Warren Buffett - Nhà Đầu Tư Vĩ Đại Nhất Thế Giới Dưới Góc Nhìn Truyền Thông

Lượt đọc: 600 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thách Thức 600 Tỷ Đô-la

❊ ❊ ❊

Ngày 5 tháng 7 năm 2010

Carol Loomis

Cách đây hơn một năm, vào tháng 5 năm 2009, có tin đồn rằng hai người đàn ông giàu nhất nước Mỹ, Bill Gates và Warren Buffett đã tổ chức và chủ trì buổi gặp mặt ăn tối bí mật giữa các tỷ phú ở thành phố New York. David Rockefeller được cho là ở vị trí chủ tiệc, Thị trưởng Michael Bloomberg và Oprah Winfrey có mặt trong số những người tham dự, và hoạt động từ thiện là chủ đề chính.

Mặc dù bị báo chí gây áp lực, Buffett và Gates đã từ chối chia sẻ. Nhưng việc đó chắc chắn không làm giảm sự quan tâm của giới truyền thông về cuộc họp: Tờ Chronicle of Philanthropy gọi nó là “chưa từng có”; Cả ABC News và Houston Chronicle đều dùng từ “bí mật”; một tạp chí ở New York tưởng tượng rằng George Soros sẽ “đứng hình” khi gặp mặt Oprah. Một đài phát thanh đã vẽ ra một bức tranh đen tối: “Thưa quý vị, có những mối nguy hại đang xuất hiện và không hứa hẹn điều gì tốt đẹp cho tất cả chúng ta.” Cựu Giám đốc Điều hành của Quỹ Bill & Melinda Gates, Patty Stonesifer, người đã có mặt tại cuộc họp miễn cưỡng xuất hiện để phản bác những tin đồn. Bà nói với tờ Seattle Times rằng đó chỉ là dịp một nhóm bạn và đồng nghiệp “thảo luận những ý tưởng” về từ thiện.

Thì ra là vậy. Nhưng cuộc thảo luận được mô tả đầy đủ lần đầu tiên trong bài báo này có khả năng thay đổi đáng kể hoạt động từ thiện của người Mỹ, khiến họ trao tặng nhiều tiền hơn. Qua bữa tiệc tối, Gates và Buffett đã bắt đầu hành động có thể coi là nỗ lực gây quỹ lớn nhất trong lịch sử. Họ hoan nghênh các nhà tài trợ dưới bất kỳ hình thức nào. Nhưng mục tiêu trực tiếp của họ là các tỷ phú, họ mong muốn những người này sẽ trao tặng nhiều hơn cho các tổ chức từ thiện, bằng bất kỳ hình thức nào. Mong muốn này không được hình thành khi họ gặp gỡ ở New York. Tuy nhiên, sau hai bữa tối khác tại Mỹ (mặc dù không bị rò rỉ thông tin), Buffett, Gates và vợ của ông, Melinda, đã đặt ra một mục tiêu: Họ nỗ lực thuyết phục những người siêu giàu, bắt đầu với danh sách Forbes 400, cam kết phải tài trợ ít nhất 50% tài sản ròng của họ cho từ thiện trong suốt cuộc đời hoặc sau khi họ qua đời.

Chắc chắn kế hoạch này có thể làm tăng vọt số tiền từ thiện, mặc dù số tiền là một câu đố chúng ta sẽ tìm lời giải. Bài báo bạn đang đọc là thông báo đầu tiên về những gì Buffett, Melinda và Bill Gates đang cố gắng thực hiện. Trong vài tháng qua sau khi dự án được tiết lộ, Fortune đã phỏng vấn 3 lãnh đạo cũng như các tỷ phú đã đăng ký tham gia vào dự án.

Bài báo này cũng là một phần tiếp nối của hai câu chuyện trang bìa khác trên tạp chí Fortune. Bài đầu tiên xuất bản vào năm 1986 có tựa “Chúng ta có nên để lại tất cả tài sản cho con?” Buffett nhấn mạnh là không. Bài báo thứ hai xuất hiện vào năm 2006 đã tiết lộ ý định của Buffett là sẽ tặng tài sản Berkshire Hathaway của ông cho 5 quỹ, trong số đó có quỹ lớn nhất thế giới Bill & Melinda Gates. (Hãy đọc cam kết của ông tiếp theo sau bài báo này để biết Buffett có dự định thế nào về tài sản của ông).

Kể từ đó, Buffett đã trao tặng cho quỹ 6,4 tỷ đô-la trong suốt 4 năm đóng góp, không kể đến món quà sẽ được tặng vào mùa hè năm 2010. Trong khoảng thời gian này, quỹ đã lần lượt gộp số tiền của Buffett và nhà Gates để tăng mức trao tặng lên khoảng 3 tỷ đô-la mỗi năm, phần lớn dành cho sức khỏe thế giới. Một ví dụ nhỏ: Quỹ Medicines for Malaria Venture, được tài trợ bởi Quỹ Gates, đã làm việc với công ty dược phẩm Novartis để phát triển các loại thuốc sốt rét có vị ngon và phân phát cho hàng triệu trẻ em trên 24 quốc gia.

Một sự thật khác về bài báo năm 2006 đó là tôi, Carol Loomis, một biên tập viên độc lập cao cấp của tạp chí Fortune, đã viết nó. Bên cạnh đó, tôi là một người bạn lâu năm của Buffett và là người biên tập thư gửi các cổ đông của Berkshire hằng năm. Chồng tôi, John Loomis, và tôi cũng quen biết với Melinda và Bill Gates thông qua Buffett. Nhà Loomis thậm chí đã từng chơi bài bridge với Warren và Bill.

