Ngày 11 tháng 4 năm 1988
Carol Loomis
Warren Buffett cho biết trong báo cáo thường niên của Berkshire Hathaway năm 1987 rằng, “Chúng tôi không có những hiểu biết đặc biệt sâu sắc về định hướng hoặc lợi nhuận tương lai của ngân hàng đầu tư. Những gì chúng tôi biết rõ chính là năng lực và tính liêm chính của John Gutfreund, Giám đốc Điều hành Salomon.” Với tuyên bố này, Buffett đã dẹp tan những tin đồn càn quét Phố Wall trong nhiều tháng về việc ông thường thể hiện rằng mình muốn (a) Gutfreund từ chức và (b) một người giống như William Simon sẽ lên thay.
Vì Buffett có chính sách không thực hiện các quyết định ngược với đường lối của ban quản trị các công ty ông đầu tư, nên tin đồn này luôn trong tầm kiểm soát. Nhưng thời điểm nổ ra vụ đầu tư Salomon của Buffett năm ngoái gần như khẳng định rằng những câu chuyện đồn đại sẽ bắt đầu lan xa hơn. Vào ngày 1 tháng 10, ông đã đầu tư 700 triệu đô-la tiền của Berkshire vào cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi có thể bồi hoàn thuộc Salomon. Đây là vụ đầu tư lớn nhất của Buffett. Cổ phiếu trả lãi suất 9%, và có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường với giá 38 đô-la một cổ phiếu sau 3 năm, còn nếu không được chuyển đổi thì sẽ được hoàn trả lại trong vòng 5 năm kể từ năm 1995. Mức đỉnh điểm là 38 đô-la một cổ phiếu. Khi Buffett đạt được thỏa thuận, cổ phiếu của Salomon ở vào khoảng 33 đô-la. Sau ngày 19 tháng 10 cổ phiếu đã hạ giá xuống còn 16 đô-la và gần đây là 23 đô-la.
Vụ sụp đổ làm thay đổi nhận định của Phố Wall về động thái đầu tư của Buffett. Từ đầu người ta nghĩ ông đã mua một chứng khoán trong mơ, với giá trị nhiều hơn giá mà ông đã trả. Người ta nói rằng Salomon hoảng sợ trước viễn cảnh chuyên gia thâu tóm Ronald Perelman1 có thể tiếp quản và vì vậy đã cho phép Buffett giành được một chút gì đó. Bài phân tích sau vụ đổ vỡ xem xét những xáo trộn và thiếu sót tại Salomon cho thấy Buffett đã mua một ngân hàng thụ động và toàn bộ uy tín của ông ở vai trò một nhà đầu tư đang bị đe dọa.
1. Ronald Perelman: Một doanh nhân người Mỹ nổi tiếng là người chuyên thâu tóm các công ty sắp phá sản và thu lợi nhuận kếch xù từ các công ty này.
Buffett lưu ý trong báo cáo thường niên của ông rằng khả năng sinh lời của ngân hàng đầu tư còn khó dự đoán hơn so với khả năng sinh lời của hầu hết các doanh nghiệp mà ông sở hữu nhiều cổ phần. Ông nói rằng đó là một trong những lý do ông đã chọn mua cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi. Nhưng ông cũng có vẻ bình thản về triển vọng: “Chúng tôi tin rằng có khả năng hợp lý là một tổ chức hàng đầu, với vốn huy động chất lượng cao và ở vị thế tạo lập thị trường có thể đạt lợi nhuận trung bình tốt trên vốn chủ sở hữu. Nếu vậy thì quyền chuyển đổi của chúng tôi cuối cùng sẽ chứng minh được là có giá trị.” Nhân tiện, ông cũng nói thêm rằng ông muốn mua thêm các cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi khác của Salomon, như thể ông hoàn toàn tin tưởng vào tương lai cổ phiếu.
Khía cạnh hấp dẫn nhất trong vụ đầu tư Salomon của Buffett chính là nó đã đặt ông vào cùng phe với các nhà đầu tư Phố Wall, những người tham lam mà ông đã từng đánh bại trong quá khứ. Trong báo cáo thường niên năm 1982 ông đã chế giễu sự linh hoạt quá mức của ngân hàng đầu tư khi đưa ra bất cứ lời khuyên nào có thể đem lại nhiều lợi nhuận nhất cho họ. “Đừng hỏi thợ cắt tóc rằng bạn có cần cắt tóc hay không,” ông nói. Nhưng báo cáo năm nay cho thấy ông đánh giá khả năng của Gutfreund hơn một bậc so với người khác. Buffett cho biết, khi làm việc với Gutfreund, ông từng thấy ông ấy khuyên khách hàng đừng thực hiện các ý định họ muốn làm, mặc dù việc này sẽ làm Salomon mất đi nguồn thu lớn.
Xin lưu ý rằng mô tả của Buffett về con đường kinh doanh của Salomon không bao gồm những thuật ngữ thông dụng ở Phố Wall như “ngân hàng thương nhân”. Đối với Buffett, các khoản vay bắc cầu1, mốt hiện thời của ngân hàng thương nhân và là bước đệm cho những vụ thâu tóm bằng đòn bẩy, thường giống như các cam kết nguy hiểm – đó là những khoản nợ cấp thấp đến mức gần như là vốn. Ông và cộng sự Charles Munger đều là giám đốc của Salomon. Cả hai đều có thể cân nhắc rằng công ty nên tránh thực hiện các khoản vay bắc cầu. Nhưng Buffett cho biết: “Nếu John Gutfreund quyết định thực hiện vay bắc cầu, chúng tôi sẽ ủng hộ ông ấy. Chúng tôi không mua các công ty nếu như phải tạo ra quá nhiều thay đổi. Việc này sẽ không mang lại kết quả gì tốt đẹp trong đầu tư, cũng giống như trong hôn nhân vậy.”
1. Khoản vay bắc cầu: Một khoản vay ngắn hạn được sử dụng cho tới khi một cá nhân hay công ty củng cố được khả năng tài chính dài hạn hoặc thanh toán được các nghĩa vụ nợ hiện tại.
Vụ đầu tư bão táp của Warren Buffett vào Salomon
Ngày 27 tháng 10 năm 1997
Carol Loomis
Một câu chuyện kỳ lạ, đau đớn về những chuỗi hành động gây hại và sai lầm đã đẩy Salomon đến bờ vực và dẫn tới “ngày quan trọng nhất” trong cuộc đời của Warren Buffett.
Khi Sanford I. Weill, 64 tuổi, Giám đốc Điều hành của Travelers Group bước vào vụ mua lại lớn nhất của ông – Ngân hàng Salomon, một ngân hàng nổi tiếng Phố Wall với trị giá 9 tỷ đô-la – cũng là lúc Warren E. Buffett, 67 tuổi, rời khỏi Salomon. Ông ở đây gần như cả một thập kỷ, vào đầu mùa thu năm 1987, khi công ty Berkshire Hathaway của ông trở thành cổ đông lớn nhất của Salomon và ông đảm nhận vai trò Giám đốc. Nhưng giai đoạn này chỉ như một khóa huấn luyện chạy xe đạp gắn hai bánh phụ, không thể so sánh với màn trình diễn xe đạp một bánh trên không xuất hiện sau đó: khi Buffett thật sự điều hành Salomon với toàn tâm toàn ý suốt 9 tháng từ năm 1991 đến năm 1992. Đây là thời điểm các hoạt động giao dịch phi pháp của ngân hàng đã tạo tiếng xấu khiến Buffett phải nhảy vào để can thiệp. Mặc dù đã có nhiều bài báo viết về Buffett và Salomon, nhưng nhiều thông tin bạn đọc được dưới đây hoàn toàn mới. Vì tôi là một người bạn hơn 30 năm của Buffett và là một cổ đông lâu năm của Berkshire (mặc dù tôi chưa bao giờ là cổ đông của Salomon cả). Là một người bạn của ông, tôi cũng giúp chỉnh sửa các báo cáo thường niên nổi tiếng của ông mỗi năm. Và chúng tôi đã bàn tính hàng thế kỷ để hợp tác viết một cuốn sách về cuộc đời kinh doanh của ông. Những lý do trên đã đem đến cho tôi nhiều cơ hội để học hỏi tư duy của Buffett. Một số thông tin tôi lượm lặt đã được đưa vào những bài báo trên tạp chí Fortune, đặc biệt nhất là bài báo ngày 11 tháng 4 năm 1988 “Câu chuyện bên trong của Warren Buffett”, và trong phần thông tin đính kèm “Sự Sáng suốt của vụ Salomon?” Tuy nhiên, phần lớn những gì tôi biết về trải nghiệm của Buffett tại Salomon vào năm 1991 là bí mật vì Buffett đã yêu cầu tôi không chia sẻ các thông tin này. Bởi lúc đó Salonmon đang vật lộn để lấy lại vị thế và đối phó với các vấn đề pháp lý nghiêm trọng. Sau đó, mặc dù thời điểm khó khăn đã qua và yêu cầu giữ bí mật từ Buffett có thể đã được dỡ bỏ, vẫn chưa có lý do tức thời nào để tôi công bố câu chuyện này. Và lúc này là thời điểm thích hợp khi mà việc hợp tác với Travelers diễn ra. Thêm một lý do nữa là: Câu chuyện kịch tính năm 1991 đưa ra một thông điệp mạnh mẽ về các mối nguy hiểm ẩn nấp trong một hệ thống tài chính đang phát triển phức tạp hơn mỗi ngày.
