đã bỏ nó sang một bên khỏi công việc kinh doanh.
Gates: Trong bữa sáng nay chúng tôi đã thảo luận xem quyết định đầu tư nào của Warren là tồi tệ nhất. Thật khó để tìm ra câu trả lời vì các kỷ lục được ghi nhận của ông ấy đều không thể tin được. Nhưng chúng tôi đã thống nhất rằng, theo một số số liệu, việc mua lại Berkshire Hathaway, cái tên mà sau này ông lấy để đặt cho công ty chính của mình có lẽ là quyết định đầu tư tồi tệ nhất.
Buffett: Đó là sự thật. Chúng tôi đã mua lại một doanh nghiệp kinh khủng chỉ vì nó rẻ. Đó là phương pháp đầu tư mà tôi gọi là “mẩu xì gà hút dở”. Bạn hãy nhìn vào chiếc đầu lọc của điếu xì gà dưới này, nó sũng nước và tệ hại, nhưng trong đó vẫn còn một hơi thuốc, và nó hoàn toàn miễn phí. Đó là những gì miêu tả về Berkshire khi chúng tôi mua lại nó, công ty đã được bán dưới dạng vốn lưu động nhưng lại là một sai lầm hết sức khủng khiếp.
Tôi đã thực hiện các loại quyết định sai lầm làm tiêu tốn của chúng tôi hàng tỷ đô-la. Chúng là những sai lầm vì thiếu sót chứ không phải vì hành động sai. Thế nhưng, tôi không lo lắng vì đã không mua Microsoft, vì tôi không hiểu về doanh nghiệp đó. Và tôi cũng không hiểu về Intel. Nhưng có những doanh nghiệp tôi có thể hiểu, Fannie Mae là doanh nghiệp nằm trong khả năng hiểu biết của tôi. Tôi đã quyết định mua nó, nhưng chỉ là tôi đã không thực hiện. Lẽ ra chúng tôi đã kiếm được nhiều tỷ đô-la. Nhưng chúng tôi đã không làm điều đó. Hồ sơ kế toán thông thường không ghi lại việc này, nhưng bạn hãy tin tôi đi, nó thực sự đã xảy ra.
Gates: Trong trường hợp của tôi, quyết định tốt nhất của tôi chính là chọn đúng nhân sự. Quyết định hợp tác với Paul Allen chắc hẳn đứng đầu danh sách, tiếp theo sau, tuyển dụng Steve Ballmer, một người bạn đã trở thành cộng sự kinh doanh chính của tôi kể từ đó. Có một người mà bạn hoàn toàn tin tưởng là rất quan trọng. Đó là người hoàn toàn giữ cam kết, có chung tầm nhìn của bạn, nhưng là một người có những kỹ năng khác một chút và là người cũng biết hội ý với bạn. Bạn trình bày một số ý tưởng với họ, vì bạn biết rằng họ sẽ tham vấn cho bạn, “Chờ một phút, anh có suy nghĩ về việc này và việc kia chưa?” Lợi ích của việc khích lệ một người sở hữu trí thông minh siêu việt như vậy không chỉ giúp công việc thêm hào hứng, mà còn thực sự dẫn đến nhiều thành công.
Buffett: Tôi đã có một cộng sự như vậy trong rất nhiều năm. Đó là Charlie Munger. Việc này đem lại cho tôi chính xác như những gì Bill đang nói. Thế nhưng bạn phải luôn hiệu chỉnh lại với Charlie, vì Charlie cho rằng tất cả mọi thứ tôi làm đều ngu ngốc. Nếu anh ấy nói nó thực sự ngu ngốc, tôi biết nó chính là như vậy. Nhưng nếu anh ấy chỉ phát biểu rằng việc đó là ngu ngốc, tôi coi đó là sự đồng thuận.
Có vẻ như trong những công ty của cả hai ông, thành công được dẫn dắt bằng chính bản thân và kỹ năng lãnh đạo của hai ông. Điều gì sẽ xảy ra nếu hai ông không còn nữa?
Buffett: Giả định của bạn sai rồi. Tôi sẽ tiếp tục làm việc cho đến khoảng 5 năm sau khi tôi chết, và tôi đã gửi cho các giám đốc một bàn cầu cơ Ouija1 để họ có thể giữ liên lạc với tôi. Nhưng, nếu bàn Ouija không hoạt động, chúng tôi vẫn có những người nổi bật có khả năng làm những gì tôi làm. Mọi người sẽ không ngừng uống Coca-Cola nếu tôi chết đi đêm nay, họ sẽ không bỏ cạo râu đêm nay, họ sẽ không ăn ít kẹo See’s hơn, hoặc ăn ít bánh Dilly Bars hơn, hoặc bất cứ thứ gì tương tự. Những công ty trên sở hữu các sản phẩm tuyệt vời, và có những nhà quản lý xuất sắc. Còn tất cả những gì bạn cần cho vị trí đứng đầu Berkshire chính là một người có thể phân bổ vốn và bảo đảm rằng bạn có những nhà quản lý phù hợp ở dưới. Chúng tôi đã có trong tay những người được xác định để thực hiện các công việc này, và ban giám đốc của Berkshire biết họ là ai.
1. Bàn cầu cơ Ouija: Chiếc bàn gỗ để kết nối với thế giới ma quỷ.
Thực ra, tôi đã gửi một lá thư cho biết những gì nên làm, và tôi đã chuẩn bị một lá thư khác sẽ được gửi ra ngoài khi thời điểm đến, và nó bắt đầu bằng, “Hôm qua, tôi đã chết,” sau đó cho biết kế hoạch của công ty là gì.
Gates: Quan điểm của tôi rất giống với quan điểm của Warren. Tôi muốn tiếp tục làm những gì tôi đang làm trong thời gian rất dài. Tôi nghĩ có lẽ là thêm một thập kỷ từ bây giờ hoặc tương tự vậy, mặc dù tôi vẫn sẽ hoàn toàn gắn bó với Microsoft bởi nó là sự nghiệp của tôi, tôi sẽ chọn một người khác để làm Giám đốc Điều hành.
Buffett: Tôi thấy một số cánh tay giơ lên trong các khán giả ở đây.
Gates: Vẫn còn một thời gian dài phía trước. Do đó các nhà quản lý hàng đầu của chúng tôi luôn thảo luận về việc lựa chọn người kế nhiệm nói chung, bởi chúng tôi muốn chắc chắn rằng chúng tôi đang đem lại cho mọi người cơ hội thăng tiến. Chúng tôi không bao giờ muốn tạo ra tình huống khiến họ cảm thấy bế tắc và phải tìm đến các thử thách lớn ở nơi khác. Sự tăng trưởng của chúng tôi sẽ giúp ích rất nhiều. Chúng tôi có thể tạo ra công ăn việc làm lý tưởng cho mọi người. Việc chọn người kế nhiệm làm tôi suy nghĩ rất nhiều, nhưng có lẽ là còn 5 năm nữa trước khi tôi phải ra quyết định cụ thể về chuyện này. Ở đâu có sự ngạc nhiên, ở đó có kế hoạch dự phòng.
7. Hoạt động từ thiện bắt đầu khi tôi sẵn sàng
Bill và Warren giải thích lý do tại sao họ sẽ cho đi 99% tài sản của họ vào một ngày nào đó
Là hai trong số những doanh nhân thành công nhất trên thế giới, các ông thấy vai trò của mình như thế nào trong việc đóng góp cho cộng đồng? Hai ông sử dụng ảnh hưởng của mình như thế nào để khuyến khích những người khác cùng đóng góp?
Buffett: Cả hai chúng tôi có một triết lý giống nhau về vấn đề này. Tôi biết trong trường hợp của riêng tôi đến hơn 99% lợi nhuận sẽ được đóng góp lại cho xã hội, vì chúng tôi đã được xã hội đối xử rất tốt. Tôi thấy mình may mắn. Tôi không phát triển quá nhanh, nhưng tôi phát triển mạnh theo một cách đặc biệt trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa lớn với rất nhiều chuyển động. Tôi không thích hợp với việc đá bóng, tôi không thích hợp chơi dương cầm. Tôi tình cờ ở trong một đế chế có thể đóng góp rất nhiều cho xã hội. Như Bill đã nói, nếu tôi được sinh ra vào một khoảng thời gian nào đó trước đây, có lẽ tôi đã không có được thành công này.
Tôi không tin vào những đặc quyền thiêng liêng dành cho người thân ruột thịt. Thành thật mà nói, tôi không nghĩ là đúng nếu tiền vệ của đội bóng đá Nebraska năm tiếp theo nên là con trai cả của tiền vệ đội bóng đá Nebraska 22 năm trước. Tôi cũng không nghĩ rằng đội tuyển Olympic năm 2000 nên được lựa chọn từ cùng một gia đình đã tham gia vào đội tuyển dự thi các môn thể thao khác nhau trong kỳ Olympic năm 1976.
Chúng tôi tin vào chế độ nhân tài khi bàn về thể thao và tất cả mọi thứ. Giờ thì, tại sao không có một chế độ nhân tài dựa trên những thành tựu hữu ích mà bạn đóng góp cho thế giới? Hãy để nguồn lực đến với những người biết sử dụng chúng tốt nhất, và rồi tôi tin rằng họ sẽ đóng góp những nguồn lực này lại cho xã hội khi họ thành công.
Gates: Đó là một triết lý tuyệt vời, chưa đề cập đến việc để lại rất nhiều tiền có thể trở thành tai họa cho những người thừa kế nó.
Buffett: Bạn tốt hơn hết là không đặt nó vào một cuộc bỏ phiếu.
Hai ông đã sử dụng vai trò doanh nhân thành công để truyền cảm hứng cho những người khác, ngay cả là người không thành công để họ đóng góp trở lại cho xã hội như thế nào?
Buffett: Hãy để tôi đề nghị một cách khác để nghĩ về điều này. Giả sử vào 24 giờ đồng hồ trước khi bạn được sinh ra, một vị thần xuất hiện và nói, “Bạn trông giống như một người chiến thắng. Tôi rất tự tin vào bạn, và tôi sẽ cho phép bạn thiết lập các quy tắc của xã hội nơi bạn sẽ được sinh ra. Bạn có thể thiết lập các quy luật kinh tế và các quy tắc xã hội, và bất cứ quy tắc nào bạn thiết lập sẽ được áp dụng trong suốt cuộc đời của bạn và trong cả cuộc đời của các con bạn.”
Và bạn sẽ trả lời, “Chà, ý này hay đấy, nhưng đổi lại là gì?”
Vị thần nói, “Đây là việc bạn đánh đổi. Bạn không biết nếu bạn sẽ được sinh ra trong giàu sang hay nghèo hèn, da trắng hay da màu, nam hay nữ, khỏe mạnh hay yếu ớt, thông minh hay chậm phát triển.” Vì vậy, tất cả những gì bạn biết là bạn sẽ nhận được một quả bóng từ chiếc thùng gồm 5,8 tỷ quả bóng trong đó chẳng hạn. Bạn sẽ tham gia vào cái mà tôi gọi là “xổ số buồng trứng”. Đó là điều quan trọng nhất sẽ xảy ra với bạn trong cuộc sống, nhưng bạn không thể kiểm soát nó. Nó sẽ đóng vai trò quyết định nhiều hơn so với điểm số của bạn ở trường hoặc bất cứ điều gì khác xảy ra với bạn.
Bây giờ, bạn muốn có những gì quy tắc nào? Tôi sẽ không nói cho bạn biết các quy tắc, và không ai sẽ nói với bạn; bạn phải tự mình đặt ra các quy tắc. Nhưng chúng sẽ ảnh hưởng đến cách bạn nghĩ về những gì bạn sẵn lòng làm và những thứ đại loại như vậy. Đó là bởi bạn sẽ muốn có một hệ thống sản xuất ra ngày càng nhiều hàng hóa và dịch vụ. Bạn đã có một số người dân đông đảo ở đó, bạn muốn họ sống khá tốt, bạn muốn con bạn sống tốt hơn bạn từng sống, và bạn muốn các cháu của bạn sống tốt hơn con cái của bạn. Bạn sẽ muốn có một hệ thống có thể khiến Bill Gates, Andy Grove và Jack Welch làm việc thật nhiều ngay cả khi họ không cần phải làm việc. Bạn sẽ muốn những người có khả năng nhất làm việc hơn 12 giờ một ngày. Vì vậy, bạn phải có một hệ thống có thể đem lại cho họ một động lực để tạo ra sản phẩm và dịch vụ.
Nhưng bạn cũng sẽ muốn có một hệ thống có thể chăm sóc các quả bóng xấu, những quả bóng không may mắn. Nếu có một hệ thống làm ra đủ hàng hóa và dịch vụ, bạn có thể chăm sóc chúng. Bạn không muốn mọi người lo lắng về việc bị ốm lúc tuổi già, hay sợ hãi về việc trở về nhà vào ban đêm. Bạn muốn có một hệ thống nơi mà người dân không còn sợ hãi ở một mức độ nào đó.
Vì vậy, bạn sẽ thử để thiết kế một cái gì đó, giả sử rằng bạn có đủ hàng hoá và dịch vụ để có thể làm việc này. Bạn sẽ muốn các cơ hội bình đẳng, cụ thể là một hệ thống trường học công lập tốt khiến bạn cảm thấy rằng mỗi nhân tài ở đó đều sẽ đóng góp giống nhau. Hệ thống thuế sẽ tuân theo tính hợp lý của bạn. Và một điểm khác phải suy nghĩ chính là bạn sẽ làm gì với số tiền bạn kiếm được. Trong quá trình thực hiện, mỗi người sẽ nghĩ ra các ý kiến khác nhau một chút. Tôi muốn đề nghị bạn hãy chơi trò chơi nhỏ này.
Hai ông thấy mình ở vai trò nhà lãnh đạo ở khía cạnh kinh nghiệm bản thân hơn là khía cạnh công việc kinh doanh như thế nào?
Gates: Bạn phải cẩn thận, nếu giỏi một cái gì đó, hãy chắc rằng bạn không nghĩ bạn cũng giỏi về những thứ mà bạn không nhất thiết phải quá giỏi. Tôi đến công sở mỗi ngày và làm việc với một đội ngũ tuyệt vời, những người đang cố gắng tìm cách làm ra những phần mềm tuyệt vời, lắng nghe những thông tin phản hồi và nghiên cứu. Vì tôi rất thành công về phần mềm nên mọi người thường đến gặp tôi vì mong rằng tôi sẽ biết về những chủ đề mà tôi thực sự không biết.
Tôi nghĩ rằng một số cách mà chúng tôi dùng để điều hành công ty, chẳng hạn cách tuyển dụng nhân sự, tạo ra một môi trường làm việc và sử dụng các quyền chọn chứng khoán, sẽ là bài học tốt cho các doanh nghiệp khác. Nhưng tôi luôn rất cẩn thận để không làm họ hiểu rằng chúng tôi tìm thấy tất cả các giải pháp cho mọi vấn đề.
Buffett: Bạn có thể học được rất nhiều bằng cách nghiên cứu Microsoft và Bill. Bạn cũng có thể học được nhiều nhất bằng cách nghiên cứu những gì anh ấy làm qua mỗi năm. Nhưng theo quan điểm của tôi, nếu anh ấy cống hiến 5 hoặc 10% thời gian cho những gì anh đang thực hiện bây giờ, và chia sẻ các phần còn lại sự chú ý của anh cho nhiều những việc khác thì xã hội sẽ tệ hại hơn.
Bill nói đúng, đôi khi anh ấy có thể muốn tham gia vào những việc như chiến dịch cải cách tài chính. Nhưng bạn vẫn không nên cho rằng cả thế giới chắc hẳn phải làm theo bạn. Tôi rất nghi ngờ nếu một người rất giỏi về một mặt nào đó, có thể là một vận động viên tốt hoặc nghệ sĩ giỏi, sẽ bắt đầu nghĩ rằng họ nên chỉ dạy thế giới cách cư xử như thế nào về tất cả mọi thứ. Đối với chúng tôi mà nói, thật điên rồ nếu nghĩ chỉ vì chúng tôi kiếm được rất nhiều tiền, chúng tôi có thể đưa ra lời khuyên tốt hơn về các chủ đề.