Như đã nói, ngay từ đầu, câu hỏi dự án từ thiện của Gates và Buffett có thể đem lại những gì phụ thuộc vào một bí ẩn: những người giàu nhất nước Mỹ hiện đang trao tặng bao nhiêu tiền. Phần lớn họ không chia sẻ, còn những người ngoài thì không thể biết. Danh sách Forbes 400 đã đưa ra dự đoán tốt nhất về những người tham gia và số tài sản ròng của họ. (Buffett nói rằng ông biết hai cổ đông của Berkshire nên nằm trong danh sách nhưng đã bị bỏ qua). Bill Gates kết luận “Danh sách này không chính xác”.

Sau khi cân nhắc những yếu tố trên, tạp chí tuyên bố giá trị tài sản ròng năm 2009 của những người trong danh sách Forbes 400 là khoảng 1.200 tỷ đô-la. Vì vậy, nếu nhóm 400 người này trao tặng 50% tài sản ròng của họ khi họ còn sống hoặc sau khi qua đời, con số sẽ là 600 tỷ đô-la. Bạn có thể nghĩ số tiền khổng lồ này là những gì nhóm Buffett và Gates đang theo đuổi ở mức tối thiểu.

Tạm gác lại danh sách Forbes 400 và chỉ xem xét dữ liệu của Sở Thuế vụ về cả hai loại thuế trao tặng hằng năm và thuế bất động sản, chúng ta có thể phác họa một bức tranh về số tiền được những người siêu giàu trao tặng còn cách xa bao nhiêu so với con số 600 tỷ đô-la. Bắt đầu với một thực tế đáng khen về người Mỹ nói chung: Mỹ vượt qua tất cả các quốc gia khác về lòng hảo tâm, họ ủng hộ khoảng 300 tỷ đô-la hằng năm.

Một số trong đó được báo cáo là các khoản khấu trừ từ thiện trên hồ sơ khai thuế của các cá nhân. Tuy nhiên, những người đóng thuế có mức thu nhập thấp không thường phân loại chúng, thay vào đó họ chịu mức khấu trừ tiêu chuẩn. Ở mức thu nhập cao hơn, dữ liệu tiền từ thiện bắt đầu có ý nghĩa. Lấy ví dụ năm 2007 (dữ liệu mới nhất có sẵn), 18.394 người trả thuế cá nhân có thu nhập gộp hiệu chỉnh1 từ 10 triệu đô-la trở lên đã báo cáo số tiền từ thiện của họ tương đương với khoảng 32,8 tỷ đô-la, hay 5,84% trong tổng thu nhập 562 tỷ đô-la.

1. Thu nhập gộp hiệu chỉnh (Adjusted gross income): Một thuật ngữ thuế của Mỹ chỉ lượng được sử dụng trong tính toán nghĩa vụ thuế thu nhập của một cá nhân, gồm tổng thu nhập được điều chỉnh theo các khoản chiết khấu cho phép, và là một dấu mốc quan trọng quyết định các lợi ích cho phép khác.

Còn các tỷ phú? Ở đây, số liệu thống kê cho thấy một bức tranh đẹp nhất tuy có khiếm khuyết là trong suốt gần 2 thế kỷ, Sở Thuế vụ đã xuất bản danh sách 400 người nộp thuế cá nhân nhiều nhất hằng năm, một danh sách rõ ràng luôn biến đổi. Các danh sách xuất bản hằng năm của Forbes có thể có hoặc không thúc đẩy quyết định theo dõi một số các công dân đặc biệt này của chính phủ. Trong bất kỳ trường hợp nào, hai danh sách 400 không thể giống nhau mặc dù chắc chắn có sự trùng lặp, vì dữ liệu Sở Thuế vụ là về thu nhập, không phải về tài sản ròng.

Các dữ kiện của IRS năm 2007 cho thấy 400 người nộp thuế lớn nhất có tổng thu nhập hiệu chỉnh là 138 tỷ đô-la, và chỉ hơn 11 tỷ đô-la trong đó được tính là khấu trừ từ thiện, chiếm khoảng 8%. Số tiền bị khấu trừ, mà chúng ta cần nhanh chóng tăng lên, phải được hiệu chỉnh tăng vì nó có lẽ đã đạt giới hạn cho một số quà tặng nhất định, trong số đó là những món quà rất lớn như 1,8 tỷ đô-la Buffett tài trợ cho Quỹ Gates trong năm đó. Mặc dù vậy, thật khó có thể tưởng tượng rằng 11 tỷ đô-la có thể tăng lên đến hơn 15 tỷ đô-la bằng bất cứ cách nào. Nếu chúng ta chấp nhận 15 tỷ đô-la là khoản ước tính hợp lý, có nghĩa là 400 người nộp thuế lớn nhất đã trao tặng 11% thu nhập cho từ thiện, con số chỉ hơn 1/10 một chút.

Liệu khoản trao tặng hằng năm có khả năng nằm ngoài bức tranh lớn hơn? Người ta có thể tưởng tượng rằng những người siêu giàu gây dựng gia sản suốt đời và sau đó đưa các khoản tiền từ thiện lớn vào di chúc của họ. Thật không may, dữ liệu về thuế tài sản theo số liệu thống kê năm 2008 đã làm hỏng viễn cảnh này. Số người nộp thuế khai thuế tài sản năm đó là 38.000 người, có tổng tài sản lên tới 229 tỷ đô-la. 4/5 những người đóng thuế này không có dự định ủng hộ từ thiện sau khi qua đời. 7.214 người có di chúc từ thiện đã trao tặng 28 tỷ đô-la. Số này chỉ chiếm 12% tổng giá trị tài sản trị giá 229 tỷ đô-la của toàn bộ 38.000 người.