Câu chuyện này nên bắt đầu với nhận định rằng 10 tháng Buffett điều hành Salomon chính là khoảng thời gian đột phá sâu sắc trong nhịp điệu cuộc đời ông. Warren Buffett là một nhà điều hành đã quá quen với việc đưa ra một quyết định đầu tư lớn mỗi năm, nhưng Salomon đã đẩy ông đến việc phải thực hiện 25 quyết định một ngày. Trọng tâm của trải nghiệm này diễn ra vào ngày mà ông gọi là “ngày quan trọng nhất của cuộc đời tôi”, Chủ nhật ngày 18 tháng 8 năm 1991 khi Bộ Tài chính Mỹ lần đầu tiên cấm Salomon đấu thầu trong các cuộc đấu giá trái phiếu chính phủ. Nhưng sau đó, nhờ những nỗ lực của Buffett, họ đã bãi bỏ lệnh cấm đấu thầu. Trong suốt 4 giờ hồi hộp giữa hai thông báo, Buffett đã đấu tranh quyết liệt để tránh một thảm kịch mà ông nhìn thấy sự đe dọa của nó nếu diễn ra. Theo quan điểm của Buffett, lệnh cấm này sẽ đưa Salomon, công ty hiện đang được định giá 9 tỷ đô-la, đến nguy cơ phá sản. Thậm chí quan trọng hơn, ông đã tin và bây giờ vẫn tin rằng nếu việc này xảy ra, sự sụp đổ của Salomon sẽ làm lung lay tận gốc hệ thống tài chính thế giới.
Ngày Chủ nhật trong tháng 8 này thật khác xa với ngày Chủ nhật 27 tháng 9 năm 1987, khi Buffett và John Gutfreund, người sau đó trở thành Chủ tịch và Giám đốc Điều hành của Salomon, cùng đồng ý rằng Berkshire Hathaway sẽ mua 700 triệu đô-la cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi của Salomon, tương đương với 12% cổ phần trong công ty. Thỏa thuận này cho phép Gutfreund ngăn chặn “nghệ sĩ thâu tóm” Ronald Perelman, người dường như đã sẵn sàng để mua một khối lượng lớn các cổ phiếu phổ thông nhất định của Salomon mà các nhà đầu tư Nam Phi muốn bán. Với số tiền 700 triệu đô-la của Berkshire, Gutfreund đã có thể chốt một thỏa thuận cho phép chính Salomon mua lại cổ phiếu của nhóm các nhà đầu tư Nam Phi này. Nhờ vậy, Perelman đã thất bại.
Để hiểu vì sao Gutfreund lại chào đón Hiệp sĩ Trắng Warren Buffett thì dễ. Nhưng lại không dễ để hiểu vì sao Buffett muốn đầu tư vào Salomon, chưa kể đến việc ông tin tưởng đầu tư vào nó số tiền khổng lồ như vậy. 700 triệu đô-la là con số lớn nhất ông từng đầu tư vào một công ty đơn lẻ. Trong những năm qua, Buffett đã chế giễu các chủ ngân hàng đầu tư, chê cười nhiệt huyết của họ với những giao dịch sản sinh lợi nhuận lớn cho họ nhưng lại là thất bại cho khách hàng của họ. Ông cũng nói rằng mình thường chỉ muốn làm việc với những người ông thích. Thế mà ông đã ở đây, bàn giao một núi tiền Berkshire đã cẩn thận tích lũy và thu vén cho một nhóm những người có lối sống xa xỉ, hút xì gà liên tục, phớt lờ các quy định và sẽ sớm bị tai tiếng trong cuốn Trò bịp trên Phố Wall1?
1. Trò bịp trên Phố Wall (Liar’s Poker): Xuất bản năm 1989 của tác giả Michael Lewis. Cuốn sách mô tả kinh nghiệm của tác giả trong vai trò một tay buôn trái phiếu ở Phố Wall trong suốt thập niên 1980 (được Alpha Books mua bản quyền và xuất bản năm 2009).
Có một số lý do để giải thích nước cờ của Buffett, nhưng không có lý do nào trong số này thực sự đủ thuyết phục khi xét đến những câu chuyện tiếp theo. Đầu tiên là Buffett đã rất khó khăn trong một vài năm để tìm được những cổ phiếu ông nghĩ có giá hợp lý và ông phải cân nhắc đến các giải pháp thay thế là cổ phiếu của công ty có thu nhập cố định. Hai là đề nghị đầu tư vào Salomon đến từ John Gutfreund, người làm việc cho công ty GEICO mà Buffett nhận thấy là có nguyên tắc, không tham lam, có tác phong thân thiện với khách hàng. Berkshire lúc đó là một cổ đông lớn của GEICO (và công ty này hiện thuộc sở hữu 100% bởi Berkshire). Thực ra Buffett đã và vẫn đang ưu ái Gutfreund.
Một lời giải thích đơn giản thứ ba là Buffett nghĩ các điều khoản của thỏa thuận xứng đáng được chấp thuận. Thực ra, các cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi là các khoản đầu tư có thu nhập cố định kèm theo những tấm vé số. Trong trường hợp này, cổ phiếu đã phải trả lãi 9% và sau 3 năm sẽ được chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông Salomon với giá 38 đô-la một cổ phiếu so với mức giá nó đang được bán là 30 đô-la. Nếu Buffett không chuyển đổi cổ phiếu, số cổ phiếu này sẽ được mua lại sau 5 năm bắt đầu từ năm 1995. Đối với Buffett, đây có vẻ như là một đề xuất tốt. Ông đã nói với tôi vào năm 1987 rằng, “Đây không phải là cổ phiếu ‘mua 1 được 3’ mà bạn muốn có, nhưng cổ phiếu này có thể đem lại lợi nhuận ổn.”
Đối với một số những cái đầu tính toán thông minh tại Salomon, nhận định của Buffett được xem là một câu nói không đúng sự thật của năm. Từ ngày đầu, họ đã cho là như vậy và cũng thông báo với báo chí rằng Buffett đã lợi dụng nỗi sợ hãi Perelman của Gutfreund để cầm chắc một cổ phiếu đáng mơ ước, với cổ tức quá cao hoặc giá chuyển đổi quá thấp hoặc kết hợp cả hai. Trong vài năm tới, quan điểm này sẽ không mất đi ở Salomon, và hơn một lần các giám đốc điều hành của ngân hàng (mặc dù chưa bao giờ là Gutfreund) đã đến gặp Buffett với đề nghị bãi bỏ cổ phiếu ưu đãi.
Công bằng mà nói Buffett có thể đã nghiêm túc hơn khi xem xét những lời mời này nếu ông biết trước vụ bê bối phá hoại, gây sụt giảm lợi nhuận sẽ nổ ra vào tháng 8 năm 1991 và biết vì nó mà Salomon và cả cuộc sống của ông bị đảo lộn.
Một sân khấu nhỏ được dựng lên ở đây: Trước khi cuộc khủng hoảng ập đến, Salomon đang tổng kết một năm kinh doanh tuyệt vời. Danh tiếng của ngân hàng đã bị hoen ố chỉ với một cuộc điều tra của Bộ Tài chính về gói đấu giá T-bill vào tháng 5 khi Salonmon được cho là đã tạo ra tình huống gây sức ép lên vị thế với người bán khống. Bất chấp scandal nhơ nhớp này, cổ phiếu của Salomon vẫn leo lên đến mức 37 đô-la một cổ phiếu, mức giá rất gần với điểm chuyển đổi của Buffett là 38 đô-la.
Về câu chuyện xảy ra tiếp theo, chúng ta có thể bắt đầu bằng việc Buffett đến Reno. Đúng vậy, Reno là thành phố mà hai giám đốc điều hành một công ty con của Berkshire đã chọn để đi nghỉ hằng năm với Buffett. Khi đến Reno vào chiều thứ Năm ngày 8 tháng 8, Buffett đã kiểm tra với văn phòng của mình và biết rằng John Gutfreund đang trên đường từ London tới New York và muốn nói chuyện với ông vào tối hôm đó. Văn phòng Gutfreund cho hay sau đó ông ấy sẽ đến trụ sở công ty luật chính của Salomon, Wachtell Lipton Rosen & Katz, và Buffett đã đồng ý để gọi Gutfreund vào lúc 10 giờ 30 phút tối giờ New York.
Nghiền ngẫm chuyện này, Buffett kết luận rằng đây không thể là tin xấu bởi Gutfreund không lý nào lại có mặt New York chỉ để nhận tin xấu. Ông nghĩ có lẽ Gutfreund đã thỏa thuận để bán Salomon và cần được các giám đốc chấp thuận nhanh chóng. Trên đường đi ăn tối ở Lake Tahoe, Buffett thực sự đã nói với nhóm của ông rằng ông có thể được nghe “tin tốt” trước khi buổi tối kết thúc. Điều này cho thấy Buffett đã sẵn sàng để từ bỏ thương vụ được coi là đáng thèm muốn ông mua cách đây 4 năm.
Đến giờ hẹn, tạm ngưng bữa ăn tối, Buffett đến một máy điện thoại công cộng để thực hiện cuộc gọi. Sau một lúc chờ đợi, ông được nối máy gặp Chủ tịch Salomon Tom Strauss, và luật sư của công ty Donald Feuerstein. Cả hai đã nói với ông rằng do chuyến bay của Gutfreund bị hoãn, họ sẽ thay vào đó thông báo cho Buffett biết về “một vấn đề” vừa phát sinh. Bằng giọng nói bình tĩnh, họ cho biết vụ điều tra Salomon do văn phòng luật Wachtell Lipton tiến hành đã phát hiện ra 2 nhà giao dịch trái phiếu chính phủ, bao gồm cả Giám đốc Điều hành cấp cao Paul Mozer (cái tên mà Buffett không hề biết) đã vi phạm luật đấu thầu của Bộ Tài chính hơn một lần trong khoảng từ năm 1990 đến năm 1991.
Strauss và Feuerstein nói rằng Mozer và đồng nghiệp của ông ta đã bị đình chỉ công tác, và hiện thời ngân hàng đang chuẩn bị thông báo đến các nhà quản lý và công bố thông cáo báo chí. Tiếp theo Feuerstein đã đọc bản thảo của thông cáo này cho Buffett nghe và nói thêm rằng trước đó cùng ngày, ông đã chia sẻ một vài đoạn trong thông cáo với Giám đốc Salomon Charles T. Munger, Phó Chủ tịch của Berkshire và là quân sư của Buffett trong tất cả mọi chuyện quan trọng.
