Vụ đánh cược 10 năm về hiệu suất đầu tư này kéo dài đến năm 2017, và vào cuối năm 2012, thời điểm giữa 10 năm và là cột mốc cuối cùng trước khi cuốn sách này xuất bản, một thông tin hai chiều xuất hiện.
Chiều 1: Lần đầu tiên kể từ khi bắt đầu đặt cược 5 năm trước, Buffett đã tiến lên phía trước. Điều đó có nghĩa là con ngựa của ông, quỹ đầu tư có chi phí thấp Vanguard S&P 500, đã vượt qua 5 quỹ của các quỹ phòng hộ được lựa chọn cẩn thận bởi công ty quản lý tài sản New York, Protégé Partners, đối thủ của Buffett. (Theo các điều khoản đặt cược, tên của những quỹ này chưa bao giờ được tiết lộ.) Lợi nhuận trung bình cho các nhà đầu tư trong 5 quỹ của quỹ này, sau tất cả các chi phí, chính là những gì được tính trong vụ đặt cược.
Chiều 2: Lần đầu tiên, các bên đã vượt qua thử thách (mặc dù suýt chút nữa các quỹ phòng hộ đã thất bại) để đặt chân lên một vùng đất tích cực.
Vì vậy, đúng là, lịch sử đã ghi nhận những kết quả khủng khiếp, phần lớn được tạo ra từ một vụ cá cược bắt đầu trong năm 2008 đầy khó khăn. Sau đó cả hai bên tham gia đã thua rất nhiều tiền, trong đó Buffett bị ảnh hưởng nặng nhất. Đối thủ của quỹ chỉ số của ông, cổ phiếu Admiral của Vanguard, đã giảm 37% trong năm 2008 so với mức giảm trung bình 24% của 5 quỹ của các quỹ thuộc Protégé.
Khi báo cáo sau đó về vụ cá cược, Fortune đã trích dẫn lời Buffett rằng ông chỉ hy vọng có thể giống như con rùa huyền thoại cuối cùng sẽ vượt qua con thỏ. Và đó là cách mọi việc đang từ từ diễn ra: Con rùa, hay còn gọi là cổ phiếu Admiral, đã tăng lên 8,69% qua nửa chặng đường. Các quỹ thuộc Protégé tăng trung bình chỉ 0,13%, đối tác của Protégé Ted Seides nói.
Tuy nhiên, Seides đề cập về một bước ngoặt: “Ngày vẫn chưa kết thúc,” trích dẫn một câu nói nổi tiếng từ bộ phim Dân bịp Thành thị1.
Vào giai đoạn hai của vụ đặt cược, những người tham gia đồng ý thay đổi số tiền cược. Trong vụ cược này, tiền cược luôn là 1 triệu đô-la. Tức là mỗi bên đặt tiền đủ để mua một trái phiếu không có phiếu trả lãi có thời gian 10 năm, khi đến hạn sẽ có giá trị 500.000 đô-la, tổng cộng là 1 triệu đô-la dành cho quỹ từ thiện được bên thắng cuộc chọn. Nhưng, khi lãi suất sụt giảm, các trái phiếu đã hoạt động rất tốt, và rất nhanh đến mức chúng gần đạt đến giá trị cuối cùng vào cuối năm 2012.
Vì trái phiếu chỉ còn một ít triển vọng tăng giá trị, Seides và Buffett đồng ý rằng nên bán chúng đi và dùng số tiền thu được mua cổ phiếu Berkshire Hathaway. Điều đó cho phép tổ chức từ thiện thắng cuộc sẽ có triển vọng nhận được hơn 1 triệu đô-la. Quả thật, vào giữa năm 2013, giá mua vào cổ phiếu Berkshire sau khi bán trái phiếu là 1,255 triệu đô-la.
Để bảo vệ rủi ro cổ phiếu Berkshire giảm giá vào thời điểm vụ cược kết thúc, việc mà ông tin rằng sẽ không xảy ra, tự Buffett đã đảm bảo rằng ít nhất 1 triệu đô-la sẽ được chuyển cho quỹ từ thiện của người chiến thắng.
Vai trò của Buffett trong vụ đánh cược này có một điểm liên quan khác, gắn với lập luận của ông rằng những chi phí cao từ các quỹ phòng hộ và quỹ của quỹ lên các nhà đầu tư sẽ làm họ phải chịu thua một quỹ chỉ số khác. Nghịch lý ở đây dĩ nhiên là, trong những ngày đầu, Buffett từng tham gia vào thế giới quỹ phòng hộ với vai trò đối tác quản lý của công ty hợp danh Buffett ở Omaha.