Sau khi trả lời câu hỏi cuối cùng dành cho họ, hai tỷ phú gửi lời cảm ơn ngắn gọn sau tràng pháo tay và bất ngờ đi thẳng xuống sân khấu, để lại đằng sau những khán giả rõ ràng thích thú thưởng thức thêm hai giờ trò chuyện nữa với họ. Nhưng không: họ cần chơi bài bridge. – CL
Một căn nhà xây trên cát
Ngày 26 tháng 10 năm 1998
Carol Loomis
Trong tất cả những thành tích mà Bill Gates đã đạt được, một trong những thành tích đáng chú ý nhất là ông đã thuyết phục Warren Buffett đi nghỉ. Kể từ khi Buffett xác định văn phòng của ông tại Omaha là nơi thú vị nhất thế giới, không có bất cứ nơi nào khác hấp dẫn được ông. Mặc dù vậy, Bill và Melinda Gates đã thuyết phục ông và người vợ đầu tiên, bà Susie Buffett quá cố, cùng họ đến Trung Quốc trong 2 tuần vào năm 1996, gần 2 tuần ở Alaska và các công viên phía Tây nước Mỹ trong năm 1998.
Thật không may cho Buffett, chuyến du hành vào tháng 8 của ông đến Alaska năm đó diễn ra trùng hợp chỉ vài giờ sau khi ông quyết định mua lại một danh mục đầu tư khổng lồ đang gặp khó khăn trong kinh doanh được quản lý bởi quỹ đầu tư suy sụp Long-Term Capital Management (LTCM). Câu chuyện dưới đây đã ghi lại việc quỹ đầu tư dưới sự điều hành của John Meriwether đã loạng choạng ra sao và làm thế nào mà Buffett, thỉnh thoảng điều hành từ các vịnh hẹp của Alaska, đã không thành công trong nỗ lực mua lại.
Thay vào đó, một tập thể gồm 14 ngân hàng đã miễn cưỡng chi 3,6 tỷ đô-la để cứu LTCM, vì họ lo sợ quỹ phá sản sẽ dẫn đến những tổn thất không thể chịu đựng ở các lĩnh vực kinh doanh riêng của họ. Một nhóm giám sát được thành lập bởi các ngân hàng bắt đầu đóng hơn 60.000 vị thế chứng khoán lớn mà LTCM nắm giữ. Trớ trêu thay, họ đã làm việc với Meriwether và các đối tác, những người khăng khăng đàm phán một chỗ cho mình trong bối cảnh. Đến cuối năm 1999, nhóm giám sát đã xoay sở để trả lại 3,6 tỷ đô-la từ các ngân hàng, và vào năm 2000 quỹ LTCM đã được thanh lý.
Chỉ riêng việc thỏa thuận sẽ được thực thi ra sao nếu Buffett đã mua lại danh mục đầu tư gồm 60.000 vị thế này là không được làm rõ. Đó là vì không đời nào ông sẽ kể về cách mà nhóm đấu thầu của ông, trong đó bao gồm Goldman Sachs, đã gặp khó khăn thế nào khi tháo gỡ danh mục đầu tư này. Gần đây khi được hỏi về kinh nghiệm của Buffett đối với vụ LTCM, ông đã nói nó vẫn làm ông kinh ngạc vì các nhà quản lý của quỹ, những người ăn mừng vì sự khôn ngoan của họ, thật sự đã đưa chính họ vào một vị thế nơi họ có thể đánh mất tất cả tiền bạc. Cách cư xử như vậy là không thể chấp nhận được về mặt xã hội tại Berkshire, nơi luôn tồn tại một lời nhắc nhở: “Bạn chỉ cần làm giàu một lần.”
Hình như chưa bao giờ thật sự hiểu được thông điệp này, kể từ sự sụp đổ của LTCM, Meriwether đã không hề thành công khi thực hiện nỗ lực thứ hai để làm giàu ở trong cùng một ngành kinh doanh. Năm 1999, ông thành lập quỹ đầu tư phòng hộ JWM Partners, nơi kiếm được tiền trong nhiều năm. Quỹ đã phát triển lên đến quy mô khoảng 3 tỷ đô-la, sau đó phải chịu tổn thất rất lớn trong cuộc khủng hoảng tín dụng. Quỹ JWM Partners được thanh lý trong năm 2008. Một năm sau, Meriwether thành lập tiếp JM Advisors Management. Các thành tích đầu tư của quỹ không được công bố rộng rãi. – CL
Có một sự tò mò về vụ sụp đổ quỹ Long-Term Capital, mặc dù vụ việc đã được giải thích liên tục một cách dễ hiểu trên các báo, nhưng vẫn còn là một bí ẩn đối với nhiều độc giả. Thật vậy, sự việc gồm rất nhiều khía cạnh và quá phức tạp đến mức gần như khó có thể hiểu đầy đủ. Vì lý do đó, tạp chí Fortune không hứa hẹn rằng câu chuyện này sẽ giải thích tất cả những điều bạn muốn biết về Long-Term Capital hoặc đem lại cho bạn nhiều hơn về những gì chưa được tiết lộ. Nhưng chúng tôi biết rằng chúng tôi thật sự hiểu ở một mức độ mà không một ấn phẩm nào khác có thể hiểu, về vai trò của nhà đầu tư tiếng tăm Warren Buffett trong vụ việc. Ông là một người bạn lâu năm của người viết bài báo. Vai trò của Buffett trong chiến công này rất quan trọng và ấn tượng, không thiếu sự hài hước, đã lên đến đỉnh điểm trong 4 ngày đặc biệt vào tháng 9. Hơn nữa, vai trò của ông có thể vẫn chưa kết thúc.
Những gì đã xảy ra với quỹ Long-Term Capital vào tháng 9 là một trong số ít điểm được làm rõ về thương vụ này. Trong tháng này, quỹ đầu tư khổng lồ đã mấp mé bên bờ vực phá sản. Nhưng cuối cùng quỹ được cứu nhờ 3,6 tỷ đô-la tiếp tế từ một tập thể gồm 14 ngân hàng và các công ty môi giới. Tất cả những chủ nợ này lo sợ rằng sự sụp đổ của quỹ đầu tư có tổng số nợ lên đến 100 tỷ đô-la có thể sẽ ảnh hưởng đến tình hình tài chính của họ. Cục Dự trữ Liên bang New York cũng tham gia hành động rất tích cực vì muốn ngăn chặn những hiệu ứng domino từ quá trình thanh lý nhanh chóng những danh mục đầu tư quỹ nắm giữ, do lo ngại các hiệu ứng có thể tác động lên thị trường chứng khoán toàn cầu vốn đang quay cuồng. Vì vậy, Cục Dự trữ Liên bang New York đã đứng ra chủ trì để thực hiện thỏa thuận giải cứu bằng cách tập hợp các chủ nợ tại văn phòng riêng và giám sát những cuộc đàm phán của họ.
Người sáng lập và nhà quản lý chính của quỹ đầu tư, cựu Phó Chủ tịch Salomon Brothers, John Meriwethe luôn ở vị trí trung tâm của vụ việc. Xung quanh ông là những đồng nghiệp thông minh, rất nhiều người trong số họ có học vị Tiến sĩ về toán học và tài chính. Ông đã yêu cầu họ nghiên cứu ra những chiến lược kinh doanh thiên về máy tính được cho là không thể thất bại. Tại văn phòng quản lý quỹ đầu tư ở Greenwich, bang Connecticut, quỹ đầu tư của Long- Term Capital Management, trên mỗi mét vuông có thể có nhiều người tài năng hơn bất kỳ tổ chức khác hiện thời. Chắc chắn trên mỗi mét vuông có nhiều người đoạt giải Nobel hơn. Quỹ LTCM có hai nhân vật: Myron Scholes và Robert Merton, những người gần một năm trước đây đã hân hoan đến Thụy Điển để nhận giải thưởng cao nhất thế giới về thành tựu kinh tế.
Thảm họa xảy đến với nhóm cố vấn này gợi nhớ lại dòng đầu tiên trong bài thơ lập dị của Allen Ginsberg “Tiếng tru”: “Tôi đã chứng kiến những bộ não vĩ đại nhất của thế hệ mình bị hủy hoại trong sự điên rồ…” Tại quỹ LTCM, những người giỏi nhất đã bị hủy hoại bằng liều thuốc lâu đời nhất và nổi tiếng gây nghiện nhất trong ngành tài chính: đòn bẩy. Nếu quỹ không bành trướng quá mức, nó vẫn có thể đang tồn tại, thực hiện việc của nó, để những bộ não giỏi nhất kia hoạt động. Nhưng giờ đây các chiến lược gia của nó đã đánh đổi vinh quang để nhận lấy giải thưởng khuyến khích của thị trường tài chính. Giải thưởng đó là sự sỉ nhục vì gần như bị xóa sổ và được xem là những kẻ thua cuộc vụng về.
Tất cả điều trên đặt ra câu hỏi tại sao Warren Buffett muốn thâu tóm quỹ đầu tư, và ông đã gắng sức thực hiện. Vào thứ Tư, ngày 23 tháng 9, ông đã hành động. Việc này làm gián đoạn những ngày họp hành do Cục Dự trữ Liên bang New York tổ chức với sự có mặt của các ngân hàng và công ty môi giới – chủ nợ khổng lồ của Long-Term Capital. Họ được hỏi liệu có thể tự nguyện bơm thêm tiền vào để ngăn quỹ phá sản không. Những vị dự họp đều có quyền lực vô cùng lớn, vì mỗi ngân hàng và công ty tham gia đều gửi đến Giám đốc Điều hành hoặc một lãnh đạo hàng đầu khác của họ. Bầu không khí lúc đó nhuốm màu tranh cãi. Không ai trong số các thành viên thực sự muốn đưa thêm tiền, nhưng họ cũng lo sợ quỹ sẽ phá sản.
Khi các chủ nợ sắp tập trung lại vào buổi sáng thứ Tư thì Goldman Sachs – một chủ nợ của Long-Term Capital thông báo với William McDonough, Chủ tịch của Ngân hàng Dự trữ New York rằng công ty muốn trình bày một đề xuất tài chính khác. McDonough đã hoãn cuộc họp để nghe Goldman giải thích về khoản đấu thầu mua lại quỹ do công ty Berkshire Hathaway của Buffett đưa ra. Các điều khoản rất phức tạp, tôi sẽ nói thêm về việc này sau. Tuy nhiên, về cơ bản công ty của Buffett đã đề nghị mức giá 4 tỷ đô-la để quản lý quỹ Long-Term Capital. Trong số 4 tỷ đô-la này, 3 tỷ đô-la đến từ Berkshire, 700 triệu đô-la từ công ty bảo hiểm American International Group và 300 triệu đô-la từ Goldman Sachs.
Đề xuất này sau đó đến tai Meriwether, và đó là thời điểm nó bắt đầu lụi tàn do bất đồng ý kiến. Buffett tin rằng thương vụ đã không xảy ra bởi Meriwether và các lãnh đạo khác của LTCM không muốn chấp nhận điều kiện của ông, vì nó sẽ khiến họ thất nghiệp và chỉ còn rất ít tiền. Về phần mình, Meriwether và các đối tác của LTCM khác nói với McDonough rằng gói thầu Buffett đưa ra không chắc chắn về cơ cấu và do đó không khả thi.
Đồng ý với lý luận đó, McDonough đã triệu tập cuộc họp và thông báo với các chủ nợ rằng ngay lập tức, họ sẽ lại là mối quan tâm duy nhất. Mới đây một trong những CEO có mặt ở đó đã nói với tạp chí Fortune rằng McDonough giải thích rằng thương vụ còn lại đã không thành công bởi nó đã có vấn đề về “cơ cấu”. Một cách miễn cưỡng, các Giám đốc Điều hành quay lại bàn đàm phán kế hoạch giải cứu, cuối cùng thì mỗi người tham gia phải bơm thêm số tiền rất lớn: từ 100 triệu đô-la đến 350 triệu đô-la.
Tạp chí Fortune đã hỏi vị CEO đó rằng giả sử McDonough nói giao dịch sẽ không được thực hiện vì Long-Term Capital không thích các điều khoản của nó thì sao. Vị CEO trả lời, “Tôi nghĩ rằng chắc hẳn tôi sẽ nói với Meriwether cứ đi mà bòn tiền của chính mình.” Tất nhiên, ông cho biết thêm, các cuộc đàm phán sau đó có thể đã trở thành một “trò chơi gà”1. Có lẽ Meriwether sẽ phản đối bằng ý kiến rằng ông thà để quỹ phá sản còn hơn bán lại cho Buffett. Sau đó, các chủ nợ sẽ quay lại với câu hỏi liệu họ có thể chịu được việc quỹ phá sản hay không. Bên nào sẽ chùn bước trước đây?
1. Trò chơi gà: Khi hai chiếc xe chạy ngược chiều đối đầu nhau, một trong hai xe phải chuyển hướng để tránh tai nạn. Chiếc xe chuyển hướng sẽ bị gọi là “gà”.
Để hiểu làm thế nào mà Long-Term Capital, các chủ nợ và Cục Dự trữ Liên bang lại dính líu đến vụ ràng buộc tuyệt vời này và tại sao Buffett tình nguyện bước vào một nơi hỗn loạn như vậy, ta cần phải xem xét các đặc điểm của quỹ phòng hộ và người lãnh đạo nó, John Meriwether. Cho đến tháng 8 năm 1991, Meriwether, hiện tại 51 tuổi, đã là một Phó Chủ tịch của Salomon, phụ trách mảng giao dịch thu nhập cố định và cả mảng “giao dịch độc quyền” là hình thức đầu tư tiền riêng của quỹ. Meriwether từng là một bậc thầy kiếm tiền cho quỹ. Ông được đồng nghiệp yêu thích và ngưỡng mộ đến mức tôn kính. Gần đây một cựu Giám đốc Điều hành của Salomon Brothers cho biết, “Thật sự tôi đã liên tưởng đến giáo hạt truyền giáo British Guiana. John như một tín ngưỡng được tôn sùng.”
Sau đó xuất hiện vụ bê bối trái phiếu Bộ Tài chính của Salomon do Paul Mozer gây ra, một quản lý cấp trung của Meriwether. Trong chuỗi những tiết lộ, Mozer thừa nhận với Meriwether vào tháng 4 năm 1991 rằng ông đã làm sai lệch hồ sơ dự thầu trái phiếu kho bạc; Meriwether ngay lập tức thông báo tin đến hai vị sếp quản lý mình, John Gutfreund và Thomas Strauss; tất cả họ đều kết luận rằng cần phải thông báo việc này cho Cục Dự trữ Liên bang; nhưng sau đó không ai thực hiện. Khi vụ bê bối cuối cùng đã nổ ra vào tháng 8, Mozer bị sa thải, Gutfreund và Strauss từ chức dưới áp lực. Buffett, người đứng đầu Berkshire, cổ đông lớn nhất của Salomon đã can thiệp để cứu ngân hàng.
Trong hai ngày đầu tiên Buffett ở vai trò Chủ tịch Salomon, số phận Meriwether không chắc chắn. Nhiều người trong số các đối tác quản lý của Salomon đã quay lưng lại với ông và muốn ông từ chức. Nhưng Buffett không chắc chắn rằng liệu có công bằng hay không khi sa thải Meriwether, vì ông đã hành động có trách nhiệm khi ngay lập tức thông báo tội lỗi Mozer với các ông chủ ngân hàng. Cuối cùng, Meriwether tự mình quyết định từ chức. Ông nói với Buffett rằng ông nghĩ đó là điều tốt nhất cho ngân hàng.