Thông cáo báo chí chỉ nhắc đến một vài chi tiết về tội trạng của Mozer. Nhưng một bản báo cáo đầy đủ được tiết lộ trong vài ngày tiếp theo đã miêu tả chân dung một người đàn ông xem thường các quy định đấu thầu của Bộ Tài chính. Một điều luật mới được ban hành vào năm 1990 để ngăn chặn những đế chế khổng lồ như Salomon lũng đoạn thị trường, cho biết rằng một ngân hàng đơn lẻ không thể đặt mua hơn 35% trái phiếu chính phủ trong mỗi phiên đấu thầu. Trong tháng 12 năm 1990 và một lần nữa vào tháng 2 năm 1991, Mozer đã lách luật bằng cách đấu thầu số lượng cho phép đến 35% dưới tên Salomon; tiếp đó, đặt tiếp các lệnh đấu thầu dưới tên một số khách hàng nhất định khác mà không được sự cho phép của họ; cuối cùng ông chuyển toàn bộ trái phiếu thắng thầu của các khách hàng này vào tài khoản riêng của Salomon, và không hề hé răng thông báo gì đến những khách hàng này. Nhờ tất cả việc làm trên, Salomon nổi lên nhờ hơn 35% lượng trái phiếu đấu thầu được và có thêm sức mạnh ảnh hưởng lên ngành.
Trong đêm ngày thứ Năm nói trên, vì tiếng ồn của những người đang trò chuyện ở các buồng điện thoại xung quanh, Buffett đã không nghe được nhiều chi tiết cũng như không thể phát hiện ra bất kỳ lý do nào đáng báo động với giọng nói như thể không có gì xảy ra của Strauss và Feuerstein. Vì vậy, ông đã quay trở lại bữa tối.
Cho đến thứ Bảy tuần đó, khi ông gặp Munger, rồi đi nghỉ ở một hòn đảo phía bắc Minnesota, Buffett bắt đầu linh cảm về một rắc rối thực sự. Vào 2 ngày trước, Munger, một luật sư được đào tạo bài bản, đã xen vào khi Feuerstein tường thuật lại câu chuyện để tìm hiểu ý nghĩa thật sự trong câu nói của Feuerstein: “Một phần của rắc rối đã được biết đến từ cuối tháng 4”. Ông đã dùng những từ ngữ nằm trong bảng “các điểm thảo luận” được các luật sư phác thảo cho cuộc gọi này. Trong cách nói của các nhà văn, câu nói này được thể hiện ở dạng “bị động”, làm dấy lên câu hỏi hiển nhiên: “Những ai đã biết?”
Munger đã suy ngẫm về câu hỏi đó và phát hiện ra vào cuối tháng 4, vì Mozer tin rằng mình sắp bị vạch trần nên đã tiết lộ việc vi phạm luật đấu thầu vào tháng 2 với cấp trên của ông là John Meriwether. Gọi hành vi của Mozer là “đe dọa sự nghiệp”, Meriwether ngay lập tức đến gặp Strauss để thông báo về tin tức này. Vài ngày sau, ông đã gặp Strauss, Gutfreund và Feuerstein để quyết định phải làm những gì.
Feuerstein thông báo cho các thành viên còn lại rằng hành động của Mozer là phạm pháp, vì vậy nhóm đã thống nhất họ cần phải thông báo cho Cục Dự trữ Liên bang New York biết chuyện gì đã xảy ra. Nhưng sau đó không ai có động thái nào để thông báo cho Cục vào thời điểm từ tháng 4 tới tháng 7. Thái độ “bình chân như vại” của họ đã khiến Buffett sau đó bức xúc “không thể chịu nổi và không thể tha thứ”, chính thái độ này đẩy cuộc khủng hoảng lên đỉnh điểm.
Trao đổi với Buffett vào hôm thứ Bảy, Munger gọi sự thất bại lan rộng của ban quản trị là “tệ hại”, từ mà Buffett cho rằng ông đã nghe Strauss và Feuerstein lặp đi lặp lại khi ông nói chuyện với họ. Nhưng mặt khác, ông không nghĩ 2 người đàn ông này đã thực hiện bất kỳ nỗ lực nào để thông báo rõ ràng cho ông về trách nhiệm của ban quản trị đối với sự hỗn loạn này. Sau đó một số nhà điều tiết của Salomon cũng lên tiếng than phiền. Họ nói rằng họ được thông báo về sự lơ là của ban quản trị nhưng bằng những từ ngữ mềm mỏng, giảm nhẹ khiến cho thông điệp chính của câu chuyện không được hiểu đúng.
Ngay cả như vậy, vẫn còn khá hơn công chúng, những người đọc thông cáo báo chí vào ngày 9 tháng 8 và không hề biết về việc ban quản trị đã biết những thông tin gì, ở thời điểm nào. Trong cuộc gọi với Feuerstein, Munger cực lực phản đối những thiếu sót. Nhưng Feuerstein cho biết ban quản trị và các luật sư của ngân hàng lo rằng quá nhiều thông tin lộ ra sẽ đe dọa “khả năng huy động vốn” của ngân hàng – luân chuyển hàng tỷ đô-la các khoản nợ ngắn hạn đến hạn mỗi ngày. Vì vậy, kế hoạch của Salomon là sẽ thông báo với ban giám đốc và các nhà quản lý rằng ban quản trị đã biết về hành vi sai trái của Mozer, nhưng họ muốn tránh công khai thông báo tin này đến mọi người. Munger cho rằng hành động này thiếu thẳng thắn và thông minh. Nhưng ông biết mình không phải là một chuyên gia về “gây quỹ”, ông xuống giọng.
Tuy nhiên, khi ông và Buffett nói chuyện với nhau hôm thứ Bảy, vì bài báo về Salomon đã nằm chễm chệ trên trang nhất của tờ New York Times, họ đã thống nhất phương án giải quyết là tập trung vào công bố kịp thời đầy đủ tất cả các sự kiện. Vào thứ Hai, Munger chuyển ý kiến mạnh mẽ của họ đến một người bạn thân và là cố vấn của Gutfreund, Martin Lipton của hãng Wachtell Lipton. Họ cho Munger biết rằng vấn đề này sẽ được thảo luận tại một cuộc họp qua điện thoại được xếp lịch vào buổi chiều ngày thứ Tư. Trong khi đó, Buffett đã nói chuyện với Gutfreund, người đồng ý rằng tất cả các vấn đề xảy ra chỉ có ý nghĩa tương đương “một vài điểm trên cổ phiếu” mà thôi.
Tại cuộc họp hội đồng quản trị vào thứ Tư, các giám đốc đã được nghe nội dung thông cáo báo chí thứ 2, trong đó bao gồm 3 trang chi tiết toàn bộ sự kiện và lời thừa nhận thẳng thắn rằng ban quản trị cấp cao đã biết về sai phạm của Mozer xảy ra vào tháng 2 từ tháng 4 năm trước. Thế nhưng ban quản trị đã không thông báo cho các nhà quản lý vì “sức ép từ doanh nghiệp khác”, điều đó đã làm các giám đốc náo động vì bất bình. Buffett đã nghe thông cáo này ở Omaha. Ông nhớ lại rằng ông đã gọi lý do vớ vẩn không thể xảy ra này là “nực cười”. Những lời giải thích trong thông cáo báo chí sau đó đã được thêm thắt: “Do thiếu sự quan tâm kịp thời đến vấn đề này, quyết định đã không được thực hiện nhanh chóng”, một mẫu câu bị động ít ngớ ngẩn hơn nhưng vẫn hàm chứa sự thờ ơ khi phủ nhận trách nhiệm.
Dù vậy, các giám đốc có mặt vào ngày thứ Tư cảm thấy bị xúc phạm không phải vì ngôn từ trong thông cáo báo chí mà vì một thiếu sót trắng trợn: Gutfreund đã không nói với hội đồng quản trị rằng một ngày trước ông đã nhận được thư của Cục Dự trữ Liên bang New York với nội dung khủng khiếp. Lá thư được ký bởi một Phó Chủ tịch điều hành của cục, nhưng bất cứ ai đọc nó sẽ biết rằng đằng sau nó chính là Chủ tịch Cục Dự trữ Gerald Corrigan, người đàn ông mang quốc tịch Ireland cao 1m9 đầy áp lực và giận dữ. Sau khi biết tin, Corrigan đã giận dữ vì những hành động này lại xảy ra trước mũi mình. Lá thư nói rằng các cuộc đấu thầu “bất chấp luật pháp” của Salomon đặt nghi vấn về “khả năng tiếp tục mối quan hệ kinh doanh” với Cục Dự trữ Liên bang. Thư cho biết Cục Dự trữ “quan ngại sâu sắc” vì ban quản trị của Salomon đã không thông báo đúng lúc những gì họ biết về Mozer. Cục yêu cầu một bản báo cáo toàn diện trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tất cả những “điều bất thường, vi phạm, và sơ suất” mà Salomon biết đã xảy ra.
Sau đó Buffett biết rằng Corrigan dự kiến nhanh chóng chuyển lá thư đến cho các giám đốc Salomon. Đây là những người mà ông tin là đã kịp thời nhận ra cần phải thay đổi ban quản trị cấp cao. Thấy các giám đốc không hành động, Corrigan cho rằng họ tỏ ra ngang ngạnh. Nhưng thật ra, dĩ nhiên là họ không biết gì cả. Buffett đã không nghe nói về bất kỳ lá thư nào từ Cục Dự trữ Liên bang cho đến thời điểm, trong cùng tuần, sau khi ông nói chuyện với Corrigan. Thậm chí sau đó Buffett còn cho rằng Cục Dự trữ Liên bang chỉ yêu cầu được biết thông tin. Buffett đã không thực sự đọc được bức thư đến hơn một tháng sau, khi ông nghe Corrigan đề cập thẳng thừng về lá thư trong phiên điều trần của ban giám đốc.