Tổng kết, dữ liệu cho thấy có một khoảng cách rất lớn giữa số tiền những người giàu đang trao tặng và con số tương đương với 50% tài sản ròng hay hơn nữa mà nhà Gates và Buffett gợi ý. Câu hỏi đặt ra là bao nhiêu người giàu sẽ đồng ý với gợi ý trên.

Sự kiện nổi bật trong dự án chính là Bữa ăn tối Đầu tiên giữa các tỷ phú vào tháng 5 năm 2009. Nhà Gates tín nhiệm Buffett vì một ý tưởng cơ bản: tập hợp một nhóm nhỏ các nhà hảo tâm tận tụy để cùng thảo luận các chiến lược lan truyền phúc âm đến những người khác. Nhà Gates tiến hành chuẩn bị cho sự kiện. Bill Gates tươi cười cho biết: “Nếu bạn trông đợi Warren tổ chức bữa ăn tối này, nó có thể không bao giờ xảy ra.” Trong khi đó, trong văn phòng của mình, Buffett đã soạn ra một cái tên cho một tập tin mới “Những mạnh thường quân tuyệt vời”.

Tin đầu tiên là một bản sao lá thư ngày 4 tháng 3 do Buffett và Gates gửi cho tổ chức từ thiện David Rockefeller nhằm yêu cầu ông ấy chủ trì cuộc họp. Rockefeller, hiện đã 95 tuổi, nói với Fortune rằng yêu cầu này “bất ngờ nhưng là một vinh hạnh”. Ông đã chọn Nhà Hiệu Trưởng tinh tế và rất riêng tư tại Đại học Rockefeller ở thành phố New York, nơi ông có trong ban quản trị hơn 7 năm qua, làm địa điểm diễn ra sự kiện. Ông cũng đã chọn con trai David, 68 tuổi, đi cùng ông đến dự cuộc họp.

Sự kiện dự định diễn ra vào 3 giờ tối thứ Ba ngày 5 tháng 5, là mong muốn cấp bách của Bill Gates vì ông muốn cuộc họp rơi vào kỳ nghỉ ngắn ở Mỹ sau 3 tháng lưu trú ở châu Âu cùng gia đình. Vì Melinda chọn sống ở châu Âu cùng với 3 người con của họ, tuy bà không tham dự buổi tiệc đầu tiên, nhưng đã đăng ký tham gia bất cứ sự kiện nào tiếp theo. (Nhà Gates xem dự án này là một công việc cá nhân, chứ không hoàn toàn chỉ là một dự án của Quỹ Gates).

Ngay từ đầu Melinda cũng nhấn mạnh rằng cả hai vợ chồng đều được mời đến các bữa tối, chắc chắn rằng cả hai người có vai trò rất quan trọng trong bất kỳ cuộc thảo luận nào. Lý do của bà là: “Ngay cả khi ông ấy là người kiếm tiền, bà ấy thực sự là một người giám sát. Bà ấy phải xem xét bất kỳ kế hoạch từ thiện nào, bởi vì nó ảnh hưởng đến bà và đến con cái của họ.”

Thư mời đề ngày 24 tháng 3 đã đến tay nhiều người hơn số người có thể đến tham dự. Nhưng các chủ tiệc và những vị khách đến tham gia vào ngày 5 tháng 5 chắc chắn đã có đủ những tấm vé kinh tế để có mặt ở đó: Tổng tài sản ròng vào khoảng 130 tỷ đô-la và một quá khứ nghiêm túc khi dùng số tiền đó để ủng hộ cho từ thiện. Bỏ qua những nhà bán quan sát, Patty Stonesifer và David Rockefeller con, có 14 người hiện diện, bắt đầu với Rockefeller, Buffett và Gates. Các vị khách địa phương bao gồm Thị trưởng Bloomberg; 3 nhân viên Phố Wall, “Pete” Peterson, Julian Robertson và George Soros; cùng với Charles “Chuck” Feeney, chủ sở hữu chính của Duty Free Shoppers cho đến nay đã trao tặng 5 tỷ đô-la thông qua các quỹ của ông, được gọi là Atlantic Philanthropies. Khi Feeney bị loại khỏi danh sách Forbes 400 vào năm 1997, tạp chí này đã lý giải sự vắng mặt của ông ấy bằng những từ không thường xuyên được sử dụng: “Trao tặng số lượng lớn cổ phần cho từ thiện.”

Những vị khách ở nơi khác bao gồm Oprah, Ted Turner và hai cặp đôi từ California, mạnh thường quân ở Los Angeles là Eli và Edythe Broad, John và Tashia Morgridge ở Thung lũng Silicon, có cổ phần ở Cisco Systems. Cả nhà Broad lẫn Morgridge đều mập mờ liệu có nên chấp nhận lời mời này hay không khi xét rằng chuyến đi này khá bất tiện. Nhưng ở cuối bức thư là 3 chữ ký của Rockefeller, Gates, Buffett. Eli Broad đã nghĩ, “Thật ấn tượng!”