Dần dà, một số nhân sự đã từng làm việc cho Meriwether đã rời Salomon để cùng tham gia vào kế hoạch kinh doanh của ông. Các chi tiết cụ thể về những gì họ muốn làm nổi lên vào năm 1993, khi Meriwether công bố kế hoạch thành lập một quỹ phòng hộ được gọi là Long-Term Capital. Thực ra, Long-Term Capital được tạo thành từ một loạt các phương tiện đầu tư, một số công ty hợp danh, một số tập đoàn; một số có trụ sở tại Mỹ, một số đóng tại những quần đảo Cayman. Tại sao lại là Cayman? Vì những nhà đầu tư nước ngoài này, cũng như một số nhóm đầu tư từ Mỹ, có thể tránh thuế thu nhập ở Mỹ – dĩ nhiên thật đáng tức giận khi chúng ta nhớ rằng thay mặt cho quỹ, Cục Dự trữ Liên bang đã xông xáo khắp nơi. Tuy nhiên, tất cả các nhóm đầu tư này đã nộp tiền của họ vào một quỹ chung gọi là Danh mục Đầu tư Long-Term Capital, một công ty hợp danh có trụ sở ở Cayman.
Quỹ này đã nhận những vị thế đầu tư mà các nhà quản lý đầu tư của nó, Meriwether và nhân viên của ông, chi phối. Ngay từ đầu, quỹ đã đặc biệt ở chỗ các nhà quản lý đã đề xuất thực hiện những chiến lược kinh doanh có thể cần từ 6 tháng đến 2 năm hoặc nhiều hơn để đem lại lợi nhuận. Vì lý do đó, LTCM quy định rằng quỹ sẽ không cho phép các nhà đầu tư rút tiền hằng quý hoặc hằng năm như thông lệ chung của các quỹ phòng hộ. Thay vào đó, quỹ sẽ giữ tiền của họ cho đến cuối năm 1997.
Về chiến lược, những nhà quản lý quỹ đã đề xuất thực hiện tương đối ít giao dịch có chứa rủi ro “định hướng” và thay vào đó tập trung vào việc thu lợi nhuận nhỏ nhờ các vị thế chứng khoán được phòng hộ cẩn thận, đặc biệt ở các thị trường có thu nhập cố định. Một vài minh họa sẽ làm sáng tỏ một số khác biệt về rủi ro, vốn rất quan trọng trong câu chuyện này. Hãy tưởng tượng rằng một nhà đầu tư cá nhân quyết định mua cổ phiếu của Cendant, trên lý thuyết rằng nó đã lên giá. Đó sẽ là giao dịch có định hướng, hoặc một “vị thế rủi ro”. Giả sử các nhà đầu tư không mua bằng cách ký quỹ, tỷ lệ phần lợi nhuận hoặc thua lỗ trên mỗi đồng đô-la đặt cược sẽ bằng đúng với tỷ lệ phần trăm tăng hoặc giảm giá của cổ phiếu Cendant.
Ngược lại, chiến lược chính của quỹ Long-Term Capital là thực hiện các giao dịch phòng hộ mà nó nghĩ rằng có thể thành công bất kể xu hướng chung của thị trường. Quỹ đã đưa công nghệ tài chính và các nhân sự của nó vào nghiên cứu, ví dụ, tìm ra các lĩnh vực của thị trường trái phiếu nơi lợi tức đã tăng trưởng vượt mức so với lợi tức trong các lĩnh vực liên quan. Sau đó quỹ sẽ mua một trong các chứng khoán và bán khống một chứng khoán khác. Loại giao dịch này có thể tạo ra lợi nhuận cho dù lãi suất nói chung lên, xuống hay đứng yên. Điều quan trọng nhất là hai khoản lợi tức này cuối cùng sẽ tụ về một điểm.
Đối với loại giao dịch này, quỹ không bao giờ mong đợi kiếm được lợi nhuận lớn trên mỗi đồng đô-la đặt cược. Một nhà đầu tư tại Capital Long-Term hồi tưởng lại cuộc gọi tới một số nhà quản lý hàng đầu của mình trong năm 1996 và hỏi họ rằng họ có thể thực hiện được bao nhiêu lợi nhuận trên mỗi đồng đô-la. Câu trả lời là 67 điểm cơ bản, hoặc 0,67 trên một xu.
Những khoản lợi nhuận như vậy không bao giờ làm cho các nhà đầu tư vui lòng trừ khi vốn đầu tư lớn, và vì thế đòn bẩy xuất hiện. Tự tin rằng vị thế rủi ro của nó là rất thấp, quỹ này đã mua một số lượng khổng lồ “bảng cân đối rủi ro” bằng tiền vay nợ từ vốn tương đối của quỹ. Tại thời điểm năm 1996 khi các nhà đầu tư nhận được câu trả lời của ông về 67 điểm cơ bản, quỹ này đã có tỷ lệ là 30 đô-la trên bảng cân đối nợ đối với mỗi đồng đô-la vốn. Với mức đòn bẩy là 30:1, tỷ lệ lợi nhuận 0,67% trên mỗi đồng đô-la rủi ro tạo ra 20% lợi nhuận trên vốn.
Đòn bẩy cao có vẻ đáng sợ, và thật sự là vậy. Nhưng quỹ LTCM luôn khẳng định rằng tài chính công nghệ và các cách phòng hộ được soạn thảo tỉ mỉ của nó đã đem lại cho quỹ một hồ sơ phòng thủ rủi ro khá an toàn. Trong tháng 10 năm 1994, LTCM ra tuyên bố này trong một lá thư gửi đến các nhà đầu tư của mình. Trong thư là một bảng mô tả một loạt các khoản lợi nhuận mà quỹ có thể nhắm đến trong một năm và ghép chúng với các xác suất thua lỗ nếu mọi chuyện xấu đi. Lấy ví dụ, bảng cho biết nếu quỹ đặt mục tiêu là 25% lợi nhuận – mức điển hình đối với các quỹ đầu tư. Xác suất quỹ sẽ mất 20% hoặc hơn nữa có tỷ lệ không đáng kể là 1 trên 100. Trên bảng thậm chí không bao giờ dự đoán sự thua lỗ nào khác tệ hại hơn.
Nếu bi kịch không diễn ra thì thật nực cười. Trong 8 tháng đầu năm 1998, quỹ đã lỗ đến gần 50% vốn, đến tháng 9 quỹ vẫn tiếp tục thua lỗ lên đến 90%. Warren Buffett nói, “Sự kiện này cho bạn biết rằng bên dưới các phép tính phù phiếm, dưới những hệ số beta và sigma chỉ là cát lún mà thôi.”
Ít nhất một nhà đầu tư của Long-Term Capital đã gặp rắc rối vì có những suy nghĩ tương tự. Nhà đầu tư được biết về con số lợi nhuận là 67 điểm cơ bản của quỹ đã tự viết hai ghi chú về sự kiện sau cuộc trò chuyện đó. Gần đây ông đã đưa chúng cho tờ Fortune. Một bản ghi rằng, “Có phải họ không khác gì so với bất kỳ công ty nào ở Phố Wall – Bear hay Salomon hay Goldman? Chỉ là những chiếc bàn độc quyền không có nhân sự, chi phí hoạt động hay đại lý kinh doanh nào cả.”
Bản lưu ý thứ hai dựa trên một từ tiếng Yiddish “kishka” có nghĩa bóng là “bản năng”. Trong đó có ghi: “Bản năng không thể khống chế danh mục đầu tư. Một công ty có hệ thống máy tính đoạt giải Nobel. Liệu rằng nó sẽ sụp đổ một ngày nào đó? Liệu một công ty sẽ ưu ái chọn nhân sự thiên về bản năng lên nắm quyền quản lý?”
Vì quỹ có vẻ ngoài đầy sức sống trong 4 năm đầu tiên, từ cuối mùa đông năm 1994 cho đến mùa xuân năm 1998, nên không nhiều nhà đầu tư lo lắng về những bản năng này. Cơ cấu của quỹ Long-Term Capital yêu cầu các nhà đầu tư trả cho công ty quản lý lệ phí cao bất thường: trước tiên là 2% hằng năm trên số vốn mà chủ đầu tư có trong quỹ, thứ hai là 25% lợi nhuận thu được. Mặc dù vậy, các nhà đầu tư của quỹ đã thu được 20% trong vòng 10 tháng của năm 1994 khi nó đi vào hoạt động, 43% năm 1995, 41% năm 1996 và 17% năm 1997. Hơn nữa, các dữ liệu hoạt động hằng tháng cho thấy quỹ đã có một hành trình suôn sẻ, với kết quả rất ít biến động.
Như một lời kêu gọi đầy hấp dẫn, những sự kiện này đem lại một dòng tiền mới. Đó là sự thật mặc dù các nhà quản lý quỹ đã giữ bí mật về chiến lược giao dịch cụ thể của họ, để cho những nhà đầu tư một ít manh mối về việc quỹ đã kiếm lợi nhuận như thế nào. Vào mùa thu năm 1997, sự kết hợp của các đóng góp và các khoản lợi nhuận tái đầu tư đã làm tăng vốn của quỹ lên khoảng 7 tỷ đô-la.
Vào thời điểm đó, mọi thứ chuyển biến một cách bất ngờ: LTCM tự kết luận rằng quỹ đã có quá nhiều vốn so với các cơ hội đầu tư mời chào nó và buộc nhiều nhà đầu tư, đặc biệt là những người đã tham gia trễ, phải rút tiền của họ ra. Nhiều người bị trục xuất đã tức giận và la hét, thậm chí có người còn giận dữ phản đối đến nỗi LTCM đã cho phép anh ta ở lại. Sự tức giận nảy sinh một phần vì các lãnh đạo của LTCM và thành viên nội bộ khác được phép duy trì đầy đủ cổ phần của họ trong quỹ. Nói cách khác, sau tất cả, có thể các khoản đầu tư hấp dẫn không quá khan hiếm. Khi bí mật lộ ra vào năm 1997, quỹ đã có 4,7 tỷ đô-la vốn, trong đó khoảng 1,5 tỷ đô-la áp đảo thuộc về nhân viên nội bộ.
Tại thời điểm đó, quỹ cũng đã có khoảng 125 tỷ đô-la nợ, có nghĩa là tỷ lệ đòn bẩy ngoài bảng cân đối của nó là khoảng 25:1. Nhưng điều này không phản ánh đầy đủ các khoản đầu tư của quỹ, vì nó luôn tích cực tham gia vào các hợp đồng phái sinh ngoài bảng cân đối, các hợp đồng về bản chất tạo ra đòn bẩy bổ sung. Chỉ có người trong nội bộ có thể biết vào bất cứ lúc nào về số lượng các chứng khoán phái sinh. Nhưng hãy yên tâm rằng nếu các đòn bẩy trên bảng cân đối vào cuối năm 1997 là 25:1 thì đòn bẩy tổng thể phải lớn hơn.
Xét theo một ý nghĩa, tất cả các khoản nợ này xuất hiện là nhờ vào một nhóm người ủng hộ gần đến ngưỡng sùng bái mà Meriwether thu thập được, bao gồm những ngân hàng và các công ty môi giới say mê với triển vọng cho ông ta vay tiền. Các chủ nợ săn đón những khách hàng lớn, năng động và vững chắn, và đó chính là những hình ảnh mà Long-Term Capital tạo nên. Hầu hết các chủ nợ của quỹ dường như không xem xét kỹ càng về đòn bẩy của nó. Trên thực tế, nhiều bên đã dễ dãi đề ra các điều khoản có lợi cho các khoản vay, ví dụ như từ bỏ các tài sản thế chấp. Các bên khác cũng vui vẻ tham gia vào các hợp đồng phái sinh với các quỹ này, tăng cường tổng số vụ đầu tư hợp tác với một quỹ mà họ không hề biết rằng sắp sụp đổ.
Năm 1998, thảm họa bắt đầu khá dễ chịu, nhưng đến tháng 5, các thị trường biến động đã làm quỹ thua lỗ 6%, và trong tháng 6, thêm 10% nữa. Những cú vụt roi chưa từng có trong lịch sử của quỹ, đã đủ để Meriwether phải gửi đi một lá thư đặc biệt cho các nhà đầu tư của mình. Trong thư nói rằng LTCM “dễ hiểu là đã thất vọng” với kết quả tháng 5 và tháng 6, nhưng vẫn tin rằng “lợi nhuận dự kiến trong tương lai nhờ các chiến lược đầu tư của quỹ sẽ tốt”. Trong tháng 7, quỹ về cơ bản đã cạn vốn.
Sau đó đến tháng 8 khủng khiếp. Đồng tiền Nga mất giá, các nhà đầu tư trên thế giới tìm đến khoản đầu tư chất lượng. Đó không phải là những gì LTCM đã tính đến khi hoạch định về các chiến lược kinh doanh khác nhau. Ví dụ, đôi khi nó đã thực hiện những giao dịch cặp đôi về bản chất là đặt cược vào sự thu hẹp chênh lệch giữa lợi suất trái phiếu doanh nghiệp hạng AA và trái phiếu có thể so sánh được của Kho bạc Mỹ. Vụ cược này tốt vì mức chênh lệch tương đối rộng so với các mức trong lịch sử. Nhưng khi các cuộc tháo chạy bắt đầu, lãi suất trái phiếu giảm, và khoảng cách giữa lợi nhuận của trái phiếu chính phủ và doanh nghiệp lại mở rộng đáng kể hơn. Hậu quả thật tai hại. Quỹ bị mất 40% vốn chỉ trong tháng 8, chỉ còn lại 2,5 tỷ đô-la. Nhưng thật kinh ngạc là quỹ vẫn phải gánh khoảng 100 tỷ đô-la nợ.
Vào khoảng thời gian này, các lãnh đạo quỹ và ít nhất một số chủ nợ đã thực sự lo lắng. Đặt niềm tự hào sang một bên, các nhân viên của quỹ LTCM đã lên đường tìm kiếm những nhà đầu tư có thể mua lại một số vị thế giao dịch của họ hoặc có thể đầu tư thêm vốn mới vào quỹ, từ đó củng cố nền móng quỹ. Ngoài những người khác, nhóm đã van nài một số các nhà đầu tư từng bị gạt ra khỏi quỹ vào cuối năm 1997, cũng như những ông trùm đầu cơ George Soros và Julian Robertson. Tất cả đều từ chối.
Vào đêm Chủ nhật ngày 23 tháng 8, quỹ LTCM tiến vào mặt trận Omaha. Người đàn ông được phân công để gọi cho Buffett là Eric Rosenfeld, một lãnh đạo của LTCM và từng là nhà giao dịch của Salomon, người được Buffett đánh giá cao vì đã kiên trì giúp Salomon vực dậy sau cuộc khủng hoảng năm 1991. Rosenfeld, 45 tuổi, thường là người thong thả. Nhưng vào lúc này, Buffett nói rằng ông cảm thấy một cảm giác cấp bách trong cách Rosenfeld mời chào để bán cho ông một số vị thế giao dịch song hành vốn lớn của quỹ. Buffett đã từ chối.
Vào thứ Tư, Rosenfeld đã gọi lại cho Buffett, lần này với sự tham gia của Meriwether. Liệu buổi sáng hôm sau tại Omaha, Buffett có thể gặp một lãnh đạo khác của LTCM là Lawrence Hilibrand? Tại cuộc họp, Hilibrand, 39 tuổi, cũng là một cựu giao dịch viên ở Salomon, người được Buffett yêu mến, đã trình bày qua về một bức tranh danh mục đầu tư Long-Term Capital, mặc dù vẫn được bảo đảm và thúc giục Buffett trở thành một nhà đầu tư lớn trong quỹ. Hilibrand cũng chỉ ra một lý do cho sự cấp bách này: Vài ngày sau khi tháng 8 kết thúc, quỹ sẽ phải thông báo với các nhà đầu tư và nhà cho vay về con số thua lỗ trong tháng và quỹ cũng sẽ rất vui khi thông báo với họ rằng các khoản thu xếp tài chính đã được bảo đảm để giảm bớt đòn bẩy của quỹ. Nhưng Buffett đã lịch sự nói rằng ông xin lỗi vì hoàn toàn không có hứng thú.