Theo nhận định của Buffett, việc Cục Dự trữ Liên bang tin rằng lá thư đã bị phớt lờ thổi bùng cơn giận dữ của các nhà điều hành Cục khiến họ phải xuống Salomon vài ngày sau đó. Buffett cho biết không thiếu các “vấn đề quan trọng” đã bị Gutfreund, Strauss và Feuerstein giấu các giám đốc trong những tháng trước. Suốt thời gian đó, tất cả họ hành động như thể mọi thứ hoàn toàn bình thường. Nhưng việc không truyền đạt lá thư từ Cục Dự trữ Liên bang cho ban giám đốc theo Buffett nguy hiểm không khác gì “bom nguyên tử”. Hoặc một mô tả trần tục phù hợp hơn: “Thật dễ hiểu nếu vào thời điểm này, Cục Dự Trữ Liên bang đang cảm thấy như thể các giám đốc hùa vào với ban quản trị cùng nhổ nước bọt vào mặt họ.”
Đương nhiên là bạn sẽ hỏi điều gì sẽ xảy ra với cổ phiếu của Salomon khi tất cả những việc này xảy ra. Giá đã hạ nhanh chóng từ trên 36 đô-la mỗi cổ phiếu vào thứ Sáu xuống dưới 27 đô-la vào thứ Năm, thời điểm thông cáo báo chí thứ 2 làm rung chuyển thị trường. Nhưng cổ phiếu rớt giá chỉ là bề nổi của một vấn đề nghiêm trọng hơn nhiều, đó là cơ cấu tài chính của ngân hàng từ ngày thứ Năm đã bắt đầu rạn nứt vì mức tín nhiệm Salomon đang sụt giảm. Bất kỳ ngân hàng đầu tư nào làm thế giới mất lòng tin đều không tốt chút nào. Nhưng nếu nó “phụ thuộc vào tín dụng”, ở mức độ cực đoan như Salomon, một sự thay đổi quan điểm thành tiêu cực thật quá sức chịu đựng. Buffett ví nhu cầu về lòng tin của Salomon cũng giống như nhu cầu cần không khí để thở của con người: Khi nó sẵn có, không ai quan tâm đến nó. Khi nó mất đi, tất cả đều nhận thấy sự cần thiết.
Thật không may, sự sụt giảm tín nhiệm đã xảy ra trong một công ty đang phát triển mạnh mẽ. Vào tháng 8 năm 1991, ngân hàng Salomon đã có tổng tài sản lên đến 150 tỷ đô-la (tất nhiên không kể đến các khoản mục lớn ngoài bảng cân đối) và là 1 trong 5 tổ chức tài chính lớn nhất ở Mỹ. Trong bảng cân đối kế toán, để chống đỡ cho ngân hàng chỉ có 4 tỷ đô-la vốn, và khoảng 16 tỷ đô-la gồm trái phiếu trung hạn, nợ ngân hàng và thương phiếu. Tổng cộng số này khoảng 20 tỷ đô-la là cơ sở vốn để hỗ trợ vay 130 tỷ đô-la, hầu hết là các món nợ ngắn hạn, với ngày đáo hạn cách đó từ 1 ngày đến 6 tháng.
Một thực tế cực kỳ quan trọng về những khoản nợ này chính là những người cho vay ngắn hạn luôn dõi theo hoạt động của ngân hàng mọi lúc: Họ hoàn toàn không hào hứng kiếm thêm điểm phần trăm lãi suất nhỏ nếu họ nhận thấy vốn của mình cũng đang gặp phải chút rủi ro. Chào mời họ với một mức lãi suất cao thực tế còn phản tác dụng, vì nó làm cho họ nghi ngờ về một hiểm họa tiềm ẩn. Hơn nữa, không giống như các ngân hàng thương mại, nơi chủ nợ có thể tìm đến các Công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang hoặc đặt lòng tin vào học thuyết “không thể sụp đổ”, các ngân hàng đầu tư không hề có cơ quan đỡ đầu, nơi sự hiện diện đơn thuần là để ngăn cản các cuộc bán tháo.
Do đó, vào thứ Năm, Salomon bắt đầu trải qua một cuộc bán tháo. Nó được hiện thực hóa khi các nhà đầu tư muốn bán các chứng khoán nợ, đặc biệt là các kỳ phiếu trung hạn mà Salomon lưu hành. Salomon đã luôn từng ở vị thế tạo lập thị trường đối với các loại chứng khoán trên, nhưng vào thời điểm đó, mọi thứ rất chán chường vì không ai muốn bán cổ phần của họ. Tuy nhiên, hiện thời số người muốn bán đang tăng lên. Các nhân viên giao dịch của Salomon đáp lại bằng cách đặt giá mua vào thấp nhằm ngăn chặn đà bán tháo. Thực ra họ đã bất chấp tất cả để làm vậy vì mỗi hành động mua lại chứng khoán của chính họ sẽ góp phần làm chảy mất nguồn vốn cơ sở làm bệ đỡ cho toàn bộ cơ cấu của Salomon. Cuối cùng, sau khi các nhân viên giao dịch đã mua lại khoảng 700 triệu đô-la chứng khoán, Salomon thực hiện một điều không tưởng: Tạm ngừng giao dịch chứng khoán của chính họ. Sự gián đoạn này làm trì trệ toàn bộ các giao dịch còn lại của Phố Wall. Nếu Salomon không mua lại các chứng khoán của họ, chắc chắn không ai khác sẽ mua.
Vào tối thứ Năm, trong lúc báo chí đăng tin về sự kiện bất thường diễn ra vào hôm đó ở Salomon, khi cửa sổ văn phòng giao dịch đóng sầm lại, không còn bí mật nào phải giữ nữa khi John Gutfreund và Tom Strauss gọi điện cho Gerry Corrigan. Rắc rối bao trùm xung quanh. Trong cuộc trò chuyện Gutfreund và Strauss đã đặt câu hỏi về khả năng điều hành Salomon của họ.
Sáng hôm sau, vào lúc 6 giờ 45 phút (giờ Omaha), Buffett đã nhận được một cuộc gọi đánh thức. Đầu dây bên kia là Gutfreund, Strauss và Marty Lipton. Gutfreund nói rằng ông và Strauss đã từ chức, và câu hỏi chính là ai sẽ tiếp quản mớ bòng bong này. Sau đó Gutfreund cho biết ông ta đề nghị Buffett nhận công việc. Buffett nghĩ ông nên tình nguyện nhận chức. Trong bất kỳ trường hợp nào, ông không hề muốn ra quyết định khi đang ở nhà. Vì vậy, ông nói rằng ông sẽ gọi cho họ khi đến văn phòng, cách đó 5 phút di chuyển. Đến nơi, ông chú ý đến một bản fax vừa mới nhận về một bài báo trên tờ New York Times ngày hôm đó. Bài báo có tiêu đề trên trang nhất như sau: “Phố Wall nhìn thấy một mối đe dọa nghiêm trọng đối với Salomon Bros; các lãnh đạo cấp cao từ chức và nỗi lo ngại khách hàng sẽ tháo chạy.” Vào lúc 7 giờ 45 phút sáng (giờ Omaha), ông đã gọi lại cho nhóm điều hành Salomon và nói rằng mình sẽ đảm nhận công việc cho đến khi mọi thứ rõ ràng.
Về sự kiện này, báo chí cho rằng ông quyết định nhậm chức là để bảo vệ 700 triệu đô-la của Berkshire, nhưng lý do này dường như quá đơn giản. Chắc chắn ông muốn bảo đảm an toàn cho khoản đầu tư. Nhưng trên hết, ông là giám đốc của một công ty đang gặp khó khăn trầm trọng, và theo cách mà ít giám đốc nào thực hiện, ông cảm thấy mình có trách nhiệm với tất cả các cổ đông. Thêm vào đó, ông có thể đảm nhận công việc Giám đốc Điều hành Berkshire bằng một tay trong khi giải quyết rắc rối bằng một tay khác. Với việc ông nhận mức lương ở Salomon là 1 đô-la một năm, ông không cần phải lãng phí thời gian soạn thảo một hợp đồng lao động. Đúng là ông biết ông đang thay đổi cuộc sống của mình, không phải theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Và kể từ đó ông luôn nói rằng, “Tuy nhiên phải có ai đó nhận công việc này, và tôi là một người phù hợp.”
Vào sáng thứ Sáu, Buffett thực hiện kế hoạch ngay lập tức bay đến New York. Nhưng nhóm điều hành của Salomon đã yêu cầu ông ở lại văn phòng để chờ một cuộc gọi từ Corrigan. Tuy nhiên, cuộc gọi này đã đến muộn. Trong lúc Buffett chờ đợi, thị trường chứng khoán mở cửa mà không có các giao dịch chứng khoán từ Salomon. Sau đó Corrigan gọi đến. Cuộc nói chuyện ngắn gọn với nội dung rằng hiện thời ông đã sẵn sàng để giảm bớt “lịch trình 10 ngày” khi Buffett tham gia vào ngân hàng. Vì chưa được xem lá thư từ Cục Dự trữ Liên bang, Buffett đã không hiểu Corrigan nói gì. Nhưng từ cuộc đối thoại, ý chính ông rút ra được là Cục Dự trữ Liên bang có thể yêu cầu phải được biết thông tin. Sau khi kết thúc cuộc gọi, Buffett bay đến New York vào khoảng 4 giờ chiều. Ở thời điểm này, Salomon đã đưa ra thông cáo báo chí về tin ông trở thành Chủ tịch lâm thời, và các giao dịch cổ phiếu của ngân hàng được mở trở lại trên Sàn Chứng khoán New York. Trong thời gian ngắn ngủi, các cổ phiếu đã được giao dịch với khối lượng lớn và tăng giá thêm 1 đô-la, lên đến mức giá chỉ dưới 28 đô-la khi đóng cửa.
Sự xuất hiện của Buffett ngày hôm đó bao gồm một cuộc gặp gỡ với Corrigan tại văn phòng của Cục Dự trữ Liên bang vào buổi tối. Gutfreund và Strauss cùng đi với ông. Cả 3 người bước vào một buổi họp nơi hoàn toàn không có sự thân mật thường thấy khi người ta tiếp đón Buffett. Corrigan nói một cách nghiêm nghị rằng ông không thấy chủ tịch lâm thời hoạt động hiệu quả. Corrigan cũng cảnh báo Buffett không nên cố gắng qua mặt ông bằng cách tìm kiếm sự giúp đỡ từ “những người bạn Washington”; và trong một câu nói thẳng thừng nhưng bí ẩn, Corrigan đã khuyên Buffett nên chuẩn bị cho “bất kỳ tình huống nào”.
