Warren Buffett - Nhà Đầu Tư Vĩ Đại Nhất Thế Giới Dưới Góc Nhìn Truyền Thông

Lượt đọc: 600 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Phi Vụ Vốn Táo Bạo Của Công Ty Capital Cities

❊ ❊ ❊

Ngày 15 tháng 4 năm 1985

Stratford Sherman

Buffett nói về Murphy: “Tôi nghĩ ông ấy là một nhà quản lý hàng đầu ở Mỹ.” Bản thân cũng là một nhà quản lý nhạy bén, Buffett đã đặt một phần quan trọng tương lai của ông trong tay Murphy. Buffett giúp hoàn tất thương vụ mua lại bằng cách đồng ý mua khoảng 18% của công ty sáp nhập là Capital CitiesABC Inc. với giá 518 triệu đô-la… Kỳ diệu hơn, Buffett đồng ý bỏ phiếu cho ban quản trị trong 11 năm với điều kiện là hoặc Murphy hoặc Chủ tịch Daniel sẽ đảm nhiệm chức vụ này và chấp nhận những hạn chế đáng kể về quyền mua và bán cổ phiếu của ông.

Đau đầu vì chi phí sáp nhập

Ngày 20 tháng 1 năm 1986

Peter Pertre

Đối mặt với các chi phí cao ngất ngưởng phải trả cho ngân hàng đầu tư, lãnh đạo của một số doanh nghiệp quyết định tự-lực-cánh-sinh… Những người thành công thường là các chuyên gia tài chính với khả năng tuyệt vời khi đánh giá một giao dịch… Một trong những người này đã chạm trán với 2 nhà đầu tư nổi tiếng nhất Phố Wall. Tháng 3 vừa qua, Warren Buffett đại diện cho Công ty Truyền thông Capital Cities tham gia với nỗ lực mua lại Công ty American Broadcasting. Ông bước vào vòng đàm phán với sự hỗ trợ của luật sư về sáp nhập Martin Lipton của hãng luật Wachtell Lipton Rosen & Katz. Ngồi cùng bàn chính là Bruce Wasserstein, đồng Giám đốc của Bộ phận Mua bán và Sáp nhập First Boston, và chuyên gia về tiếp quản Joseph Flom từ công ty luật Skadden Arps Slate Meagher & Flom.

Khi hai bên gần đạt được thỏa thuận, những nhà đàm phán chuyên nghiệp quyết kiên trì để thương lượng thêm. Wasserstein nhớ lại, “Buffett rất thông minh đến mức bạn phải cẩn thận để không bị bắt nạt.” Do được các nhà đàm phán cảnh báo, ông và Flom đã yêu cầu Cap Cities chi trả cho ABC bằng chứng khoán thay vì tiền mặt; nhưng Buffett, người vốn không dễ bị dắt mũi, cuối cùng đã hoàn tất đàm phán bằng cách đưa vào một số thay đổi nhỏ – những điều khoản bảo đảm giúp tăng giá trị của giao dịch lên khoảng 3%. Buffett đã từ chối bình luận về việc này.

Câu chuyện bên trong của Tập đoàn Time Warner

Ngày 20 tháng 11 năm 1989

Bill Saporito

Vào giữa những năm 1980, Giám đốc Điều hành Tập đoàn Time Inc. J. Richard Munro đã tìm ra cách để giải quyết tất cả các vấn đề lớn của mình: Hợp tác bằng cách mua lại hoặc sáp nhập với một “người khổng lồ” khác trong lĩnh vực truyền thông…

Vào mùa thu năm 1988, Warren Buffett xuất hiện cùng với một người bạn từ Capital CitiesABC, công ty mà ông là một nhà đầu tư chính. Munro và Chủ tịch Time Inc., Nicholas J. “Nick” Nicholas con, đã gặp Buffett và Giám đốc Điều hành Cap Cities Thomas Murphy, Chủ tịch Daniel Burke. Các cuộc họp giữa hai bên kéo dài đến tháng 12 cho đến khi theo Nicholas, Murphy đề cập rằng nên có thêm một hoặc hai giám đốc của Cap Cities so với các giám đốc của Time trong bất kỳ thỏa thuận nào. Munro nói ông đã trả lời người bạn tốt Murphy rằng ông rất cám ơn nhưng tiếc là Tập đoàn Time Inc. không phải để bán. Một nguồn tin từ Cap Cities cho biết 2 người không thể thống nhất về việc ai sẽ là sếp.

Tập đoàn Time đã từng từ chối Buffett trước đây. Năm 1984, Buffett đã hỏi thân mật Munro về việc mua lại tối đa 10% cổ phiếu của Time Inc., đủ để làm một người có âm mưu thôn tính công ty bằng cách mua càng nhiều cổ phần càng tốt lo sợ. Cách Buffett thường làm với những công ty sở hữu cổ phần lớn khác là duy trì mối quan hệ trong nhiều năm hoặc nhiều thập kỷ và trở thành thành viên hội đồng quản trị và cố vấn đáng tin cậy của công ty đó. Nhưng khi Munro giới thiệu đề xuất của Buffett cho hội đồng quản trị của Time Inc., rất tiếc các giám đốc đã can ngăn ông theo đuổi ý tưởng này.

Buffett mua Disney: Tất cả đều tán thành

Ngày 1 tháng 4 năm 1996

Carol Loomis

Vừa từ Omaha đến để tự mình giao hàng, Chủ tịch Berkshire Hathaway, Warren Buffett, đã tản bộ đến văn phòng của Harris Trust ở trung tâm thành phố Manhattan vào ngày 5 tháng 3 để đưa hai phong bì cho một nhân viên của Harris. Trong Phong bì số 1 là 20 triệu cổ phiếu của Capital CitiesABC mà Berkshire sở hữu có giá trị đến 2,5 tỷ đô-la, được chuyển giao cho bên mua của Công ty Walt Disney. Trong Phong bì số 2, niêm phong và ghi rõ: “Không được mở đến 4 giờ 30 phút chiều ngày 7 tháng 3,” chứa những mong muốn của Buffett – giữ bí mật với cả ban quản trị của Disney và Cap Cities – về việc Buffett muốn Berkshire được trả bao nhiêu cho những cổ phiếu nằm trong Phong bì 1. Giống như bất kỳ cổ đông Cap Cities bình thường, Buffett được tùy chọn nhận gói tiêu chuẩn, đó là cổ phiếu Disney cộng với tiền mặt, hoặc yêu cầu nhận tất cả bằng cổ phiếu, hoặc tất cả bằng tiền mặt. Vậy còn mong muốn của ông trong Phong bì số 2? Hoàn toàn đồng ý với Disney, Buffett chỉ yêu cầu cổ phiếu. Chia sẻ với Giám đốc Điều hành Michael Eisner của Disney cuối ngày 7, Buffett nói rằng ông đã dành cho công ty và giám đốc những lời ngợi khen cao nhất bằng cách giao phó tiền của Berkshire cho họ. Eisner đảm bảo với Buffett rằng ông sẽ làm việc để chứng minh cho Buffett thấy quyết định này là đúng đắn.

Trong báo cáo thường niên của Berkshire năm 1995, dự kiến ra mắt trong thời gian gần nhất, Buffett sẽ thừa nhận rằng ông đang quay trở lại với một vụ đầu tư không sáng suốt. Vào năm 1966, những thư viện phim, công viên chủ đề đang kinh doanh phát đạt, và giá cổ phiếu rẻ của Disney đã thu hút Buffett. Vốn hóa thị trường của toàn công ty khi đó là ít hơn 90 triệu đô-la. Buffett đã đầu tư một lượng lớn tiền từ công ty hợp danh Buffett vào cổ phiếu Disney ở mức giá tách-điều chỉnh là 31 xu một cổ phiếu. Các cổ phiếu gần đây được bán với giá 65 đô-la một cổ phiếu. Nhưng Buffett liệu đã chờ được đến lúc này? Câu trả lời là không. Ông đã bán ra vào năm 1967 với giá 48 xu một cổ phiếu. “Nào,” Buffett nói, chắc chắn kèm theo một cái cau mày, “ rất tuyệt khi quay lại.”

Buffett đã trở lại với Disney, nhưng việc này không kéo dài lâu. Trong một thời điểm, đúng là Buffett đã ưu ái Disney, thậm chí ông còn mua thêm cổ phiếu vào cổ phần lớn của Disney mà Berkshire nhận khi kết thúc thỏa thuận. Nhưng sau đó Disney đã trải qua một giai đoạn quản lý bị xáo trộn – Frank Wells qua đời, Michael Ovitz thất bại ở cương vị quản lý – và Buffett từ chối đầu tư. Đến năm 1999, Berkshire đã hoàn toàn rời khỏi công ty Disney. – CL

Bản đầy đủ của 4 trích đoạn về Cap Cities có thể được xem tại fortune. combuffettbook.

Đánh bại thị trường bằng cách mua lại cổ phiếu

Ngày 29 tháng 4 năm 1985

Carol Loomis

Thực hiện một nghiên cứu mang tính đột phá về mua lại cổ phiếu, sau khi xem xét, Fortune thấy rằng cổ đông của các công ty mua lại số lượng lớn cổ phiếu của chính mình sẽ thu lợi lớn.

Bài viết này cũng trình bày nhiều ý kiến ủng hộ và phản đối việc mua lại, một số trong đó là của Buffett. Khi ấy cũng như bây giờ, Buffett ủng hộ các nhà quản lý mua lại cổ phiếu của họ vì lý do chính đáng rằng họ biết cổ phiếu của họ bị đánh giá thấp. Ngược lại, ông luôn xem thường những nhà quản lý muốn mua lại để cố gắng duy trì cổ phiếu của họ hoặc làm giảm ảnh hưởng của quyền lựa chọn cổ phiếu, vì nó có xu hướng đẩy thêm cổ phiếu mới vào thị trường. Buffett thường nói, “Lý do duy nhất để một công ty mua lại cổ phiếu của nó là vì các cổ phiếu này được bán với giá thấp hơn giá trị nó xứng đáng được trả”.

Đôi khi quan điểm của Buffett về việc mua lại dẫn đến những câu hỏi hiểm hóc, hoặc thậm chí gây bất bình tại các cuộc họp thường niên của Berkshire vì ông đã không làm theo những gì ông rao giảng. Các cổ đông truy vấn tại sao Berkshire không tự mua lại cổ phiếu của mình khi các cổ phiếu này bị đánh giá thấp? Thực ra trong năm 2009, một người truy vấn đã trích dẫn bài báo này để nhắc nhở Buffett rằng ông từng nói thị trường chứng khoán sẽ làm giảm giá trị cổ phiếu của những công ty không thực hiện mua lại cổ phiếu của họ dù đó là việc nên làm.

Trong những năm qua, Buffett đã phản ứng theo nhiều cách. Trong giai đoạn bong bóng Internet, khi Berkshire được xem là lỗi thời và cổ phiếu của nó giảm xuống mức 40.000 đô-la, Buffett thừa nhận rằng trong quá khứ ông đôi lúc đã sai khi quyết định không mua lại cổ phiếu. Ông viết trong thư báo cáo thường niên năm 1999, “Tôi đã quá bảo thủ khi đánh giá về giá trị của Berkshire hoặc là tôi quá sốt sắng tính đến các cách sử dụng quỹ khác.” Lá thư này giúp ông mở cánh cửa cho các vụ mua lại cổ phiếu. Ông nói rằng sau khi các cổ đông đọc được lá thư ông viết và hiểu vấn đề, Berkshire sẽ xem xét lời chào bán cổ phiếu của các cổ đông.

Và chuyện gì đã xảy ra? Berkshire không mua lại cổ phiếu của mình. Buffett nói rằng ông chỉ nhận được số ít những lời chào bán và tất cả đều đòi hỏi những mức giá mà ông không sẵn lòng để trả.

Sau sự kiện đáng thất vọng này, Buffett đã chia sẻ nhiều hơn một lần rằng việc Berkshire mua vào cổ phiếu là thất sách. Vì lý do là thông báo về việc công ty sẽ mua lại cổ phiếu (ông nói thông tin này được yêu cầu phải công bố) sẽ kích thích cổ phiếu tăng giá và do đó làm giảm sự hấp dẫn của nó. Nói cách khác – đây là những lời của tôi, không phải của Buffett – nếu Warren Buffett, một thiên tài có khả năng xác định cổ phiếu nào bị định giá thấp, ngụ ý rằng nhà đầu tư nên mua cổ phiếu Berkshire vì đang có giá rẻ, giá cổ phiếu này ngay lập tức sẽ tăng đến mức không còn rẻ nữa.

Một phép thử đã diễn ra vào ngày 26 tháng 9 năm 2011, khi giá trị sổ sách của cổ phiếu loại A của Berkshire là khoảng 97.000 đô-la và giá cổ phiếu có một số ngày giảm xuống dưới 100.000 đô-la. Buffett công bố sau đó rằng hội đồng quản trị của Berkshire đã cho phép công ty được mua cổ phiếu – loại A hoặc B – với một mức giá không cao hơn 10% trên giá trị sổ sách. Chỉ trong ngày hôm đó, giá cổ phiếu đã tăng quá mức giới hạn của Buffett, và theo đúng luật Berkshire không thể mua lại bất kỳ cổ phiếu nào. Nhưng một vài cổ đông vẫn chào bán cổ phiếu lại cho công ty trong phạm vi giá Buffett đưa ra. Berkshire đã mua vào 98 mã cổ phiếu loại A và 802.000 cổ phiếu loại B trị giá tổng cộng 67 triệu đô-la – số tiền không nhiều nhặn gì đối với một công ty lẽ ra có thể trả, hay gần như là phải trả hàng triệu đô-la để mua chúng.

Tuyên bố 110% của Buffett đã phải thay đổi nhanh chóng ngay sau đó: Trong tháng 12 năm 2012 Berkshire thông báo rằng họ đã phải trả 120% giá trị sổ sách tương đương với 131.000 đô-la cho mỗi cổ phiếu để mua lại 9.200 cổ phiếu hạng A từ sở hữu của một cổ đông lâu năm (về sau có tin đồn chính là Al Ueltschi, cựu Giám đốc Điều hành của công ty con Flight Safety International của Berkshire, người đã qua đời 2 tháng trước đó). Tổng chi phí cho vụ mua lại là 1,2 tỷ đô-la. Berkshire cho biết hội đồng quản trị của công ty, khi cho phép thực hiện thương vụ này, cũng đặt ra mức giới hạn là 120% giá trị sổ sách cho mỗi cổ phiếu. Công ty sẽ có thể mua lại các cổ phiếu khác ở mức giá này. Nhưng cho đến tháng 6 năm 2013, không có cổ phiếu nào khác được Berkshire mua lại. – CL

Một người đam mê mua lại cổ phiếu chính là Warren E. Buffett, nhà đầu tư nổi tiếng ở Omaha. Công ty mà ông điều hành sắp chốt việc mua lại 18% vốn của Capital Cities vào thương vụ với ABC trong đó Cap Cities mua công ty ABC, và đây sẽ là phi vụ đầu tư lớn nhất của ông. Nhưng ngay lúc này 4 cổ phần lớn nhất mà ông nắm giữ là thuộc các doanh nghiệp đã mua lại một lượng đáng kể cổ phiếu của họ [như Công ty Cap Cities]: GEICO, General Foods, Exxon và Washington Post. Vụ đầu tư vào Exxon mới được thực hiện gần đây thành hình chỉ sau khi công ty Exxon bắt đầu mua lại cổ phần của mình trong năm 1983. Buffett nói, “Lý do chính khiến tôi đầu tư vào đây là vì công ty đã nhận ra giá trị cổ phiếu của nó, và đủ thông minh và có tầm nhìn vì cổ đông đủ để mua lại cổ phiếu của nó.” Mặt khác, Buffett đã bán cổ phiếu của một số nhất định các công ty khác bởi vì các công ty này sẽ không thực hiện việc mua lại cổ phiếu.