Sau đó, Buffett đã nói chuyện với Phó Chủ tịch của Berkshire, Charles Munger. Ông nhớ đã nói với ông ấy rằng mặc dù các vị thế của quỹ có thể hợp lý nhưng ông không mong muốn Berkshire trở thành một nhà đầu tư quỹ phòng hộ. Ông cũng chỉ ra sự vô lý của việc “10 hay 15 nhân sự có chỉ số IQ trung bình khoảng 170 đã đưa chính bản thân họ vào thế mà họ có thể mất hết tiền”.
Sau vụ này, Buffett không còn suy nghĩ nhiều về quỹ Long-Term Capital cho đến cuối buổi chiều thứ Sáu ngày 18 tháng 9, khi ông gọi trở lại cho một đối tác Goldman Sachs mà ông biết là Peter Kraus. Kraus cho biết rằng tài sản ròng của quỹ Long-Term Capital, tức là vốn, đã giảm còn 1,5 tỷ đô-la, và rằng Goldman đã gọi khắp nơi để tìm kiếm những người có thể muốn trở thành nhà đầu tư lớn trong quỹ. Buffett lặp lại một lần nữa là ông không quan tâm. Nhưng sau đó hai người đàn ông đã cân nhắc lại về những ý tưởng khác liên quan đến Long-Term Capital. Cuối cùng, Buffett đã tập trung vào bức tranh rất lớn rằng Berkshire và Goldman có thể cùng nhau đấu giá mua lại toàn bộ quỹ, hủy bỏ quyền quản lý của Meriwether, và chính họ sẽ tự nhận trách nhiệm quản lý quỹ. Ngày nay Buffett nói rằng, ý tưởng chính là kiên nhẫn giữ phần lớn các vị thế đầu tư của quỹ và dần dần thanh lý những vị thế Buffett nghĩ có thể đem lại lợi nhuận tốt.
Đó là một ý tưởng lớn, có quy mô phù hợp với hàng tỷ đô-la tiền mặt Berkshire sẵn có, nhưng nó không thể xuất hiện trong một thời điểm tồi tệ hơn nữa. Buffett đã cố gắng rời khỏi văn phòng để đến dự bữa tiệc sinh nhật của cháu gái. Đêm đó ông có kế hoạch bay đến Seattle để cùng với nhóm bạn Bill Gates đi du lịch Alaska và chuỗi công viên ở miền Tây. Đó là một hành động rất bất thường, vì Buffett thường không quan tâm đến các hoạt động này. Nhưng tình bạn thân thiết giữa ông và Gates đã lôi cuốn ông và vợ, bà Susan, tham gia chuyến đi.
Nếu vụ đấu thầu được thực hiện thì Buffett sẽ phải thảo luận về nó với Kraus qua điện thoại từ rừng rậm. Và đó là cách nó đã xảy ra, mặc dù cũng có những khoảnh khắc thất vọng tràn trề, đến nỗi không một đại tỷ phú nào có thể thiết lập và giữ kết nối điện thoại từ vực sâu ở một vịnh hẹp Alaska.
Tuy nhiên, mức giá thầu 4 tỷ đô-la đã thành hình sau hơn 4 ngày căng thẳng, vì Goldman từ chối trở thành đối tác 300 triệu đô-la, và theo gợi ý của Buffett, AIG đã xin tham gia. Buffett đã mời AIG vì ông có quan hệ tốt với Chủ tịch AIG, Maurice “Hank” Greenberg. Ông nghĩ rằng hành động này có thể củng cố thêm tình bạn giữa họ. Mặt khác thỏa thuận đã kêu gọi Goldman làm quản trị cho quỹ, một khi các tài sản nằm trong tay nhóm đấu thầu.
Cần hiểu nhóm đã đưa ra những đề xuất mua nào và ở mức giá nào. Họ muốn sở hữu toàn bộ danh mục đầu tư của quỹ, và để thực hiện điều đó, nhóm muốn mua lại quỹ chủ, Long-Term Capital Portfolio LP. Đây là quỹ có 1,5 tỷ đô-la vốn vào hôm thứ Sáu ngày 18 tháng 9. Mặc dù vậy, vào thứ Tư tuần sau, khi Buffett đưa ra giá thầu, tài sản ròng của quỹ có thể vào khoảng 600 triệu đô-la. Không ai biết chắc chắn. Trong mọi trường hợp, Buffett, người không bao giờ trả giá quá cao muốn mua quỹ với một mức giá giảm. Ông ra giá là 250 triệu đô-la. Nếu mức giá được chấp nhận, số tiền này có thể đến tay các nhà đầu tư cũ bao gồm đội ngũ quản lý của Meriwether và mặc nhiên khẳng định quỹ có giá trị 4,7 tỷ đô-la vào đầu năm 1998 đã giảm khoảng 20 lần giá trị. Một khi khoản 250 triệu đô-la được trả, nhóm Buffett sẽ ngay lập tức đưa thêm vào quỹ 3,75 tỷ đô-la để phục hồi đầy đủ nguồn vốn quỹ.
Hãy suy nghĩ một chút về con số 250 triệu đô-la. Một khi nó được đặt lên bàn thảo luận, ở thời điểm này, có thể hiểu khi Meriwether cố gắng “thương lượng” cho một mức giá cao hơn. Ngoài ra, trong lúc thị trường đang hỗn loạn và bạn đang nắm giữ vị thế trị giá 4 tỷ đô-la, thật không ổn nếu để trượt một vụ đầu thầu. Vì vậy, Buffett đã đặt ra một giới hạn thời gian ngắn cho lời chào mua của ông. Mức giá đã được gửi điện tín cho Meriwether lúc 11 giờ 40 phút sáng thứ Tư. Ông ấy được thông báo rằng mức thầu này sẽ hết hạn trong vòng một giờ vào lúc 12 giờ 30 phút.
Trong khi đó, McDonough và nhóm chủ nợ đã cố gắng trong nhiều ngày để soạn thảo kế hoạch giải cứu của họ và sẽ họp mặt vào ngày hôm đó. Vì vậy, ngay trước khi mức giá thầu được chuyển đến Meriwether vào buổi sáng, Goldman đã tóm tắt cho Mc-Donough về thỏa thuận này, và McDonough đã gọi Buffett, người đang ở một trang trại Montana, để xác nhận đề nghị này. Buffett nói rằng McDonough dường như phấn khởi vì sự xuất hiện bất ngờ của một kế hoạch thay thế cho kế hoạch mà ông ấy đang ấp ủ với nhóm các chủ nợ. Sau đó Buffett đã gọi Meriwether và thông báo mức giá thầu đang trên đường đến với ông ấy. Buffett khẳng định rõ rằng nhóm của ông muốn mua lại toàn bộ quỹ Long-Term Capital Portfolio. Meriwether đã không hứa hẹn gì.
Nhưng khi cuộc gọi kết thúc, Meriwether đã nhanh chóng hành động. Sau một cuộc trò chuyện nhanh với luật sư thuộc quỹ LTCM, ông gọi điện thoại cho McDonough và nói với ông rằng không thể thực hiện gói thầu của Buffett vì Meriwether không có quyền để bán. Meriwether là một thành viên chủ chốt của công ty quản lý danh mục đầu tư, nhưng quỹ cũng có các thành viên khác, và Meriwether giải thích rằng ông sẽ phải được từng người đồng thuận trước khi đồng ý bán. Ông cho biết hiển nhiên là việc này không thể được thực hiện trước 12 giờ 30 phút. Hậu thuẫn Meriwether trong cuộc trò chuyện là một lãnh đạo khác của LTCM và là một đồng nghiệp cũ của McDonough, David Mullins, người từng là Phó Chủ tịch Hội đồng Quản trị Cục Dự trữ Liên bang cho đến khi ông tham gia vào LTCM năm 1994.
Nhóm của Buffett đã không đưa ra giá thầu mà không có ý kiến pháp lý của riêng họ. Nghiên cứu các tài liệu về Long-Term Capital sẵn có, mặc dù không đầy đủ, các luật sư của nhóm kết luận rằng vụ này hoàn toàn khả thi từ phía Meriwether. Bên cạnh đó, tất cả mọi người bên phía Buffett đều tin rằng nếu Meriwether thực sự có hứng thú về gói thầu, ông có thể tạm chấp nhận nó trước và giải quyết các thủ tục phức tạp khác sau.
Nhưng Meriwether đã thể hiện rằng ông hoàn toàn không quan tâm khi nói chuyện với Mc-Donough. Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang kết luận rằng ông không thể phớt lờ lập luận pháp lý của Meriwether hoặc, về vấn đề này, sử dụng quyền lực Giám đốc Ngân hàng Trung ương để buộc Meriwether phải bán. McDonough đã cam chịu quay lại với nhóm các chủ nợ cáu kỉnh và bám trụ với kế hoạch giải cứu trị giá 3,6 tỷ đô-la của họ.
Meriwether và các nhà đầu tư khác của quỹ đã xoay xở thế nào dưới tình hình này? Một phần của câu trả lời chính là họ đã giữ tổng cộng khoảng 400 triệu đô-la số vốn ít ỏi còn lại trong quỹ vào cuối tháng 9. Đó là con số chính xác để so sánh với con số 250 triệu đô-la đấu thầu của Buffett, mặc dù điều đáng nói là Buffett sẽ bàn giao tiền mặt, trong khi 400 triệu đô-la kia nằm trong quỹ.
Meriwether và nhân sự của LTCM vẫn điều hành quỹ, mặc dù các chủ nợ đã chia gần một nửa phí của họ. Các chủ nợ cũng đã đưa 6 người của họ vào văn phòng của LTCM để hướng dẫn thanh lý quỹ nhanh nhất có thể một cách hợp lý. Một nhân vật cấp cao Phố Wall nói rằng sẽ rất tuyệt vời nếu quá trình kết thúc trong vòng một năm.
Tất nhiên là có một kịch bản khác: các chủ nợ kịp thời hành động để tìm một nhà thầu, Buffett nói, người sẽ bước đến và đem đống lộn xộn này ra khỏi tay của họ ngay lập tức. Buffett sẽ làm điều đó? Ai mà biết được, vì ông không bao giờ tiết lộ các động thái của mình. Nhưng ông biết rằng một số các chủ nợ đang nghĩ về ông.
Trong mọi trường hợp, Buffett đã trở về từ kỳ nghỉ, và ông đã xoay xở để xem được số phát sóng tháng 10 của kênh Cáp Truyền hình Vệ tinh Công vụ Mạng về bản tin vụ Long-Term Capital từ Quốc hội. Đoạn mà ông thích nhất: Nghị sĩ James Leach nhớ lại rằng cha ông đã khuyên ông nên tránh bất cứ ai thực hiện kinh doanh bên ngoài quần đảo Cayman. Việc này đã gợi nhớ cho Buffett về một câu yêu thích có vẻ là kết luận hoàn hảo về Long-Term Capital: “Chỉ khi thủy triều rút, chúng ta mới biết ai không mặc đồ bơi.”
Jimmy và Warren Buffett có quan hệ họ hàng?
Ngày 21 tháng 6 năm 1999
Tyler Maroney
Chúng tôi sẽ bắt đầu trả lời câu hỏi về quan hệ huyết thống giữa Nhà tiên tri của Omaha và Người hát rong ở Margaritaville bằng cách chỉ ra các điểm giống nhau đến ám ảnh. Cả hai đều chơi nhạc cụ dây: Jimmy chơi đàn ghita nhiệt đới, Warren chơi đàn ghita Hawaii. (“Chắc hẳn là ban nhạc của tôi có các nhạc công tệ hơn,” Jimmy nói đùa.) Cả hai đã đổ tiền mặt vào các khoản đầu tư không khả thi: Warren đặt cược vào nội thất, bảo hiểm, máy hút bụi, và hiện nay sở hữu 35 tỷ đô-la; Jimmy đặt cược vào ảo tưởng về tương lai nhàn rỗi ở bãi biển đẫm vị cocktail colada để chăm chút một thương hiệu trị giá nhiều triệu đô-la với hơn 30 sách ảnh, 8 bộ phim, một hiệu quần áo, các hộp đêm, một hãng thu âm riêng, 3 cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất, và hàng trăm cửa hàng quà tặng ảo thuật. Jimmy là một Ma Kết thành thạo trong việc tích lũy tiền; Warren là một Xử Nữ với một tâm hồn âm nhạc sáng tạo.
Cả hai sống như vậy bằng cách bám vào những gì họ biết: Warren tránh các cổ phiếu công nghệ, Jimmy tận dụng một bài hát ông đã ghi âm cách đây hơn một thế hệ. Cả hai thu hút những người sùng bái: Các nhóm hóa trang đầu vẹt đổ xô đến buổi hòa nhạc mùa hè của Jimmy; nhà đầu tư đổ xô đến những đại hội cổ đông Berkshire Hathaway của Warren mà Warren gọi là lễ hội âm nhạc Woodstock của các nhà tư bản. Cả hai tránh những thay đổi về vĩ độ và thái độ: Warren là một người hâm mộ cực đoan môn bóng bầu dục; Jimmy vẫn còn lãng phí thời gian vào thần thoại Margaritaville. (“Hãy cứ thờ ơ, cứ lười biếng” là cách Buffett miêu tả phong cách của mình. Đó là Warren nói về đầu tư, chứ không phải Jimmy nói về thư giãn.) Và trong bài hát kinh điển của mình “Bánh mì mềm kẹp phô mai ở Thiên đường”1, Jimmy ngân nga rằng, “thiên đường trên trái đất là có một lát hành tây”. Bánh mì mềm kẹp thịt là món ăn ưa thích của Warren.
Nhưng thực sự liệu họ có quan hệ họ hàng? Tạp chí Fortune tin là như vậy, nhưng không thể chứng minh về mối nghi ngờ rằng Warren và Jimmy là họ hàng. Chị gái Doris của Warren, người lập phả hệ gia đình là người lần đầu tiên đặt nghi vấn. Hai năm sau khi gửi bảng thăm dò đến tất cả 125 người mang họ Buffett tại Mỹ, cô đã nhận một cuộc gọi từ Jimmy tò mò. “Ông ấy nói rằng, ‘Tôi muốn là họ hàng của gia đình cô vì họ giàu có và nổi tiếng,’” Doris nhớ lại. “Và tôi đã nói, “Thật buồn cười, chúng tôi thì muốn là họ hàng với anh vì anh giàu có và nổi tiếng.’”
Cuộc nghiên cứu của Doris đã phát hiện được 3 mối liên kết tổ tiên khả thi: John Buffett, một nông dân hái dưa nghèo ở đảo Long vào thế kỷ XVII; một thủy thủ ở Newfoundland người mà Jimmy vinh danh trong bài hát “Con trai của một người con của Thủy thủ”; và Đảo Norfolk ở Nam Thái Bình Dương, là nơi sinh sống của hàng trăm người có họ Buffett (cũng như rất nhiều con cháu của những thủy thủ nổi loạn trên tàu Bounty2). Khi Doris và Jimmy phát hiện ra rằng Đảo Norfolk từng là một thuộc địa hình sự thì họ đã mất hy vọng: Hàng thế kỷ giao phối cận huyết đã xóa nhòa mối liên kết dòng họ.
Mặc dù thiếu bằng chứng tuyệt đối rằng họ có liên quan (tính đến thời điểm xuất bản bài báo, không có cuộc thử nghiệm DNA nào được thực hiện), Warren và Jimmy đã trở thành bạn bè. Trong khi Jimmy khẳng định “Bác Warren” không dành cho ông bất cứ lời khuyên về đầu tư nào, hai người được biết là đã bùng nổ trong âm nhạc. Tỷ phú Buffett đùa rằng, “Tôi nghĩ cậu ấy đã rào đón để có tên trong di chúc của tôi. Nhưng xét về cách mọi thứ đang xảy ra, tôi ước rằng mình có tên trong di chúc của cậu ấy.”