Và rồi ông mời Buffett ra ngoài khi ông tiếp chuyện Gutfreund và Strauss, 2 người đàn ông đã từ lâu là bạn bè của ông, những người cần thiết ở đây trong quá khứ. Khi cả hai trở ra, Gutfreund nói với Buffett rằng Corrigan đã xúc động bày tỏ sự hối tiếc vì có một phần vai trò của ông trong việc làm sự nghiệp của họ kết thúc. Gutfreund, với giọng cứng rắn đến cùng, đã giận dữ bác bỏ lời bày tỏ này khi nói chuyện với Buffett. Ông nói rằng mình sẽ không “xá tội” cho Corrigan. Đến bây giờ, Buffett khi nhớ lại những khoảnh khắc kỳ lạ trên, cũng đồng thời nhớ rằng George Washington đã khóc khi ông ký trát phê chuẩn cái chết của Thiếu tá Andre, một điệp viên người Anh. Nhưng giống như Corrigan, ông cũng đã ký.
Đối với Buffett, phần còn lại của ngày thứ Sáu và trọn ngày thứ Bảy ông dành hết cho việc đưa ra các quyết định điều hành quan trọng. Một trong số đó là quyết định bắt buộc ông phải giải quyết số phận của John Meriwether, người đã nhanh chóng báo cáo với lãnh đạo của mình về những hành động Mozer ngay khi ông biết, nhưng sau đó, do vô tình hay cố ý, đã giữ im lặng. Marty Lipton, có thể nhìn thấy vẻ khủng khiếp của ông trong những ngày khủng hoảng, thì muốn Meriwether bị sa thải. Khá nhiều thành viên trong hội đồng quản trị, người sẵn sàng bấu víu vào bất cứ điều gì có thể cứu được ngân hàng, cũng đồng ý như vậy.
Nhưng Buffett không rõ liệu có công bằng hay không khi sa thải Meriwether nên đã tiếp tục tìm hiểu thêm về những gì đã thực sự xảy ra sau tháng 4. Ông biết thêm một số thông tin vào ngày thứ Bảy, khi hai luật sư Wachtell Lipton dành hơn một giờ trò chuyện với ông và các thành viên còn lại của ban quản trị Salomon về những gì họ thu thập được trong cuộc điều tra bắt đầu từ đầu tháng 7. Sau đó, vào cuối ngày thứ Bảy, câu hỏi về số phận của Meriwether được đưa ra tranh luận, vì chính bản thân ông ấy quyết định rằng tốt nhất là mình nên từ chức.
Buffett phải đối mặt với một quyết định lớn hơn chính là xác định thành viên trong nhóm điều hành Salomon Brothers sẽ trở thành người lãnh đạo mới bộ phận chứng khoán, nơi đã mất đi 2 nhà lãnh đạo là Gutfreund và Strauss. Vì vậy trong ngày thứ Bảy tại trụ sở Wachtell Lipton, Buffett đã hỏi chuyện nối tiếp với từng người trong khoảng 10 thành viên ban quản trị Salomon để biết họ nghĩ ai trong nhóm này sẽ có đủ tiêu chuẩn điều hành doanh nghiệp. Hầu hết đều đề cử Deryck Maughan, 43 tuổi, người vừa mới trở về từ văn phòng Salomon ở Tokyo và giữ vai trò đồng thủ lĩnh ngân hàng đầu tư. Bản thân Maughan đã có một câu trả lời tinh tế: “Tôi nghĩ nếu bạn hỏi người khác rằng họ muốn bầu chọn ai, bạn sẽ biết họ chọn tôi.” Buffett biết Gutfreund cũng nghĩ là nên chọn Maughan. Vì vậy, trong ngày hôm đó Buffett đã xác định rõ ông nên chọn ai. Nhưng ông trì hoãn thông báo với Maughan và công chúng vì ban quản trị Salomon, đã sẵn sàng họp khẩn cấp vào 10 giờ sáng Chủ nhật ngày 18 tháng 8, cần thông qua quyết định và thực ra họ lại chọn Buffett.
Nếu các cơ quan điều tiết không có động tĩnh gì vào cuối tuần đó, cuộc họp hội đồng quản trị vẫn sẽ là một sự kiện mang tính bước ngoặt. Tuy nhiên thật ra vào ngày thứ Bảy, các nhân viên điều tiết vụ Salomon đã đang hoàn thiện những chi tiết cuối cùng của một thông tin được chỉ đạo. Tin đến văn phòng của Salomon ở trung tâm thành phố Manhattan ngay trước 10 giờ sáng Chủ nhật, bằng một cuộc điện thoại từ Bộ Tài chính cho biết trong một vài phút tới, Bộ sẽ thông báo việc Salomon bị cấm đấu thầu bằng chính tài khoản riêng của ngân hàng hay bằng tài khoản của khách hàng tại các cuộc đấu thầu của Bộ.
Buffett nhận được tin khi đang ở trong một căn phòng và nói chuyện với một số người, bao gồm cả Gutfreund và Strauss, 2 người được sắp xếp để thông báo tin họ từ chức tại cuộc họp. 3 người ngay lập tức kết luận rằng tin tức này sẽ làm Salomon phá sản, không phải vì những thiệt hại kinh tế kéo dài do bị Bộ cấm cửa, mà vì công chúng sẽ hiểu tin này theo nghĩa rằng “Bộ Tài chính đã để Salomon rơi xuống vực”. Hơn nữa, đòn cấm vận này sẽ khiến một công ty vốn đã lung lay vì rắc rối tín dụng và chỉ đang thoi thóp bám trụ sụp đổ.
Nhưng không còn thời gian để chuẩn bị: Thông tin đã được công bố rằng Buffett sẽ xuất hiện vào buổi họp báo lúc 2 giờ 30 phút chiều, và đám đông các nhà báo đang chờ đợi sẵn. Tệ hơn nữa, một thị trường toàn cầu khắc nghiệt sẽ hạ gục ngân hàng. Thị trường Nhật Bản sẽ được mở vào cuối buổi chiều, sau đó là London, và tiếp đến là New York. Tin xấu được truyền đi từ thị trường này đến thị trường khác và chỉ tập trung vào đúng một ý chính: uy tín của Salomon bị xuyên thủng. Đối với một ngân hàng phụ thuộc vào uy tín, những ý kiến khác cũng không hề quan trọng. Duy chỉ có đánh giá về uy tín mới có thể hủy hoại nó hoàn toàn. Trong căn phòng nhỏ nơi họ nghe tin, Buffett và những người khác tụm vào với nhau để xem xét các lựa chọn. Họ nhìn thấy 3 hướng hành động. Đầu tiên, thuyết phục Bộ Tài chính hủy bỏ hoặc ít nhất là sửa đổi lệnh cấm. Thứ hai, dũng cảm đưa ra những tuyên bố tự tin và hy vọng rằng công chúng sẽ tin vào hành động, hoặc nói khác hơn là lời nói dối của họ. Thứ ba, thanh lý bằng cách tuyên bố phá sản, hy vọng thất bại trong danh dự, giảm thiểu thiệt hại và dàn đều hậu quả này với các chủ nợ của Salomon.
Chiến lược thứ hai bị gạt bỏ gần như trước khi nó được làm rõ. Còn lại 2 chiến lược được theo đuổi cùng một lúc. Điều này có nghĩa các luật sư phá sản cần phải tham gia. Vào ngày Chủ nhật, một đội luật sư được triệu tập từ hãng luật Wachtell Lipton để bắt tay điều tra việc một công ty chứng khoán quốc tế khổng lồ phá sản sẽ thế nào. Có khả năng cần thêm một số thẩm phán, những người đang xem bóng chày và ăn bỏng ngô cuối tuần. Họ là người có thể nghi ngờ rằng một nhân viên đánh máy nào đó đã bất cẩn ghi nhầm thêm một số 0 vào con số 150 tỷ đô-la, và trong mọi trường hợp chắc hẳn không bao giờ nghe nói về những thứ như chứng khoán phái sinh1 hoặc các hợp đồng cam kết mua lại2 hoặc các hành vi “không thể giao hàng3”. Tóm lại, nếu rốt cuộc ngân hàng phá sản thì đó sẽ là một cơn ác mộng.
1. Chứng khoán phái sinh (derivatives): Là các công cụ tài chính mà giá trị của chúng phụ thuộc vào giá của một tài sản cơ sở. Chứng khoán phái sinh quy định quyền lợi vàhoặc nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng đối với việc thanh toán vàhoặc chuyển giao tài sản cơ sở với một mức giá được thỏa thuận trước vào một thời điểm nhất định trong tương lai.
2. Hợp đồng cam kết mua lại (repo): Có tên đầy đủ là Repurchase Agreement, là một dạng vay ngắn hạn đối với các loại chứng khoán của chính phủ. Người tham gia bán các chứng khoán chính phủ cho người đầu tư, thông thường trong khoảng thời gian ngắn hạn (24 giờ), sau đó mua lại vào hôm sau.
3. “Không thể giao hàng” (fails to deliver): Nếu nhà đầu tư đã đặt lệnh bán khống trước khi thực sự mượn được cổ phiếu để bán khống. và vì một số lý do nào đó, nhà đầu tư không thể mượn được cổ phiếu đúng thời hạn, thì hành vi bán khống này sẽ bị gọi là “không thể giao hàng”. Đây là hành vi bất hợp pháp.
Về khía cạnh cá nhân, đó cũng là một cơn ác mộng với Buffett. Bản mô tả công việc của ông đang trên bờ vực của những thay đổi mạnh mẽ làm ông không có lý do gì để phải làm như vậy: Ông đã đến để cứu Salomon, chứ không phải để trợ giúp nó vượt qua các thủ tục phá sản kéo dài vô tận. Tất cả mọi người đều có thể làm việc đó, ông tự nhủ.