Vì vậy, vào ngày được chỉ định, nhà Broad ngồi cùng mọi người xung quanh một bàn hội nghị lớn, tự hỏi chuyện gì sẽ đến tiếp theo. Họ đã nhận được thông điệp đó chủ yếu từ Buffett, người nhờ có khiếu hài hước nhanh nhạy đã vào “vai hoạt náo viên” theo lời David Rockefeller (con). Ông ấy nhớ rằng Buffett đã giữ cho cuộc họp “không quá ảm đạm” và “không quá nhiều những lời tự khen ngợi”. Buffett khai mạc sự kiện bằng cách đặt câu hỏi về hoạt động từ thiện, mô tả cuộc họp như một dịp để “khám phá”, và sau đó đi vòng quanh bàn yêu cầu mỗi người chia sẻ triết lý của họ về việc trao tặng và cho biết triết lý này đã phát triển thế nào.

Kết quả gồm 12 câu chuyện trong suốt gần 3 tiếng đồng hồ, mỗi câu chuyện kéo dài khoảng 15 phút. Nhưng phần lớn người tham gia đã nói với Fortune rằng họ thấy các câu chuyện rất hấp dẫn, ngay cả khi chúng tương đồng với nhau. David Rockefeller con kể rằng đã học về từ thiện từ cha và ông nội. Ted Turner lặp lại một giai thoại về việc làm thế nào mà ông quyết định ngẫu hứng trao tặng 1 tỷ đô-la cho Liên Hợp Quốc. Một vài người chia sẻ họ thấy khó khăn khi thay đổi từ các khoản trao tặng nhỏ sang khoản trao tặng lớn. Số khác lo lắng rằng việc làm từ thiện mạnh tay có thể khiến các con họ giận dỗi. (Sau này, khi nhớ lại cuộc họp, Buffett đã tươi cười nói rằng điều này làm ông cảm thấy mình như một bác sĩ tâm thần.)

Các tổ chức từ thiện được đề cập trong cuộc họp bao gồm các ngành: giáo dục và luôn là giáo dục, văn hóa; bệnh viện và y tế; môi trường; chính sách cộng đồng; người nghèo nói chung. Bill Gates, người nhận xét cuộc họp rất “tuyệt vời”, đã ngợi khen chuỗi các tổ chức này: “Một phần vẻ đẹp của nó chính là vì các khoản trao tặng của người Mỹ rất đa dạng.”

Trong bữa ăn tối tiếp theo, cuộc trò chuyện đã chuyển hướng sang làm thế nào để tăng số tiền trao tặng. Những ý tưởng tiên phong bao gồm sự công nhận toàn quốc dành cho các nhà hảo tâm vĩ đại (ví dụ như các huy chương do tổng thống trao tặng), hoặc một bộ phim, hoặc một cuốn sách hướng dẫn làm từ thiện, hoặc một hội nghị dành cho người giàu. Không ai nói về một cam kết. Trong bữa ăn tối, Rockefeller con nói, “Điều quan trọng nhất mà cha tôi và tôi nghĩ đến là việc tăng tiền từ thiện có thể diễn ra nhờ nhiều người ở đây. Một công việc tế nhị, có thể kéo dài, và được làm lần lượt.”

Dĩ nhiên, cái kết của buổi tiệc tối thật bất ngờ: bí mật đã bị rò rỉ. Có một chút nghi ngờ, người tiết lộ tin là Chuck Feeney, và người nhận tin là người bạn lâu năm của ông, Niall O’Dowd, một nhà xuất bản ở New York đứng sau trang IrishCentralcom. (Fortune đã thất bại khi kết nối với Feeny; còn O’Dowd nói: “Tôi không thể xác nhận chuyện đó.”) Vào ngày 18 tháng 5, hai tuần sau cuộc họp, IrishCentral. com đã đăng một bài báo gồm 14 đoạn văn ngắn với tiêu đề về cuộc họp bí mật giữa những người giàu nhất thế giới được tổ chức tại New York. Nhờ vậy, danh tiếng của trang mạng tăng vọt, vì các tờ báo còn lại đã đăng lại tin.”

Bài báo của IrishCentral bày tỏ sự bối rối liệu Rockefeller cha hay con đã đóng vai chính trong bữa tối, hoặc thậm chí đã có mặt ở đó không, mặt khác cũng cung cấp tên của tất cả những người tham gia, đáng chú ý là không có Feeney, ông dường như không nghĩ mọi người sẽ dễ chú ý đến ông hơn khi tên ông bị loại trừ. Tuy nhiên, dường như Feeny đã được trích dẫn ẩn danh trong bài báo, một lần như là một “người tham dự” cho biết Gates là diễn giả ấn tượng nhất trong ngày, Turner là người nói nhiều nhất (thật ngạc nhiên!), và Buffett luôn nhấn mạnh về lộ trình cho sự thay đổi của ông. Trong lần thứ hai, Feeney trong vai một “người tham gia” đáng kính khi tán dương những vị khách: “Mọi người đều ở đó, người vĩ đại và người tuyệt vời.”

Hậu quả chính của vụ rò rỉ chính là đặt “chiếc nón im lặng”1, cụm từ đến từ Gates, lên tất cả mọi thứ diễn ra trong dự án ở năm kế tiếp. Nhưng có những động thái nhất định, bao gồm một vài bữa ăn tối nhỏ ở nước ngoài. Bill và Melinda Gates tổ chức một bữa ăn tối ở London, Bill đã tổ chức một vài bữa ăn khác ở Ấn Độ và Trung Quốc. Tăng tiền từ thiện ở nước ngoài là một thách thức đặc biệt: Tài sản thừa kế được thừa nhận rộng rãi; luật thuế thường không cho phép khấu trừ quà tặng cho từ thiện; có ít thể chế và tổ chức sẵn sàng nhận quà từ thiện khiến việc chọn nơi để trao quà không dễ dàng như vậy. Tuy nhiên, nếu nhà Gates và Buffett thành công trong chiến dịch của họ ở Mỹ, chắc hẳn họ sẽ mang nó ra nước ngoài.