Và câu trả lời cuối cùng là…
Sau 8 năm với nhiều tiến bộ khoa học, Jimmy và Warren đã thực hiện phân tích DNA bằng cách nhổ nước bọt vào những ống nhỏ, được xét nghiệm bởi công ty 23andMe (một công ty đồng sáng lập bởi Anne Wojcicki, vợ của người đồng sáng lập Google Sergey Brin). Kết quả cho thấy, than ôi, rằng Jimmy và Warren không có mối liên hệ họ hàng. Để tìm tổ tiên chung của cả hai, bạn sẽ phải quay trở lại 10.000 năm trước, thời điểm trước khi có các họ, và do đó không được tính. Giả thiết này được đóng lại. – CL
1. Bánh mì mềm kẹp phô mai ở Thiên Đường (Cheeseburger in Paradise): Ca khúc kinh điển nhất do Jimmy Buffett viết và thể hiện, ra mắt năm 1978. Ca khúc đã đứng hạng thứ 32 trong danh sách 100 bài hát hay nhất trên bảng xếp hạng Billboard..
2. Những thủy thủ nổi loạn trên tàu Bounty: Đề cập đến vụ nổi loạn lịch sử trên tàu Bounty diễn ra ngày 28 tháng 4 năm 1789 do một nhóm thủy thủ lãnh đạo chống lại thuyền trưởng con tàu vì ông đã đối xử tàn ác với thủy thủ trong đoàn. Sau đó, các thủy thủ này đã cùng đến hòn đảo hoang sơ không người Norfolk ở Nam Thái Bình Dương để định cư và xây dựng cuộc sống.
Đặt trách nhiệm tiền tệ lên Hội đồng Kiểm toán
Ngày 2 tháng 8 năm 1999
Carol Loomis
Trong giai đoạn trước khi điều luật kiểm toán Sarbanes-Oxley1 ban hành, các nhà điều tiết đã đấu tranh để chấm dứt tình trạng “gian lận sổ sách”, và Buffett đã đưa ý kiến về vấn đề này. – CL
Với mong muốn để các hội đồng quản trị có những ban kiểm toán tốt hơn so với hiện tại, Arthur Levitt đã thành lập một ban đặc biệt để đưa ra các đề xuất cải thiện, và bây giờ ông muốn các đề xuất đó được thông qua. Nhưng khi thị trường chứng khoán New York yêu cầu các công ty niêm yết nhận xét về các đề xuất, mũi tên đã quay ngược trở lại.
Các công ty đặc biệt không thích đề xuất lẽ ra phải yêu cầu các ủy ban kiểm toán thực hiện công việc của họ và rồi chứng minh trong các báo cáo thường niên rằng báo cáo tài chính trong đó phù hợp với chuẩn GAAP1. Một số người phản đối cho rằng quy định như vậy sẽ mở đường cho các vụ kiện chống lại thành viên ủy ban kiểm toán. Những người khác thì nhìn thấy sự nhầm lẫn về vai trò. Một lá thư cho biết: “Chứng thực là việc các kiểm toán viên bên ngoài được thuê làm.”
1. Điều luật kiểm toán Sarbanes-Oxley (Sarbanes-Oxley law): Là một trong những luật căn bản của nghề kế toán, kiểm toán, được ban hành tại Mỹ năm 2002. Mục tiêu chính của Đạo luật này nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư khi đầu tư vào các công ty đại chúng bằng cách buộc các công ty này phải bảo đảm sự minh bạch và chính xác của các báo cáo, các thông tin tài chính công bố.
1. Chuẩn GAAP (General Accepted Accounting Principles): Là những nguyên tắc và những thông lệ kế toán được chấp nhận trong thực tiễn khi chuẩn bị các báo cáo tài chính. Cơ quan tiêu chuẩn kế toán tài chính (FASB), một tổ chức tự điều hành độc lập là nguồn gốc ban đầu của những nguyên tắc kế toán được tuân thủ bởi các kiểm toán viên và kế toán viên.
Một ý kiến phản đối liên quan đến từ Warren Buffett, tính đến khi ông nhúng tay vào việc này, đã công khai hoan nghênh nhiệt liệt chiến dịch của Levitt chống lại việc quản trị lợi nhuận. Dù vậy, ở đây, Buffett đã phản đối ý kiến rằng một ủy ban kiểm toán nhóm họp vài giờ một năm, có thể chứng thực bất cứ điều gì về báo cáo tài chính của một công ty. Thay vào đó, ông cho biết, ủy ban cần phải tìm hiểu những gì các kiểm toán viên bên ngoài biết – những thứ “thường không xảy ra, thậm chí là khi các thiếu sót nghiêm trọng vẫn tồn tại”.
Buffett cho biết ủy ban nên yêu cầu kiểm toán viên cung cấp câu trả lời chi tiết cho 3 câu hỏi:
1. Nếu các kiểm toán viên tự chuẩn bị các báo cáo tài chính của công ty, liệu họ có thể làm khác đi bằng những cách vật chất hay phi vật chất? Nếu “làm khác”, kiểm toán viên nên giải thích bằng lập luận của ban quản lý và của riêng mình.
2. Nếu kiểm toán viên là một nhà đầu tư, liệu ông ấy có nhận được các thông tin cần thiết để hiểu tình hình tài chính của công ty trong kỳ báo cáo?
3. Công ty có đang tuân thủ thủ tục kiểm toán nội bộ mà kiểm toán viên sẽ tuân thủ nếu ông ấy ở vị trí Giám đốc Điều hành? Nếu không, sự khác biệt là gì và lý do tại sao?
Tiếp đó Buffett đã viết – chữ in nghiêng – rằng câu trả lời của kiểm toán viên cần được nêu ra trong biên bản cuộc họp. Ông cho biết ý đồ là để đặt “trách nhiệm tiền tệ” lên các kiểm toán viên, đó là điều duy nhất khiến họ phải thực sự làm công việc của họ thay vì trở thành đơn vị trực thuộc của ban quản lý.
Tạp chí Fortune đã mời bà Olivia Kirtley, Chủ tịch Viện Kế toán Công chứng Mỹ và cũng là Giám đốc Tài chính của Tập đoàn Vermont Mỹ, đưa ý kiến về ý tưởng của Buffett. Bà nói rằng ông “tóm gọn” các câu hỏi của mình, nhưng chúng đều “tương tự” như những gì ủy ban kiểm toán riêng của AICPA1 đã hỏi các kiểm toán viên bên ngoài của họ.
1. AICPA: Là từ viết tắt của Hiệp hội Kế toán viên Công chứng của Mỹ. Đây là một tổ chức hiệp hội nghề nghiệp rất có danh tiếng ở Mỹ.
Việc liệu ban bầu cử trong công ty kiểm toán của bà có muốn một kế hoạch giúp họ hoặc là làm việc của họ thật tốt, hoặc chấp nhận trách nhiệm tiền tệ nếu thất bại hay không không chắc chắn. Kiểm toán viên đã làm giảm các rắc rối pháp lý của họ trong thập kỷ vừa qua, xoay xở để chứng minh rằng báo cáo tài chính này thuộc trách nhiệm của ban quản trị, và cũng nhận được sự giúp đỡ từ các điều luật mới và từ một quyết định có lợi của Tòa án Tối cao. Kết quả là số lượng những vụ kiện các kiểm toán viên đang phải đối mặt giảm mạnh.
Tất nhiên, cũng trong thập kỷ này các ban quản trị đã học được tất cả những cách ngầm nhằm đáp ứng “mong đợi của họ”. Có phải đó chỉ đơn giản là trùng hợp ngẫu nhiên hay là vì hậu quả tiền tệ được giảm nhẹ làm cho kiểm toán viên ít siêng năng và dễ phục tùng hơn so với trường hợp trước đây? Đó là câu hỏi khó trả lời. Còn 3 câu hỏi của Buffett thì không.
Ngài Buffett trên thị trường chứng khoán
Ngày 22 tháng 11 năm 1999
Một bài phát biểu của Buffett được Carol Loomis chuyển thể thành bài báo
Warren Buffett hầu như không bao giờ công khai về mức giá cổ phiếu chung, cả trong báo cáo thường niên nổi tiếng của ông và tại các cuộc họp thường niên chật ních người của Berkshire, hay trong các bài phát biểu hiếm hoi ông thực hiện. Nhưng trong nửa cuối năm 1999, trong 4 dịp, Buffett đã đề cập đến vấn đề trên và đưa ra ý kiến của mình, bằng những cách vừa có tính phân tích vừa sáng tạo về tương lai lâu dài của cổ phiếu. Tôi đã nghe bài nói cuối cùng trong số những buổi phát biểu trên, vào tháng 9 với một nhóm bạn của Buffett, và tôi cũng xem băng ghi hình bài phát biểu đầu tiên, được ông thực hiện trong tháng 7 tại Sun Valley của Ngân hàng Allen & Co, bang Idaho, dành cho lãnh đạo doanh nghiệp. Từ những cuộc đàm phán ứng khẩu này (cuộc đầu tiên được thực hiện khi chỉ số Công nghiệp Dow Jones là 11,194), tôi đã chắt lọc lại những gì Buffett nói. Buffett đã xem xét nó và thêm vào một số giải thích.
Thông điệp chính của Buffett nằm trong những lời đầu tiên của bài viết này: “Ngày nay, những nhà đầu tư cổ phiếu đang mong đợi quá nhiều.” Nhắc đến mạng Internet sơ khai, thứ mà sự hứa hẹn của nó làm nhà đầu tư thêm hy vọng, ông đã nhấn mạnh cách một vài người làm giàu từ hai ngành công nghiệp thường xuyên thay đổi là ô tô và hàng không.
Trong bài phát biểu của mình, Buffett chắc chắn đã không đoán được rằng lãi suất thấp sẽ xảy ra gần đây, ví dụ như các trái phiếu của Bộ Tài chính cho lãi ít ỏi. Ông cũng không tỏ ra ảm đạm về lợi nhuận của thị trường chứng khoán như tình hình thực tế đã chứng minh về các lợi nhuận này.
Tuy nhiên, ông hoàn toàn đúng khi nhận định thị trường chung giảm, vì vậy ông đã nói, “Tôi sẽ không thay đổi điều mà tôi nói ra.” Ông phát biểu tại thời điểm khi các nhà đầu tư đã quen với việc tổng lợi nhuận trung bình hằng năm là 12% trên cổ phần của họ. Thay vào đó ông dự kiến rằng 7% là một con số ước tính hợp lý như trước lạm phát, khi các nhà đầu tư có thể thu về tổng lợi nhuận hằng năm trong 17 năm từ năm 1999-2016 (bài viết sẽ giải thích lý do tại sao ông đã chọn số năm kỳ quặc này). Đó là một con số gộp, trước khi trừ các chi phí giao dịch khổng lồ mà các nhà đầu tư phải chịu, ví dụ như hoa hồng, phí doanh vụ và chi phí quản lý. Sau khi trừ các chi phí này, Buffett nghĩ rằng mức kỳ vọng hợp lý cho lợi nhuận sẽ vào khoảng 6% mỗi năm.
Sự thật đáng tiếc là, tổng lợi nhuận kép hằng năm của chỉ số công nghiệp Dow Jones được thông qua giữa năm 2013 (và thị trường vững mạnh trong một nửa năm đầu tiên đó) chỉ có 4,4%. Con số có thể so sánh được của chỉ số S&P 500 (không phải thiên về cổ tức như chỉ số Dow và chịu ảnh hưởng nhiều hơn so với chỉ số Dow khi bóng Internet vỡ) là một con số hoàn toàn không đáy: 2,6%.
Khi cuốn sách này được công bố, tất nhiên, vẫn còn 3 năm nữa trước khi 17 năm kết thúc. Nhưng những năm này sẽ phải đem lại kết quả tuyệt vời nếu nhà đầu tư tăng tốc trên những mảng mà họ đã thua lỗ và kết thúc với ngay cả là 6% tổng lợi nhuận hằng năm. – CL
Ngày nay, các nhà đầu tư chứng khoán đang trông đợi quá nhiều, và tôi sẽ giải thích lý do vì sao. Điều này chắc chắn sẽ dẫn tôi đến việc bàn về thị trường chứng khoán nói chung, một chủ đề tôi thường không sẵn sàng để thảo luận. Nhưng tôi muốn làm rõ một điểm về nó: Mặc dù tôi sẽ nói về mức độ thị trường, tôi sẽ không thể dự đoán động thái tiếp theo của nó. Tại Berkshire chúng tôi tập trung chủ yếu vào giá trị của các công ty riêng lẻ, và chỉ xem xét ở một mức độ rất hạn chế về việc định giá thị trường chung. Thậm chí sau đó, xác định giá trị thị trường không liên quan đến suy nghĩ của chúng tôi về việc thị trường sẽ ra sao vào tuần tới, tháng tới hay năm tới. Đó là những thứ chúng tôi không bao giờ bàn tới. Thực tế là các thị trường vận hành theo nhiều cách mà đôi khi trong một đoạn đường rất dài không có liên quan đến giá trị. Dù sao thì sớm hay muộn, giá trị là quan trọng. Vì vậy, những gì tôi muốn nói là, giả dụ điều này đúng, sẽ hướng tới các kết quả dài hạn được nhận ra bởi các cổ đông của nước Mỹ. Hãy bắt đầu bằng cách định nghĩa “đầu tư”. Định nghĩa tuy đơn giản nhưng thường bị quên lãng. Đầu tư chính là đặt tiền vào lúc này để thu về nhiều tiền hơn trong tương lai – nhiều tiền hơn trong các điều kiện thực tế, sau khi trừ đi lạm phát.
Giờ thì, để xem xét một số quan điểm lịch sử, hãy nhìn lại 34 năm trước, chúng ta sẽ thấy một sự đối xứng thần thánh, xét về năm thịnh và năm suy để quan sát những gì xảy ra trong thị trường cổ phiếu. Trước tiên, hãy xem xét 17 năm đầu tiên của thời kỳ này, từ cuối năm 1964 đến hết năm 1981. Dưới đây là những gì đã diễn ra:
CHỈ SỐ TRUNG BÌNH CÔNG NGHIỆP DOW JONES
31 tháng 12 năm 1964: 874,12
31 tháng 12 năm 1981: 875,00
Hiện giờ tôi được biết đến như một nhà đầu tư dài hạn đầy kiên nhẫn, nhưng động thái lớn đó không phải là một ý tưởng của tôi. Đây là một thực tế lớn và đối nghịch: Trong cùng 17 năm, tổng sản phẩm quốc nội của Mỹ (GDP) tăng gần gấp 5 lần lên mức 370%. Hoặc, nếu chúng ta nhìn vào một cách đo lường khác, doanh thu của Fortune 500 (một tổng hợp hay thay đổi gồm nhiều công ty) hơn gấp 6 lần. Chỉ số Dow Jones chính xác là không thể so sánh được.
Để hiểu tại sao điều đó xảy ra, đầu tiên chúng ta cần xem xét một trong hai biến số quan trọng ảnh hưởng đến kết quả đầu tư: lãi suất. Nó tác động lên định giá tài chính theo cách mà lực hấp dẫn tác động lên vật thể: Tỷ lệ càng cao, lực kéo xuống càng lớn. Đó là vì tỷ suất lợi tức mà nhà đầu tư cần từ bất kỳ hình thức đầu tư nào được gắn trực tiếp đến lãi suất phi rủi ro mà họ có thể kiếm được từ trái phiếu chính phủ. Vì vậy, nếu lãi suất trái phiếu của chính phủ tăng lên, giá của tất cả các khoản đầu tư khác phải điều chỉnh giảm xuống đến mức ngang hàng với tỷ suất lợi tức kỳ vọng. Ngược lại, nếu lãi suất của chính phủ giảm, động thái này sẽ đẩy giá của tất cả các khoản đầu tư khác tăng lên. Đề xuất cơ bản là: Cái giá mà một nhà đầu tư nên trả hôm nay cho mỗi đô-la nhận được trong tương lai chỉ có thể được xác định bằng cách xem xét lãi suất phi rủi ro trước tiên.