Ông tin rằng, thực ra, thị trường chứng khoán định giá thấp cổ phiếu của các công ty không thực hiện mua lại cổ phiếu dù đó là việc nên làm, thay vào đó lại vung tiền của họ vào các vụ mua lại hoặc vào các hình thức đầu tư khác ít giá trị hơn. Hệ quả, theo ông, chính là việc giá cổ phiếu của các công ty mua lại cổ phiếu của chính họ sẽ tăng, vì các nhà đầu tư xác định mua lại cổ phiếu là một dấu hiệu cho thấy ban quản lý công ty sẽ luôn có khuynh hướng hành động vì lợi ích của các cổ đông. “Tất cả các nhà quản lý nói rằng họ đang hành động vì lợi ích của các cổ đông”, ông nhận xét. “Với cương vị một nhà đầu tư bạn sẽ muốn đưa họ vào những chiếc máy phát hiện nói dối để kiểm tra độ thành thật của họ. Nếu không có máy phát hiện nói dối, dấu hiệu tốt nhất cho thấy đó là một ban quản lý biết nghĩ cho cổ đông chính là mua lại cổ phiếu, trong trường hợp cổ phiếu của công ty được định giá thấp. Các quyết định mua lại cổ phiếu được xem như một hình thức kiểm tra nói dối.”

Bản đầy đủ của “Đánh bại thị trường bằng cách mua lại cổ phiếu” có thể được xem tại fortunecombuffettbook.

Hãy đoán xem ai đã mua trái phiếu của Whoops

Ngày 29 tháng 4 năm 1985

Kenneth Labich

Giữa những năm 1980, tiếng tăm của Buffett đã lên cao đến mức mỗi động thái đầu tư của ông ông đều trở thành tin tức – và vào đầu năm 1985, có tin tiết lộ rằng Buffett đã mua lại một công ty thường được đem ra làm trò cười về đầu tư, đó là trái phiếu “Whoops”.

Trong báo cáo thường niên của Berkshire năm 1985, được công bố vài ngày trước khi bài báo này xuất bản, Buffett đã cố gắng giải thích về vụ đầu tư ngược đời và về cả những lời hù dọa chán ngắt (ví dụ như hãy cẩn thận trước lạm phát) về mua trái phiếu nói chung. Buffett nhấn mạnh rằng những nhà đầu tư cần nghĩ đến giá của chứng khoán, chính xác hơn là sự định giá sai lệch mà nhà đầu tư hy vọng có thể tìm ra để khai thác. Buffett viết trong thư, “Tại thời điểm mua vào ở mức giá Berkshire đã trả (thấp hơn nhiều so với giá hiện tại), Charlie [Munger] và tôi đánh giá rủi ro của vụ đầu tư này còn cao hơn so với các triển vọng lợi nhuận của nó.”

Trong lá thư này, Buffett cũng nêu lên ý kiến mà ông thường đặt ra trong nhiều báo cáo thường niên về việc mua toàn bộ doanh nghiệp hoặc mua những “phần” mà các cổ phiếu (và đôi khi trái phiếu) của các doanh nghiệp này đại diện. Ông viết: “Chúng tôi thấy rằng nếu có thể mua từng phần của một doanh nghiệp, với khả năng kinh tế cơ bản đạt yêu cầu, ở mức giá bằng một phần nhỏ của giá trị mỗi cổ phần của toàn bộ doanh nghiệp, có khả năng chúng tôi sẽ có lời.” Điều này đúng trong trường hợp của Whoops. Berkshire đã mua 260 triệu đô-la trái phiếu, nắm giữ số lượng thay đổi từ năm 1983 đến đầu những năm 1990. Trong vụ đầu tư này, Berkshire có lời khi được miễn 263 triệu đô-la tiền thuế và cùng lúc, ông đã bán các trái phiếu để thu 68 triệu đô-la thặng dư vốn. – CL

Trong khi xây dựng danh tiếng của mình như một trong những nhà đầu tư khôn ngoan nhất nước Mỹ, Warren Buffett thường làm Phố Wall giật mình với những động thái táo bạo, đầy bất ngờ. Gần đây, cứ 2 tuần một lần ông lại làm họ ngạc nhiên. Sau khi đóng vai trò quan trọng trong thương vụ Công ty Truyền thông Capital Cities thâu tóm American Broadcasting, vị chủ tịch 54 tuổi của công ty Berkshire Hathaway tại Omaha đã tiếp tục xuất hiện với một hành động gây sốc khác. Buffett tiết lộ trong báo cáo thường niên của Berkshire Hathaway rằng ông đã chi 139 triệu đô-la để mua trái phiếu dài hạn phát hành bởi Hệ thống Cung cấp Năng lượng Công cộng Washington (WPPSS) – công ty xây dựng hạt nhân khét tiếng ở tiểu bang Washington đã vỡ nợ đến 2,25 tỷ đô-la trái phiếu năm 1983 và được biết đến với tên gọi Whoops.

Là một tập đoàn thuộc chính quyền địa phương bao gồm các công ty công ích ở các quận và thị trấn, WPPSS bắt đầu xây dựng 5 nhà máy điện hạt nhân lớn trong những năm 1970. Buffett đã không mua các trái phiếu vỡ nợ được ban hành để tài trợ cho nhà máy điện hạt nhân số 4 và 5. WPPSS đã tạm ngưng xây dựng 2 nhà máy ngay trong giai đoạn đầu sau khi chi phí vượt quá ngân sách và có bằng chứng nổi lên rằng chính quyền bang đã ước lượng nhu cầu năng lượng của họ vượt quá so với thực tế. Thay vào đó, ông mua các trái phiếu của dự án số 1, 2 và 3. Các trái phiếu này vẫn đang tiếp tục trả lãi suất vì, không giống như các trái phiếu của dự án 4 và 5, chúng được hậu thuẫn bởi một cơ quan quản lý năng lượng liên bang.

Cho đến nay Buffett có vẻ đã chiến thắng một lần nữa. Vì bắt đầu mua vào trái phiếu không lâu sau khi vụ vỡ nợ trái phiếu nhấn chìm tất cả trái phiếu của WPPSS, ông nhìn vào mức sinh lời hấp dẫn đến 16,3% không đánh thuế, đem lại khoản lợi nhuận hằng năm tới 22,7 triệu đô-la cho khoản đầu tư của mình. Ngoài ra, các trái phiếu dự án 1, 2 và 3 của ông đã tăng giá trị lên khoảng 13% vào cuối năm 1984.

Tuy nhiên, thương vụ WPPSS là một sự khởi đầu cho Buffett. Mặc dù Berkshire Hathaway, một tập đoàn sở hữu các công ty con trong nhiều lĩnh vực như bảo hiểm, bán lẻ và xuất bản, nắm giữ một lượng lớn trái phiếu, nhưng sở trường của Buffett chính là mua cổ phần của các công ty mà ông tin rằng giá trị của chúng đã bị thị trường chứng khoán định giá thấp. Thương vụ mua trái phiếu WPPSS của ông là một quyết định khó dự đoán trước về kết quả, như ông nhanh chóng thừa nhận. Chỉ có 1 trong 3 lò phản ứng hạt nhân được tài trợ bằng trái phiếu đi vào hoạt động; trong khi việc xây dựng hai lò còn lại đã bị đình chỉ vì chính phủ không cần đến sản lượng năng lượng này cho đến giữa những năm 1990. Việc này làm dấy lên những câu hỏi về sự ổn định tài chính dài hạn của WPPSS. Các nhà đầu tư đang nắm giữ trái phiếu bị vỡ nợ và những bên khác đã nộp hàng tá đơn kiện WPPSS, và việc thanh toán lãi suất có thể bị gián đoạn. Buffett thậm chí còn cảnh báo các cổ đông về “mối nguy mong manh rằng ‘thương vụ’ này có thể không đem lại lợi nhuận nào trong một hoặc hai năm.”

Buffett dường như không quan tâm đến một kết quả như vậy. Ông không tự đánh giá chính mình, hoặc mong đợi được những người khác đánh giá mình về một quyết định đầu tư nào đó; thành tích nói chung mới đáng để ông lưu ý. Kỷ lục đầu tư của Buffett luôn làm người khác ngạc nhiên. Là chủ sở hữu 41% của Berkshire Hathaway, ông hiện đang quản lý hơn 1,7 tỷ đô-la các khoản đầu tư của tập đoàn. Cổ phiếu của Berkshire Hathaway được bán với giá 40 đô-la 10 năm trước đây bây giờ đáng giá hơn 1.800 đô-la.

Ngả người lên chiếc ghế trong văn phòng khiêm tốn của mình, người đàn ông vui tính đến từ bang Nebraskan so sánh vụ đầu tư WPPSS với một vụ đầu tư độc đáo khác ông đã thực hiện trong những năm qua – đáng chú ý nhất là việc ông đánh cược vào cổ phiếu American Express ngay sau vụ lùm xùm vào năm 1963 liên quan đến trùm lừa đảo Tino De Angelis. Vụ việc được biết đến với tên gọi “scandal dầu trộn salad”, cụ thể là một kho hàng trực thuộc American Express đã lén lút xuất hóa đơn khống một lượng lớn các thùng dầu hạt bông và đậu nành không có thực. Mặc dù nhiều nhà đầu tư Phố Wall lo ngại vụ việc vở lở sẽ làm American Express phá sản, nhưng Buffett và một số đối tác nhân cơ hội này đã mua lại 5% cổ phần của công ty với giá thanh lý. Cuối cùng, hóa ra American Express phải chịu trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn so với đồn đoán ban đầu, cổ phiếu công ty tăng vọt và quan điểm đi ngược đám đông của Buffett đã chiến thắng. “Những thứ không được lòng mọi người thường được xem là không đúng”, Buffett cười thích thú, “nhưng đây là một cái ao tốt để đánh cá. Bạn phải trả rất nhiều tiền ở Phố Wall để nhận được sự chấp thuận vui vẻ.”

WPPSS là một thiên đường cho những người đi ngược trào lưu. Những người giữ trái phiếu của dự án 1, 2 và 3 vừa sống sót qua một thách thức về pháp lý dựng tóc gáy. Họ nhận được lãi suất từ trái phiếu do Công ty Bonneville Power Administration thuộc chính phủ liên bang là một công ty chuyên bán năng lượng thủy điện cho thành phố và các cơ sở trên khắp vùng Tây Bắc Hoa Kỳ, đã dành một phần doanh thu để chi trả lãi suất cho họ. Thị trấn Springfield, Oregon, ký hợp đồng mua điện từ các dự án WPPSS hạt nhân, đã yêu cầu tòa án xem xét lại sự việc vì những người đóng thuế đặt câu hỏi về tính hợp pháp của nó. Tuy nhiên vào tháng 2, tòa án phúc thẩm Hoa Kỳ ở San Francisco thông báo cho phép giữ nguyên sự sắp đặt này.

Nhiều khả năng sẽ có thêm các vụ kiện tụng và những lo lắng khác về vấn đề trên. Để có thể chi trả lãi suất, Bonneville phải có một dòng tiền đáng tin cậy, trong đó một phần phụ thuộc vào lượng mưa đủ chạy đập thủy điện nhằm sản xuất ra điện năng để bán ra. Công ty cũng không thể hy vọng sẽ bán tất cả ki-lô watt điện. Các nhà máy luyện nhôm, vốn là khách hàng công nghiệp lớn trong khu vực, đã bị ảnh hưởng bởi sự cạnh tranh từ nước ngoài, vì vậy Bonneville phải hạ giá để giúp các công ty này tiếp tục trụ vững. Một nỗi sợ hãi khác đối với các trái chủ dự án 1, 2 và 3 chính là tòa án sẽ quyết định trái chủ của dự án 4 và 5 được hưởng một phần nguồn thu hiện đang được Bonneville chi trả cho trái chủ dự án 1, 2 và 3. Những nhà quan sát vụ WPPSS gọi sự phân chia hiện tại giữa hai nhóm trái chủ là “bức tường Trung Hoa”1. Nỗi sợ nguy hiểm nhất đối với trái chủ của dự án 1, 2 và 3 chính là khả năng WPPSS có thể tuyên bố phá sản. Bởi vì trước đây chưa bao giờ có một công ty công cộng ở quy mô lớn tương tự tuyên bố phá sản tại Mỹ, không ai có thể chắc chắn việc giá trái phiếu 1, 2 và 3 sẽ biến động ra sao.

1. Bức tường Trung Hoa: Tên gọi sự chia tách pháp lý giữa hai bên nhằm ngăn chặn sự tranh chấp lãi suất.

Căn cứ vào những khả năng không lường trước được này, nhiều chuyên gia trái phiếu đô thị khuyên các khách hàng tránh xa WPPSS. Một chuyên gia về trái phiếu ở Bờ Tây so sánh vụ đầu tư WPPSS với những đoàn quân băng qua Bắc Đại Tây Dương trong Thế chiến II. “Bạn khá chắc rằng một số ngư lôi sẽ chĩa hướng vào mình,” ông nói. “Nhưng bạn không biết rằng liệu bạn có bị đánh trúng hay không.” 2 công ty đánh giá trái phiếu lớn ở Phố Wall, Moody và Standard & Poor, đều từ chối đánh giá trái phiếu WPPSS của dự án 1, 2 và 3.

Nhưng các chuyên gia trái phiếu khác thì đồng ý với nhiệt huyết của Buffett về những lợi nhuận cao từ WPPSS. Robert Adler, Phó Chủ tịch Bộ phận Trái phiếu Đô thị tại Shearson Lehman Brothers nói: “Các trái phiếu này tuy không thuộc dạng trái phiếu có chất lượng đáng đầu tư, nhưng chúng có thể đem lại lợi nhuận cho một cá nhân sở hữu tài sản ròng lớn, người hiểu rõ rủi ro.” (Dường như cổ phiếu của American Express, công ty sở hữu Shearson Lehman, tăng giá ít hơn. Năm 1984, một công ty con về bảo hiểm thuộc American Express đã bán được lượng lớn trái phiếu WPPSS của dự án 1, 2 và 3 với giá 76 triệu đô-la). Howard Sitzer, Giám đốc Nghiên cứu Trái phiếu Đô thị tại Công ty Chứng khoán Thomson McKinnon, tiến cử trái phiếu WPPSS của dự án 1, 2 và 3. Ông lập luận rằng Bonneville, công ty có tổng doanh thu là 2,7 tỷ đô-la trong năm 1984, có khả năng “gồng gánh” 570 triệu đô-la hoặc hơn số tiền lãi phải trả cho trái phiếu WPPSS trong một thời gian. Sitzer cũng thấy rằng WPPSS ít có khả năng phá sản.

Buffett luôn khẳng định quyết định mua trái phiếu WPPSS của ông, giống như tất cả các quyết định đầu tư khác, là kết quả của một phân tích các giá trị ngầm cực kỳ chi tiết. Chẳng hạn ông chỉ ra lợi nhuận sau thuế trên trái phiếu của ông thường yêu cầu đầu tư ít nhất là lớn gấp đôi. Trước khi thực hiện, Buffett cho biết, ông đã cẩn thận khảo sát các nguy cơ. “Chúng tôi không tiến hành đánh giá dựa trên bảng xếp hạng,” ông nói thêm. “Nếu muốn Moody và Standard & Poor đầu tư tiền của chúng ta, chúng ta phải đưa tiền cho họ.” Buffett cho biết thêm, có phần tự hào, rằng trụ sở ở Omaha của ông không có máy tính và những phân tích của ông không dựa trên dữ liệu điện tử. Ông nói: “Chúng tôi chỉ đọc. Sự thật là như vậy.”

Buffett sẽ không tiết lộ liệu ông đã mua thêm trái phiếu WPPSS hoặc đã bán bớt cổ phần của mình kể từ cuối năm ngoái. Ông không cần phải bán bớt trái phiếu WPPSS để có đủ tiền cho cam kết đầu tư 517,5 triệu đô-la vào ABC. Ông có thể dựa vào dòng tiền của công ty và các tài sản có tính thanh khoản hoặc sử dụng khả năng vay mượn cao của mình. Berkshire Hathaway cũng nắm giữ khối lượng lớn các cổ phiếu của công ty truyền thông, trong đó có 4% của Time Inc., nhà xuất bản Fortune. Ủy ban Truyền thông Liên bang có thể buộc ông phải bán một trong số này như một điều kiện để đầu tư vào ABC.