1. Chiếc nón im lặng: Một chiếc nón giả tưởng được dùng để ngăn không cho cuộc nói chuyện riêng tư bị lộ ra ngoài. Hai người sử dụng sẽ ngồi đối diện nhau với chiếc nón trên đầu trong khi trò chuyện.

Nhưng trong mùa hè và mùa thu năm ngoái, Buffett và nhà Gates thậm chí không có kế hoạch cấu trúc cho chiến dịch này. Ý tưởng về một cam kết đã hình thành và lớn mạnh. Nó giúp nhiều bữa ăn tối hơn được tổ chức. Melinda cho biết, 3 vị lãnh đạo sẽ “phất cờ cam kết để xem liệu nó có thể bay không”.

Sau đó là các bữa tối thứ 2 và thứ 3 diễn ra ở Mỹ, hầu hết khách tham dự đều không được công khai vì “chiếc nón im lặng”. Một phát ngôn viên của Gates cho biết, giữ bí mật một phần là để bày tỏ sự tôn trọng đối với những nhân vật có thế lực được giới thiệu về dự án từ thiện nhưng lại e ngại khi bị công bố tên tuổi trong trường hợp họ quyết định không tham gia.

Trong mọi trường hợp, tên của một số người tham gia được công khai. Tên tuổi các nhà từ thiện tại buổi ăn tối thứ hai tổ chức tại Thư viện Công cộng New York vào tháng 11 năm ngoái bao gồm chuyên gia ngân hàng đầu tư New York Kenneth Langone và vợ ông, Elaine, H. F. “Gerry” Lenfest và vợ ông, Marguerite, từ Philadelphia. Lenfest làm giàu từ khi ông bán công ty cáp viễn thông Pennsylvania cho Comcast vào năm 2000, thu về 1,2 tỷ đô-la cho bản thân và gia đình. Ông nhanh chóng thề rằng sẽ dành phần lớn tài sản để làm từ thiện trong đời. Cho đến nay ở tuổi 80, ông đã trao tặng 800 triệu đô-la, một phần đáng kể trong số này dành cho những trường mà ông đã theo học (Trường Luật Columbia, Washington và Lee, Mercersburg Academy).

Khoảnh khắc yêu thích của Lenfest trong bữa ăn tối tháng 11 là khi Buffett tuyên bố trong tối hôm đó Marguerite Lenfest đã đưa ra ý tưởng tốt nhất rằng những người giàu nên ngồi lại, quyết định họ và con cái của họ cần bao nhiêu tiền và tìm hiểu xem phải làm gì với phần tài sản còn lại. Lenfest nói: “Giá trị của Buffett và Gates chính là họ khiến mọi người cùng ngồi xuống và xem xét những việc này.”

Bữa tối thứ ba, được tổ chức vào tháng 12 tại khách sạn Rosewood Sand Hill ở Menlo Park, California, được biết đến là bữa tối ở Bay Area nhưng đã thu hút sự chú ý rộng khắp, bao gồm các khu giải trí. Tham dự có một số nhà hảo tâm kỳ cựu, bao gồm cả nhà đầu tư mạo hiểm John Doerr của Kleiner Perkins và vợ, Ann, cùng với Morgridges, người đã chọn địa điểm họp. Melinda Gates nói rằng bữa tối này khá khác với hai bữa tối còn lại bởi vì có một vài người mới sở hữu nhiều tài sản và vẫn đang cân nhắc ý định trao tặng. Cuộc nói chuyện tiếp tục kéo dài hàng giờ đến nỗi món thịt bò được chuẩn bị cho bữa tối phần nào đã bị nấu quá chín. Ban quản lý của Rosewood đã xuống tinh thần khi được báo cáo lại sự việc, họ có thể nhận thấy rằng những vị khách trong phòng họp Dogwood rất đáng để đón tiếp trở lại.

Bữa tối cũng đề cập đến một số nỗi lo của mọi người về từ thiện. Công khai những món quà lớn sẽ ảnh hưởng gì đến cuộc sống hòa bình của bạn?

Liệu những lời cầu khẩn từ các tổ chức từ thiện sẽ kéo dài bất tận? Làm thế nào để thực hiện việc trao tặng quốc tế, hoạt động thường có vẻ như là ném tiền xuống hố? Nhà Gates nói đây là những lo ngại thiết thực, được đưa ra bởi những người muốn tỏ ra thông minh khi làm từ thiện như khi họ kiếm tiền. Nhưng các câu hỏi đã không làm hai người ngưng ca ngợi sự hài lòng về hoạt động từ thiện. Trong những bữa ăn tối này, Bill đã nói, “chưa có ai nói với tôi rằng, ‘Chúng ta đã ủng hộ nhiều hơn số chúng ta nên ủng hộ.’”