Do đó, mỗi khi lãi suất phi rủi ro dao động một điểm cơ sở bằng 0,01%, giá trị của mỗi khoản đầu tư trong nước sẽ thay đổi. Mọi người có thể thấy điều này một cách dễ dàng trong trường hợp trái phiếu, vì giá trị của nó thường chỉ bị ảnh hưởng bởi lãi suất. Trong trường hợp của chứng khoán, bất động sản, các trang trại hay những thứ tương tự, các biến số rất quan trọng khác hầu như luôn tồn tại, điều đó có nghĩa là hậu quả của việc thay đổi lãi suất thường bị che khuất. Tuy nhiên, cũng giống như lực kéo vô hình của trọng lực, hậu quả của nó luôn ở đó.
Trong giai đoạn 1964-1981, lãi suất đã tăng cao đối với trái phiếu chính phủ dài hạn, từ chỉ hơn 4% vào cuối năm 1964 lên hơn 15% vào cuối năm 1981. Sự gia tăng lãi suất đã làm giảm giá trị của tất cả các khoản đầu tư, nhưng tất nhiên những gì chúng tôi nhận thấy là giá của cổ phiếu. Như vậy, việc tăng gấp 3 lần lực kéo lãi suất đưa ra lời giải thích quan trọng về lý do tại sao sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ lại song hành cùng một thị trường chứng khoán không đi đến đâu.
Tiếp đó, vào đầu năm 1980, tình hình đã đảo ngược. Bạn sẽ nhớ Paul Volcker ở vị trí Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang và rằng ông đã từng lu mờ thế nào. Nhưng những hành động anh hùng ông đã làm – ông đã tiếp cận nền kinh tế và chặn đứng lạm phát, làm cho xu hướng lãi suất lạm phát đảo ngược, với một số kết quả khá ngoạn mục. Giả sử bạn đặt 1 triệu đô-la vào trái phiếu Mỹ có hạn 30 năm ở mức lãi 14% ban hành ngày 16 tháng 11 năm 1981, và tái đầu tư các phiếu trả lãi. Có nghĩa là mỗi khi bạn nhận được tiền trả lãi, bạn sử dụng nó để mua thêm trái phiếu tương tự. Vào cuối năm 1998, khi các trái phiếu chính phủ dài hạn sau đó được bán ra ở mức 5%, bạn có thể đã sở hữu 8.181.219 đô-la và sẽ thu về lợi nhuận hằng năm là hơn 13%.
13% lợi nhuận hằng năm còn tốt hơn so với con số mà cổ phiếu đã làm được trong nhiều giai đoạn 17 năm trong lịch sử, thực tế là trong hầu hết các giai đoạn 17 năm. Đó là một kết quả quái quỷ, từ chính trái phiếu kém hấp dẫn kia.
Sức mạnh của lãi suất cũng có tác dụng làm tăng giá các chứng khoán, mặc dù có những thứ khác chúng tôi quan tâm cũng đẩy giá lên thêm. Và đây là những gì chứng khoán đã làm trong cùng giai đoạn 17 năm: Nếu bạn đã đầu tư 1 triệu đô-la vào chỉ số Dow ngày 16 tháng 11 năm 1981, và tái đầu tư hết số cổ tức, bạn đã có 19.720.112 đô-la vào 31 tháng 12 năm 1998. Và lợi nhuận hằng năm của bạn sẽ là 19%.
Giá trị cổ phiếu tăng kể từ năm 1981 đã đánh bại bất cứ thành tích nào bạn tìm thấy trong lịch sử. Sự gia tăng này thậm chí còn vượt xa lợi nhuận bạn lẽ ra có thể đạt được nếu mua cổ phiếu vào năm 1932, tại mức đáy của chúng thời kỳ Đại suy thoái vào ngày thấp nhất, 8 tháng 7 năm 1932, khi mà chỉ số Dow Jones đã đóng cửa ở mức 41,22 và giữ mức những cổ phiếu này trong 17 năm.
Điều thứ hai liên quan đến giá cổ phiếu trong khoảng 17 năm này chính là lợi nhuận doanh nghiệp sau thuế, con số được thể hiện như tỷ lệ phần trăm của GDP trong biểu đồ bên dưới. Trên thực tế, biểu đồ sẽ cho bạn biết tổng kết lợi nhuận của cổ đông doanh nghiệp Mỹ sẽ tương ứng với phần nào của chỉ số GDP hằng năm.

Như bạn sẽ thấy, biểu đồ bắt đầu vào năm 1929. Tôi rất thích năm 1929, vì đó là thời điểm tất cả mọi thứ bắt đầu. Cha tôi là một người bán chứng khoán vào thời điểm đó, và sau khi vụ sụp đổ xảy ra, vào mùa thu, ông lo sợ phải gọi cho bất cứ ai, tất cả những người đã bị “cháy” tài khoản. Vì vậy, ông chỉ ở nhà vào các buổi chiều. Khi đó vẫn chưa có tivi. Vì vậy… Tôi được thành hình vào khoảng ngày 30 tháng 11 năm 1929 (và sinh ra 9 tháng sau đó vào ngày 30 tháng 8 năm 1930). Nhờ đó tôi luôn cảm thấy ấm áp khi nghĩ về vụ sụp đổ.
Như bạn có thể thấy, tỷ lệ phần trăm GDP tương ứng với lợi nhuận doanh nghiệp đã đạt đỉnh điểm vào năm 1929, sau đó chao đảo. Phía bên trái của biểu đồ, trên thực tế, bao gồm các sai lệch: không chỉ cuộc khủng hoảng mà còn sự bùng nổ lợi nhuận trong chiến tranh được giảm đi nhờ thuế lợi nhuận siêu ngạch và một đợt bùng nổ sau chiến tranh. Nhưng từ năm 1951 trở đi, tỷ lệ phần trăm đã ổn định ở mức từ 4% đến 6,5%.
Tuy nhiên, vào năm 1981, tỷ lệ có chiều hướng sụt giảm đến đáy và vào năm 1982 lợi nhuận giảm xuống mức 3,5%. Vì vậy, tại thời điểm đó các nhà đầu tư đang nhận thấy hai mặt tiêu cực nặng nề: Lợi nhuận dưới trung bình và lãi suất cao ngất ngưởng.
Vì việc này rất điển hình, các nhà đầu tư đặt ra các dự kiến trong tương lai từ những gì họ đang thấy. Đó là thói quen không thể lay chuyển của họ: nhìn vào gương chiếu hậu thay vì thông qua kính chắn gió. Những gì họ quan sát ở khung cảnh ngược làm họ cảm thấy chán nản về đất nước. Họ dự đoán lãi suất cao, họ dự đoán lợi nhuận thấp, và từ đó họ định giá chỉ số Dow ở một mức giống như 17 năm trước đây, mặc dù chỉ số GDP đã tăng gấp 5 lần.
Giờ thì, chuyện gì đã xảy ra trong 17 năm bắt đầu từ năm 1982? Một việc đã không xảy ra chính là sự tăng trưởng có thể so sánh trong chỉ số GDP: Trong giai đoạn 17 năm lần thứ hai này, GDP tăng ít hơn 3 lần. Nhưng lãi suất bắt đầu giảm, và sau khi hiệu ứng Volcker giảm thì lợi nhuận bắt đầu tăng tuy không đều đặn, nhưng với sức bật thực sự. Bạn có thể thấy khuynh hướng lợi nhuận trên biểu đồ, trong đó cho biết rằng vào cuối những năm 1990, lợi nhuận sau thuế tính theo phần trăm GDP đã tiến gần đến mức 6%, có nghĩa nó nằm ở phần trên của dải “bình thường”. Vào cuối năm 1998, lãi suất trái phiếu chính phủ dài hạn đã giảm xuống mức 5%.
Những thay đổi đáng kể trong hai nguyên tắc cơ bản quan trọng nhất đối với các nhà đầu tư đã giải thích phần lớn, mặc dù không phải tất cả, việc chứng khoán tăng giá hơn 10 lần. Chỉ số Dow đã tăng từ 875 đến 9.181 trong giai đoạn 17 năm này. Tất nhiên tâm lý thị trường cũng đóng vai trò trong sự tăng giá đó. Một khi thị trường tăng giá, và một khi bạn đạt đến điểm mà ai cũng kiếm được tiền bất chấp hệ thống mà họ theo đuổi, thì đám đông sẽ bị thu hút vào trò chơi theo kiểu đơn giản rằng không sở hữu cổ phiếu là một sai lầm chứ không phản ứng theo lãi suất và lợi nhuận. Trên thực tế, những người này đã đặt yếu tố “tôi-không-thể-đứng-ngoài-cuộc” lên trên các yếu tố cơ bản thúc đẩy thị trường. Giống như chú chó của Pavlov1, những “nhà đầu tư này” hiểu rằng khi chuông reo, trong trường hợp này chính là tiếng chuông mở cửa thị trường chứng khoán New York vào lúc 9 giờ 30 phút sáng, họ sẽ được cho ăn. Thông qua cách tăng cường hằng ngày thói quen này, họ bắt đầu tin tưởng rằng Đức Chúa Trời có thực và Ngài muốn họ làm giàu.
1. Chú chó của Pavlov: Pavlov là một nhà sinh lý học, tâm lý học và thầy thuốc người Nga, viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Peterburg (1907). Ông là người đã giành giải Nobel sinh lý và y khoa năm 1904 cho công trình nghiên cứu liên quan đến hệ thống tiêu hóa. Vào thập niên 1890, Pavlov nghiên cứu chức năng dạ dày của loài chó bằng cách quan sát sự tiết dịch vị của chúng, sau đó ông tính toán và phân tích dịch vị của chó và phản xạ của chúng dưới các điều kiện khác nhau. Ông để ý rằng chó thường tiết dịch vị khi phát hiện ra các tín hiệu báo hiệu sự xuất hiện của thức ăn như tiếng chuông reo. Sau này Pavlov đã xây dựng lên định luật cơ bản mà ông gọi là “phản xạ có điều kiện” dựa trên hàng loạt thí nghiệm mà ông tiến hành trước đó.
Hiện tại, nhìn lại con đường họ đã đi qua, hầu hết các nhà đầu tư đều có những kỳ vọng lạc quan. Một khảo sát do Tổ chức Paine Webber và Gallup thực hiện vào tháng 7 cho thấy các nhà đầu tư có ít kinh nghiệm nhất, người chỉ đầu tư ít hơn 5 năm đã kỳ vọng lợi nhuận hằng năm 10 năm tới là 22,6%. Còn ngay cả những người đã đầu tư hơn 20 năm chỉ đang trông đợi mức 12,9%.
Giờ đây, tôi muốn đưa ra luận điểm rằng chúng ta không thể tiến đến gần với con số 12,9%, và giải thích bằng cách xem xét các yếu tố xác định giá trị quan trọng. Ngày nay, nếu một nhà đầu tư đạt được lợi nhuận hấp dẫn trên thị trường trong hơn 10 năm, 17 năm hay 20 năm, một hoặc nhiều hơn trong 3 điều sau phải xảy ra. Tôi sẽ tạm hoãn bàn tới điều cuối cùng trong chốc lát, nhưng dưới đây là hai điều đầu tiên:
Lãi suất phải giảm thêm. Nếu lãi suất của chính phủ hiện nay ở mức khoảng 6% giảm xuống 3%, thì riêng yếu tố này cũng có thể dẫn đến việc giá trị của cổ phiếu thường tăng gấp đôi. Ngẫu nhiên, nếu bạn nghĩ rằng lãi suất sẽ giảm như vậy, hoặc rơi xuống mức 1% mà Nhật Bản đã trải qua, bạn nên hướng đến nơi mà bạn thực sự có thể kiếm được lợi nhuận: các quyền chọn trái phiếu.
Lợi nhuận doanh nghiệp liên quan đến GDP phải tăng. Bạn biết đấy, một ai đó đã từng nói với tôi rằng New York có nhiều luật sư hơn những ngành nghề khác. Tôi nghĩ người đó chắc cũng nghĩ rằng lợi nhuận sẽ nhiều hơn so với GDP. Khi bạn bắt đầu trông đợi sự tăng trưởng của một yếu tố sẽ mãi mãi vượt qua sự tăng trưởng của một tổng thể, bạn sẽ gặp phải các rắc rối toán học nhất định. Theo ý kiến của tôi, bạn phải cực kỳ lạc quan để tin rằng lợi nhuận của doanh nghiệp tương đương phần trăm của GDP có thể nắm giữ hơn 6% trong bất kỳ giai đoạn kéo dài nào. Một yếu tố làm cho tỷ lệ phần trăm giảm xuống chính là sự cạnh tranh đang tồn tại một cách lành mạnh. Ngoài ra, còn có một điểm chính sách công cộng: Trong tổng thể, nếu các nhà đầu tư doanh nghiệp nhận được một phần lớn trong chiếc bánh kinh tế Mỹ, một số nhóm khác sẽ phải chấp nhận phần nhỏ hơn. Một cách chính đáng, việc này sẽ làm gia tăng các vấn đề chính trị. Theo quan điểm của tôi, một phần lớn của chiếc bánh sẽ không thể nào thành sự thật.
Do đó, liệu các giả định hợp lý sẽ dẫn chúng ta đến đâu? Giả sử rằng GDP tăng trưởng ở mức trung bình 5% mỗi năm với 3% tăng trưởng thực, một con số khá tốt, cộng với 2% lạm phát. Nếu GDP tăng trưởng ở mức 5%, và bạn không có sự giúp đỡ từ lãi suất, tổng giá trị cổ phiếu sẽ không tăng trưởng nhiều hơn. Đúng là bạn có thể thêm vào một chút lợi nhuận từ cổ tức. Nhưng với vị thế cổ phiếu bán hiện tại, tầm quan trọng của cổ tức đối với tổng lợi nhuận đang thấp hơn nhiều so với trước đây. Các nhà đầu tư cũng không thể trông đợi ghi điểm vì các công ty đang bận rộn thúc đẩy lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu bằng cách mua vào cổ phiếu của họ. Sự bù đắp ở đây chính là các công ty đang sắp bận rộn phát hành cổ phiếu mới, thông qua chào bán sơ cấp và chúng thể hiện quyền chọn cổ phiếu.
Vì vậy, tôi quay trở lại với giả thuyết GDP tăng trưởng 5% của mình. Tôi muốn nhắc bạn rằng có một hạn chế về lợi nhuận mà bạn sẽ nhận: Bạn không thể mong đợi luôn luôn thu về khoản tăng lợi nhuận hằng năm là 12% – nhỏ hơn rất nhiều giá trị 22% – trong cách định giá trị doanh nghiệp Mỹ nếu lợi nhuận của nó đang tăng trưởng chỉ ở mức 5%. Thực tế không thể tránh được chính là giá trị của một tài sản, bất chấp bản chất của nó là gì, không thể tăng trưởng nhanh hơn lợi nhuận dài hạn của nó.
Bây giờ, có lẽ bạn muốn tranh luận về một trường hợp khác. Tốt thôi. Nhưng hãy cho tôi biết giả định của bạn. Nếu bạn nghĩ rằng công chúng Mỹ sẽ thu về 12% lợi nhuận một năm trên cổ phiếu, tôi nghĩ rằng bạn phải nói ví dụ như “Vâng, đó là bởi tôi trông đợi GDP tăng trưởng ở mức 10% một năm, thêm vào 2% từ cổ tức, và lãi suất duy trì một mức ổn định.” Hoặc bạn sẽ phải sắp xếp lại các biến số quan trọng theo những cách khác. Cách tiếp cận Tinker Bell sẽ không thể thành công.