Nhưng ông ấy đã không chấp nhận những sự sắp đặt phúc lợi điển hình “2 và 20” của thế giới, có nghĩa là phí quản lý hằng năm là 2% trên tài sản và 20% lợi nhuận. Thay vào đó, Buffett không tính phí quản lý và quy định rằng 6% lợi nhuận đầu tiên thu được trên vốn mỗi năm sẽ hoàn toàn dành cho các đối tác hữu hạn của ông. Sau đó, ông nhận được 25% lợi nhuận.
Và, như đã đề cập trước đây, quỹ phòng hộ của ông đã thu được lợi nhuận trong 13 năm liền trước khi ông quyết định đóng cửa nó. Lợi nhuận hằng năm trung bình mà ông chuyển giao cho các đối tác hữu hạn của mình, sau khi họ đã thanh toán cho Buffett 25% lợi nhuận, là 23,8%. –CL
1. Dân bịp Thành thị (City Slickers): Một bộ phim hài Mỹ nổi tiếng năm 1991.
Liệu một bộ sưu tập các quỹ phòng hộ, được các chuyên gia lựa chọn cẩn thận, sẽ mang lại nhiều lợi nhuận hơn cho các nhà đầu tư trong 10 năm tới so với quỹ S&P 500? Câu hỏi này hiện là chủ đề của một vụ cá cược giữa Warren Buffett, Giám đốc Điều hành của Berkshire Hathaway, và Protégé Partners LLC, một công ty quản lý tiền ở New York, điều hành quỹ của các quỹ phòng hộ. Nói cách khác, công ty này tồn tại nhờ có khả năng đầu tư tiền của khách hàng vào các quỹ phòng hộ tốt nhất và tránh xa các quỹ kém hơn. Bạn có thể đoán bên nào đang ở phía nào. Protégé đã đặt cược vào 5 quỹ của các quỹ phòng hộ, cụ thể là đặt cược lên các khoản lợi nhuận trung bình sau khi trừ đi các chi phí mà các công cụ này tạo ra. Buffett, người từ lâu đã lập luận rằng những “người trợ giúp” ở vai trò chỉ huy quỹ phòng hộ và quỹ của quỹ rất áp đặt và để tránh họ, ông đã đặt cược rằng lợi nhuận từ một quỹ chỉ số S&P 500 có chi phí thấp được bán bởi Vanguard sẽ vượt mặt kết quả của 5 quỹ do Protégé lựa chọn.
Ở đây chúng ta đang cách rất xa lý thuyết. Vụ đặt cược, được báo cáo lần đầu tiên trong bài báo này (mà tác giả vừa là người bạn lâu năm của Buffett và biên tập viên các lá thư chủ tịch ông viết trong báo cáo thường niên của Berkshire), đã ra mắt từ ngày 1 tháng 1 năm nay. Vụ cá cược là giữa Buffett (chứ không phải Berkshire) và Protégé (công ty, chứ không phải các quỹ của nó). Số tiền đặt cược rất lớn. Mỗi bên đưa ra khoảng 320.000 đô-la. Tổng số tiền khoảng 640.000 đô-la đã được sử dụng để mua trái phiếu Kho bạc không phiếu trả lãi trị giá 1 triệu đô-la tại thời điểm kết thúc vụ cược. Số tiền 1 triệu đô-la này khi đó sẽ ủng hộ cho từ thiện. Nếu Protégé thắng, nó yêu cầu số tiền được trao cho Absolute Return for Kids (ARK), một tổ chức từ thiện quốc tế có trụ sở tại London. Nếu Buffett thắng, quỹ nhận dự định là Girls Inc. ở Omaha, có con gái ông Susan Buffett nằm trong hội đồng quản trị của quỹ.