Vì vậy vào sáng sớm ngày Chủ nhật, Buffett quyết định rằng ông sẽ từ chối chức vụ được mọi người bầu chọn, nếu xảy ra phá sản. Tuy nhiên, ông đã không lừa dối chính mình về các cuộc tranh cãi sẽ theo sau, vì ông biết việc mình từ chối được xem là bỏ mặc cho tàu chìm hoặc tệ hơn nữa, là nguyên nhân làm nó chìm. Buffett đã nói với 3 người con của mình từ lâu rằng phải mất cả cuộc đời để xây dựng một danh tiếng nhưng chỉ cần 5 phút để phá hủy nó. Trong suốt ngày hôm đó, ông đã nói với chính mình rằng có lẽ ông đang trên bờ vực 5 phút này.
Nhưng điều này đã không thể làm giảm đi rất nhiều sức lực mà ông đặt vào Kế hoạch A: thuyết phục đảo ngược lệnh cấm. Buffett giao cho chính mình nhiệm vụ gọi đến Bộ Tài chính và trong ngày hôm đó ông cũng nói chuyện một lần với Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Alan Greenspan. Gutfreund và Strauss được giao nhiệm vụ đi tìm Corrigan, người đã chứng tỏ là mình khó tiếp cận. Meriwether giúp đỡ bằng cách theo dõi Richard Breeden, Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán và Sàn Giao dịch Mỹ theo chỉ đạo. Cuộc tổng tấn công này hóa ra lại không thành công. Khi Meriwether tìm gặp được Breeden, ông nói mình đã đồng ý với quyết định của Bộ Tài chính, tuyên bố rằng Salomon đã “thối nát tận gốc”, và cho biết sẽ không giúp đỡ ngân hàng.
Còn đối với Bộ Tài chính, đội hậu cần đã xử lý một cú đánh từ sớm. Khi Buffett gần như ngay lập tức thử gọi lại cho quan chức của Bộ, người đưa ra thông điệp khủng khiếp, đường dây báo bận. Công ty điện thoại đồng ý làm gián đoạn cuộc gọi, nhưng đã có những nhầm lẫn, sai sót và chậm trễ. Vào thời điểm Buffett gọi được đến cho phát ngôn viên của Bộ, thông báo về lệnh cấm từ Bộ Tài chính đã lan truyền khắp toàn cầu.
Sau đó phát ngôn viên Bộ Tài chính đã báo Bộ trưởng Tài chính Nicholas Brady gọi cho Buffett. Ngay tại thời điểm này, Bộ trưởng đang đến Saratoga Springs, New York xem đua ngựa. Cả hai người đàn ông có quen biết nhau trong những năm qua. Nhưng thật khó có thể tưởng tượng họ sẽ đối đầu nhau vào sáng Chủ nhật này. Với giọng nói như vỡ òa vì cảm xúc và căng thẳng, Buffett trình bày trường hợp của mình. Ông đã nói với Bộ trưởng rằng Salomon không thể chịu được lệnh cấm của Bộ Tài chính và rằng nó đã được các chuyên gia phá sản xem xét chuẩn bị làm hồ sơ xin phá sản. Buffett nhấn mạnh quy mô khổng lồ của Salomon và bản chất toàn cầu của ngân hàng. Ông dự đoán rằng Salomon phá sản sẽ gây thiệt hại, dẫn đến hiệu ứng domino trên toàn thế giới và có thể tàn phá một hệ thống tài chính vốn tồn tại phụ thuộc với ý tưởng các thanh toán được thực hiện nhanh chóng.
Kịch bản về ngày tận thế này thật không dễ hiểu được. Trả lời Buffett, Brady đã tỏ ra thân thiện và cảm thông nhưng ông thiên về ý nghĩ rằng cuộc trò chuyện về phá sản và các vấn đề thất thu tài chính là quá xa vời. Ông không thể hình dung Buffett sẽ từ chối đảm nhận công việc hoặc gặp thất bại khi điều hành. Brady cũng rất ý thức về tình trạng của lệnh cấm: Thông báo cấm vận đã được công bố, vì vậy việc thu hồi nó sẽ gây rắc rối lớn.
Nhưng Buffett đã thở phào nhẹ nhõm khi Brady không cắt đứt các cuộc đối thoại. Thay vào đó, ông chỉ tạm ngưng để thực hiện một số cuộc gọi khác và sau đó tiếp tục nối máy với Buffett. Một trong những chi tiết lạ trong ngày là khi Buffett sử dụng điện thoại của Salomon. Chiếc máy đã được lập trình để không đổ chuông mà thay vào đó là lóe lên một chấm ánh sáng màu xanh lá cây khi có ai gọi đến. Buffett đã nhìn chằm chằm vào điện thoại rất lâu, chờ đợi cuộc gọi của Bộ trưởng Tài chính tạo ra ánh sáng xanh.
Trong mỗi cuộc gọi, Buffett cố gắng khiến Brady nhận ra mức độ nghiêm trọng của tình hình và về ý nghĩ của ông rằng họ đang lao như tên bắn trên chuyến tàu lẽ ra phải bị dừng lại – điều đó có thể xảy ra, một khi mọi người nhận ra rằng đây là một tai nạn không được phép diễn ra. Tại một thời điểm trong các cuộc đàm thoại với Brady, tất cả sự lo âu và cảm giác bất lực của Buffett đã dồn vào một câu duy nhất: “Nick, đây là ngày quan trọng nhất trong cuộc đời tôi.”
Brady đã nói, “Đừng lo lắng, Warren, chúng ta sẽ vượt qua chuyện này.” Nhưng điều đó không hề có nghĩa là ông ấy sẽ thay đổi ý kiến của mình.
Việc Corrigan tham gia vào các cuộc điện thoại trong buổi chiều hôm đó đã tạo sự khác biệt. Đây là người từng khuyên Buffett chuẩn bị cho “bất kỳ tình huống nào” và giải thích ý nghĩa câu nói của mình bằng cách ủng hộ lệnh cấm. Nhưng Corrigan hiện đã chăm chú lắng nghe Buffett. Ông dường như đã đặt lòng tin vào câu chuyện Buffett chia sẻ về việc phá sản và về các kế hoạch cá nhân của ông để rút lui khi có nguy cơ phá sản. Corrigan đã nói với Brady và một nhà điều tiết qua điện thoại rằng: “Tốt hơn hết chúng ta nên ngồi lại cùng thảo luận.”
Buffett đã trở lại phòng họp và chờ đợi cùng với các giám đốc khác. Bên dưới 6 tầng lầu là hơn 100 phóng viên và nhiếp ảnh gia, trong đó có tác giả bài báo này, đang tập trung đợi cuộc họp báo diễn ra vào lúc 2 giờ 30 phút chiều. Ngay bên ngoài phòng ban quản trị, một số các giám đốc điều hành mà Buffett đã phỏng vấn vào ngày thứ Bảy vừa rồi đang đi lại xung quanh. Họ được triệu tập vì một trong số họ sẽ được chọn làm thủ lĩnh Salomon.
Và sau đó, vào lúc 2 giờ 30 phút chiều, Jerome Powell, trợ lý Bộ trưởng Tài chính, đã gọi Buffett và đọc bản tuyên bố Bộ Tài chính đã sẵn sàng để thông báo rộng rãi. Nỗ lực của ông đạt hiệu quả một nửa, hay có lẽ là 2/3, khi họ cho biết lệnh cấm Salomon đấu thầu bằng tài khoản riêng đã được gỡ bỏ trong khi lệnh cấm về đấu thầu bằng các tài khoản của khách hàng vẫn còn hiệu lực. “Liệu việc này có giúp ích được không?” Powell hỏi. Buffett đã trả lời, “Tôi nghĩ rằng nó sẽ có ích.” Hội đồng sau đó đã nhanh chóng bầu Buffett làm Chủ tịch lâm thời của Salomon và Deryck Maughan là Giám đốc Điều hành của Salomon Brothers. Buffett đi tìm Maughan để thông báo: “Cậu đã được chọn”, rồi cả hai cùng đi đến buổi họp báo vào lúc 2 giờ 45 phút.
Phần khởi đầu của cuộc họp báo rất đột ngột: “Tôi là Warren Buffett, và từ chiều nay tôi được bầu làm Chủ tịch lâm thời của Salomon.” Một vài phút sau đó, ông đọc to thông cáo vừa ban hành từ Bộ Tài chính. Khi ông kết thúc bài nói, có những tiếng cổ vũ bị bóp nghẹt từ phía sau thính phòng và tiếng chân nhân viên chạy náo động vì nghe được tin cứu vớt cuộc đời họ. Sau đó, Buffett bước vào phần hỏi đáp kéo dài hơn 2 giờ đồng hồ. Ông được hỏi rằng: “Làm thế nào ông có thể chu toàn những yêu cầu cần sự có mặt của mình ở đây và cả ở Omaha?” và câu trả lời được đáp lại ngay lập tức: “Mẹ tôi đã may tên tôi trong quần lót của tôi, vì vậy mọi thứ sẽ ổn cả.”
Vào ngày thứ Hai, các tiêu đề trên báo không nhắc gì về việc Bộ Tài chính buông tay Salomon; tất cả chỉ nói về tình thế đảo ngược cũng như về lệnh cấm. Cổ phiếu của Salomon được mở bán đúng giờ và được giao dịch một cách có trật tự, giảm khoảng 1,5 điểm.
Buffett chỉ ra một nghịch lý trong ngày hôm nay rằng toàn bộ sự kiện Bộ Tài chính này chắc hẳn đã khiến Salomon nổi tiếng theo cách mà nó không thể có bằng bất kỳ cách nào khác, mặc dù vào thời điểm đó lệnh cấm là hết sức đau đớn. Quyết định đảo ngược xuất hiện vào lúc 2 giờ 30 phút chiều đã gửi đi một thông điệp rằng Bộ Tài chính – cơ quan điều tiết toàn năng cho rằng Salomon đã ổn. Nếu thông điệp này đã không được hiện thực hóa, thị trường nợ ngày thứ Hai có thể bị buộc phải đưa ra quyết định của họ về mức độ tín nhiệm Salomon, và ai mà biết được họ sẽ nghĩ thế nào sau sự cố này.