Ngoài ra, bạn cần phải nhớ rằng lợi nhuận trong tương lai luôn bị ảnh hưởng bởi giá trị hiện tại và hãy nghĩ đến những gì bạn sắp nhận được trong thị trường chứng khoán ngay bây giờ. Dưới đây là hai số liệu năm 1998 trong danh sách Fortune 500. Các công ty trong tổng thể này chiếm khoảng 75% giá trị của tất cả doanh nghiệp thuộc sở hữu công cộng của Mỹ. Vì vậy khi nhìn vào danh sách 500, bạn đang thực sự nhìn thấy liên hợp các công ty Mỹ.
Fortune 500
Lợi nhuận năm 1998: 334.335 tỷ đô-la
Giá trị thị trường ngày 15 tháng 3 năm 1999: 9.907.233 tỷ đô-la
Khi tập trung vào hai con số này, chúng ta cần phải nhận thức được rằng con số lợi nhuận cũng có khuyết điểm của nó. Như họ luôn làm với các công ty trong danh sách 500, lợi nhuận trong năm 1998 bao gồm một khoản lợi nhuận đột biến – chẳng hạn như 16 tỷ đô-la lãi sổ sách mà Ford báo cáo từ các công ty thành viên đã được chia tách – và lợi nhuận của một vài công ty tương hỗ, không có giá trị thị trường, chẳng hạn như State Farm. Ngoài ra, một trong những chi phí doanh nghiệp lớn là chi phí bồi thường quyền chọn cổ phiếu không được trừ vào lợi nhuận. Mặt khác, con số lợi nhuận bị giảm trừ trong một số trường hợp bằng cách loại bỏ các khoản nợ xấu, những khoản có lẽ không phản ánh thực trạng nền kinh tế và cũng có thể được bổ sung trở lại. Nhưng bỏ qua một bên các báo cáo này, nhà đầu tư nói rằng vào ngày 15 tháng 3 năm nay họ sẽ phải trả một số tiền khổng lồ 10.000 tỷ đô-la cho khoản 334 tỷ đô-la lợi nhuận.
Hãy nhớ rằng, một thực tế quan trọng thường bị phớt lờ chính là các nhà đầu tư nói chung không thể rút bất cứ số tiền nào ra khỏi doanh nghiệp của họ, ngoại trừ số tiền doanh nghiệp kiếm được. Chắc chắn, bạn và tôi có thể bán cho nhau cổ phiếu với giá cao và cao hơn nữa. Hãy giả sử Fortune 500 chỉ là một doanh nghiệp và mỗi người trong phòng này đều sở hữu một phần của nó. Trong trường hợp đó, chúng ta có thể ngồi đây và bán cho nhau từng phần một với giá tăng dần. Bản thân bạn có thể vượt lên các đồng nghiệp khác bằng cách mua thấp và bán cao. Nhưng không có số tiền nào rời cuộc chơi khi điều đó xảy ra. Bạn chỉ đơn giản là rút ra những gì được họ đặt vào. Trong khi đó, kinh nghiệm của nhóm này sẽ không hề bị ảnh hưởng, vì số phận của nó vẫn được gắn với lợi nhuận. Xét về tổng thể, phần lớn nhất mà các chủ sở hữu của một doanh nghiệp có thể nhận được cho đến khi kết thúc cuộc chơi – khoảng thời gian giữa hiện tại và Ngày Phán Xét – chính là những gì doanh nghiệp kiếm được theo thời gian.
Vẫn còn một tiêu chuẩn quan trọng cần được xem xét. Nếu bạn và tôi đang giao dịch tại căn phòng này, chúng ta có thể tránh được chi phí giao dịch, vì xung quanh không có nhân viên môi giới nào tính phí trên mỗi giao dịch thực hiện. Nhưng trong thực tế, các nhà đầu tư có thói quen muốn giao dịch cổ phiếu, hoặc ít nhất là nhận được lời khuyên về việc liệu họ có nên đầu tư, và việc này tốn nhiều chi phí. Các khoản chi phí họ phải chịu, mà tôi gọi là chi phí ma sát, bao gồm một loạt các hạng mục. Đó là phí chênh lệch từ hoạt động mua bán, phí hoa hồng, phí doanh vụ, và phí 12b-11, phí quản lý, phí lưu ký và phí dịch vụ trọn gói, thậm chí còn có phí đăng ký cho các ấn phẩm tài chính. Đừng rũ bỏ những chi phí này như thể chúng không thích hợp. Để đánh giá một khoản đầu tư bất động sản, liệu bạn sẽ khấu trừ chi phí quản lý khi tính toán lợi nhuận? Vâng, tất nhiên rồi và chính xác theo cùng một cách, các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán đang tính toán lợi nhuận của họ phải đối mặt với những chi phí ma sát họ gánh chịu.
1. Phí 12b-1: Phí hằng năm để bù đắp cho nhà phân phối cổ phiếu vì cung cấp dịch vụ liên tục cho cổ đông.
Và họ sẽ đi đến đâu? Ước tính của tôi là các nhà đầu tư vào cổ phiếu Mỹ trả trên 100 tỷ đô-la một năm, giả sử là 130 tỷ đô-la, để xoay vòng trên các loại cổ phiếu hoặc để nhận được lời khuyên rằng liệu họ có nên đầu tư hay không! Có lẽ khoản 100 tỷ đô-la này có liên quan đến Fortune 500. Nói cách khác, các nhà đầu tư tiêu hao gần 1/3 trên tất cả lợi nhuận mà Fortune 500 đem lại cho họ, 334 tỷ đô-la vào năm 1998, bằng cách trao nó cho những “người trợ giúp” họ thay đổi loại cổ phiếu và đưa ra lời khuyên. Khi quá trình bàn giao kết thúc, các nhà đầu tư sở hữu công ty trong danh sách 500 đang gặt hái ít hơn 250 tỷ đô-la trên 10.000 tỷ đô-la tiền đầu tư. Theo quan điểm của tôi, các khoản lợi nhuận này là mỏng manh.
Có lẽ bạn đang tự đặt câu hỏi về ước tính của tôi là 100 tỷ đô-la đã đổ vào những “người giúp đỡ”. Họ tính phí như thế nào? Hãy để tôi đưa ra các cách tính. Bắt đầu với chi phí giao dịch, bao gồm hoa hồng, chi phí cho nhà tạo lập thị trường, và phí chênh lệch về các dịch vụ bảo lãnh: Sau khi trừ đi các khoản tính lặp, năm nay sẽ có ít nhất 350 tỷ cổ phiếu được giao dịch tại Mỹ, và tôi ước tính rằng chi phí giao dịch mỗi cổ phiếu cho mỗi bên mua và bên bán trung bình sẽ là 6 xu. Tổng số tiền lên đến 42 tỷ đô-la.
Tiếp đến là các chi phí bổ sung: Những chi phí khổng lồ đối với các nhà đầu tư nhỏ sở hữu tài khoản bọc; phí quản lý cho những nhà đầu tư lớn; và, một lượng rất lớn các chi phí cho những người nắm giữ các quỹ tương hỗ vốn trong nước. Các quỹ này hiện nay có tài sản khoảng 3.500 tỷ đô-la. Bạn có thể kết luận rằng chi phí hằng năm của quỹ đối với các nhà đầu tư, từ phí quản lý, phí doanh vụ, phí 12b-1, chi phí điều hành chung sẽ chiếm ít nhất 1%, hoặc 35 tỷ đô-la.
Không có thiệt hại nào trong số những cái mà tôi đã mô tả cho đến thời điểm này bao gồm tiền hoa hồng và phí chênh lệch trên các quyền chọn và hợp đồng tương lai, hoặc các chi phí mà chủ sở hữu các dòng niên kim thả nổi1, hoặc vô số các khoản phí khác mà những “người giúp đỡ” đã nghĩ ra. Trong ngắn hạn, 100 tỷ đô-la chi phí ma sát cho các chủ sở hữu của danh sách Fortune 500 – tương đương 1% giá trị thị trường của các công ty trong danh sách 500, theo tôi là một con số ước lượng không chỉ hợp lý, mà còn có thể thấp hơn thực tế.
1. Dòng niên kim thả nổi (Variable annuity): Dòng niên kim là một chuỗi các khoản thanh toán cố định, được trả đều đặn qua các kỳ. Ví dụ thường gặp nhất về dòng niên kim là các hợp đồng bảo hiểm. Từ một thời điểm nhất định hay theo định kỳ, người mua bảo hiểm nhận được một khoản tiền chi trả từ doanh nghiệp bảo hiểm (niên kim). Vào cuối giai đoạn tích lũy, các công ty bảo hiểm đảm bảo một khoản thanh toán tối thiểu, và phần còn lại có thể thay đổi phụ thuộc vào lợi nhuận của danh mục đầu tư được tài trợ bởi những khoản tiền đóng hằng năm của bạn.
Nó cũng là một chi phí khủng khiếp. Tôi đã từng nghe về một bộ phim hoạt hình trong đó một nhà bình luận tin nói rằng, “Hôm nay không có giao dịch trên Sàn Chứng khoán New York. Mọi người đều hài lòng với những gì họ sở hữu.” Vâng, nếu thực tế xảy ra như vậy thì các nhà đầu tư sẽ tiết kiệm được khoảng 130 tỷ đô-la mỗi năm.
Hãy để tôi tóm tắt những gì tôi đã nói về thị trường chứng khoán: Tôi nghĩ rằng rất khó khăn để đưa ra một trường hợp thuyết phục rằng trong suốt 17 năm tiếp theo chứng khoán sẽ đạt thành tích giống như nó đã đạt được ở giai đoạn 17 năm trong quá khứ. Nếu tôi phải chọn một lợi nhuận có khả năng nhất, từ sự tăng giá cổ phiếu và cổ tức kết hợp, các nhà đầu tư trong tổng thể – tôi nhắc lại, tổng thể – sẽ kiếm được 6 % với lãi suất cố định, lạm phát 2%, và những chi phí ma sát không mấy dễ chịu. Nếu bạn loại bỏ các thành phần lạm phát từ lợi nhuận danh nghĩa này (việc mà bạn cần phải làm bất chấp lạm phát dao động thế nào), con số này là 4% trong điều kiện thực. Và nếu con số 4% là sai, tôi tin rằng tỷ lệ này có khả năng ít hơn hoặc nhiều hơn.
Hãy để tôi quay lại với những gì tôi đã nói trước đó: có 3 điều có thể cho phép các nhà đầu tư đạt lợi nhuận đáng kể trên thị trường trong tương lai. Điều đầu tiên chính là lãi suất có thể sẽ giảm, và điều thứ hai chính là lợi nhuận của công ty như 1% của GDP có thể tăng đáng kể. Bây giờ tôi sẽ bàn đến điều thứ ba: Có lẽ bạn là một người lạc quan khi tin rằng mặc dù tập thể các nhà đầu tư có thể ì ạch tiến lên, thì chính bạn sẽ là người chiến thắng. Ý nghĩ này có thể đặc biệt hấp dẫn trong những ngày đầu của cuộc cách mạng thông tin (mà tôi đặt hết niềm tin lên nó). Chỉ cần chọn những công ty sẽ thắng một cách rõ ràng, nhà môi giới sẽ cho bạn biết, và cưỡi trên con sóng của công ty đó.
Vâng, tôi nghĩ rằng sẽ bổ ích khi quay trở lại và xem xét một vài ngành nghề đã làm chuyển biến đất nước này vào giai đoạn sơ khai trong thế kỷ này: ngành ô tô và hàng không. Hãy bàn đến ngành ô tô đầu tiên: Tôi đang có trong tay một trong 70 trang viết về các nhà sản xuất xe hơi và xe tải đã hoạt động trong nước. Tại một thời điểm, đã từng có một chiếc xe Berkshire và một chiếc xe Omaha. Tôi nhận thấy điều này một cách tự nhiên. Nhưng cũng đồng thời có những số điện thoại của những nơi khác.
Như đã nói, có vẻ như đã có ít nhất 2.000 nhà sản xuất xe ô tô, trong một ngành công nghiệp đã tác động đáng kinh ngạc lên đời sống con người. Nếu bạn đã dự đoán được ngành công nghiệp ô tô sẽ phát triển ra sao ngay từ những ngày đầu, có lẽ bạn sẽ thốt lên: “Đây là con đường dẫn đến sự giàu có.” Vậy thì chúng tôi đã tiến đến đâu vào những năm 1990? Sau cuộc đào thải doanh nghiệp chưa đến hồi kết, chúng tôi đã còn lại 3 công ty sản xuất xe ô tô Mỹ – những công ty không hề ấn tượng đối với các nhà đầu tư. Nào, đây là một ngành công nghiệp đã tác động rất lớn lên nước Mỹ và cũng có tác động rất lớn lên các nhà đầu tư, mặc dù không được dự đoán trước.
Đôi khi, một cách tình cờ, trong những sự kiện mang tính cách mạng này, rất dễ để tìm ra kẻ thua cuộc. Có lẽ bạn đã nắm được tầm quan trọng của ô tô khi nó xuất hiện nhưng vẫn cảm thấy khó khăn để chọn ra các công ty sẽ giúp bạn kiếm tiền. Nhưng có một quyết định rõ ràng lẽ ra bạn đã có thể thực hiện, đó là bán khống những con ngựa (thỉnh thoảng sẽ tốt hơn khi đảo ngược mọi thứ). Thành thật mà nói, tôi thất vọng rằng gia đình Buffett đã không bán khống ngựa trong suốt thời gian này. Và chúng tôi thực sự không có lý do gì để biện hộ: sống ở Nebraska, lẽ chúng tôi phải thấy thật dễ dàng để mượn ngựa và tránh hình thức bán khống.
SỐ NGỰA Ở NƯỚC MỸ
Năm 1900: 21 triệu con
Năm 1998: 5 triệu con
Bên cạnh ô tô, một phát minh kinh doanh thực sự mang tính cách mạng trong quý đầu tiên của thế kỷ này chính là máy bay – ngành công nghiệp khác với tương lai rực rỡ lẽ ra sẽ làm các nhà đầu tư thèm muốn. Vì vậy, tôi đã trở lại để xem xét các nhà máy sản xuất máy bay và thấy rằng trong giai đoạn 1919-1939, đã có khoảng 300 công ty, chỉ một số ít trong đó vẫn còn hoạt động ngày nay. Trong số những chiếc máy bay được sản xuất có Nebraska và Omaha, hai chiếc máy bay mà ngay cả những người dân Nebraskan trung thành nhất cũng không còn tin tưởng.
Chuyển sang các thất bại của các hãng hàng không. Dưới đây [theo lời Buffett nói trong bài phát biểu của ông, tay vẫy một mảnh giấy] là một danh sách 129 hãng hàng không đã tuyên bố phá sản trong 20 năm qua. Continental đủ thông minh để thực hiện danh sách đó hai lần. Trên thực tế, tính đến năm 1992, mặc dù bối cảnh có thể cải thiện kể từ đó, lợi nhuận kiếm được kể từ thời sơ khai của ngành hàng không của tất cả các hãng hàng không nước này là con số 0. Hoàn toàn là số 0.
Xem xét tất cả điều này, tôi muốn nghĩ rằng nếu tôi ở Kitty Hawk vào năm 1903 khi chuyến bay của Orville Wright cất cánh, lẽ ra tôi đã có thể nhìn xa trông rộng, và có đủ tinh thần cộng đồng để ngăn cản ông – về việc này thì tôi mang ơn các nhà tư bản tương lai. Ý tôi là, Karl Marx không thể gây thiệt hại nặng nề cho các nhà tư bản như Orville đã làm.