Vậy ai đang giữ số tiền này, bằng hình thức trái phiếu không phiếu trả lãi? Đó là một tổ chức huyền bí nhất mà độc giả của bài báo này sẽ không bao giờ nghe đến, Tổ chức Long Now của San Francisco, vốn tồn tại để khuyến khích tư duy dài hạn và chống lại cái mà một trong những người sáng lập ra nó, Stewart Brand (của Whole Earth Catalog) gọi là “bệnh lý chú ý ngắn hạn” dường như đang làm thế giới khổ sở. 6 năm trước, quỹ đã thiết lập cơ chế Long Bets. Quỹ nhận được các đóng góp dưới dạng cá cược, giám sát các vụ cược cho đến khi có kết quả, và sau đó chuyển tiền cho tổ chức từ thiện được bên chiến thắng chỉ định. Đối với công việc này, thông thường quỹ sẽ nhận được một khoản phí 50 đô-la từ mỗi bên và sau đó chia 50-50 lợi nhuận thu được trên các quỹ tham gia cho tổ chức từ thiện chiến thắng. Tuy nhiên, trong vụ cược Buffett-Protégé, sẽ không có việc chia sẻ lợi nhuận như vậy; Mỗi bên sẽ chỉ gửi một món quà từ thiện trị giá 20.000 đô-la cho Quỹ Long Now.
Hãy truy cập wwwlongbetsorg để xem danh sách Long Bets của ngày hôm nay (sau khi bài báo này xuất bản, vụ cược giữa Buffett và Protégé sẽ được thêm vào danh sách). Một số vụ đặt cược được liệt kê trong danh sách nghe như thể chúng ra đời tại các quán rượu thể thao: Diễn viên Ted Danson đã thu được 2.000 đô-la cho từ thiện khi đội bóng chày Red Sox thắng giải World Series trước khi đội tuyển bóng đá nam của Mỹ giành chức vô địch World Cup. Trên phương diện rộng hơn, nhà sáng lập Lotus Mitchell Kapor và nhà phát minh, người theo thuyết tương lai Ray Kurzweil đặt cược 20.000 đô-la rằng, “vào năm 2029 không có máy tính hoặc cỗ máy thông minh nào sẽ vượt qua Phép thử Turing1, nghĩa là máy tính sẽ không thể mạo danh con người thành công.” Kapor đã đưa ra dự đoán này; còn Kurzweil không đồng ý với nó. Mỗi người, theo các quy tắc của Long Bets, ủng hộ quan điểm của mình bằng một tuyên bố ngắn gọn được đăng trên trang web. Các ý kiến của Buffett và Protégé cũng sẽ xuất hiện ở đó (và xuất hiện trong các phần thông tin phụ bên dưới).
1. Phép thử Turing: Một bài kiểm tra khả năng trí tuệ của máy tính. Phép thử như sau: một người chơi thực hiện một cuộc thảo luận bằng ngôn ngữ tự nhiên với một con người và một máy tính, cả hai đều cố gắng chứng tỏ mình là con người. 3 bên tham gia phép thử được cách ly với nhau. Nếu người chơi không thể nhận ra máy tính không phải là con người, máy tính đó vượt qua phép thử.
Suốt năm 2007, vụ đặt cược Kapor-Kurzweil trị giá 20.000 đô- la là vụ lớn nhất trên Long Bets. Còn vụ cược Buffett-Protégé có số tiền cược rõ ràng là cao ngất ngưởng. Về vụ cược này, trong lịch sử có một sự kiện đã bắt đầu tại cuộc họp thường niên tháng 5 năm 2006 của Berkshire. Khi giải thích về các chi phí giao dịch và quản lý mà nhà đầu tư phải chịu, Buffett đã đề nghị đánh cược với bất cứ ai số tiền 1 triệu đô-la rằng trong hơn 10 năm, hiệu suất của một quỹ chỉ số S&P sau khi trừ chi phí sẽ vượt mặt 10 quỹ phòng hộ mà bất kỳ người tham gia cược có thể lựa chọn. Một thời gian sau, ông lặp lại đề nghị, nói thêm rằng việc không ai muốn đặt cược cùng ông cho biết ông đã nghĩ đúng.
Nhưng vào tháng 7 năm 2007, Ted Seides, một lãnh đạo của Protégé, với cương vị cá nhân, đã viết thư cho Buffett để nói ông muốn đặt tiền vào vụ cược, hoặc ít nhất là vào một số phiên bản khác của nó. Hàng tháng trời đàm phán rải rác đã diễn ra. Cuối cùng hai bên đồng ý rằng Seides sẽ đặt cược vào 5 quỹ của các quỹ thay vì vào 10 quỹ phòng hộ. Khác xa các vụ cá cược thông thường của ông, Seides đã đề nghị rằng ông và Buffett sẽ đặt 100.000 đô-la vào vụ cược (con số mà ông chú thích là mức lương hằng năm của Buffett). Buffett, vốn không hề biết rằng Long Bets thậm chí đang tồn tại, cho biết rằng khi cân nhắc tuổi 77 của ông và những phức tạp mà một vụ cược 10 năm có thể đem lại cho khối tài sản đã được sắp đặt của mình, ông chỉ muốn đánh cược ít nhất 500.000 đô-la. Ngay cả khi đó, ông đã viết cho Seides rằng, “luật sư tài sản của tôi sẽ nghĩ rằng tôi mất trí nên mới đâm đầu vào những vụ phức tạp.”