Ý tưởng về cam kết cũng không bị gạt bỏ trong những bữa ăn tối này. Nói cách khác, nó đã thật sự “nổi lên”. Vì vậy, vào năm 2010, hình thức cam kết đã trở thành chiến lược. Ý tưởng nhắm đến 50% tài sản ròng thực tế là từ trên trời rơi xuống, tuy mục tiêu này ít hơn số mà các lãnh đạo muốn đạt nhưng có lẽ đây là số tiền nhiều nhất họ có thể nhận được, ít nhất là trong thời gian đầu. Trong khi đó, các cam kết không bao giờ được cụ thể trong hợp đồng pháp lý mà chỉ là các nghĩa vụ đạo đức được ghi nhớ bằng văn bản và thực hiện rất nghiêm túc. Thực ra, chúng được đưa lên trang web mới Givingpledgeorg, trang được Melinda Gates giám sát quá trình xây dựng. Lời cam kết trao tặng 99% của Buffett có thể sẽ đứng hạng 1 trên trang web, nếu ông không bị những người bạn của ông ở Seattle vượt qua.

Nhiệt tình dẫn đầu cuộc tìm kiếm những Nhà Hảo Tâm Tuyệt Vời, nhưng gia đình Gates và Buffett cũng muốn được ủng hộ mạnh mẽ. Gia đình nhà Broad, Doerr, Lenfest và Morgridge đã cam kết trao tặng ít nhất 50%. Hơn nữa, khi việc bài báo này phát hành trực tuyến, 3 lãnh đạo sẽ gửi e-mail và gọi điện cho các tỷ phú được đánh giá có triển vọng khác. Ngay sau đó, tất cả những người cam kết có thể cùng tham gia gửi một lá thư cho rất nhiều tỷ phú khác, kêu gọi họ tham gia vào đội ngũ đang ngày càng tăng lên này. Vào mùa thu, thậm chí có thể diễn ra một buổi hội nghị Nhà Hảo Tâm Tuyệt Vời.

Có thể mất nhiều năm để tìm ra định nghĩa về thành công của dự án này, nhưng mỗi lãnh đạo đều có ý kiến riêng. Buffett biết rằng những người giàu có đều nghĩ đến việc phải làm gì với tiền của họ: “Họ có thể không đưa ra quyết định về việc đó, nhưng họ chắc chắn sẽ nghĩ về nó. Cam kết mà chúng tôi yêu cầu họ thực hiện sẽ khiến họ suy nghĩ về nó một lần nữa.” Ông cảnh báo đến trước hết là những người giàu đang trì hoãn quyết định sẽ làm gì với tiền của họ: “Nếu họ chờ đợi đến khi họ viết bản di chúc cuối cùng vào những năm 90 tuổi, cơ hội để bộ não và ý chí của họ hoạt động tốt hơn so với hiện tại là bằng không.”

Bill Gates xem 50% là một “mức thấp” nhằm khuyến khích nhiều người tham gia. Ông nghĩ rằng mọi người có thể bị hấp dẫn ở mức này rồi sau đó ngạc nhiên khi nhận ra họ đang trao tặng ở những mức cao hơn. “Đây là một phạm trù khác,” ông nghĩ, và mọi thứ cần thời gian để có kết quả.

Melinda Gates tách biệt tương lai gần và xa. Có rất nhiều lý do vì sao người giàu không ủng hộ từ thiện, bà nói: Họ không muốn lên kế hoạch cho cái chết của mình; Họ lo ngại rằng họ sẽ cần thuê ai đó để giúp thực hiện công việc; Họ chỉ không muốn dành thời gian để suy nghĩ về tất cả việc đó. Vì vậy, bà nghĩ rằng mục tiêu ban đầu của chiến dịch cam kết chính là phá bỏ suy nghĩ đó và làm họ chuyển đổi ý định trao tặng. Cuối cùng thì sao? “Từ 3-5 năm tới, chúng ta cần thấy một lượng các tỷ phú đăng ký đáng kể. Đó sẽ là thành công.”

Không còn cách nào khác, xã hội trở thành một nơi tiếp nhận, ít nhất một số ít hoặc có thể là nhiều tiền. Không phải chỉ những người giàu mới có thể thay đổi suy nghĩ về ý nghĩa của cam kết này. Cũng có thể đột nhiên những người trao tặng ít tiền có nhiều lý do hơn để nghĩ về việc làm đúng đắn của họ.

Cam kết từ thiện của tôi

Ngày 5 tháng 7 năm 2010

Warren Buffett

Năm 2006, tôi đã cam kết sẽ dần chuyển tất cả cổ phiếu Berkshire Hathaway của tôi cho các quỹ từ thiện. Tôi vô cùng hạnh phúc với quyết định này.

Hiện tại, Bill, Melinda Gates và tôi đang kêu gọi hàng trăm người Mỹ giàu có cam kết trao tặng ít nhất 50% tài sản của họ cho từ thiện. Vì vậy, tôi nghĩ rằng tôi nên nhắc lại ý định này và giải thích lý do của nó.

Thứ nhất, tôi cam kết rằng hơn 99% tài sản của tôi sẽ dùng làm từ thiện trong lúc tôi còn sống hoặc sau khi qua đời. Cam kết được tính bằng đô-la này rất lớn. Mặc dù, ở khía cạnh so sánh, mỗi ngày đều có nhiều cá nhân trao tặng nhiều tiền hơn thế cho những bên khác.

Hàng triệu người thường xuyên đóng góp cho các nhà thờ, trường học và các tổ chức khác mà bỏ qua các quỹ lẽ ra sẽ làm lợi cho gia đình của họ. Những đồng tiền họ đặt lên chiếc đĩa quyên góp hay gửi cho tổ chức phi lợi nhuận United Way đồng nghĩa với việc từ bỏ những buổi xem phim, ăn tối bên ngoài hoặc các thú vui cá nhân khác. Ngược lại, gia đình tôi và tôi sẽ không phải hy sinh thứ mà chúng tôi cần hoặc muốn bằng cách thực hiện cam kết 99% này.