Salomon sống sót sau cuối tuần đó với sức chịu đựng chỉ vừa đủ để ì ạch vượt qua vài tháng cực kỳ khó khăn, khi Giám đốc Điều hành lâm thời giảm đòn bẩy bằng cách thu hẹp phần lớn bảng cân đối, mặc cả với các ngân hàng khác về số tiền Salomon đang rất cần. Trên hết, ông hy vọng hành động sai trái của Mozer (gần 4 tháng tù giam là cái giá ông ta phải trả sau khi nhận tội lừa dối Cục Dự trữ Liên bang) sẽ không khiến Salomon bị buộc tội hình sự. Cuối cùng, ngân hàng chi trả 290 triệu đô-la cho các nhà điều tiết và làm luật để giải quyết sự việc một cách êm thấm, một kết quả chủ yếu đến từ sự hợp tác phi thường của Buffett. Một nhân tố lớn góp phần giải quyết mọi chuyện chính là Robert Denham, một luật sư ở California, người thường xuyên làm việc cho Berkshire và là người được Buffett kéo vào làm việc toàn thời gian cho Salomon. Tháng 5 năm 1992, khi nhiều rắc rối lớn của Salomon được kiểm soát, Buffett trở lại Omaha, và Denham thế chỗ ông với vai trò Chủ tịch của Salomon và là người lo toan các lợi ích của cổ đông. Thấy rằng các cổ phiếu của Salomon sẽ sớm sáp nhập vào cùng 9 tỷ đô-la cổ phiếu của Travelers, Denham rẽ sang một hướng khác.
Vậy còn phần của Berkshire trong tổng số 9 tỷ đô-la? Số tiền sẽ vào khoảng 1,7 tỷ đô-la, mặc dù một số cổ phiếu của Travelers, mà Berkshire sẽ nhận được, chỉ cam kết dành cho chủ sở hữu của trái phiếu chuyển đổi Berkshire. Bạn sẽ không muốn biết nhiều hơn về điều kiện phức tạp này, cũng như không muốn phân tích sâu hơn về những màn nhào lộn khác mà Buffett đã thực hiện với chứng khoán Salomon. Bạn chỉ cần lưu ý một điều: mỗi cổ phiếu của Salomon ngay bây giờ trị giá khoảng 81 đô-la theo giá cổ phiếu của Travelers. Ngược lại, Berkshire đang sở hữu một số cổ phiếu Salomon nó đã mua vào năm 1987 với giá hiệu quả là 38 đô-la, và công ty cũng sở hữu các cổ phiếu khác từ Salomon mà nó mua sau đó với giá trung bình khoảng 48 đô-la.
Nói tóm lại, vào năm 1987 Buffett đã phát biểu rằng cổ phiếu Salomon sẽ không “mua 1 được 3”, và nó đã và đang không như vậy. Mặt khác, kỷ lục này hầu như không thể ngang bằng với việc bị loại sau 3 lần đập không trúng bóng trong bóng chày. Buffett nói: “Tôi muốn nói rằng chúng ta đã đánh trúng bóng một lần, nhưng không phải trước khi điểm số là 0 và 2.”
Và tiếp đó là về một bản tóm tắt triết lý về Salomon, ông nhắc đến một trong những câu cảm thán mình yêu thích: Chuyện gì kết thúc tốt đẹp thì được coi như chuyện tốt đẹp.
Hãy nghe điều này!
Ngày 10 tháng 1 năm 1994
Lời bình châm biếm của Buffett 2 năm rưỡi sau khi cuộc khủng hoảng Salomon nổ ra
Warren Buffett, 63 tuổi, Chủ tịch của Berkshire Hathaway, một nhà đầu tư lớn trong công ty Salomon Inc., nói về bản án phạt và án tù dành cho Paul Mozer, người đã gây ra vụ bê bối tại những cuộc đấu giá do Bộ Tài chính chủ trì: “Mozer phải trả 30.000 đô-la và bị kết án tù 4 tháng. Cổ đông của Salomon, bao gồm cả tôi – đồng trả 290 triệu đô-la, và bản án dành cho tôi là 10 tháng trong vai trò Giám đốc Điều hành ngân hàng.”
Nhân vật đặc biệt từ bang Nebraska
Ngày 26 tháng 9 năm 1988
Terence Paré
Nhà đầu tư ở Omaha, Warren E. Buffett, người luôn tự hào về khả năng tạo ra những kết quả phi thường bằng cách làm những điều bình thường, vừa thực hiện một hành động phi thường để tạo ra một kết quả bình thường. Trong lá thư gửi các cổ đông của Berkshire Hathaway, tập đoàn đặt trụ sở tại quê hương của mình, Buffett, 58 tuổi, công bố kế hoạch chuyển giao dịch cổ phiếu của công ty từ thị trường chưa niêm yết (OTC) đến Sàn Giao dịch Chứng khoán New York.
Việc này thật phi thường vì Sàn Giao dịch yêu cầu các công ty nộp đơn lên sàn cần có ít nhất 2.000 cổ đông sở hữu ít nhất một “lô” 100 cổ phiếu. Berkshire thì không. Với giá bán khoảng 4.300 đô-la mỗi cổ phiếu, không nhiều người có khả năng mua một lô, và Berkshire có số cổ phiếu tương đối đang lưu hành trên thị trường – ít hơn 3% trung bình của các công ty niêm yết trên Sàn Giao dịch Chứng khoán New York. Buffett luôn từ chối chia nhỏ chứng khoán như một phần nỗ lực khiến các nhà đầu cơ nản chí. Thay vào đó, ông chờ đợi Sàn Giao dịch thay đổi quy tắc, việc nó đã làm gần đây. Sàn cho phép Berkshire Hathaway giao dịch với các lô gồm 10 cổ phiếu. Ngay sau khi Ủy ban Chứng khoán và Sàn giao dịch Mỹ phê duyệt, Buffett sẽ nộp đơn lên sàn.
Động thái này không nhằm mục đích đẩy giá cổ phiếu lên cao. Thật vậy, Buffett đã viết cho các nhà đầu tư của ông, “Berkshire nên bán, và chúng tôi hy vọng nó sẽ bán các cổ phiếu trên Sàn Chứng khoán New York với giá tương tự như giá Berkshire niêm yết trên thị trường chứng khoán chưa niêm yết (OTC), xét trên hoàn cảnh kinh tế tương tự.” Mục tiêu này của ông không hấp dẫn lắm. Bởi nhìn chung biên độ giá của các nhà tạo lập thị trường sẽ hẹp hơn trên Sàn New York, vì giao dịch các chứng khoán niêm yết ở đây rẻ hơn một chút.
Một lời khuyên nhiệt tình từ Warren Buffett: Đã đến lúc mua Freddie Macs
Ngày 19 tháng 12 năm 1988
Brett Duval Fromson
Bài viết này chia sẻ một việc thật sự hiếm hoi: lời khuyên về chứng khoán từ Buffett. Các lời chia sẻ này hiếm khi xuất hiện là vì Buffett thường không thảo luận về cổ phiếu ông đang mua hoặc bán. Nhưng, như phần giải thích của chú thích ảnh trong bài báo, ông đã thực hiện một ngoại lệ trong trường hợp này vì Berkshire, chủ sở hữu của một công ty tiết kiệm và cho vay có quyền mua vào sớm cổ phiếu, đã mua vượt quá số lượng tối đa cổ phiếu Freddie Mac nó có thể sở hữu.
Vậy lời tư vấn về chứng khoán này tốt thế nào? Nó là một lời khuyên tuyệt vời. Một nhà đầu tư đã mua Freddie Mac vào đầu tháng 12 năm 1988 (khi mà số ra ngày 19 tháng 12 của tạp chí Fortune lẽ ra đã đến tay bạn đọc) đáng lẽ phải trả một giá chia tách-điều chỉnh là khoảng 4 đô-la một cổ phiếu. Nếu sau đó nhà đầu tư giữ nó trong 10 năm, cho đến tháng 12 năm 1998, ông đã có thể bán với giá khoảng 60 đô-la. Các nhà đầu tư đang tìm kiếm các dấu hiệu từ Buffett trên thực tế có thể đã giữ cổ phiếu của họ lâu như vậy, bởi vì Berkshire đã giữ lại gần như tất cả khoảng 60 triệu cổ phiếu Freddie Mac trong những năm 1990.
Nhưng khi thập kỷ kết thúc, Buffett đã sẵn sàng để bán. Vào năm 2000, giá cổ phiếu của Freddie dao động từ 37 đô-la đến 70 đô-la, Berkshire đã bán đi hơn 95% số lượng, đem lại khoảng 3 tỷ đô-la thặng dư vốn lớn. Thương vụ này được thực hiện bí mật, vì Berkshire được Ủy ban Chứng khoán và Sàn giao dịch Mỹ cho phép giữ kín. Cụ thể, công ty được phép bỏ qua bất kỳ đề cập về Freddie trong hồ sơ được gọi là 13-F cho đến khi thương vụ hoàn thành. Một khi mọi thứ đã xong, Berkshire đã sửa đổi hồ sơ 13-F, và trong báo cáo thường niên năm 2000 Buffett tiết lộ rằng phần lớn cổ phần Freddie đã được bán. Dù vậy, ông không nói thêm chi tiết vì sao thương vụ được thực hiện.
Tuy nhiên, lý do cuối cùng cũng xuất hiện nhờ nghệ thuật trình diễn riêng của Freddie Mac. Vào năm 2003, có tin rằng Freddie đã thường xuyên báo cáo thiếu thu nhập của mình và sẽ phải công bố lại. Đến năm 2007, Văn phòng Kiểm soát Gia cư Liên bang – cơ quan điều tiết của Freddie đã cố gắng buộc Leland Brendsel, người bị phế truất khỏi vị trí Giám đốc Điều hành của Freddie, từ bỏ phần lớn số cổ phần đãi ngộ của ông. Sau đó các nhà điều tiết đã gọi Buffett làm nhân chứng. Họ trông đợi ông làm chứng chính xác rằng ông đã bán phần sở hữu của Berkshire vào năm 2000 vì ông không còn tôn trọng ban quản trị của Freddie.