Buffett cho rằng trong tương lai khả năng sẽ không có nhiều dịp để mua trái phiếu. Ông lo ngại việc ngân sách liên bang bị thâm hụt sẽ làm lạm phát tăng đáng kể, và tăng lãi suất – một tình huống thảm họa đối với các trái chủ. Buffett nói: “Trong giai đoạn lạm phát phi mã, những gì bạn đã mua chỉ là giấy mà thôi.”

Tuy gần đây Buffett đang là tâm điểm dư luận, nhưng ông lại không thực hiện nhiều kế hoạch đầu tư. “Vấn đề của tôi chính là tôi không thể nghĩ ra 50 ý tưởng tuyệt vời mỗi năm,” ông nói. “Thật may mắn nếu tôi có thể nghĩ ra một hoặc hai ý tưởng.” Nhưng khi quyết định đánh cược vào một ý tưởng nào đó, ông sẽ cược lớn. Trong báo cáo thường niên mới nhất, Buffett cảnh báo các cổ đông rằng đặt cược lớn vào một vài ý tưởng đôi khi dẫn đến một năm có kết quả đầu tư tồi tệ. Điều này có thể xảy ra, tuy nhiên cho đến nay các cổ đông của ông có thể vui mừng vì công ty đạt khá nhiều thành tích tốt.

Hãy nghe đây!

Ngày 28 tháng 4 năm 1986

“Khoản tăng giá trị tài sản ròng của chúng tôi trong năm là 613,6 triệu đô-la, tương đương với 48,2%. Thật trùng hợp là sao chổi Halley cũng xuất hiện cùng thời gian giá trị tài sản tăng vượt bậc; tôi sẽ không thể nào gặp lại 2 sự kiện này một lần nữa trong đời.”

– Warren E. Buffett, Chủ tịch của Berkshire Hathaway, viết trong báo cáo thường niên năm 1985.

Thực tế là Buffett đã sai: Mức tăng trưởng 13 năm sau, vào năm 1998, có chỉ số cao hơn, đến 48,3%, và không có sao chổi Halley nào xuất hiện ở đây. Nhưng trong bức thư năm 1998 của mình Buffett đã bác bỏ thành tựu này, ông cho rằng hầu hết lợi nhuận đạt được hoàn toàn nhờ việc Berkshire phát hành cổ phiếu hiệu quả trong năm đó để thực hiện các vụ mua lại công ty (chủ yếu là NetJets và General Re) tại đúng thời điểm cổ phiếu được bán ra với giá lớn hơn nhiều so với giá trị sổ sách.

Dĩ nhiên không phải tình cờ, khi Buffett cho phát hành cổ phiếu của Berkshire vào năm mà giá của cổ phiếu liên quan đến giá trị nội tại – một chỉ số quan trọng hơn, cũng tăng cao. Ông sẽ thấy hối tiếc nếu bán ra cổ phiếu Berkshire khi chúng đang ở “giá rẻ”, đại loại là vậy. – CL

Bạn có nên để lại toàn bộ tài sản cho con cái?

Ngày 29 tháng 9 năm 1986

Richard I. Kirkland Jr.

Bài báo này đánh dấu sự xuất hiện lần đầu tiên của Warren Buffett trên trang bìa tạp chí Fortune (mặc dù chắc chắn không phải là lần cuối cùng). Tuy nhiên, Buffett chỉ là diễn viên chính trong một câu chuyện dài bao gồm một dàn diễn viên hùng hậu, tất cả họ đều giàu có. Vì vậy, chúng tôi chỉ trích các đoạn về Buffett, bao gồm cả những đoạn mở đầu bài báo.

Những quan điểm phản đối mạnh mẽ của Buffett về việc để lại tài sản thừa kế lớn cho con cái mà tôi biết đã tạo cảm hứng cho bài báo. Nhưng chắc chắn những người giàu khác cũng sẽ sẵn sàng chia sẻ quan điểm của họ, như nhà văn Rik Kirkland (người sau này trở thành Thư ký Tòa soạn của tạp chí Fortune). Bài viết của ông đã làm chấn động độc giả. Chủ tịch FED Paul Volcker khi gặp biên tập viên tạp chí Fortune tại một bữa tiệc ở Washington đã nói rằng: “Mọi người đều bàn tán về bài báo trên tờ Fortune.” Thậm chí cho đến nay, ông nói, sau khi bài báo được đăng 1/4 thế kỷ, Buffett vẫn được hỏi về bài báo – như thể độc giả đã cắt và lưu giữ nó. Con gái ông, Susie (người lớn tuổi nhất trong 3 người con của Buffett, 2 người con trai còn lại là Howard và Peter) có lẽ thường xuyên nhận được thắc mắc về một giai thoại trong bài. Susie nói rằng mọi người khi gặp cô vẫn hỏi một cách hoài nghi, “Có thật là ông ấy sẽ không cho cô tiền để sửa nhà bếp?”

Về sau Buffett nghĩ rằng để dành “vài trăm ngàn đô-la” cho mỗi con là phù hợp. Vì ngay cả cho đến thời điểm này, ông luôn giữ lối sống tiết kiệm. Nhưng nhiều năm trôi qua, tình hình lạm phát và những chiêm nghiệm riêng của ông về nó đã khiến ông thay đổi ý kiến về việc dành bao nhiêu tài sản thừa kế cho con là đủ. Điều này thôi thúc ông điều chỉnh lại bằng cách tăng con số thừa kế lên nhiều hơn so mức “vài trăm ngàn đô-la” dự định ban đầu.

Trong nhiều năm, ông đã không công bố rộng rãi dự định của mình về vấn đề này. Nhưng trong một bữa ăn tối năm 2010 tại New York, giữa một nhóm những người giàu có, Buffett đã tiết lộ lần đầu tiên số tiền các con của ông có thể nhận được sau khi ông qua đời. Ông chia sẻ rằng khi người vợ đầu, Susie, mất vào năm 2004, bà đã để lại cho mỗi người con 10 triệu đô-la, và mới đây ông cân nhắc ý định cho các con 15 triệu đô-la mỗi người.

Do đó, đối với 3 người con của Buffett, con số thừa kế tổng cộng là 75 triệu đô-la, đơn vị tính chỉ là TRIỆU đô-la. Buffett đã chia sẻ là tài sản của ông đã đến gần 50 TỶ đô-la. Hẳn là ông vẫn luôn tin rằng, bạn không nên để lại tất cả tài sản của mình cho các con.

Ông cũng không mong đợi các con kế thừa việc quản lý Tập đoàn Berkshire Hathaway, mặc dù vấn đề này vẫn chưa rõ ràng. Từng tin rằng chỉ thành viên trong gia đình mình có thể gìn giữ tốt nhất văn hóa công ty, Buffett đã thổ lộ ông muốn người con trai lớn, Howard, nối nghiệp ông làm Chủ tịch Berkshire khi cần. Nhưng việc quản lý hoạt động của công ty sẽ được các thành viên không thuộc gia đình ông đảm nhận.

Thay vào đó, Buffett đã ngụ ý điều chỉnh di chúc với những sắp xếp liên quan đến hoạt động từ thiện. Năm 1999, rất lâu trước khi Susie Buffett qua đời, bà và Buffett đã khuyến khích con cái hoạt động từ thiện bằng cách cho mỗi người 10 triệu đô-la để thành lập các quỹ từ thiện riêng.

Tiếp đó, có nhiều khoản tài trợ được cộng thêm vào quỹ, một số trong đó là theo nguyện vọng của Susie, góp phần tăng quy mô của mỗi quỹ đến 100 triệu đô-la. Sau đó đến sự kiện được con trai của Buffett kiêm nhà văn Peter Buffett gọi là “Vụ Nổ lớn”. Vào năm 2006, thông qua một bài báo trên tạp chí Fortune, Warren Buffett đã gây chấn động khi thông báo rằng ông sẽ dần dần hiến tặng phần lớn tài sản của mình cho 5 quỹ từ thiện, 3 trong số đó do những người con của ông điều hành. Kể từ đó, mỗi quỹ trong số 3 quỹ từ thiện này đã nhận được số cổ phiếu trị giá gần 400 triệu đô-la tại thời điểm được trao tặng.

Việc trao tặng cổ phần còn tăng lên nhiều hơn vào ngày 30 tháng 8 năm 2012, khi Buffett – nhân kỷ niệm sinh nhật lần thứ 82 của mình hôm đó – đã thông báo rằng từ nay trở đi ông sẽ trao tặng cho các quỹ từ thiện điều hành bởi các con của ông số cổ phiếu nhiều gấp đôi. Giá cổ phiếu Berkshire trong những năm qua sẽ xác định số lượng cổ phiếu được trao tặng. Nhưng rất dễ thấy rằng tổng số cổ phiếu từ “Vụ Nổ lớn” ban đầu, và số giá trị dao động của nó vào năm 2012, sẽ đạt 2 tỷ đô-la cho mỗi quỹ và có thể hơn. (Bài báo trên tạp chí Fortune tiết lộ về món quà khổng lồ này của Buffett có trong sách.) – CL

Mở đầu bài báo:

Warren Buffett, 56 tuổi, chủ tịch và là chỉ huy thiên tài của Berkshire Hathaway, một tập đoàn đầu tư có thành tích ấn tượng, có giá trị ít nhất là 1,5 tỷ đô-la. Nhưng độc giả đừng nên ganh tị với 3 người con của ông. Buffett không tin rằng cho con thừa kế tài sản khổng lồ là sáng suốt và ông đã có kế hoạch hiến tặng phần lớn gia tài cho quỹ từ thiện của ông. Trong những năm con gái và 2 con trai ông học đại học, nhà đầu tư ở Omaha cảm thấy hài lòng khi cho các con vài ngàn đô-la mỗi dịp Giáng sinh. Hơn thế nữa, con gái Susan của ông, 33 tuổi, chia sẻ, “Nếu tôi viết cho cha tôi một tấm séc trị giá 20 đô-la, ông ấy sẽ rút nó.”

Buffett không để con cái kế thừa gia sản không phải bởi vì họ ngang bướng hay vô tích sự và từ chối nối nghiệp ông để điều hành kinh doanh – những lý do truyền thống giải thích vì sao các bậc cha mẹ giàu có thường giữ tiền. Ông nói: “Các con tôi sẽ tự tạo dựng vị trí riêng của mình trong xã hội, và chúng biết tôi luôn ủng hộ bất kì điều gì chúng làm.” Nhưng ông tin rằng việc cho các con ông kế thừa “một nguồn cung cấp phiếu thực phẩm trọn đời chỉ vì chúng sinh ra trong gia đình giàu có” có thể “gây hại” cho họ và là “một hành động đi ngược lại trình tự xã hội”. Đối với ông, số tiền hoàn hảo để cho con thừa kế chính là “vừa đủ để chúng cảm thấy chúng có thể làm bất cứ việc gì, nhưng không quá nhiều đến mức chúng không cần phải làm gì”. Buffett nhận thấy “vài trăm ngàn đô-la” khá là phù hợp với một người mới tốt nghiệp đại học.

Bạn nên để lại bao nhiêu tài sản cho con cái? Nỗi ám ảnh đặc biệt của những người Mỹ chính là tìm ra câu trả lời cho câu hỏi này. Ở hầu hết các nước trên thế giới, các thông lệ và điều luật quy định rằng trẻ em, trừ khi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, thường tự động thừa kế phần lớn tài sản của cha mẹ khi họ qua đời. Chỉ riêng Anh và các nước thuộc địa – theo luật chung của họ – cho phép chủ sở hữu tài sản tự quyết định để lại cho con cái bao nhiêu tài sản mà họ muốn.

Tiếp tục đến giữa bài báo:

Một số người giàu có tranh cãi rằng không cho con thừa kế tài sản cũng có thể gây rắc rối. Một người nói: “Nếu bạn ở vị trí của một người con biết được cha mình có rất nhiều tài sản nhưng chỉ cho bạn một số tiền không nhiều, tôi cứ nghĩ đến khả năng người con này sẽ oán giận ông.” Susan Buffett, người đã làm việc ở bang Washington với vị trí trợ lý hành chính cho biên tập viên của tạp chí US News & World Report và kết hôn với một luật sư lợi ích công cộng, thừa nhận thật khó để hiểu được suy nghĩ của cha cô. “Cha tôi là một trong những người trung thực, nguyên tắc và tốt tính nhất mà tôi biết,” cô nói, “và tôi cơ bản đồng ý với ông. Nhưng khá là kỳ lạ khi bạn biết rằng hầu hết các bậc cha mẹ đều muốn mua thứ này thứ kia cho các con của họ và bạn chỉ cần một khoản tiền nhỏ để sửa chữa nhà bếp, chứ không phải để đi nghỉ ở biển trong 6 tháng. Ông sẽ không cho chúng tôi tiền theo đúng nguyên tắc của ông. Cha đã dạy chúng tôi điều này trong suốt cuộc đời tôi. Vâng, tôi cảm thấy tôi đã hiểu được bài học này. Nhưng đến một thời điểm nhất định, việc đó có thể ngừng được rồi.”

Đi sâu vào bài báo:

Warren Buffett tranh luận rằng hầu hết các chủ doanh nghiệp nên quên đi việc cố gắng để gia đình họ giữ vị trí quản lý chủ chốt trong doanh nghiệp mà họ yêu quý; ông dự tính rằng ban quản trị công ty hiện tại – với các thành viên không phải là người nhà của ông – sẽ tiếp tục điều hành Berkshire sau khi ông qua đời. Ông thừa nhận đôi khi một người thừa kế có thể là ứng viên phù hợp nhất để quản trị công ty nhưng ông tin việc này không được số đông ủng hộ. Buffett nói, “Liệu có ai dám cho rằng cách tốt nhất để chọn những nhà vô địch thế vận hội Olympic chính là chọn con trai và con gái của những người đã giành chiến thắng 20 năm trước? Cho ai đó vị trí ưu tiên chỉ vì cha của họ đã từng đạt được thành tích trước đây là một cách điên rồ trong xã hội cạnh tranh.”

Bài báo đầy đủ “Bạn có nên để lại toàn bộ tài sản cho các con?”có thể được xem tại fortunecombuffettbook.

Nhấn các phím B-U-F-F-E-T-T để sáp nhập

Ngày 22 tháng 12 năm 1986

Newstrends Section

Trên một trong những mẩu rao vặt hiếm thấy nhất trên tờ Wall Street Journal, Warren E. Buffett, 56 tuổi, Chủ tịch của Berkshire Hathaway, thông báo rằng ông đang tìm mua các doanh nghiệp trị giá 100 triệu đô-la trở lên trước ngày 31 tháng 12 năm 1986. “Chúng tôi có tiền,” mẫu rao vặt chiếm gần như toàn trang báo, trị giá 47.000 đô-la, ghi rõ “và chúng tôi có thể hành động với tốc độ phi thường… Nếu bạn quan tâm và thấy khả thi, hãy gọi ngay cho chúng tôi.”

Lý do để ông hành động nhanh chóng chính là vì luật thuế có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1. Trong khi mức thuế liên bang trên thặng dư vốn đối với các cá nhân tăng từ 20% đến 28% đã đáng báo động, Buffett còn cảnh báo rằng các chủ doanh nghiệp có thể phải trả một khoản tương đương với 52,5% thuế trên thặng dư vốn nếu họ chờ đến sau ngày 31 tháng 12 mới bán ra. Ông tính ra con số này bằng cách xem xét khoản 34% thuế trên thặng dư vốn mới mà công ty phải trả khi bán một doanh nghiệp và khoản thuế 28% cổ đông phải trả tính trên số thặng dư vốn còn lại. Buffett nói: “Nhiều công ty có lý do để chạy đua với thời gian.”