Hơn nữa, cam kết này không bắt tôi phải hy sinh tài sản quý giá nhất là thời gian. Nhiều người, bao gồm – tôi nói một cách tự hào – 3 người con của tôi, đã dành nhiều thời gian và tài năng của mình để giúp đỡ người khác. Hình thức quà tặng này thường chứng minh chúng có giá trị hơn là tiền. Một đứa trẻ khó khăn được chăm sóc và nuôi dưỡng bởi một người quan tâm là đã nhận một món quà có giá trị vượt xa những gì một tờ chi phiếu đem lại. Em gái tôi, Doris, nhân rộng sự giúp đỡ giữa người với người đầy ý nghĩa này hằng ngày. Tôi cũng đã thực hiện một chút việc như thế này.

Tuy nhiên, việc tôi có thể làm là lấy một xấp các giấy chứng nhận cổ phần Berkshire Hathaway – “những chi phiếu sở hữu” nếu chuyển thành tiền mặt có thể chi phố các nguồn lực có ảnh hưởng rộng – và cam kết dùng chúng để đem lợi ích cho những người được số phận chọn làm những công việc không ai muốn làm. Cho đến nay tôi đã phân phối khoảng 20% cổ phần của mình (bao gồm cổ phần do vợ tôi, Susan Buffett, trao tặng). Hằng năm tôi sẽ tiếp tục chuyển khoảng 4% trong các cổ phần tôi giữ lại. Trễ nhất là 10 năm sau khi tài sản của tôi được định đoạt, số tiền thu được từ tất cả các cổ phần Berkshire của tôi sẽ được sử dụng cho các mục đích thiện nguyện. Không có khoản nào dành cho các quỹ quyên góp; tôi muốn số tiền được dùng cho các nhu cầu hiện tại.

Cam kết này sẽ giúp cuộc sống của tôi và cả của các con tôi không bị ảnh hưởng. Chúng đã nhận được những số tiền đáng kể để chi dùng cá nhân và sẽ tiếp tục nhận được nhiều hơn trong tương lai. Chúng sống một cuộc sống thoải mái và hữu ích. Còn tôi sẽ tiếp tục sống theo cách đã đem đến cho tôi tất cả mọi thứ mà tôi có thể muốn trong cuộc sống.

Một chút vật chất làm cho cuộc sống của tôi thú vị hơn; tuy nhiên nhiều thì không. Tôi thích có một chiếc máy bay riêng đắt tiền, nhưng sở hữu nửa tá căn nhà lại là một gánh nặng. Rất thường xuyên, một tập hợp lớn gồm các tài sản rốt cuộc sở hữu chính chủ của nó. Ngoại trừ sức khỏe, tài sản mà tôi thấy đáng giá nhất là những người bạn thú vị, đa ngành và lâu năm.

Gia sản của tôi đến từ sự kết hợp của việc sống ở Mỹ, một số gen may mắn và lợi nhuận kép. Cả hai người con của tôi và tôi đã thắng giải mà tôi gọi là xổ số buồng trứng. (Đầu tiên, khả năng bất lợi về ca sinh của tôi vào năm 1930 xảy ra ở Mỹ có tỷ lệ ít nhất 30 trên 1. Việc tôi là đàn ông và là người da trắng cũng đã loại trừ những trở ngại lớn mà đa số người Mỹ phải đối mặt.)

Vận may của tôi càng được củng cố vì tôi đang ở trong một chế độ thị trường đôi khi tạo ra những kết quả bị bóp méo, mặc dù nhìn chung nó phục vụ tốt cho đất nước chúng ta. Tôi làm việc trong một nền kinh tế nơi trao thưởng huân chương cho người cứu sống những người khác trên chiến trường, tặng một nhà giáo tuyệt vời những lời cám ơn từ các phụ huynh, nhưng lại thưởng cho những người có thể phát hiện ra sự sai lệch giá chứng khoán số tiền đến hàng tỷ đô-la. Tóm lại, các cơ hội tốt được số phận phân phát bất quy tắc và thất thường.

Gia đình tôi và tôi không cảm thấy tội lỗi mà là biết ơn về gia sản to lớn lạ thường của chúng tôi. Nếu chúng tôi tự dùng hơn 1% chi phiếu sở hữu của tôi, cả hạnh phúc cũng như sức khỏe của chúng tôi đều không được nâng cao. Ngược lại, số 99% còn lại có thể tạo ra ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và phúc lợi của những người khác. Thực tế này đặt ra một hướng đi rõ ràng cho tôi và gia đình: Giữ lại tất cả những gì chúng tôi có thể sẽ cần đến và trao tặng phần còn lại cho nhu cầu của xã hội. Cam kết của chúng tôi dẫn dắt chúng tôi bắt đầu theo mục đích này.

Ngài khắc phục của Buffett

Ngày 16 tháng 8 năm 2010

Brian Dumaine

Không ai có thể tưởng tượng được chưa đầy một năm sau 2010, khi chúng tôi xuất bản bài báo tán dương David Sokol, ông đã từ chức ở Berkshire và bị nhiều tờ báo xem là một diễn viên tồi. Thực ra, bài báo đã mô tả ông là người đàn ông “được nhắc đến nhiều nhất như là người kế nhiệm của Buffett”. 5 Giám đốc Điều hành khác của Berkshire là Greg Abel của công ty Năng lượng MidAmerican, Ajit Jain của công ty Tái bảo hiểm Berkshire, Tad Montross của General Re, Tony Nicely của GEICO, và Matt Rose của công ty đường sắt BNSF.