Buffett xác nhận chi tiết rằng đã gặp Brendsel một vài lần và nhìn thấy ông ấy cố gắng một cách dại dột để đạt mức lợi nhuận gồm hai con số – giả sử khoảng 15%. Buffett cho biết mức tăng như vậy không đến một cách tự nhiên đối với các công ty tài chính, và các ban quản trị muốn đạt được mức tăng này có thể sẽ “bắt đầu kê khống các số liệu”. Freddie cũng đã thực hiện một vụ đầu tư lớn không chính thống mà Buffett không thích. Ông tự hỏi mình rằng liệu họ có đang làm điều gì tồi tệ khác mà ông không biết hay không. Buffett nói, “Không bao giờ chỉ có một con gián duy nhất trong nhà bếp cả.” Các nhà điều tiết đã thắng kiện. Brendsel bị phạt tổng cộng 16 triệu đô-la.
Hóa ra Buffett đã có thể thong thả bán số cổ phiếu của Freddie mà Berkshire sở hữu. Kẻ chiến thắng trong giai đoạn bong bóng nhà đất là Freddie đã tung hoành trên thị trường chứng khoán, sống sót qua thương vụ Berkshire bán cổ phiếu của nó, vụ bê bối thu nhập và ban quản trị xáo trộn cho đến tháng 10 năm 2007. Sau thời điểm này, cổ phiếu Freddie sụp đổ. Công ty trở thành một nạn nhân chính của cuộc khủng hoảng tài chính. Một thời cổ phiếu của công ty trở thành cổ phiếu thị giá thấp được bán với giá khoảng 25 xu, cổ phiếu Freddie gần đây đã ở mức giá 1,55 đô-la. Các nhà đầu cơ đã đẩy nó lên mức giá này với hy vọng việc chính phủ cải tổ lại công ty sẽ làm tăng giá trị cổ phiếu phổ thông của nó. – CL
Các cơ hội đầu tư tuyệt vời xuất hiện khi các công ty xuất sắc mắc kẹt trong những hoàn cảnh bất thường dẫn đến các chứng khoán của nó bị định giá sai lệch.
Đây là lời phán của nhà tiên tri Warren Buffett, Chủ tịch Berkshire Hathaway và là người có khả năng lựa chọn chứng khoán thiện nghệ. Theo ông, Tập đoàn Cho vay Thế chấp Mua nhà Liên bang, hay còn được gọi là Freddie Mac, là một cơ hội như vậy. Là một công ty cổ phần như công ty anh em Fannie Mae (Hiệp hội Thế chấp Quốc gia Liên bang), Freddie Mac thu được mức lợi nhuận ấn tượng là 23% trên vốn chủ sở hữu và được bán với giá ít hơn 8 lần mức thu nhập ước tính năm 1988. Buffett nói: “Cổ phiếu Freddie Mac đã tăng gấp 3. Bạn đã mua cổ phiếu của một công ty có tỷ lệ PE (giáthu nhập) thấp và một kỷ lục tuyệt vời. Bạn sở hữu công ty có thu nhập tăng trưởng. Cổ phiếu của bạn chắc chắn sẽ được các nhà đầu tư vốn cổ phần biết đến nhiều hơn.”
Công ty con về tiết kiệm và cho vay của Berkshire Hathaway đã sở hữu hoặc ký hợp đồng mua số lượng tối đa cho phép là 108 triệu đô- la cổ phiếu của Freddie Mac. Rất nhiều bạn bè và cộng sự của Buffett cũng đã đầu tư vào cổ phiếu này, bao gồm Louis Simpson, Phó Chủ tịch của GEICO và William Ruane, Chủ tịch Quỹ Sequoia. Liệu các nhà đầu tư thông thường có nên xem xét việc gia nhập chung nhóm với Buffett? Chỉ một từ thôi, “Có”.
Freddie Mac giúp biến giấc mơ sở hữu một ngôi nhà của người Mỹ thành sự thật. Được Quốc hội đặc cách trong năm 1970, công ty đã mua các khoản thế chấp nhà ở từ người cho vay, đảm bảo các khoản thế chấp này sẽ không vỡ nợ, gộp chúng lại như các chứng khoán, và đem bán cho các nhà đầu tư, bao gồm nhiều công ty tiết kiệm và cho vay. Từ năm 1970-1987, thị trường cho vay thế chấp nhà ở tăng trưởng với một tỷ lệ lợi nhuận kép hằng năm hơn 13% và không bao giờ ít hơn 5,5% một năm. Đây là một kết quả không tệ, nhưng chính sự thiếu cạnh tranh mới là yếu tố làm công ty nổi bật lên. Fannie Mae là một công ty cùng ngành duy nhất và quan trọng khác; sự khác biệt chính giữa 2 công ty là Freddie bán lại hầu như tất cả các tài sản thế chấp, trong khi Fannie giữ lại một lượng đáng kể các tài sản này.
Freddie và Fannie cùng nhau kiểm soát 90% thị trường. Buffett nói: “Đó là điều tốt đẹp nhất theo sau một cơ chế độc quyền.” Tương lai của thể chế lưỡng quyền Freddie – Fannie có vẻ đáng khích lệ. Thị trường có thể mở rộng trong những năm tới. Cho đến nay chỉ 33% các khoản thế chấp nhà ở thông thường được chứng khoán hóa, vẫn còn rất nhiều tiềm năng tăng trưởng. Hơn nữa, các tổ chức tiết kiệm sẽ sớm có động lực mạnh mẽ để mua thêm chứng khoán thế chấp. Năm 1990 các ngân hàng tiết kiệm, các công ty tiết kiệm và cho vay đang nắm giữ thế chấp thông thường sẽ được yêu cầu duy trì dự trữ lớn hơn để phòng ngừa tổn thất cho vay nếu họ sở hữu một danh mục đầu tư đa dạng các khoản thế chấp chứng khoán.
Giữa 2 công ty, Freddie có thể ở kèo trên. Trong thập kỷ qua, lợi nhuận trên vốn của Freddie trung bình gấp 2 lần so với lợi nhuận trên vốn của Fannie. Bởi các nhà quản lý của Freddie chỉ mua các khoản thế chấp chất lượng cao nhất, nên tỷ lệ nợ quá hạn của Freddie đối với các thế chấp lãi suất cố định dành cho hộ gia đình thông thường chỉ là 0,4% trong danh mục đầu tư trị giá 230 tỷ đô-la. Sở hữu danh mục đầu tư có quy mô tương tự, tỷ lệ nợ quá hạn ở công ty Fannie là 1,1%. Chủ tịch Leland Brendsel và các nhà quản lý Freddie Mac khác đã làm giảm thiểu ảnh hưởng của việc tăng lãi suất ngân hàng. Điều này gây thiệt hại đến ngân hàng cho vay thế chấp vì làm tăng chi phí, nhưng lại làm giảm trị giá của các khoản vay thế chấp này ở thị trường thứ cấp. Brendsel chỉ giữ số khoản vay thế chấp trị giá 15 tỷ đô-la trên bảng cân đối kế toán, so với Fannie Mae là 102 tỷ đô-la.
Freddie chịu ít ảnh hưởng của việc tăng lãi suất có thể là một trong những lý do vì sao Berkshire Hathaway bán cổ phần tại Fannie cách đây không lâu và mua thêm cổ phần của Freddie. Phó Chủ tịch Charles Munger của Berkshire Hathaway nói: “Tôi không thể nghĩ đến một lời khen rõ ràng hơn là mua hết các cổ phiếu chúng tôi được phép mua.” Theo luật, không ai có thể sở hữu hơn 4% số cổ phiếu lưu hành trên thị trường của Freddie Mac.
Cổ phiếu của Freddie Mac có một vài đặc thù. Đầu tiên, các cổ phiếu đúng hơn nên được gọi là “ưu đãi tham gia”. Cổ đông ưu đãi thường nhận được khoản thanh toán cổ tức cố định, nhưng các cổ đông Freddie nhận 10 triệu đô-la đầu tiên một năm dưới dạng cổ tức và đảm bảo 90% được mua thêm cổ phiếu vào bất kỳ các kỳ phát hành thêm nào. Thứ hai, Freddie giao dịch trên thị trường chưa niêm yết theo định kỳ mỗi khi phát hành cho đến ngày 3 tháng 1, khi cổ phiếu của nó được niêm yết trên Sàn Giao dịch Chứng khoán New York. Từ trước đến nay, quy định của Hội đồng Quản trị Ngân hàng Cho vay Mua nhà Liên bang chỉ cho phép các tổ chức thành viên của mình sở hữu cổ phiếu ưu đãi tham gia vì họ đã cung cấp tiền để Freddie khởi cuộc. Hội đồng quản trị quyết định kết thúc quy định giới hạn này vì hệ quả khó thanh khoản của nó làm giá cổ phiếu giảm thấp hơn so với mức giá nó đạt được ở một thị trường tự do. Thay đổi này có thể huy động được khoảng 2 tỷ đô-la cho các công ty tiết kiệm và cho vay đang đói vốn.
Các cổ phiếu khi-phát hành của Freddie bắt đầu lên sàn trong tháng 10. Hầu hết các nhà đầu tư tổ chức vẫn chưa biết đến sự hấp dẫn của nó hoặc chưa quyết định mua vì quy định của họ không cho phép sở hữu các cổ phiếu khi-phát hành; các quỹ tương hỗ và công ty bảo hiểm cũng hiếm khi sở hữu chúng. Những thuận lợi này có vẻ sẽ chi phối thị trường cổ phiếu, nhưng với Freddie Mac, lần này lợi thế nghiêng về các nhà đầu tư cá nhân. Có một ưu điểm ở đây. Vì bạn không thể nhận được cổ phiếu khi-phát hành ngay lập tức, bạn có thể trả trước 30% bây giờ và thanh toán phần còn lại sau đó. Trong trường hợp này, bạn không cần phải trả dứt điểm các hóa đơn cho đến ngày 10 tháng 1.