Nếu 500.000 đô-la có vẻ quá sức với Seides, Buffett (người coi số tiền này là rất nhỏ) đồng ý để Seides tìm thêm đối tác giúp đỡ. Mọi việc đã xảy ra như vậy, theo cách đặt cược của Protégé Partners LLC hơn là cách của Seides. Protégé, quản lý khoảng 3,5 tỷ đô-la, chủ yếu là sở hữu của Seides, 37 tuổi, và hai người đàn ông khác là Giám đốc Điều hành Jeffrey Tarrant, 52 tuổi và Scott Bessent, 45 tuổi. Mỗi người đều có kinh nghiệm đầu tư vững chắc, và hai trong số 3 người này đã làm việc với những chuyên gia nổi tiếng trên thị trường: Seides học về thế giới đầu tư thay thế từ giáo sư David Swensen của đại học Yale; Bessent đã từng làm việc với cả George Soros và chuyên gia bán khống Jim Chanos.
Thời điểm Tarrant và Seides sáng lập vào năm 2002, Protégé đã mở một quỹ của quỹ và bắt đầu tuyển dụng những nhà đầu tư sành sỏi, gồm các cá nhân giàu có lẫn các tổ chức đầu tư đặt tiền vào các quỹ này. Biết rõ rằng Ủy ban Chứng khoán và Sàn giao dịch Mỹ cấm các quỹ phòng hộ và các quỹ của quỹ tiếp thị rộng rãi, cả Seides và Tarrant sẽ không tiết lộ tên chính xác của các quỹ mà họ đang chạy, và thành tích hiệu suất của họ. Tuy nhiên, một ấn phẩm ở London, tờ InvestHedge, có người phụ trách đang điều hành dữ liệu của một quỹ phòng hộ, đã cung cấp cho Fortune số liệu lợi nhuận trong vài năm của quỹ đó, quỹ Protégé Partners LP ở Mỹ. Từ khi thành lập vào tháng 7 năm 2002 đến cuối năm 2007, quỹ Protégé đã đạt 95% lợi nhuận (sau khi trừ tất cả các khoản phí), vượt xa 64% lợi nhuận của quỹ chỉ số Vanguard S&P 500. Quỹ Protégé có hiệu suất được hỗ trợ lớn bởi việc vào giữa năm 2006, đối mặt nguy cơ chứng khoán thế chấp dưới chuẩn bao gồm các Nghĩa vụ Nợ Thế chấp sụt giảm khủng khiếp, công ty đã phân tán các khoản đầu tư vào các quỹ phòng hộ nhằm bảo vệ mình trước nguy cơ đó. Quan trọng nhất, quỹ đầu tư vào các quỹ phòng hộ của Paulson & Co., dưới quyền điều hành của John Paulson đã thực hiện một phi vụ béo bở trong năm 2007 bằng cách bán khống chứng khoán gắn với các khoản thế chấp dưới chuẩn.
Dĩ nhiên đó là quá khứ, giờ thì hãy trở lại với vụ cược: Buffett và Seides đồng ý rằng họ sẽ tiết lộ định kỳ tình hình vụ đặt cược. Seides muốn thông tin này được công bố bất cứ khi nào thị trường giảm 10%, bởi vì ông cho rằng một trong những đặc điểm của các quỹ phòng hộ là khả năng vượt qua các thời điểm khó khăn. Thật vậy, trong suốt thời gian thị trường giảm giá vào quý I năm nay, Protégé Partners LP chỉ giảm 1,9% trong khi quỹ Vanguard giảm 9,5%. Tuy nhiên, Buffett nhấn mạnh rằng thời gian hợp lý để tiết lộ thông tin là tại cuộc họp hằng năm của Berkshire mỗi mùa xuân và đó là thỏa thuận cuối cùng.