Tuy nhiên, trước khi bạn vội vã mở điện thoại lên, hãy biết trước rằng không phải bất cứ công ty tiềm năng nào muốn sáp nhập cũng được. Theo mẩu rao vặt công ty, phải có “ít nhất là 10 triệu đô-la lợi nhuận sau thuế và tốt nhất là hơn thế nữa”, và cũng phải có tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cao, không có hoặc có ít nợ, và có sẵn một ban quản trị. Công ty cũng phải hoạt động trong những ngành kinh doanh đơn giản: “Nếu là công ty về công nghệ, chúng tôi sẽ không thể hiểu.”

Không có ai liên hệ lại với Buffett về mẩu quảng cáo này. – CL

Những nỗi sợ từ đầu về các chỉ số tương lai

Ngày 7 tháng 12 năm 1987

Một lá thư cảnh báo mà Warren Buffett gửi cho Nghị sĩ John Dingell Jr.

Giữa tháng 10 năm 1987, một tuần lễ tồi tệ của thị trường chứng khoán với đỉnh điểm vào ngày thứ Hai đen tối, ngày 19, khi chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones sụt 22,6%. Quá trình điều tra nguyên nhân cho sự kiện này tập trung vào vai trò của chỉ số tương lai S&P, chỉ số mới được cho phép hoạt động trong vài năm gần đây. Trong đó, các nhà đầu tư tổ chức theo đuổi chiến lược “bảo hiểm danh mục đầu tư” đã nhiều lần bán khống chỉ số S&P tương lai này. Giao dịch của họ cộng với các giao dịch tương tự từ những nhà đầu tư tổ chức khác càng làm thị trường hoảng loạn gấp nhiều lần.

Một cách bất ngờ, tạp chí Fortune đã tìm được lý do chính đáng và thời điểm thích hợp để xuất bản một bức thư Buffett đã viết vào năm 1982 cho Nghị sĩ John Dingell (con), thành viên Đảng Dân chủ bang Michigan và là Chủ tịch Tiểu bang về những quan sát và kết quả điều tra của ông. Quốc hội trong năm đó đã tranh luận về việc có nên cho phép các Sàn Giao dịch Chicago bắt đầu giao dịch những hợp đồng tương lai trên các chỉ số chứng khoán. Dingell phản đối kế hoạch và, theo như ông biết, Buffett cũng vậy. Hai ông có quen biết nhau sơ qua vì nhiều năm trước cha của họ cùng là Nghị sĩ và là bạn bè của nhau, mặc dù Howard Buffett (Đại biểu bang Nebraska) là một người thủ cựu còn John Dingell (thành viên Đảng Dân chủ bang Michigan) thì ngược lại. Dựa vào sự quen biết giữa hai người cha, Dingell con đã nhờ Buffett con viết thư giải thích cho ông lý do tại sao Buffett nghĩ rằng giao dịch chỉ số chứng khoán tương lai là một ý tưởng tồi. Buffett đáp lại bằng một lá thư với lý lẽ vững chắc: “Chúng tôi không cần thêm người đánh cược vào những phương thức không cần thiết trong thị trường chứng khoán trong nước, và cũng không cần những người môi giới khuyến khích người chơi làm như vậy.”

Tất nhiên, Dingell và Buffett đã ở bên thua trong cuộc tranh luận này. Giao dịch chỉ số S&P tương lai bắt đầu lên sàn giao dịch vào tháng 4 năm 1982 và mọc lên như nấm, bất chấp những cuộc khủng hoảng nổ ra như vụ trong năm 1987. Các hợp đồng tương lai này đã bị lép vế trước phiên bản điện tử của mình 25 năm sau, đó chính là chỉ số tương lai S&P E-mini, cho phép các nhà đầu cơ có thể giao dịch với số tiền tương đối nhỏ và theo đó nhanh chóng trở thành vua của các loại hợp đồng. Khi “vụ Sụp đổ Chớp nhoáng”1 diễn ra vào tháng 5 năm 2010, làm nhiều nhà đầu tư khiếp sợ, thì các hợp đồng E-mini đã chiếm một phần rất lớn trong tổng số giao dịch thực hiện.

Dưới đây là bức thư mà Buffett gửi đến Nghị sĩ Dingell năm 1982. – CL

1. Vụ Sụp đổ Chớp nhoáng: Ngày 6 tháng 5 năm 2010, thị trường chứng khoán Mỹ sụt giảm mạnh khi chỉ số Dow Jones giảm 998,5 điểm, cú giảm điểm mạnh nhất trong một ngày giao dịch trong lịch sử.

Mục đích của lá thư này là để bàn về các hoạt động giao dịch khả thi giúp phát triển thị trường chứng khoán tương lai. Tôi có kinh nghiệm 30 năm hoạt động ở các mảng khác nhau của ngành kinh doanh đầu tư chứng khoán, trong đó có vài năm ở vị trí nhân viên bán chứng khoán. 25 năm qua được dành cho công việc của một nhà phân tích tài chính, và tôi hiện là người có trách nhiệm duy nhất quản lý một danh mục đầu tư cổ phiếu có tổng trị giá hơn 600 triệu đô-la. Không thể dự đoán một cách chính xác những gì sẽ xảy ra trong các thị trường đầu tư và đầu cơ, và bạn nên cảnh giác với bất cứ ai khẳng định họ có thể biết chính xác sự việc. Tôi nghĩ những triển vọng sau đây là hợp lý:

1. Hợp đồng tương lai chỉ số chứng khoán có thể hỗ trợ các nhà đầu tư thực sự giảm thiểu rủi ro. Một nhà đầu tư kết luận theo logic rằng ông có khả năng xác định chứng khoán được định giá thấp, nhưng cũng đồng thời cho rằng ông không thể dự đoán các biến động ngắn hạn của thị trường. Đây là quan điểm được tôi duy trì trong những nỗ lực riêng để quản lý đầu tư. Nhà đầu tư thuộc nhóm trên mong muốn biến động thị trường “bằng 0”, và việc tiếp tục giữ vị thế bán một chỉ số đại diện cho ông cơ hội để thực hiện việc đó. Ước chừng, việc nhà đầu tư với 10 triệu đô-la cổ phiếu bị định giá thấp và 10 triệu đô-la ở vị thế bán không đổi trên một chỉ số chứng khoán sẽ nhận được phần thưởng hay hình phạt là nhờ vào khả năng lựa chọn các cổ phiếu đặc biệt của họ. Nhà đầu tư không phải lo lắng những kết quả này sẽ bị nuốt chửng, hoặc thậm chí là bị ảnh hưởng bởi sự dao động của thị trường nói chung. Bởi việc này có liên quan đến chi phí – và vì hầu hết các nhà đầu tư tin rằng giá cổ phiếu nói chung sẽ tăng về lâu dài – tôi nghĩ chỉ có một số ít chuyên gia đầu tư hoạt động với phong cách phòng hộ liên tục như vậy. Nhưng tôi cũng tin đây là một cách đầu tư hợp lý, vì vậy một vài chuyên gia, những người luôn muốn giữ thái độ và hành vi của họ theo “thị trường trung lập”, sẽ làm như vậy.

2. Như đã nói, tôi thấy một chiến lược giảm thiểu rủi ro hợp lý sẽ bao gồm bán khống hợp đồng tương lai. Tôi cũng thấy rằng không có bất kỳ chiến lược đầu tư hoặc phòng hộ tương ứng nào cho việc đầu tư dài hạn. Do đó, theo định nghĩa có tối đa 50% giao dịch tương lai được thực hiện với kỳ vọng rủi ro ít, và không dưới 50% giao dịch (với hình thức đầu tư dài hạn) được thực hiện trong thế đánh cược hoặc đặc biệt rủi ro.

3. Tỷ lệ trên thực tế sẽ vô cùng khác với mức tối đa 50-50 giữa những người muốn giảm thiểu giảm rủi ro và những người chấp nhận tăng rủi ro. Xu hướng đánh cược luôn tăng vì giải thưởng nhận được lớn so với mức phí tham gia nhỏ, bất chấp tỷ lệ trúng thưởng thực sự có thể thấp thế nào. Đó là lý do tại sao các sòng bạc Las Vegas thường quảng cáo các giải xổ số độc đắc lớn và tại sao xổ số nhà nước thường ra rả về các giải thưởng lớn. Trong chứng khoán, những nhà đầu tư không sáng suốt bị dụ dỗ bằng kiểu tiếp cận tương tự nhưng theo nhiều cách khác nhau, bao gồm: (a) “cổ phiếu thị trường giá thấp”, được những người bán cổ phiếu “sản xuất” tài tình để giăng bẫy lừa những người nhẹ dạ cả tin – tạo ra mơ ước về những khoản lợi nhuận lớn nhưng kết quả thực tế thì thảm họa, và (b) yêu cầu ký quỹ thấp qua đó đạt được những kinh nghiệm tài chính khi đầu tư lớn bằng cách đặt cọc một khoản tiền nhỏ.

4. Trong lịch sử hoạt động của mình, chúng tôi đã có nhiều kinh nghiệm từ trước về những rắc rối gây ra bởi hiện tượng cam kết thanh toán cao so với tỷ lệ thanh toán thấp. Quen thuộc nhất tất nhiên là vụ bùng nổ của thị trường chứng khoán vào cuối những năm 1920, đi kèm và được nhấn mạnh bởi con số 10% ký quỹ. Những cái đầu ôn hòa sau đó quyết định rằng việc đầu cơ ký quỹ thấp không giúp ích gì cho xã hội, và cách làm này về lâu dài sẽ làm tổn hại thị trường vốn, thay vì hỗ trợ thị trường. Từ đó, các quy định về ký quỹ ra đời và giữ vị trí thường trực trong kịch bản đầu tư. Dĩ nhiên khả năng đầu cơ vào chỉ số chứng khoán với 10% thanh toán trước là một cách đơn giản để lách những yêu cầu ký quỹ và sẽ lập tức được những nhà đầu tư đánh cược trên khắp cả nước ghi nhận như vậy.

5. Dĩ nhiên những nhà môi giới sẽ ưu tiên các hình thức giao dịch mới. Sự nhiệt tình của họ có xu hướng tỷ lệ thuận với số lượng công việc mà họ mong đợi sẽ nhận được. Càng thực hiện nhiều hoạt động tài chính, chi phí nhà đầu tư phải trả càng lớn và càng nhiều tiền từ tay họ sẽ luân chuyển khắp ngành công nghiệp môi giới. Khi mỗi hợp đồng kết thúc, giao dịch duy nhất cần thực hiện chính là người thua trả tiền cho người thắng. Vì các sòng bạc (thị trường tương lai và những nhà môi giới hỗ trợ thị trường) được trả tiền cho mỗi giao dịch diễn ra, bạn có thể chắc rằng nó sẽ nhận được lợi nhuận hấp dẫn khi tạo số lượng lớn những kẻ thua và người thắng. Nhưng hãy nhớ rằng đối với người chơi, đây đích thị là một “trò chơi có tổng bằng số âm”. Khoản lời và lỗ bù trừ cho nhau trước các chi phí; sau khi trừ đi chi phí thì mức lỗ ròng là khá đáng kể. Thực ra, nếu các trường hợp lỗ như vậy không đáng kể thì các sòng bạc phải ngưng hoạt động vì khoản lỗ ròng của người chơi là nguồn thu chính của họ. Khía cạnh “tổng bằng âm” của trò chơi này trái ngược hoàn toàn với việc đầu tư cổ phiếu thường nói chung, vốn là một “trò chơi có tổng bằng số dương” trong nhiều năm vì những công ty cơ sở, xét về mọi mặt, đã đạt lợi nhuận đáng kể để làm lợi cho chủ đầu tư của công ty này và các cổ đông.

6. Theo đánh giá của tôi, một tỷ lệ phần trăm rất cao – có lẽ ít nhất là 95% và nhiều khả năng cao hơn – của hoạt động phát sinh từ các hợp đồng này hoàn toàn mang tính đánh cược. Sẽ có những người đặt cược vào các biến động ngắn hạn của thị trường chứng khoán và có thể đánh cược lớn với số tiền đầu tư nhỏ. Những người này được các nhà môi giới khuyến khích làm như vậy vì người môi giới xem tốc độ quay vòng vốn nhanh của khách hàng là điều tốt đẹp nhất có thể xảy ra bởi họ sẽ có thu nhập tức thì. Một số tiền khủng sẽ được trích ra từ khoản 95% này do sòng bạc tính phí cho mỗi giao dịch.

7. Về lâu dài, các hoạt động thiên về cờ bạc trong thị trường vốn truyền thống và khiến phần nhiều những người tham gia bị cháy tài khoản, không có lợi cho thị trường vốn. Mặc dù những người tham gia các hoạt động cờ bạc này không phải là nhà đầu tư và những gì họ đang mua thực sự không phải là cổ phiếu, họ vẫn thấy mình đã có trải nghiệm xấu về thị trường chứng khoán. Sau khi biết được tiêu cực nhất của thị trường vốn, dễ hiểu khi trong tương lai họ có thể nhận định bi quan về thị trường này nói chung. Chắc hẳn đó là kinh nghiệm họ rút ra sau những làn sóng đầu cơ. Bạn có thể đặt câu hỏi liệu ngành công nghiệp môi giới không đủ khôn ngoan để quan tâm đến lợi ích lâu dài của nó. Lịch sử cho thấy các nhà môi giới là người thiển cận (chứng kiến sự kiện đã xảy ra vào những năm 1960); họ thường thấy vui nhất khi có hành vi ngớ ngẩn nhất. Nhiều nhà môi giới quan tâm đến việc họ sẽ thu về bao nhiêu trong tháng này hơn là liệu khách hàng của họ – hoặc ngành công nghiệp chứng khoán nói chung – có thể phát triển thuận lợi về lâu dài hay không. Chúng ta không cần thêm người đánh cược vào những công cụ không thiết yếu trong thị trường chứng khoán, và cũng không cần những nhà môi giới khuyến khích người chơi làm như vậy. Những gì chúng tôi cần là các nhà đầu tư và chuyên gia cố vấn xem xét triển vọng dài hạn cho các doanh nghiệp và chọn phương thức đầu tư phù hợp. Chúng tôi cần những sự cam kết thông minh về vốn đầu tư, thay vì những trò đánh cược sử dụng đòn bẩy trên thị trường. Xu hướng vận hành một thị trường vốn một cách thông minh, có lợi cho xã hội bị cản trở, bởi một “sòng bạc” đông đúc và hấp dẫn hoạt động trong cùng một thị trường, sử dụng ngôn ngữ tương tự và được cùng một lực lượng phục vụ. Ngoài ra, việc ký quỹ thấp cho chứng khoán tương đương không đồng nhất với các chính sách về yêu cầu ký quỹ được thông báo rộng rãi. Mặc dù chỉ số tương lai đem lại lợi một chút ích cho những nhà đầu tư chuyên nghiệp muốn “phòng hộ” trước biến động thị trường, một thị trường có khối lượng lớn giao dịch chỉ số tương lai có thể gây tổn hại đến cộng đồng mua chứng khoán, do đó, về lâu dài làm ảnh hưởng thị trường vốn nói chung.

Câu chuyện bên trong của Warren Buffett

Ngày 11 tháng 4 năm 1988

Carol Loomis

Câu chuyện này có nhiều tính lịch sử hơn một chút so với phần lớn các câu chuyện khác. Trong 20 năm đầu tiên sau khi tôi làm bạn với Warren Buffett và ngay sau khi là cổ đông của Berkshire Hathaway, sau đó trở thành biên tập viên tình nguyện chỉnh sửa lá thư hằng năm của ông gửi các cổ đông, tôi đã chỉ viết một vài đoạn về ông cho tạp chí Fortune. Đúng là, vì danh tiếng của ông phát triển theo cấp số nhân, tôi đã đề nghị một số bài báo về Buffett, ví dụ như câu chuyện về trường Grinnell và Whoops. Nhưng các nhà báo khác trong tạp chí đã viết những bài trên, và tôi thấy việc này ổn.