Tôi sẽ không dừng lại ở các doanh nghiệp quyến rũ khác đã làm thay đổi đáng kể cuộc sống của chúng ta, nhưng đồng thời không mang lại hiệu quả cho các nhà đầu tư Mỹ: công ty sản xuất radio và tivi là ví dụ. Nhưng tôi sẽ rút ra một bài học từ các hình thức kinh doanh này: Chìa khóa để đầu tư không phải là đánh giá ngành công nghiệp sẽ ảnh hưởng đến xã hội nhiều như thế nào, hoặc nó sẽ phát triển ra sao, mà xác định lợi thế cạnh tranh của bản thân một công ty, và trên tất cả là tính bền vững của lợi thế đó. Các sản phẩm hoặc dịch vụ ưu việt tạo khoảng cách lớn và bền vững với các đối thủ cạnh tranh là những hình thức kinh doanh mang lại hiệu quả cho nhà đầu tư.
Câu chuyện về những giai đoạn 17 năm này làm tôi nghĩ đến vòng đời 17 năm của châu chấu, mặc dù tôi thừa nhận điều này không liên quan. Lứa cổ phiếu dự kiến sẽ cất cánh vào năm 2016 hy vọng sẽ gặp phải những gì? Tôi nhìn thấy chúng bước vào một thế giới nơi công chúng ít phấn chấn với cổ phiếu hơn bây giờ. Đương nhiên, các nhà đầu tư sẽ có cảm giác thất vọng, nhưng chỉ vì khi bắt đầu họ đã mong đợi quá nhiều.
Dù có tức giận hay không thì sau đó họ cũng sẽ giàu lên đáng kể, vì doanh nghiệp kinh doanh Mỹ mà họ sở hữu cứ từ từ mà tiến lên, với lợi nhuận tăng trưởng 3% hằng năm trong điều kiện thực tế. Đặc biệt hơn, những phần thưởng từ sự giàu có sản sinh này sẽ được chuyển đến những người Mỹ nói chung, những người sẽ tận hưởng tiêu chuẩn sống cao hơn so với mức hiện tại. Đó không phải là một viễn cảnh xấu chút nào, ngay cả khi nó không thể bằng với những gì các nhà đầu tư đã quen sở hữu trong 17 năm vừa qua.
Warren Buffett: Người truyền giáo
Ngày 19 tháng 5 năm 2000
Amy Kover
Chủ tịch Warren Buffett của Berkshire Hathaway gọi cuộc họp cổ đông thường niên của công ty mình là “Đại nhạc hội Woodstock cuối tuần cho các nhà tư bản”, nhưng nhà đầu tư Michael Cleveland đưa ra một ý kiến tương tự hay hơn: “Đó là một sự hồi sinh mang tính tôn giáo, và Buffett là người truyền giáo của chúng tôi!” Trong nhiều năm các cổ đông đã đổ xô đến Omaha mỗi mùa xuân để nghe Buffett rao giảng ưu điểm của việc đầu tư và kiên trì bám trụ các doanh nghiệp vững bền, có tiếng tốt. Khi số lợi nhuận đáng kinh ngạc tăng dần lên, những người cải theo “đạo Buffett” cũng tăng.
Nhưng năm ngoái, dường như Buffett đã mất đi khả năng thần thánh của mình. Năm nay, giá trị sổ sách trên mỗi cổ phiếu của Berkshire thể hiện dưới mong đợi trên bảng chỉ số S&P 500, chỉ 20,5 điểm – lần đầu tiên trong 20 năm qua nó có hiệu suất kém chỉ số này. Vấn đề là: hầu hết các cổ phiếu may mắn của Buffett, bao gồm cả Coca-Cola và Gillette, đều giảm. Trong khi đó, cổ phiếu Net non trẻ tăng vọt, khiến nhiều người lập tức thành triệu phú. Buffett vẫn từ chối tham gia (ông không thấy thoải mái để đặt cược vào các công ty và các ngành công nghiệp có rủi ro lớn). Berkshire Hathaway giảm 50%, xuống mức thấp 52 tuần là 40.800 đô-la một cổ phiếu vào đầu tháng 3. Đủ để làm lung lay đức tin của ngay cả những người mộ đạo nhất.
Giống như bất kỳ người truyền giáo giỏi nào, Buffett đã sở hữu một sức mạnh cao hơn bên cạnh ông: Phố Wall. Thật kỳ diệu, cổ phiếu của ông phục hồi ở mức 47%, lên khoảng 60.000 đô-la, vừa kịp lúc các cuộc họp vào cuối tháng 4 diễn ra. Hơn nữa, cổ phiếu công nghệ chao đảo. “Dù sao đi nữa chúng tôi vẫn bám trụ với cổ phiếu này về lâu dài,” Brian Goebel ở Huntington Beach, California ghi rõ. “Chúng tôi không phải những người giao dịch theo ngày.”
Chắc chắn là không. Không giống như các nhóm công nghệ nhà giàu mới nổi, những người ủng hộ Buffett không hề bóng bẩy. Thay vì diện đầm Prada thướt tha và mang giày cao gót Manolo Blahnik, đồng phục cuối tuần của họ là áo thun Berkshire màu xanh lá (nhấn nhá bằng một biểu tưởng bàn tay nắm đầy tiền) và mũ bóng chày đồng bộ. Một số ít những người xếp hàng để nhận bánh Đan Mạch và cà phê miễn phí trông như thể họ có khả năng sở hữu cổ phiếu loại A giá 60.000 đô-la một cổ phiếu. Đám đông này đặc biệt hưng phấn hơn khi Buffett công bố rằng hãng Kẹo See’s, một công ty Berkshire sở hữu hoàn toàn, đang hợp tác với Mattel để sản xuất búp bê Barbie mặc đồng phục cổ điển của nhân viên nữ bán hàng vào năm 1950 của See’s. Mọi người hò hét đòi nhận các phiếu đặt hàng.
Tất nhiên, cuộc họp cuối tuần không phải chỉ về búp bê Barbie. Trọng tâm của hội nghị là cuộc họp 7 tiếng đồng hồ vào ngày thứ Bảy trong nhà hát kiểu hang động Omaha Civic Auditorium. Buffett bắt đầu sự kiện với một bộ phim hài hước kéo dài một giờ trong đó ông gảy đàn ukulele và chơi bài “Who wants to be a jillionaire?” (tạm dịch: “Ai muốn trở thành một đại gia?”) với Regis Philbin. (Câu hỏi mẫu: Đâu là hình thức đầu tư bất bại trong thiên niên kỷ mới này? Buffett quyết định gọi một cuộc cứu sinh cho Bill Gates, sau khi cho biết, “Phương pháp đầu tư giá trị đang không mang tính thời thượng trong thời gian gần đây.”) Sau đó mọi người bắt đầu tập trung vào chủ đề kinh doanh. Trong gần 5 tiếng đồng hồ, cổ đông đã đặt ra các câu hỏi cho Buffett và Phó Chủ tịch, Charlie Munger. Một số từ bỏ thái độ tôn thờ của họ, gây sức ép với Buffett về kết quả không ấn tượng của công ty năm ngoái. Một cổ đông 15 tuổi nói: “Tôi đã mua cổ phiếu hạng B cách đây hai năm để học đại học. Khi chúng xuống giá dưới 1.500 đô- la, tôi phải tìm các khóa học thấp hơn tương ứng với nó.” Buffett cười, như thể muốn nói, “Cậu hiểu ý tôi rồi đấy!”
Trong suốt cuối tuần, Omaha đã trở thành một sàn thương mại giới thiệu các doanh nghiệp kinh doanh đa dạng của Berkshire: International Dairy Queen, kẹo See’s, giày Dexter, và cuốn bách khoa toàn thư World Book. Cổ đông mang vác các con dao giảm giá, nệm, và kim cương với khao khát trả thù. Vào tối thứ Bảy, Buffett thu hút các tín hữu đến một giải đấu bóng chày nhỏ (mặc dù nhiều người đã bỏ lỡ một nửa trận đấu để xếp hàng chờ xin chữ ký của Buffett). Và những người khác tham gia vào trò tiêu khiển yêu thích của họ: trao đổi những câu chuyện về Buffett. “Cô đã lái xe ngang nhà của ông ấy chưa?” một người phụ nữ hỏi. “Nó rất khiêm tốn!” Một phụ nữ khác nói rằng bà học trung học cùng Chủ tịch. Bà có một tấm ảnh chụp cùng ông ấy tại buổi họp mặt gần nhất. “Tôi đã tự hào khoe với nhiều người vào hôm sau”, bà tươi cười.
Một số có lý do cấp bách hơn để đến với cuộc gặp gỡ năm nay. Bong Jung, người đã sở hữu cổ phiếu Berkshire trong một thập kỷ, cần phải tiếp cận lại với các giá trị Buffett của mình. “Thật khó để không bị cám dỗ bởi cổ phiếu Internet,” Jung giải thích. “Khi bạn chơi golf, bạn trò chuyện về đầu tư. Bạn bè nói với tôi rằng ông ấy kiếm được 80% vào công nghệ, trong khi cổ phiếu của tôi sụt giảm 30%! Thật khó để không ghen tị. Vì vậy, tôi đến đây để làm mới lại niềm tin của mình.” “Chính xác,” vợ ông phụ họa thêm. “Làm mới.” Một lần nữa, nhà hiền triết Buffett sở hữu một điều gì đó làm cho các tín đồ của ông tin tưởng.
Warren Buffett đầu tư vào đệ nhất phu nhân
Ngày 20 tháng 10 năm 2000
Jeffrey Birnbaum
Warren Buffett, người ủng hộ Đảng Dân chủ trong phần lớn cuộc đời của ông từ khi trưởng thành, đã ủng hộ nhiều ứng cử viên của đảng này trong nhiều năm. Nhưng ông đã gây chú ý đặc biệt – như bài báo sau đây đã ghi lại – khi ông ủng hộ cho sự thành công cuộc tranh cử của bà Hillary Clinton cho chức Thượng nghị sĩ New York vào năm 2000. Câu chuyện sau đó thêm nặng ký trong năm 2008, khi Thượng nghị sĩ Clinton theo đuổi việc thành ứng cử viên của Đảng Dân chủ tranh cử tổng thống. Điều đó đã gây ra cho Buffett một rắc rối nhất định, vì ông cũng đã phát triển một mối quan hệ thân mật với một ứng cử viên khác, Barack Obama.
Qua một người bạn, Buffett đã gặp Obama trước đó khi người đàn bà từ bang Chicago chuẩn bị tranh cử Thượng nghị sĩ bang Illinois. Sau đó Obama đã đến Omaha ăn trưa và trò chuyện với Buffett. Buffett thích người đàn ông trẻ tuổi này và quan điểm của ông ấy, sau đó hai người trở thành bạn.
Phải làm thế nào trong năm 2008, khi bà Clinton và ông Obama cùng tìm kiếm sự đề cử của Đảng Dân chủ? Buffett giải quyết câu hỏi đó bằng cách ví đùa mình như một “người đàn ông có hai vợ làm chính trị”. Và ông nói với các ứng cử viên rằng ông sẽ ủng hộ cả hai người, thực sự ông đã làm vậy.
Và chúng ta biết là ai đã thắng. – CL
Warren Buffett ban đầu là một người ủng hộ Đảng Cộng hòa. Ông thừa hưởng sự yêu thích này từ cha mình, một Nghị sĩ 4 nhiệm kỳ của Đảng Cộng hòa đến từ NeBraska. Buffett rất nhiệt tình khi là Chủ tịch Câu lạc bộ Người trẻ Ủng hộ đảng Cộng hòa tại Đại học Pennsylvania, và vào năm 1948 ông đã lên kế hoạch cưỡi voi xuống đường phố Philadelphia chào mừng cuộc tranh cử của Thomas Dewey – cho đến khi Harry Truman đánh bại Dewey.
Thời gian quả thật đã thay đổi điều đó! Buffett ngày nay kiên quyết ủng hộ Đảng Dân chủ. Ông thậm chí đã quyên tiền để đóng góp cho bà Hillary Clinton chứ không phải ai khác. Đúng vậy, Nhà hiền triết ở Omaha ủng hộ tiền vào cuộc tranh cử của bà Clinton để trở thành một Thượng nghị sĩ từ New York. Buffett đã đến Đại học Columbia để xuất hiện thay mặt cho Đệ nhất Phu nhân cùng với cựu Bộ trưởng Tài chính Robert Rubin. Ông cũng đồng tổ chức gây quỹ cho bà tại phòng trà Russian ở Manhattan và tại ngôi nhà ở Omaha của Vin Gupta, Giám đốc Điều hành Info USA.
Liệu ông ấy có bị mất trí? Không hề. “Tôi ủng hộ các chính trị gia, không phân biệt đảng phái, nếu tôi thấy ý tưởng của họ về các vấn đề quan trọng gần như tương tự với ý của tôi,” Buffett, một người đăng ký ủng hộ Đảng Dân chủ nói. Trong trường hợp này ông ấy thích tư tưởng tự do lựa chọn của bà Clinton về việc phá thai và sự ủng hộ của bà ấy cho chiến dịch cải cách tài chính, một dự án yêu thích của ông (không giống như một số nhà tài trợ của bà Clinton, Buffett đã không ngủ qua đêm tại Nhà Trắng hay Trại David – ngay cả trên một chiếc ghế dài, ông nhấn mạnh). “Tôi ủng hộ ý tưởng của bà ấy – đơn giản là vậy,” Buffett nói. “Đó cũng là lý do tôi đã bỏ phiếu cho chồng bà ấy.” Ông cũng đặc biệt yêu thích New York. Công ty của ông, Berkshire Hathaway, sở hữu hãng tin Buffalo và ông nói rằng những gì xảy ra trong tiểu bang này có ảnh hưởng vượt ngoài biên giới của nó.
Điều ngạc nhiên là Buffett ủng hộ tiền cho tất cả các chính trị gia. Ông đã công khai đẩy nhanh tiến độ trong những năm gần đây để cải cách chiến dịch tài chính. Ông tập trung sự phẫn nộ của mình vào hình thức lạm dụng trắng trợn nhất của hệ thống, cái gọi là tiền mềm – những đóng góp không giới hạn cho các đảng chính trị. Để tránh bị gắn nhãn là một kẻ đạo đức giả, Buffett chỉ quyên góp tiền “cứng” cho các ứng viên liên bang, được giới hạn đến 1.000 đô-la cho mỗi ứng cử viên vào mỗi cuộc bầu cử. Nói cách khác, ông đã ủng hộ Clinton 2.000 đô-la (1.000 đô-la cho bầu cử sơ bộ và 1.000 đô-la cho cuộc tổng tuyển cử). Buffett cũng không yêu cầu người khác đóng góp cho các ứng viên ông lựa chọn. Ông nói ông muốn mọi người quyên góp vì họ tin vào những con người có tham vọng này, chứ không phải chỉ vì ông yêu cầu.
Tuy nhiên, cái tên Warren Buffett xuất hiện trên thiệp mời gây quỹ chắc chắn sẽ thu hút đám đông. Và ông rất cẩn thận chọn những ứng cử viên để ủng hộ. Họ chủ yếu thuộc Đảng Dân chủ, bao gồm cả người bạn của ông Thượng nghị sĩ Bob Kerrey bang Nebraska, và cho chức Tổng thống, cựu Thượng nghị sĩ bang New Jersey Bill Bradley. Ông cũng ủng hộ những người chiến thắng của chiến dịch cải cách tài chính như Thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ Russ Feingold Wisconsin và đại diện bang Connecticut Chris Shays, một thành viên Đảng Cộng hòa. Trong những năm qua, ông ủng hộ các nhà lập pháp như Thượng nghị sĩ Nancy Kassebaum của bang Kansas Đảng Cộng hòa và Thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ Daniel Patrick Moynihan, vị trí mà Clinton đang chiến đấu để giành lấy. “Tôi nghĩ rằng bà ấy khá năng nổ và lưu loát”, Buffett nói về Clinton. “Nếu bà ấy được bầu, bà ấy sẽ làm tốt hơn là một ứng viên thông thường.” Điều này có phải nghĩa là Đệ nhất Phu nhân là một tài sản bị định giá thấp?