Nhưng việc Buffett sẽ nói nhiều hay ít về vụ cược này hằng năm có thể bị hạn chế bởi thực tế là: Tên của năm quỹ của quỹ do Protégé chọn được giữ bí mật. Tất nhiên, Buffett biết tên các quỹ đó, vì Protégé phải cung cấp cho ông kết quả kiểm toán của các quỹ này hằng năm. Nhưng ngoài việc đó, các quỹ của quỹ được chỉ định không thấy bất kỳ lợi ích nào (ít nhất là cho đến bây giờ) khi công khai rằng họ tham gia vụ cược và đồng ý tham gia chỉ khi thông tin được bảo mật. Thực ra, quỹ đầu tiên mà Protégé cố gắng để chiêu mộ đã không muốn tham gia thậm chí cả khi được giữ bí mật.
Seides và Tarrant có một số nhận định chung về 5 quỹ được chọn. Chúng có định hướng cổ phiếu (thiên vị cổ phiếu hơn là trái phiếu), có xu hướng đầu tư vào các quỹ phòng hộ để tránh chiến lược giao dịch xuất và nhập1, và chủ yếu do các nhà đầu tư dày dặn điều hành hơn là các lính mới. Chúng ta có thể cho rằng Protégé Partners LP là một trong 5 quỹ đó, vì việc loại trừ nó có thể khiến công ty gặp khó khăn khi giải thích cho các nhà đầu tư của nó tại sao công ty lại không muốn đặt cược vào sự thành công của những lựa chọn của các quỹ phòng hộ của nó.
1. Giao dịch xuất và nhập (in-and-out trading): Chiến lược giao dịch trong đó một cổ phiếu hay một loại tiền tệ đơn giản được mua vào và bán ra nhiều lần trong một thời gian ngắn.
Dĩ nhiên, các khoản phí mà các nhà đầu tư phải trả trong quỹ phòng hộ chính là mấu chốt của lập luận của Buffett, chúng đều phức tạp và tốn kém.
Một quỹ của các quỹ thường tính phí quản lý hằng năm là 1%. Các quỹ phòng hộ mà quỹ này đầu tư tiền vào sẽ tính phí quản lý hằng năm của riêng họ, con số thông thường đối với các quỹ của quỹ là 1,5%. (Các khoản phí được một nhà đầu tư trả hằng quý và được tính toán trên giá trị tài khoản của ông vào thời điểm đó). Vì vậy, 2,5% vốn của một nhà đầu tư sẽ liên tục dùng để chi trả các khoản phí này, bất kể lợi nhuận thu được trong một năm. Ngược lại, quỹ chỉ số S&P 500 của Vanguard có tỷ lệ chi tiêu năm ngoái là 15 điểm cơ bản (0,15%) đối với cổ phiếu phổ thông và chỉ có 7 điểm cơ bản đối với cổ phiếu Admiral, vốn có sẵn dành cho các nhà đầu tư lớn. Cổ phiếu Admiral là những cổ phiếu được “mua” bởi Buffett trong vụ cược.
Ngoài phí quản lý, các quỹ phòng hộ thường thu về 20% trong số lợi nhuận mà họ kiếm được. 80% còn lại là cho các nhà đầu tư. Quỹ của quỹ được chia 5% (hoặc hơn) của 80% vì đó là số lợi tức của nó trong lợi nhuận đó. Kết quả là, chỉ có 76% (nhiều nhất) lợi nhuận hằng năm được kiếm trên tiền của một nhà đầu tư về túi của anh ta, và phần còn lại sẽ dành cho những người “giúp đỡ” mà Buffett đã viết. Trong khi đó, nhà đầu tư đang phải trả phí quản lý không thay đổi của mình là 2,5% trên vốn. Kết luận là khá rõ ràng. Để Protégé giành chiến thắng trong vụ đặt cược, 5 quỹ của quỹ mà nó đã chọn cần phải có hiệu suất tốt hơn nhiều so với quỹ S&P.
Có lẽ họ sẽ thắng. Buffett tự đánh giá cơ hội chiến thắng của mình chỉ là 60%, ông cho là ít hơn vị thế mà ông thường muốn đạt được. Protégé tính toán khả năng chiến thắng của mình ở mức lạc quan 85%. Tất nhiên, vài người sẽ nói rằng chỉ bằng cách đặt cược như vậy, Protégé đã nhận được các hoạt động quảng cáo vô giá. Nhưng sau đó, Protégé rõ ràng muốn giành chiến thắng, và nó đối đầu với người ít khi thua cược trong suốt cuộc đời ông. Seides tự an ủi bằng một ý nghĩ mạnh mẽ: “May mắn thay cho chúng tôi, chúng tôi đang đánh cược vào hiệu quả kinh doanh của quỹ S&P chứ không phải của quỹ của Buffett.”