Tuy nhiên, đầu năm 1988, thư ký tòa soạn của Fortune, Marshall Loeb, đã gọi tôi đến văn phòng của ông và cho tôi một lựa chọn làm-hay- không-làm. Ông nói đã đến lúc chúng tôi nên viết một bài báo đầy đủ về Buffett. “Bà có thể viết nó”, ông nói với tôi, biết rằng tôi biết rõ Warren, “hoặc tôi sẽ phân công người khác viết bài này”.

Quyết định của tôi sau một ngày suy nghĩ đắn đo là tự viết bài báo. Tôi biết đó là lựa chọn đúng đắn cho các độc giả của tạp chí Fortune, những người sẽ biết đến một “câu chuyện chân thực” do tôi viết vì tôi hiểu thế giới của Buffett rất rõ. Nhưng theo lẽ tự nhiên họ cũng cần biết rằng tôi là một người bạn của Buffett, một cổ đông của Berkshire, và biên tập viên những lá thư hằng năm của ông. Tất cả những thông tin này được nêu lên trong bài báo và là những điều độc giả thường gặp trong các bài báo khác về Buffett mà tôi viết.

Marshall đã cho xuất bản bài báo thật đúng thời điểm. Bài báo của tôi đã kể một câu chuyện quan trọng mà cho đến lúc đó vẫn ít người biết: làm thế nào để nhà đầu tư xuất sắc như Buffett lại vừa trở thành một doanh nhân và người quản lý phi thường. Đóng vai trò cố vấn quan trọng ở bên cạnh ông là người bạn tuyệt vời Charlie Munger. Có lẽ phần lớn người ngoài cuộc đều chưa nhận ra rằng chính hai người này đã đưa Berkshire trở thành một doanh nghiệp rất quy mô và thành công. – CL

Warren Buffett, chủ tịch của Berkshire Hathaway, gọi tập đoàn của mình là “tấm vải bố để vẽ tranh” và không lâu sau đó, khi báo cáo thường niên của tập đoàn được công bố, thế giới sẽ biết chính xác về bức tranh mà nhà đầu tư huyền thoại đã vẽ nên trong năm đầu tư sôi động 1987. Một vài thông tin xem trước: Giống như một tác phẩm nghệ thuật, đây không phải là một năm im ắng của Buffett. Tập đoàn Berkshire – tôi rất vui được nói rằng tôi là một cổ đông lâu năm của tập đoàn – đã ghi nhận khoản tăng 464 triệu đô-la giá trị ròng, mức tăng không thấp hơn 19,5%. Thành tích này phần nào vẫn nhỏ hơn mức kỷ lục tăng trung bình hằng năm 23,1% mà Buffett đã đạt được kể từ khi tiếp quản công ty 23 năm trước đây. Nhưng trong một năm mà nhiều nhà đầu tư chuyên nghiệp phải chịu lỗ, thì ví dụ mới nhất này về khả năng múa cọ của Buffett được xem là một kiệt tác nữa.

Bảng báo cáo thường niên mà người đọc luôn lùng sục để biết các tiết lộ mỗi năm một lần của Buffett về hoạt động của ông trên các thị trường chứng khoán, sẽ bao gồm hai tin tức đặc biệt. Đầu tiên, Buffett, người đã mua 700 triệu đô-la cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi có thể hoàn lại của Salomon Inc. cho Tập đoàn Berkshire ngay trước vụ sụp đổ vào tháng 10, nói rõ trong thư chủ tịch gửi các cổ đông rằng ông hoàn toàn ủng hộ Chủ tịch ngân hàng đầu tư, John Gutfreund. Điều này đặt dấu chấm hết cho những tin đồn dai dẳng về những chia rẽ giữa hai người. Thứ hai, Buffett tiết lộ rằng Berkshire bắt đầu mua trái phiếu ngắn hạn của Texaco sau khi công ty này phá sản, tại một thời điểm nhiều nhà đầu tư khác bán tháo trái phiếu này. Vào cuối năm Berkshire đã có lợi nhuận chưa ghi nhận từ các chứng khoán Texaco. Nhưng cả trái phiếu này và cổ phiếu ưu đãi của Salomon (mà Buffett ước tính trị giá khoảng 685 triệu đô-la vào cuối năm) đều được lưu với giá mua thực trên sổ sách của Berkshire và không xảy ra như mong đợi về kỷ lục năm 1987.

Đằng sau kỷ lục này – thực ra là đằng sau Buffett – là một câu chuyện về cả hai vai trò của ông. Câu chuyện này trước giờ vốn chỉ kể về một vai trò mà thôi. Hầu hết các doanh nghiệp trên thế giới đều biết về nhà đầu tư Warren Buffett. Nhà hiền triết xứ Omaha; thiên tài chọn lựa cổ phiếu đã biến 9.800 đô-la, phần lớn được tiết kiệm từ việc giao báo, thành giá trị tài sản ròng cá nhân có trị giá tính đến nay là hơn 1,6 tỷ đô-la; người sở hữu thành tích đầu tư kiệt xuất trong thời gian dài ủng hộ giả thuyết thị trường hiệu quả khó mà giải thích là do may mắn.

Vào năm 1987, Buffett chắc chắn đã hoạt động rất năng nổ. Từng nói trong hơn 2 năm rằng mình không thể tìm được cổ phiếu nào có giá hợp lý để mua, Buffett bước vào ngày 19 tháng 10 như thể đang mặc một chiếc áo giáp nặng nề, khi ông hầu như không sở hữu cổ phiếu thường nào bên cạnh những cổ phiếu của 3 công ty mà ông cho là giữ vị trí “lâu dài” trong danh mục đầu tư của Berkshire. Mặc dù bị giảm giá đáng kể trong vụ sụp đổ, tất cả 3 loại cổ phiếu này đều có thành tích nổi bật suốt năm: GEICO, công ty bảo hiểm tự động, tăng giá trị 12%; Washington Post tăng 20%; Capital CitiesABC tăng 29%.

Một kết quả không tồi cho nhà đầu tư Buffett. Nhưng một nhân vật khác đang hoạt động tại Berkshire chính là doanh nhân Buffett, một người mua và quản lý các công ty và là đồng nghiệp sở hữu những kỹ năng chưa được mọi người biết rõ. Thực ra, người này sẽ cày nát sân cỏ, trong khi nhà đầu tư Buffett thì chuyên ném bom. Trong năm 1987, thế tấn công của Berkshire khá cân bằng: Nhà đầu tư Buffett tạo ra 249 triệu đô-la (sau khi chi trả các loại thuế) trong lợi nhuận thực hiện và chưa thực hiện; còn doanh nhân Buffett kiếm được 215 triệu đô-la lợi nhuận hoạt động sau thuế từ sự ổn định của các doanh nghiệp thuộc Berkshire, đem lại tổng cộng 464 triệu đô-la. Thu nhập hoạt động của Berkshire nhiều hơn thu nhập ròng của chỉ số Dow Jones, hay Pillsbury và Corning Glass Works.

Cỗ máy Berkshire mà các hoạt động này diễn ra có giá mỗi cổ phiếu vào khoảng 12 đô-la vào năm 1965 khi Buffett nhận quyền điều hành. Sau đó đến năm 1987 giá cổ phiếu đã tăng lên cao là 4.200 đô-la và gần đây là 3.100 đô-la. Buffett, một người đàn ông 57 tuổi khẳng khái, dí dỏm, sở hữu 42% cổ phần của tập đoàn; còn bà Susan vợ ông, 55 tuổi, sở hữu thêm 3% nữa. Berkshire đạt hơn 2 tỷ đô-la doanh thu trong năm 1987, chắc hẳn sẽ được xếp khoảng hạng 30 trong danh sách thường niên những tập đoàn dịch vụ đa ngành lớn nhất của tạp chí Fortune, và có cơ cấu khác biệt mạnh mẽ.

Trọng tâm của Berkshire là một tập đoàn bảo hiểm tài sản và thương vong lớn gồm một số công ty không nổi tiếng khác (như National Indemnity), tạo ra “phí nổi1” để Buffett đầu tư. Ngoài bảo hiểm, Berkshire cũng đang sở hữu một tập hợp các doanh nghiệp khá lớn mà Buffett đã mua, từng công ty một, và ông gọi đây là 7 Công ty Thần thánh. Nó là hãng tin Buffalo; Fechheimer Brothers, một nhà máy sản xuất và phân phối đồng phục ở Cincinnati; một siêu thị nội thất ở Nebraska, một cửa hàng bán lẻ ở Omaha chuyên bán đồ nội thất nhiều hơn bất kỳ cửa hàng nào khác trong nước; công ty kẹo See’s, nhà sản xuất và bán lẻ bánh kẹo thống trị ở California; và 3 cơ sở mà Buffett cho vào danh mục khi Berkshire mua lại Scott & Fetzer Cleveland năm 1986: World Book, hãng máy hút bụi Kirby, và một cơ sở sản xuất đa dạng chuyên làm các sản phẩm công nghiệp như máy nén và ghi đĩa.

1. Phí nổi (float): Số tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm có thể đầu tư trong khi nắm giữ các khoản tiền đóng bảo hiểm mà cuối cùng sẽ được chi trả cho người được bảo hiểm.

Đúng vậy, một tập hợp gồm nhiều ngành nghề – nhưng trong báo cáo thường niên năm 1987 của mình, doanh nhân Buffett đã chỉ ra những điểm tích cực của các công ty này và những nhà quản lý của chúng. Ông cho biết nếu 7 Công ty Thần thánh hoạt động như một doanh nghiệp duy nhất trong năm 1987, họ đã có thể sử dụng 175 triệu đô-la trong vốn chủ sở hữu, chỉ phải trả khoản lãi ròng là 2 triệu đô-la, và thu được 100 triệu đô-la sau khi trừ thuế. Con số này tương đương với mức lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là 57%, và đây là trường hợp hiếm có. Như Buffett nói, “Bạn hiếm khi thấy tỷ lệ như vậy ở bất cứ đâu, huống chi là ở những công ty lớn, đa ngành với đòn bẩy thấp.”

Một giáo sư trường kinh doanh người cố gắng dung hòa những giả thuyết thị trường hiệu quả với thành công đầu tư của Buffett vài năm trước đây đã gọi ông là “một sự kiện 5 sigma,” một sai số thống kê rất hiếm và trên thực tế không bao giờ xảy ra. Khi bàn về quá trình mua và quản lý tất cả các công ty của ông, Buffett cũng có thể được xem là một hiện tượng hiếm hoi. Ông cân nhắc các thương vụ mua bán bằng tầm nhìn và sự kỷ luật như khi ông cân nhắc về đầu tư. Là nhà quản lý, ông không quan tâm đến hình thức và quy ước đồng thời trung thành với các nguyên tắc kinh doanh mà ông gọi là “đơn giản, cũ kỹ và ít ỏi”.

Lấy ví dụ, các công ty thuộc Berkshire thường không bao giờ quên con đường nó đã chọn khi cố gắng thực hiện việc gì đó. Buffett nói: “Nếu chúng tôi chọn đi tuyến chính, từ New York đến Chicago, chúng tôi sẽ không dừng ở Altoona và đi đến những địa điểm khác. Chúng tôi cũng tôn trọng sự logic. Nhưng những gì chúng tôi làm không hề vượt quá năng lực của bất kỳ ai. Tôi thấy việc quản lý và đầu tư có cùng một điểm chung: Đó là không nhất thiết phải thực hiện những công việc phi thường để có được những kết quả phi thường.”

Việc tôi được giao viết về hai con người trong Buffett, nhà đầu tư và doanh nhân, thật kỳ lạ. Bên cạnh là một nhân viên của tạp chí này hơn 30 năm qua, tôi còn là một người bạn của Buffett hơn 20 năm. Tôi giúp biên tập bản báo cáo thường niên của Buffett, đó là lý do tại sao tôi biết báo cáo sẽ có những thông tin gì. Tôi ngưỡng mộ những báo cáo này. Vì bài báo này được viết bởi một người bạn của ông, bạn có thể mong đợi hai điều: một sự quan sát từ bên trong cách Warren Buffett hoạt động và một chút kém khách quan nói chung.

Nhưng đây là một sự thật không thể chối cãi: Buffett thể hiện trí tuệ lỗi lạc tột bậc trong tất cả những việc ông làm. Michael Goldberg, 41 tuổi, người điều hành hoạt động công ty bảo hiểm của Berkshire và có văn phòng bên cạnh văn phòng của Buffett ở Omaha, cho rằng ông đã từng gặp những người thông minh như vậy tại trường Trung học Khoa học Bronx, “nhưng tất cả đều theo ngành toán học và vật lý”. Sức mạnh trí tuệ của Buffett hoàn toàn tập trung vào việc kinh doanh, mảng mà ông rất đam mê và hiểu biết sâu rộng. Goldberg nói, “Ông ấy liên tục đặt câu hỏi về những gì ông nghe được: “Nó có phù hợp và đáng tin cậy không? Nó có sai không?” Trong đầu ông có sẵn một mô hình của toàn thế giới. Bộ não đó như chiếc máy tính trong đó so sánh mọi điều mới mẻ với tất cả những gì ông từng trải nghiệm và biết đến – rồi đặt ra câu hỏi, ‘Điều này có ý nghĩa gì đối với chúng ta?’” Đối với Berkshire, đó là như vậy. Cá nhân Buffett sở hữu riêng một số cổ phiếu nhưng ông chỉ dành một chút thời gian để nghĩ về chúng. Ông nói: “Cái tôi của tôi gắn liền với Berkshire. Chắc chắn là vậy.”

Khi gặp ông, phần lớn mọi người sẽ nhận thấy chỉ một chút cái tôi của ông. Buffett là một người hòa đồng, có bề ngoài bình dị với phong cách hòa nhã, cứng rắn của con người miền Trung Tây, ví dụ giống như một thám tử tư, ông có thể hòa nhập vào bất kỳ đám đông nào với lối ăn mặc hơi xuề xòa. Ông thích McDonald’s và nước ngọt Coke vị anh đào. Ông không thích những bữa tiệc lớn và những cuộc trò chuyện xã giao. Nhưng khi ở trong bối cảnh phù hợp với mình, ông trở nên hoạt ngôn và thậm chí còn hơi quá lố: Mùa đông này, tại một cuộc họp quản lý của Cap Cities, ông đã mặc một bộ đồng phục Cứu Thế quân, huýt sáo và hát cho Chủ tịch của công ty, Thomas Murphy nghe bài hát “Murphy thật là một người bạn quý của tôi,” với lời do ông viết.

Thỉnh thoảng, và đặc biệt đối với các chủ đề trí tuệ, Buffett nói với tốc độ nhanh và cường độ cao, cố gắng để theo kịp với những chuyển động liên tục trong tâm trí. Khi còn trẻ, ông đã từng ngại nói trước công chúng. Vì vậy, ông buộc mình phải tham gia một khóa học huấn luyện kỹ năng nói trước công chúng Dale Carnegie, nơi theo ông là “có những người khác cũng đáng thương như mình”. Ngày nay, ông có thể phát biểu một cách dễ dàng, chuẩn bị nội dung hoàn toàn chỉ từ một phác thảo trong đầu mà không cần văn bản hay ghi chú. Ông tô điểm cho bài nói với những ví dụ, câu nói châm biếm, và các phân tích nhiều không kể xiết (đây là khả năng mà một nhà văn chuyên nghiệp mơ ước đạt đến).

Trong công việc, Buffett không để các suy nghĩ phức tạp ngăn cản mình có cái nhìn rất đơn giản về cuộc sống. Điểm mấu chốt về hai con người trong Buffett, nhà đầu tư và doanh nhân, chính là họ có chung cách nhìn về quyền sở hữu doanh nghiệp. Nhà đầu tư nhìn thấy cơ hội để mua từng phần của một doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán với giá thấp hơn giá trị nội tại, cụ thể là dưới giá một người có trình độ sẽ đồng ý trả để sở hữu toàn bộ doanh nghiệp. Nhà quản lý trong ông nhìn thấy cơ hội để mua toàn bộ doanh nghiệp với giá không vượt quá giá trị nội tại.

Loại công ty mà Buffett thích còn được mô tả đơn giản là: “những doanh nghiệp kinh doanh tốt”. Đối với ông, về cơ bản điều này có nghĩa là các công ty sở hữu thương hiệu mạnh, lợi nhuận trên vốn trên mức trung bình, có nhu cầu đầu tư vốn tương đối nhỏ và khả năng sản sinh tiền mặt. Danh sách những yêu cầu này nghe có vẻ giống như tình mẫu tử và bánh táo1. Nhưng tìm mua các doanh nghiệp tương tự thật không dễ dàng; Buffett ví công việc săn tìm như đang săn “những con voi rừng quý hiếm và chạy nhanh”. Ông luôn cố gắng áp dụng những tiêu chuẩn nghiêm ngặt của mình. Tất cả 7 Công ty Thần thánh đều sở hữu những đặc điểm của một doanh nghiệp tốt. Các công ty khác mà Buffett sở hữu cổ phiếu, như GEICO, Washington Post và Cap Cities cũng vậy.

1. Tình mẫu tử và bánh táo (motherhood and apple pie): Cách nói so sánh của người Mỹ về những sự thật hiển nhiên được mọi người công nhận.

Trong báo cáo thường niên của mình, Buffett thường xuyên ca ngợi các nhà quản lý của tất cả các công ty này, phần lớn họ là đối thủ của ông – nếu họ đủ khả năng – khi tin rằng làm việc là niềm vui. Ông sốt sắng muốn giữ sự cuồng tín của họ. “Các doanh nghiệp tuyệt vời được những người tuyệt vời điều hành” là mô tả của ông về hiện thực ông muốn thấy với vai trò Giám đốc Điều hành.

Nhưng ông tin rằng trong những năm qua sai lầm lớn nhất của ông trong việc đầu tư đó là không mua một số cổ phiếu của “doanh nghiệp kinh doanh tốt” chỉ vì ông không thể chịu nổi chất lượng quản lý của các công ty này. Ông nói rằng, “Tốt hơn tôi nên tin tưởng các doanh nghiệp”. Vì vậy, trong danh sách các cổ phiếu ông đôi khi sở hữu, mặc dù không phải các doanh nghiệp ông đang sở hữu trực tiếp, ông đã từng nghiến răng chịu đựng kha khá sự yếu kém về quản lý. Vài năm trước, khi sở hữu nhiều cổ phiếu hơn bây giờ, ông đã than phiền với một người bạn về những điều ngớ ngẩn trong một báo cáo thường niên mình vừa đọc. Ông cho rằng nội dung của nó sai lệch và thể hiện sự quản lý vì lợi ích cá nhân và “đủ để khiến bạn buồn ói”. Người bạn này nói rằng, “Và ông đang nắm các cổ phiếu này.” Vâng, câu trả lời của ông là: “Tôi muốn sở hữu các doanh nghiệp kinh doanh tốt đến mức ngay cả một kẻ ngốc cũng có thể kiếm được tiền.”

Đương nhiên, các doanh nghiệp kinh doanh tốt không hề rẻ, đặc biệt ở thời điểm hiện nay khi cả thế giới đều thuộc lòng đặc điểm của nó. Nhưng Buffett luôn kiên định sắc sảo ở vị trí một người mua. Ông sẽ không trả giá quá cao, và kiên nhẫn chờ đợi các cơ hội. Ông thường xuyên “rao vặt ngầm” trong báo cáo thường niên của mình khi giải thích đặc điểm của các doanh nghiệp ông muốn mua. “Chúng tôi có thể cung cấp một ngôi nhà tốt cho doanh nghiệp phù hợp và những con người phù hợp,” ông nói. Một số người thuộc một nhóm phù hợp, gọi là Heldman, đã đọc mẫu quảng cáo và giới thiệu cho ông công ty đồng phục của họ FechHeimer vào năm 1986. Công ty chỉ đạt khoảng 6 triệu đô-la lợi nhuận, ít hơn mức lý tưởng của Buffett. Nhưng những người ở Heldman có vẻ chính xác là những quản lý ông luôn tìm kiếm. Theo mô tả của ông thì họ “dễ mến, tài năng, trung thực và có mục tiêu định hướng”. Vì vậy ông đã quyết định mua lại công ty và rất vui mừng vì đã làm việc này.

Khi cân nhắc mua Buffalo News, Buffett đã đặc biệt nhìn xa trông rộng. Cả Washington Post và Tribune Chicago đều từ chối mua khi nó mở bán vào năm 1977. Có lẽ họ không có động lực vì đây là một tờ báo ra buổi chiều, một loại báo cạnh tranh kém. Hãng News xuất bản 6 ngày một tuần, trừ Chủ nhật và không có nguồn doanh thu. Hãng còn cạnh tranh với tờ Courier-Express, xuất bản 7 ngày một tuần. Nhưng News thì mạnh hơn so với Courier-Express khi xuất bản báo những ngày trong tuần, do đó Buffett kết luận rằng tờ báo có khả năng làm tốt nếu xuất bản thêm vào ngày Chủ nhật.

Sau khi mua lại tờ báo với giá 32,5 triệu đô-la, ngay lập tức ông bắt đầu cho xuất bản vào ngày Chủ nhật. Phiên bản đặc biệt dành cho độc giả và những người mua quảng cáo này của tờ News đã buộc Courier-Express phải đâm đơn kiện để bảo vệ thế độc quyền của họ, nhưng Buffett đã thắng. Cả hai tờ báo đều mất tiền trong nhiều năm, và đến năm 1982, Courier-Express đã quyết định bỏ cuộc và đóng cửa. Năm ngoái, hãng News, tờ báo độc quyền đang phát triển tốt đã thu được 39 triệu đô-la lợi nhuận hoạt động trước thuế và chắc chắn tờ báo đã không làm điều đó bằng cách tiết chế bài viết. Trong tờ báo cứ sau mỗi trang tin tức là một trang quảng cáo, một tỷ lệ không giống với bất kỳ tờ báo cùng quy mô hoặc lớn hơn đang hoạt động tốt nào. Bởi vì Buffett thích những bài báo xã luận. Ông nói rằng nếu không trở thành một nhà đầu tư, ông có thể cũng đã chọn theo nghề báo. Hãng News chắc hẳn là tài sản yêu thích của ông.

Buffett tập trung cao độ đến mức lập dị vào các doanh nghiệp kinh doanh tốt vì ông đã nhận ra triết lý này trễ, sau vài thập kỷ đầu tư nhiều nơi và dù sao cũng kiếm được một lượng tiền khổng lồ. Khi còn là một đứa trẻ ở Omaha, ông đã sớm nhận thức được và bị thu hút bởi bất cứ việc gì liên quan đến con số và tiền bạc. Cha của ông, Howard Buffett là một nhà môi giới chứng khoán mà ông yêu quý, đã trìu mến gọi ông là “Quả cầu lửa”. Ông hầu như thuộc lòng một cuốn sách trong thư viện có tựa đề 1.000 cách kiếm 1.000 đô-la1, với những giả tưởng đặc biệt về máy nhân tiền. Ông hình dung mình bắt đầu với một chiếc máy duy nhất, nhân số tiền của ông thêm hàng ngàn lần, và biến mình thành triệu phú trẻ nhất thế giới. Khi ở trong nhà thờ Presbyterian ông đã tính toán tuổi thọ của các nhà soạn nhạc thánh ca để điều tra xem liệu đi theo tiếng gọi tôn giáo có giúp họ tăng thêm tuổi thọ hay không (kết luận của ông là không). Ở tuổi 11, ông và một người bạn chuyển sang theo đuổi những gì thực tế hơn, như chơi cá cược đua ngựa với danh sách có tên gọi Những con ngựa chiến được chọn.

1. 1.000 cách kiếm 1.000 đô-la (One thousand ways to make $1.000): Cuốn sách nổi tiếng chỉ dẫn cách kiếm 1.000 đô-la của tác giả FCMinaker xuất bản năm 1936.

Trong những năm này ông đã nghĩ về chứng khoán. Ông có những cuốn sách đầu tiên về thị trường khi lên 8, mua cổ phiếu đầu tiên của mình (loại cổ phiếu ưu đãi Cities Service) vào năm 11 tuổi, và tiếp tục thử nghiệm với tất cả các cách thức trong những phương pháp kinh doanh. Ông từng là một “nhà phân tích đầu tư cổ phiếu bằng đồ thị” tuổi thiếu niên một thời gian, sau đó trở thành một người biết chớp thời cơ trên thị trường. Ông ở Washington từ năm 1943, nơi gia đình ông chuyển đến khi Howard Buffett được bầu vào Quốc hội. Vì quá nhớ Omaha, chàng trai trẻ Warren đã từng chạy trốn khỏi nhà và còn nhận điểm kém một thời gian khi học trung học, ngay cả trong môn toán học mà ông có năng khiếu nhất. Chỉ đến khi cha ông dọa sẽ không cho ông làm công việc giao báo yêu thích thì điểm số mới được cải thiện. Tốt nghiệp trung học ở tuổi 16, Buffett đã trải qua 2 năm tại Đại học Pennsylvania, sau đó chuyển đến Đại học Nebraska. Tại đây, đầu năm 1950 khi là một sinh viên năm cuối, ông đã đọc được cuốn sách vừa xuất bản của Benjamin Graham, Nhà đầu tư thông minh. Cuốn sách khuyên người đọc chú ý đến giá trị nội tại của các công ty và đầu tư trong “biên độ an toàn”. Với Buffett những điều này có ý nghĩa vô cùng to lớn. Cho đến ngày nay các nguyên tắc đầu tư rõ ràng của Buffett vẫn thể hiện một phong cách Graham “Nguyên tắc đầu tiên là không để thua. Nguyên tắc thứ hai là không được quên nguyên tắc đầu tiên.”

Vào mùa hè năm 1950, khi nộp đơn vào trường Kinh doanh Harvard, Buffett bắt chuyến tàu tới Chicago và được một cựu học sinh địa phương phỏng vấn. Buffett nói rằng người đại diện có học vấn cao hơn này “là một thanh niên 19 tuổi gầy gò nhìn như 16 tuổi và có phong cách xã hội của một đứa trẻ 12 tuổi.” Buổi phỏng vấn hoàn tất sau 10 phút, và triển vọng vào Harvard của Buffett cũng kết thúc. Một lần bị từ chối đau đớn. Nhưng bây giờ Buffett coi đó là điều may mắn nhất đã từng xảy ra với ông, vì khi trở về Omaha, ông tình cờ biết rằng Ben Graham đang giảng dạy tại trường Kinh doanh Columbia, và ngay lập tức ông đã nộp đơn và được nhận vào học. Một sinh viên khác trong lớp học của Graham là William Ruane1, người ngày nay điều hành Quỹ Sequoia năng suất hàng đầu và là một trong những người bạn thân nhất của Buffett. Ruane nói rằng có một loại dòng điện trí tuệ đã kết nối Graham và Buffett ngay từ đầu và phần còn lại của lớp học chủ yếu là khán giả.

1. William Ruane (24/10/1925 – 4/10/2005): Một doanh nhân, nhà đầu tư thành công người Mỹ. Năm 1970, ông đã thành lập công ty đầu tư Ruane Cunniff và trong cùng năm, giới thiệu quỹ Sequoia.

Vào cuối năm học Buffett, đề nghị được làm việc không công cho công ty đầu tư của Graham, Graham-Newman. Buffett kể lại “nhưng sau khi cân nhắc theo phép tính riêng của mình về giá trị so với giá tiền, Ben đã trả lời là không”. Buffett đã không nhận được lời mời làm việc từ Graham cho đến năm 1954, khi ông bắt đầu với vị trí “sai vặt” tại Công ty Graham-Newman và là học sinh của Ben về các phương thức đầu tư giá. Về cơ bản, Graham tìm kiếm các “món hời” mà ông định nghĩa một cách cứng nhắc là cổ phiếu có thể được mua với giá không quá 2/3 số vốn lưu động ròng. Ông đánh giá rằng hầu hết các công ty có thể được thanh lý với giá ít nhất là bằng số vốn lưu động ròng của họ; vì vậy trong trường hợp mua được với giá thấp hơn, ông cho đây là trong “biên độ an toàn”. Hiện nay chỉ có vài cổ phiếu có thể đáp ứng các tiêu chuẩn của Graham; nhưng trong những năm 1950 có rất nhiều cổ phiếu như vậy.

Buffett, tiếp thu lý thuyết của Graham, đã trở lại Omaha vào năm 1956 ở tuổi 25. Ông đã sẵn sàng bắt tay vào con đường trở thành người giàu có và nổi tiếng. Gom 105.000 đô-la từ các quỹ hợp tác cá nhân từ một số thành viên gia đình và bạn bè, ông thành lập công ty TNHH hợp danh Buffett. Phương án phân chia lợi nhuận của công ty hợp danh đơn giản là: Các thành viên hữu hạn kiếm được 6% lợi nhuận trên vốn của họ và nhận được 75% tổng lợi nhuận có thêm; còn thành viên chính Buffett sẽ nhận 25% còn lại. Công ty hợp danh đạt lợi nhuận ấn tượng từ đầu và khả năng của chàng trai trẻ này lan truyền đã thu hút nhiều thành viên mới tham gia đầu tư tiền vào công ty.

Vào thời điểm năm 1969 khi Buffett quyết định giải thể công ty hợp danh vì mất dần hứng thú với một thị trường nghiêng mạnh về đầu cơ, ông đã quản lý 100 triệu đô-la, trong đó 25 triệu đô-la là của riêng ông – phần lớn số này chính là trái ngọt từ phần lợi nhuận ông được chia. Hơn 13 năm hoạt động, công ty hợp danh của ông đã đạt được mức lợi nhuận bằng số vốn ban đầu nhân với tỷ lệ kép hằng năm là 29,5%. Kỷ lục này là tiền thân của thành tích ông và công ty Berkshire đạt được: 23,1%. Điều kịch tính trong thành tích của Berkshire chính là ông đã đạt lợi nhuận khổng lồ trên vốn của công ty trong khi giữ lại 100% lợi nhuận này vì Berkshire không chi trả cổ tức. Việc này có nghĩa rằng ông phải tìm kiếm thêm những công ty khác để đầu tư khi lượng tiền tăng lên nhanh chóng. Vốn chủ sở hữu của công ty vào cuối năm đó lên đến 2,8 tỷ đô-la, một con số ấn tượng được nhân lên từ những tỷ lệ lãi kép cao tột bậc.

Bất chấp thành tích nổi bật của công ty hợp danh, ngày nay Buffett cảm thấy rằng ông đã quản lý nguồn vốn công ty với chỉ một phần năng lực về đầu tư của mình. Trong báo cáo thường niên năm 1987, Buffett than vãn về 20 năm uổng phí đã qua, khoảng thời gian bao gồm những ngày hoạt động công ty hợp danh, khi ông tìm kiếm những “món hời” và, hỡi ôi, “tôi thật không may mắn để tìm thấy chúng.” Ông đã trừng phạt mình bằng “một bài học giáo dục về nền kinh tế bao gồm những nhà máy sản xuất thiết bị nông nghiệp với giá rẻ, những cửa hàng bách hóa hạng ba, và các công ty dệt may ở New England”. Công ty sản xuất thiết bị nông nghiệp đó là Dempster Mill Manufacturing ở Nebraska; cửa hàng bách hóa Hochschild Kohn của Baltimore; và công ty dệt may chính là Berkshire Hathaway.

Công ty hợp danh Buffett đã đầu tư vào và rút vốn ra khỏi Dempster và Hochschild Kohn nhanh chóng trong những năm 1960. Berkshire Hathaway, doanh nghiệp dệt may, được công ty hợp danh mua với giá khoảng 11 triệu đô-la, lại là một trường hợp lâu dài hơn. Buffett đã điều hành doanh nghiệp này trong 20 năm trong khi luôn lấy làm tiếc về sự không sáng suốt của mình khi đầu tư vào những vũng lầy của ngành công nghiệp như vải lót áo vest nam, lĩnh vực mà công ty ông chỉ đơn giản là nhà sản xuất và không có bất kỳ lợi thế nào. Buffett thường định kỳ giải thích trong báo cáo thường niên của mình lý do vì sao ông bám trụ với công ty có khả năng kinh tế yếu kém như vậy. Ông cho biết công ty này là một nhà tuyển dụng lớn tại New Bedford, Massachusetts; các nhà quản lý của công ty đã thẳng thắn với ông và họ có vẻ như là những nhà quản lý doanh nghiệp thành công như ông muốn; cái giá của việc sáp nhập cũng rất hợp lý. Nhưng cuối cùng, vào năm 1985, Buffett định đóng cửa công ty. Ông không muốn rót thêm vốn đầu tư nữa dù số tiền này sẽ cần thiết nếu ông muốn tồn tại trong ngành kinh doanh cực kỳ đáng chán này.