Dự đoán và các lập luận
Dự đoán: Trong khoảng thời gian 10 năm bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 2008 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 năm 2017, S&P 500 sẽ hoạt động tốt hơn trong danh mục các quỹ của các quỹ phòng hộ, nơi hiệu suất được tính sau khi trừ các khoản chi phí.
Warren Buffett: Đồng ý
Rất nhiều người thông thái làm tốt hơn mức trung bình trên các thị trường chứng khoán. Hãy gọi họ là những nhà đầu tư tích cực.
Trái ngược với họ, các nhà đầu tư thụ động sẽ đạt hiệu suất ở khoảng mức trung bình theo định nghĩa trên. Trong tổng thể, các vị thế của họ sẽ gần như tương đương với các vị thế của một quỹ chỉ số. Vì vậy, phần còn lại trong tổng thể – các nhà đầu tư tích cực – cũng chỉ đạt hiệu suất trung bình. Tuy nhiên, các nhà đầu tư này sẽ phải chịu chi phí lớn hơn nhiều. Do đó, sau khi tính toán, kết quả tổng hợp của họ khi trừ những chi phí này sẽ còn tệ hơn kết quả của các nhà đầu tư thụ động.
Chi phí sẽ tăng vọt khi các khoản phí lớn hằng năm, lệ phí hoạt động lớn và những chi phí giao dịch tích cực được tính thêm vào phương trình của nhà đầu tư tích cực. Quỹ của các quỹ phòng hộ nêu lên vấn đề chi phí vì các chi phí của họ được tính vào các khoản phí lớn từ các quỹ phòng hộ, những quỹ đã được đầu tư bởi các quỹ của quỹ.
Một số những người thông minh đang tham gia vào việc điều hành các quỹ phòng hộ. Nhưng đến một mức độ nào đó, các nỗ lực của họ sẽ không còn tác dụng, và chỉ số IQ của họ sẽ không vượt qua những chi phí họ đặt lên các nhà đầu tư. Theo thời gian, thông thường, các nhà đầu tư sẽ làm tốt với một quỹ chỉ số chi phí thấp hơn là một nhóm các quỹ của quỹ.
Protégé Partners LLC: Không đồng ý
Ngài Buffett đã đúng khi khẳng định rằng thông thường, các nhà đầu tư tích cực trong một tổng thể nhỏ được xác định như quỹ chỉ số S&P 500 chắc chắn sẽ đạt hiệu suất kém hơn các quỹ chỉ số thị trường. Nhưng việc áp dụng lập luận đó đối với các quỹ phòng hộ có chút khập khiễng.
Tuy có sự linh hoạt khi đầu tư cả ngắn hạn và dài hạn, các quỹ phòng hộ không được thiết lập để đánh bại thị trường. Thay vào đó, họ tìm cách tạo ra lợi nhuận tích cực theo thời gian bất kể bối cảnh của thị trường. Đối với các quỹ phòng hộ, thành công có thể hiểu là làm tốt hơn thị trường trong giai đoạn khó khăn, và hoạt động kém hơn thị trường ngay cả trong những thời điểm tốt nhất. Tuy nhiên, qua một chu kỳ, các nhà quản lý quỹ hàng đầu đã đạt lợi nhuận vượt mức lợi nhuận của thị trường sau khi trừ tất cả các khoản phí, trong khi cũng gánh ít rủi ro hơn. Chúng tôi tin rằng những kết quả như vậy sẽ tiếp tục.
Lợi nhuận của các quỹ phòng hộ tốt nhất có khoảng cách lớn so với lợi nhuận của những quỹ bình thường. Sự khác biệt này cho phép các nhà đầu tư quỹ sành sỏi, giữa các quỹ của quỹ, có cơ hội chọn các chiến lược và các nhà quản lý mà họ nghĩ sẽ làm tốt hơn mức trung bình. Các quỹ của quỹ có khả năng “đãi cát tìm vàng” sẽ kiếm được lợi nhuận đủ bù đắp cho mức phí bổ sung mà khách hàng của họ chi trả.