Vài năm trước đó, trong báo cáo thường niên của mình, Buffett có viết một dòng đã trở nên nổi tiếng: “Với vài ngoại lệ, trong trường hợp một nhà quản lý giỏi có tiếng điều hành một doanh nghiệp kinh doanh tệ có tiếng, chỉ tiếng xấu về doanh nghiệp là không suy suyển.” Câu cảm thán này cũng như một lời tiếc thương dành cho kinh nghiệm về ngành dệt may của Buffett. Trong đầu của ông, đây không chỉ là trường hợp một số vốn đầu tư tương đối nhỏ gặp thất bại. Tính toán số tiền mà Berkshire có thể kiếm được nếu ông không đánh cược vào ngành vải vóc, ông nghĩ con số này có khả năng vào khoảng 500 triệu đô-la.

Đôi khi trong những năm uổng phí đã qua của mình, Buffett tìm thấy doanh nghiệp kinh doanh tốt nào đó và ông sẽ đổ những khoản tiền lớn bất thường vào cơ hội này như thể một hành động ngớ ngẩn ông làm khi bị giật mình. Năm 1951, ông chỉ đầu tư tiền riêng chủ yếu vào những “món hời” như hãng thời trang Timely và công ty đường sắt Des Moines, Buffett bị GEICO cuốn hút. Chi phí phân phối thấp và các gói đăng ký bảo hiểm tốt hơn những công ty khác là lợi thế trọng yếu của GEICO. Mặc dù công ty này không đáp ứng tiêu chuẩn đề ra trong bài kiểm tra toán học của Ben Graham, Buffett vẫn quyết định đổ 10.000 đô-la, khoảng bằng 2/3 tài sản ròng của ông vào cổ phiếu GEICO.

Ông đã bán số cổ phiếu này một năm sau đó với giá lời 50% và không sở hữu bất kỳ cổ phiếu nào của công ty cho đến năm 1976. Thời gian này GEICO đã có quy mô lớn hơn nhưng đang trên bờ vực phá sản vì tính sai chi phí bồi thường và bị rớt giá. Tuy nhiên, Buffett thấy rằng lợi thế cạnh tranh của công ty vẫn còn nguyên. Ông cũng nhìn thấy khả năng của John J. Byrne, một Giám đốc Điều hành mới được đề bạt có thể vực dậy công ty. Trong hơn 5 năm Buffett đã đầu tư 45 triệu đô-la vào GEICO. Byrne đã đưa công ty phát triển trở lại. Byrne trở thành một người bạn thân của Buffett và thường tìm kiếm lời khuyên của ông. GEICO ngày nay là một ngôi sao trong ngành, và cổ phần của Berkshire có giá trị 800 triệu đô-la.

Trong một dịp khác, năm 1964, khi đang còn điều hành công ty hợp danh, Buffett đầu tư mua cổ phiếu American Express vào thời điểm xảy ra vụ bê bối dầu trộn salad. Một công ty con của Amex1 đã phát hành các chứng từ kho để chứng nhận khống cho một lượng khổng lồ dầu không có thực. Trong trường hợp cơ bản xấu nhất,, American Express có thể vượt qua khủng hoảng và mất hết tài sản ròng. Cổ phiếu của công ty giảm mạnh. Ben Graham lẽ ra đã coi thường cổ phiếu này bởi theo định nghĩa của ông, nó không nằm trong biên độ an toàn. Nhưng khi Buffett xem xét các đặc quyền đi kèm trong thẻ thanh toán của công ty, và khả năng kinh doanh các loại séc dành cho dân du lịch, ông đã đúc kết rằng vẫn có những lợi thế có thể đưa Amexco vượt qua bất kỳ thách thức nào. Buffett có một nguyên tắc ngầm là sẽ không đầu tư quá 25% tiền của công ty hợp danh cho một cổ phiếu ở một thời điểm. Ông đã phá lệ trong trường hợp của American Express với mức cam kết là 40%, tức 13 triệu đô-la. 2 năm sau ông đã bán cổ phiếu và thu lợi 20 triệu đô-la.

1. Tên viết tắt của American Express.

Buffett nghĩ mình luôn được Charles T. Munger1, 64 tuổi, Phó Chủ tịch của Berkshire và là nhân vật có tên “Charlie” trong các báo cáo thường niên của ông, thúc giục, ủng hộ và truyền động lực để thúc đẩy ông đầu tư vào các công ty tốt tăng giá trị bền vững, thay vì để công việc gián đoạn. Trong hệ thống công ty ở Mỹ, phó chủ tịch thường không đóng vai trò quan trọng. Nhưng đây chắc chắn không phải là trường hợp ở Berkshire Hathaway.

1. Charles Thomas Munger (1924): Nhà đầu tư người Mỹ, hiện đang là phó Chủ tịch Tập đoàn Berkshire Hathaway.

Trí thông minh của Munger chắc hẳn cùng tầm với Buffett, và cả hai có thể nói chuyện ngang hàng với nhau. Tuy nhiên, họ có khác biệt về cử chỉ và quan điểm chính trị – Munger là một người truyền thống ủng hộ Đảng Cộng hòa, còn Buffett là một người bảo thủ theo Đảng Dân chủ. Mặc dù đôi khi phải tiết chế trong báo cáo thường niên, nhưng Buffett có khả năng phê bình khéo léo khi nói chuyện trực tiếp. Munger thì lại thẳng thắn một cách sắc sảo. Vào năm ngoái, khi chủ trì các cuộc họp thường niên của Wesco, một công ty tiết kiệm và cho vay ở California với 80% cổ phần thuộc sở hữu của Berkshire, Munger đã tự nhận xét rằng: “Trong suốt cuộc đời tôi, chưa có ai nói rằng tôi khiêm tốn cả. Mặc dù khiêm tốn là một phẩm chất tôi rất ngưỡng mộ, nhưng tôi không nghĩ rằng mình thực sự sở hữu đặc điểm này.”

Giống như Buffett, Munger là người gốc Omaha, nhưng lúc còn trẻ cả hai người lại không biết nhau. Sau khi nhận được bằng tương đương bậc đại học trong Không lực Lục quân Mỹ và tốt nghiệp trường Luật Harvard, Munger đến Los Angeles, nơi ông gây dựng công ty luật được biết đến hiện nay với tên Munger Tolles & Olson. Trong một chuyến thăm lại Omaha năm 1959, Munger tham dự một bữa tiệc tối có mặt Buffett. Munger từng nghe câu chuyện về người đàn ông 29 tuổi tái định hình bối cảnh thị trường đầu tư Omaha này và ông đã chuẩn bị trước để không thấy bất ngờ. Tuy nhiên, ông đã hoàn toàn bị trí tuệ của Buffett khuất phục. Munger nói, “Tôi sẽ phải nói rằng tôi nhận ra gần như ngay lập tức Warren là một người xuất sắc như thế nào.”

Buffett đã phản ứng với giọng điệu của một người thuyết phục người khác cải đạo. Vì tin rằng luật sư là một nghề làm giàu chậm, ông bắt đầu thuyết phục Munger bỏ công việc ông đang làm và mở một công ty đầu tư hợp danh riêng. Cuối cùng, vào năm 1962, Munger đã chuyển đổi, mặc dù ông đã dự phòng cho cú đánh cược của mình bằng cách cũng tiếp tục công việc luật sư. Công ty hợp danh của ông nhỏ hơn nhiều so với công ty của Buffett, đầu tư tập trung hơn và kém ổn định hơn. Tuy nhiên, trong lịch sử 13 năm của công ty, mở rộng suốt năm 1975, Munger đã đạt tỷ lệ lãi kép trung bình hằng năm là 19,8%. Gia sản của ông đã tăng đúng như Buffett dự đoán: Trong số các cổ đông khác, ông đang sở hữu gần 2% cổ phiếu của Berkshire, gần đây trị giá khoảng 70 triệu đô-la.

Thời điểm gặp Buffett, Munger đã sẵn có những ý kiến mạnh mẽ về cách biệt lớn giữa doanh nghiệp kinh doanh tốt và doanh nghiệp kinh doanh tệ. Vì ông đang là giám đốc của một đại lý thuộc International Harvester ở Bakersfield và nhìn thấy rằng việc cải thiện một doanh nghiệp tầm thường khó khăn thế nào; là một cư dân vùng Los Angeles, ông nhận thấy sự phát triển thịnh vượng của tờ Los Angeles Times; trong đầu ông không hề tin vào những “món hời”, đó nên là thứ đáng quên. Vì vậy qua những cuộc hàn huyên với Buffett trong những năm qua, ông đã rao giảng về các phẩm chất của doanh nghiệp tốt, và theo thời gian Buffett hoàn toàn chấp nhận logic của trường hợp này. Đến năm 1972, Blue Chip Stamps, một chi nhánh của Berkshire được sáp nhập vào công ty mẹ đã trả số tiền gấp 3 lần giá trị sổ sách để mua Công ty Kẹo See’s, và kỷ nguyên tập trung vào các công ty kinh doanh tốt chính thức bắt đầu. “Charlie đã gây ảnh hưởng lớn đối với tôi,” Buffett nói. “Này bạn, nếu tôi chỉ nghe một mình Ben Graham, có phải tôi đã nghèo hơn rất nhiều không?”

Năm ngoái tại một bữa tiệc ở Los Angeles, đối tác cùng ăn tối với Munger quay sang ông và hỏi một cách hờ hững, “Hãy nói cho tôi biết, phẩm chất nào đóng góp phần lớn cho thành công to lớn của ông?” Nhớ lại thời điểm đáng nhớ này sau đó, Munger nói rằng: “Bạn có thể tưởng tượng được một câu hỏi tuyệt vời như vậy không? Và vì vậy, tôi nhìn sang con người tuyệt diệu này – người tôi chắc chắc sẽ rất mong được ngồi kế trong mọi bữa tiệc và nói: ‘Tôi là một người có lý trí. Đó là câu trả lời. Tôi rất lý trí.’” Giai thoại này có liên quan cụ thể vì lý trí cũng là phẩm chất mà Buffett cho rằng sẽ khác biệt với phong cách điều hành Berkshire của ông. Ông cũng thường thấy các doanh nghiệp khác thiếu đặc điểm này.

Về cơ bản, Buffett, Giám đốc Điều hành, thực hiện các công việc mà ông cho rằng mình có năng lực đặc biệt: phân bổ vốn, định giá trong những trường hợp nhất định, và phân tích các số liệu từ những ban quản trị trong công ty. Munger nói: “Warren sẽ chết nếu ông không nhận được số liệu hằng tháng.” Miễn là các số liệu này trông hợp lý, Buffett sẽ không can thiệp vào hoạt động của công ty mà để tự các nhà quản lý của ông điều hành và quản lý doanh nghiệp theo cách mà trí thông minh của họ dẫn dắt. Khi bàn về típ công ty ông muốn mua, Buffett luôn quy định rõ rằng các công ty này phải có sẵn một ban quản trị tốt vì theo ông: “Chúng tôi không thể cung cấp ban quản trị, và sẽ không làm như vậy.” Ông luôn quan tâm đến những tài năng làm việc cho mình. Hầu hết những người làm việc cùng Buffett đều giàu có và đến tuổi nghỉ hưu. Buffett thận trọng trong lời ăn tiếng nói để họ biết rằng ông luôn trân trọng đóng góp không ngừng của họ trong thành công tuyệt vời của cuộc đời ông.

Buffett định ra mức tiền lương cho người đứng đầu một công ty của mình nhưng không xác định các khoản tiền thưởng và phúc lợi vượt trên nó. Tất cả những người đứng đầu được trả thông qua các kế hoạch khuyến khích mà Buffett cẩn thận “đo ni đóng giày” để đạt được các mục tiêu lợi nhuận phù hợp – ví dụ như biên lợi nhuận hoạt động cao, giảm lượng vốn doanh nghiệp sử dụng, hay cải thiện kết quả bảo lãnh cho công ty bảo hiểm và sản xuất thêm nhiều “phí nổi” để Buffett đầu tư. Những ưu đãi là không giới hạn. Và do đó, Mike Goldberg thuộc công ty bảo hiểm đã kiếm được 2,6 triệu đô-la trong năm 1986 và 3,1 triệu đô-la vào năm ngoái. Mặt khác, trong năm 1983 và năm 1984, khi công ty bảo hiểm hoạt động kém, ông chỉ nhận mức lương cơ bản của mình vào khoảng 100.000 đô-la. Dự đoán về tương lai khi điều hành một công ty bảo hiểm chuyển động nhanh, Goldberg nghĩ rằng ông có thể trở lại nhận mức lương cơ bản một lần nữa vào năm 1990. Buffett nhận được mức lương cơ bản đúng nghĩa là 100.000 đô-la mỗi năm.

Với mức lương này ông cung cấp một dịch vụ tư vấn chắc chắn có giá trị tốt nhất so với các đối thủ. Các nhà quản lý có thể gọi ông bất cứ lúc nào họ muốn để xin ý kiến về bất kỳ vấn đề nào họ gặp phải, và không ai bỏ lỡ cơ hội được tham khảo kiến thức bách khoa toàn thư của ông về cách điều hành doanh nghiệp. Stanford Lipsey, chủ tờ Buffalo News, thường trò chuyện với Buffett một vài buổi tối trong tuần, thường là vào buổi tối. Ralph Schey, Chủ tịch của Scott Fetzer nói rằng ông sẽ lưu lại những thắc mắc để hỏi Buffett mỗi một hoặc hai tuần. Còn gia đình mà Buffett thường gọi là “những thành viên tuyệt vời nhà Blumkin”, người điều hành Siêu thị Nội thất Nebraska thì thường có những buổi ăn tối được tổ chức vài tuần một lần tại một nhà hàng ở Omaha để học hỏi Buffett. Những thành viên nhà Blumkin tham dự buổi ăn tối thường bao gồm Louie, 68 tuổi và các con trai của ông: Ron, 39 tuổi; Irv, 35 tuổi và Steve, 33 tuổi.

Nữ chúa của gia đình và là Chủ tịch Siêu thị Nội thất chính là Rose Blumkin, bà đã nhập cư từ Nga khi còn trẻ, bắt đầu với một cửa hàng đồ nội thất nhỏ bán giá rẻ kịch sàn với phương châm “Bán rẻ và nói sự thật”, từ đó xây dựng nó thành một doanh nghiệp với 140 triệu đô-la doanh thu vào năm ngoái. Ở tuổi 94, bà vẫn làm việc 7 ngày một tuần trong bộ phận thảm trải sàn. Trong báo cáo thường niên mới của mình, Buffett cho rằng bà ấy rõ ràng đang trên đà tăng tốc và “có thể đạt đến khả năng tốt nhất trong 5 hay 10 năm nữa. Vì vậy, tôi đã thuyết phục được Hội đồng Quản trị loại bỏ chính sách bắt buộc-về- hưu-ở-tuổi-100 của chúng tôi. Điều này chỉ còn là vấn đề thời gian mà thôi, ông cho biết thêm: “Qua mỗi năm, chính sách này càng có vẻ ngu ngốc hơn đối với tôi.”

Đúng vậy, ông đang chế nhạo, nhưng Buffett hoàn toàn không thấy tuổi tác có bất kỳ cản trở nào đối với khả năng của một nhà quản lý. Có lẽ vì ông thường mua những công ty có ban quản trị tốt và gắn bó với họ. Trong nhiều năm qua ông đã làm việc với rất nhiều giám đốc điều hành lớn tuổi hơn và trân trọng khả năng của họ. Ông nói, “Chúa ơi, những nhà quản lý tốt rất khan hiếm nên tôi không thể để họ về hưu chỉ vì họ già thêm một tuổi.” Louis Vincenti, giữ vị trí Chủ tịch Wesco cho đến ngay trước khi ông qua đời ở tuổi 79, đã từng định kỳ đặt câu hỏi liệu ông có nên đào tạo một người kế nhiệm hay không. Buffett sẽ cười lớn và làm ông mất hứng khi trả lời: “Này, Louie, dạo này mẹ ông có khỏe không?”

Các công ty Berkshire không gắn kết dưới bất kỳ hình thức nào. Không có những cuộc họp quản lý toàn công ty và phần lớn những người đứng đầu các doanh nghiệp không hề biết nhau, hoặc cùng lắm chỉ nói với nhau vài câu. Buffett chưa bao giờ đến thăm Fechheimer tại Cincinnati. Charles “Chuck” Huggins1, Chủ tịch của công ty Kẹo See’s chưa bao giờ đến Omaha để thăm công ty mẹ trong suốt 16 năm Berkshire sở hữu nó.

1. Charles “Chuck” Huggins (2/3/1925 – 19/8/2012): Chủ tịch của công ty Kẹo See’s từ năm 1972 đến năm 2006.

Đương nhiên, Buffett không áp đặt bất kỳ hệ thống quản lý nào lên các lãnh đạo của những doanh nghiệp trực thuộc, để họ được tự do thả lỏng hay thắt chặt như họ muốn. Schey, 63 tuổi, Giám đốc Điều hành Scott Fetzer (doanh thu năm 1987 là 740 triệu đô-la) là một sinh viên của trường Kinh doanh Harvard. Ông đã sử dụng toàn bộ các công cụ quản lý như: các bản ngân sách chi tiết, kế hoạch chiến lược, các cuộc họp kín hằng năm với nhân viên điều hành của mình. Cách đó vài trăm dặm tại Công ty Fechheimer (doanh thu năm 1987 là 75 triệu đô-la), Robert Heldman, 69 tuổi, và anh trai George, 67 tuổi, ngồi cùng nhau mỗi sáng trong một phòng họp lộn xộn và đọc tất cả các lá thư gửi đến trụ sở. Vì không muốn bị coi là một kẻ cực đoan, Bob Heldman đã phân trần rằng, “Dù vậy cũng có người đã mở sẵn trước các lá thư cho chúng tôi”.

Là những doanh nghiệp mới nhất được mua lại bởi Berkshire, Scott Fetzer và Fechheimer đã tập làm quen với cách làm việc của vị sếp khác người này ở Omaha. Cách đây vài năm, trước khi bán công ty cho Berkshire, Schey đã cố gắng dẫn dắt một vụ mua lại để giữ quyền quản lý nhằm đưa Scott Fetzer, một công ty đã niêm yết trên sàn chứng khoán, thành công ty tư nhân. Nhưng Ivan Boesky đã can thiệp vào thỏa thuận, làm tương lai của công ty trở nên mờ mịt. Vào lúc này, Buffett viết một lá thư thăm dò gửi đến Schey. Buffett và Munger gặp Schey vào thứ Ba ở Chicago, ngay lập tức đưa ra đề nghị mua lại. Ông bỏ qua các “cuộc khảo sát tính khả thi” dông dài mà những nhà mua bán sáp nhập thường yêu cầu. Một tuần sau đó, ban quản trị Scott Fetzer đã chấp thuận bán công ty.

Schey xem vụ mua lại này là minh họa về thái độ làm việc linh hoạt mà ông nhận thấy khi làm việc với Buffett. Ông cảm thấy, “Nếu tôi không thể sở hữu riêng công ty Scott Fetzer, thì đây là phương án tốt nhất tiếp theo” – tốt hơn là làm một công ty đại chúng. Trong viễn cảnh đó, ông thấy các nhà đầu tư tổ chức đang bám theo mình và một ban quản trị có xu hướng cực kỳ thận trọng khi xem xét những bước đi chính yếu. Ví dụ tiêu biểu nhất về Schey là ý định của ông về việc tản quyền quản lý công ty World Book, vốn đang đóng đô tại Siêu thị Hàng hóa Chicago mãi mãi. Schey nói rằng ban quản trị cũ của ông chắc hẳn sẽ phản đối nguy cơ của việc tái cơ cấu; trong khi Buffett ủng hộ ông tiến về phía trước. Schey cho biết, với một nụ cười trên môi, rằng Buffett cũng đã giải quyết các vấn đề lặp đi lặp lại mà Scott Fetzer gặp phải khi tìm cách sử dụng tất cả số tiền nó kiếm được từ việc kinh doanh tốt. Schey nói rằng, “Bây giờ tôi chỉ cần gửi số tiền này cho Buffett.”

Các thành viên nhà Heldman thuộc công ty Fechheimer đã bán 80% cổ phần công ty của họ vào năm 1981 cho một nhóm đầu tư mạo hiểm và theo lời khuyên của một nhà tư vấn, họ đã đầu tư một phần vào cổ phiếu của Berkshire Hathaway. Khi nhóm đầu tư mạo hiểm quyết định rút vốn vào năm 1985, Bob Heldman nhớ lại lời mời sáp nhập trong báo cáo thường niên của Buffett và ông đã thương lượng để đưa công ty về dưới trướng Berkshire. Mặc dù họ có mối quan hệ thân mật với các nhà đầu tư mạo hiểm, các thành viên nhà Heldman đều ghét tất thảy 6 cuộc họp hội đồng quản trị ở New York mà họ phải tham dự mỗi năm và cả những chi phí xa hoa của các cuộc họp này. Bob Heldman nhận xét rằng Buffett là một người “tuyệt vời”. Liệu có điều gì ông muốn ông ấy sẽ làm khác đi không? “Có chứ,” Heldman nói, “ông ấy không bao giờ bình luận hay phê phán bất cứ việc gì chúng tôi làm. Có lẽ ông ấy nên thực hiện việc này nhiều hơn.” Buffett gầm rú khi nghe về khiếu nại này: “Tin tôi đi, nếu tôi thực sự cần phê bình những việc họ đã thực hiện thì tôi đã làm rồi, nhưng những việc đó chắc chắn không cần phê bình.”

Thực ra Buffett có thể rất khó tính. Ông nhớ lại việc đến thăm các bộ phận trong một công ty cách đây vài năm khi công ty này cài đặt các thiết bị xử lý dữ liệu “tiết kiệm lao động” mới nhưng vẫn để nhân sự trong bộ phận kế toán tăng từ 16,5 lên đến 22,5. Dù có phong cách quản lý thoải mái, nhưng Buffett vẫn biết về những con số như vậy và ông đã lên án chúng. Ông nghĩ rằng, luôn có những nhân viên phù hợp cho bất kỳ doanh nghiệp nào, cho dù doanh nghiệp đó đang kinh doanh tốt hay tệ, và ông hoàn toàn thiếu kiên nhẫn với các chi phí không cần thiết và những quản lý để các chi phí này xảy ra. Ông nói: “Bất cứ khi nào tôi đọc được về một công ty nào đó thực hiện một chương trình cắt giảm chi phí, tôi biết đó không phải là một công ty thực sự biết chi phí có vai trò như thế nào. Việc thực hiện một cách vội vàng không có ích gì cả. Một người quản lý thực sự giỏi không thức dậy vào buổi sáng và nói rằng, ‘Đây là ngày tôi sẽ phải cắt giảm chi phí,’ cũng giống như việc ông sẽ thức dậy và quyết định tập thở.”

Khi chỉ trích Buffett, việc mà các nhà quản lý của ông chỉ thực hiện một cách nhẹ nhàng, họ thường cho rằng ông quá lý trí và cầu toàn về con số. Không ai hoàn toàn có thể tưởng tượng ông trả tiền để mua một doanh nghiệp “hạt giống” nhỏ với tương lai khả thi nhưng lại không có gì ở hiện tại. Buffett và Munger không hề hoang phí một chút nào, họ thậm chí còn không muốn chi vốn cho các khoản không bắt buộc, chẳng hạn như văn phòng hào nhoáng, nếu chúng không đem lại bất kỳ giá trị kinh tế nào. Họ cũng không phải là những nhà phát minh. Buffett nói rằng, “Chúng tôi không có kỹ năng để phát minh. Trên hết, tôi đoán bạn sẽ nói rằng chúng tôi có ý thức mạnh mẽ về những hạn chế riêng của chúng tôi.”

Dù sao, hai ông không hề rụt rè về các mức giá. Buffett cùng người đứng đầu của cả hai công ty See’s và Buffalo News định ra các mức giá mỗi năm một lần và ông thường rất quyết đoán. Ông cho biết một giám đốc điều hành có cách nhìn về giá mà một người quản lý bộ phận không có: “Người quản lý chỉ phụ trách một doanh nghiệp. Phương trình của anh ta cho biết sẽ không quá nghiêm trọng nếu anh ta định ra giá quá thấp. Nhưng nếu trả giá quá cao, anh ta sẽ chỉ quanh quẩn đi giải quyết vấn đề giá cao đó mà thôi. Và không ai biết giá cả tăng sẽ ảnh hưởng thế nào cả. Đối với các nhà quản lý, đó giống như trò chơi cò quay của nước Nga1. Còn giám đốc điều hành phải cân nhắc rất nhiều yếu tố thì sự việc lại không đơn giản như vậy. Vì vậy tôi không cho rằng một người có kinh nghiệm đa dạng và ở ngoài cuộc nên thiết lập mức giá trong các trường hợp nhất định.”

1. Trò chơi cò quay Nga (Russian roulette): Người chơi cầm khẩu súng có ổ quay có nhiều lỗ đạn, với chỉ một lỗ có đạn thật để bắn vào đầu.

Buffett mở rộng kinh nghiệm của riêng ông về một loại giá khác: Hệ thống mức phí bảo hiểm đề ra đối với các chính sách bảo hiểm có rủi ro lớn, chẳng hạn như bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm. Đây là một trong những trò chơi gồm các phí bảo hiểm đáng giá 7 và 8 con số, những xác suất, và “phí nổi” nhiều năm trời. Trò chơi này được đặt làm riêng cho Buffett, người thường tự tính nhẩm trong đầu và đưa ra mức giá đấu thầu. Ông không sở hữu một chiếc máy tính xách tay hay bàn tính nào cả, và sẽ không bao giờ thấy cần bất kỳ trợ giúp toán học nào. Mặc dù hầu như không thể chứng minh quan điểm này, nhưng ông là tỷ phú duy nhất vẫn còn tự tính thuế thu nhập của mình.

Tại văn phòng của mình tại Omaha, thực ra ông làm những gì ông thích, sống một cuộc đời không vội vã, không rắc rối và hầu như không cần theo kế hoạch. Ở trụ sở chính chỉ có tổng cộng 11 người ở vị trí quản lý, và Buffett nghĩ con số này là quá nhiều. Nơi này hoạt động hiệu quả dưới sự chỉ đạo của Gladys Kaiser, 59 tuổi, người đã làm việc với ông 20 năm và là người ông muốn làm việc cùng mãi mãi. Buffett nói, “Nếu Gladys không thể có một thứ gì đó thì tôi cũng không chắc là tôi muốn nó.”

Ông dành hàng giờ trong văn phòng của mình để đọc sách, nói chuyện điện thoại. Và trong giai đoạn từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, chăm chút báo cáo thường niên của mình vì danh tiếng là một trong những sự thỏa mãn sâu xa của cuộc đời ông. Ông không hề ủ rũ. Chuck Huggins của công ty See’s nói, “Khi trò chuyện với ông ấy, tôi thấy ông ấy luôn rất hứng khởi và tích cực.” Nhưng nhìn chung ông có vẻ là một người cô độc trong văn phòng của mình, thường ít giao tiếp và kém duyên dáng như khi trò chuyện qua điện thoại với bạn bè hay các nhà quản lý. Munger nghĩ rằng các nhà quản lý sẽ không thể nào thành công khi thực sự ở vào cùng vị trí với Buffett. “Ông ấy thông minh kinh khủng và nhanh nhạy đến mức làm cho người xung quanh luôn cảm thấy áp lực tinh thần khi liên tục phải cố gắng bắt kịp ông ấy. Bạn sẽ cần một cái tôi mạnh mẽ để sống sót tại trụ sở chính.” Goldberg, người đã từng bị thử thách cái tôi, cho rằng điều này thật không dễ dàng. “Tôi đã có cơ hội thấy ông làm việc và người đàn ông này thật không thể tin được. Câu hỏi tiêu cực đặt ra là: Bạn có bao giờ nghĩ nhiều về những khả năng của riêng bạn sau khi được tiếp xúc với Buffett?”

Khi Buffett mua cổ phiếu, ông thường dừng các cuộc trò chuyện điện thoại khác để gọi vào 3 đường dây kết nối thẳng đến các nhà môi giới. Nhưng ông sẽ kể trong báo cáo thường niên mới rằng ông không có nhiều việc phải làm về cổ phiếu trong thời gian gần đây. Ông viết “Trong kỳ nghỉ vào tháng 10, chúng tôi đã quan tâm đến một vài cổ phiếu giảm giá, nhưng không thể mua những cổ phiếu này trước khi chúng hồi phục giá.” Vào cuối năm, Berkshire đã không nắm giữ vị thế cổ phiếu nào trị giá hơn 50 triệu đô-la ngoài những cổ phần “dài hạn” và một vị thế ngắn hạn để kiếm lời nhờ chênh lệch giá có trị giá 78 triệu đô-la thuộc Allegis, công ty đang tái cơ cấu triệt để.

Những người bạn Buffett thường trò chuyện qua điện thoại và gặp gỡ bao gồm một vài giám đốc điều hành khác, trong đó có Katharine Graham của Washington Post và Murphy của Cap Cities. Graham đã nhờ ông tư vấn trong nhiều năm. Vì cô phát biểu rằng, “Tôi đang theo học để lấy bằng của Trường Kinh doanh Buffett.” Buffett nghĩ Murphy là nhà quản trị tốt nhất trong cả nước, nhưng Murphy cũng nhờ ông tư vấn. “Tôi nói chuyện với ông ấy về tất cả các khía cạnh quan trọng trong doanh nghiệp của tôi”, Murphy nói. “Ông ấy không bao giờ bi quan và luôn luôn ủng hộ tôi. Ông ấy rất thông tuệ và có một khả năng tiếp nhận thông tin rất đặc biệt. Bạn biết đấy, chúng tôi được coi là các nhà quản lý khá tốt ở đây, nhưng khả năng của ông ấy còn vượt trội hơn hẳn chúng tôi.”

Buffett nghĩ rằng khả năng đầu tư của ông được hỗ trợ bởi những kinh nghiệm kinh doanh, và ngược lại. Ông chia sẻ: “Đầu tư đem đến cho bạn tầm nhìn rộng mà bạn không thể tự mình có. Là một nhà đầu tư, bạn sẽ tìm hiểu những điều bất ngờ đang ở đâu. Ví dụ như trong ngành bán lẻ nơi mà doanh nghiệp có thể biến mất. Và nếu bạn là một nhà đầu tư thực sự giỏi, bạn sẽ nhìn lại và học được 50 năm kinh nghiệm của người khác. Bạn cũng sẽ tìm hiểu về phân bổ vốn. Thay vì chỉ đổ nước vào một cái xô, bạn sẽ tìm hiểu xem các xô khác có những gì.”

Ông tiếp tục chia sẻ, “Mặt khác, bạn có thể thực sự giải thích cho việc một con cá đi trên đất là như thế nào? Một ngày ở trên mặt đất đáng giá 1.000 năm đối về nó, và một ngày điều hành doanh nghiệp cũng đáng giá như vậy. Điều hành một doanh nghiệp thực sự sẽ khiến bạn hiểu rõ mọi việc.” Ông đánh giá tóm tắt: Thật tốt nếu đặt được một chân vào cả hai lĩnh vực.

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.