Sokol đột ngột rút khỏi vị trí ứng cử viên vào tháng 3 năm 2011, tự quyết định từ chức tại Berkshire và nói với Buffett rằng ông đã lên kế hoạch nghỉ việc trong một thời gian dài vì ông muốn tự mình làm một cái gì đó. Tuy nhiên, thông cáo báo chí của Buffett về việc từ chức và lời giải thích của Sokol cũng tiết lộ rằng Sokol đã mua cổ phiếu Lubrizol chỉ vài tuần trước khi đề xuất với Buffett rằng đây là một công ty tốt mà Berkshire nên mua. Buffett đã xem xét thông cáo và chỉ ra rằng Sokol đã mua cổ phiếu trước khi trình bày ý tưởng của mình với Buffett và không hề biết Buffett sẽ phản ứng thế nào. Mặc dù vậy, sự thật về việc Sokol mua cổ phiếu cùng với việc cổ phiếu của Lubrizol tăng giá theo quyết định mua vào của Buffett đã làm một số người ngoài cuộc nghĩ có thể Sokol đã giao dịch nội gián1.

Ủy ban Chứng khoán và Sàn Giao dịch Mỹ đã điều tra về giao dịch của Sokol. Nhưng gần hai năm sau đó, vào tháng 1 năm 2013, luật sư của Sokol nói với báo chí rằng ông đã được Ủy ban cho biết họ sẽ không đưa ra cáo buộc.

Thông cáo báo chí từ Berkshire về vụ việc đã gây ra tai tiếng cho bản thân tác giả là Buffett. (Thông cáo xuất hiện ra mắt ngày 30 tháng 3, 2011 có trên trang web Berkshire Hathaway.) Hầu hết mọi người trên thế giới nghĩ rằng bản thông cáo đã quá nhẹ nhàng đối với Sokol và bất thường khi thiếu đi sự phẫn nộ mà Buffett nên thể hiện như ông đã nói từ lâu nếu bất kỳ ai tại Berkshire làm tổn hại đến một chút danh tiếng của công ty. Các nhà phê bình của Buffett cũng đặt câu hỏi tại sao ông không tiết lộ thông tin rằng Sokol đã từng nói với ông là ông ta sở hữu cổ phiếu của Lubrizol.

Vụ rắc rối Sokol không chỉ trở thành một đề tài nóng cho báo chí mà còn là Chủ đề A trong cuộc họp thường niên năm 2011 của Berkshire, được tổ chức vào ngày 30 tháng 4. Là 1 trong 3 nhà báo được phân công nhận các câu hỏi gửi qua e-mail từ các cổ đông, và là người đầu tiên được phát biểu, tôi đã đọc một câu hỏi có giọng điệu cáo buộc khi lấy làm lạ rằng vì sao Buffett không phản ứng dữ dội hơn trước những gì Sokol đã làm. Vài tiếng vỗ tay theo sau câu hỏi mà tôi đơn thuần chỉ đọc lại. Sau đó Buffett đưa ra một câu trả lời dài mà đồng thời gọi hành vi của Sokol là “không thể giải thích được” và thừa nhận rằng chính ông ấy lẽ ra nên suy xét tốt hơn. Ông nói cụ thể rằng lẽ ra ông nên hỏi thêm nhiều câu hỏi khi Sokol nói rằng ông ta sở hữu cổ phiếu Lubrizol.

Sau cuộc họp, vụ việc Sokol hầu như không được đề cập trong tin tức. Sokol chuyển từ Omaha đến Jackson Hole, Wyoming, nơi ông thành lập một công ty quản lý đầu tư, Teton Capital.

Bởi vì tin về Sokol đến ngay sau khi Fortune đã thực hiện xong số báo nên chúng tôi đã không đưa tin về nó trên tạp chí. Tuy nhiên, Brian Dumaine, người đã viết bài báo Sokol sau đó, đẩy câu chuyện lên Fortune. com về Sokol một ngày sau khi thông cáo báo chí của Buffett được ban hành. Trong bài báo này, Brian không sử dụng cụm từ “không thể giải thích được”, nhưng đó là nhận xét của ông về hành động của Sokol. Bạn có thể tìm thấy một bản sao của bài báo trực tuyến này trên trang Fortunecom. – CL

1. Giao dịch nội gián (Insider Trading): Là việc mua hoặc bán chứng khoán bởi một người có khả năng tiếp cận các thông tin bí mật, chưa được công bố về loại chứng khoán đó.

Một ngày sau khi Lehman sụp đổ vào tháng 9 năm 2008, David Sokol nhận thấy rằng cổ phiếu của Constellation Energy, một công ty của Baltimore, đã sụt giảm. Ông gọi cho sếp của mình là Warren Buffett và nói rằng, “Tôi thấy có cơ hội ở đây.” Buffett, người nhận ra điều tương tự, trả lời sau một cuộc thảo luận ngắn gọn:

“Hãy nắm lấy nó.”

Constellation có rất nhiều hợp đồng tương lai về năng lượng không thành công, và công ty dường như đang trên bờ vực phá sản. Sokol, Chủ tịch Tập đoàn Năng lượng MidAmerican Energy Holdings của Berkshire, biết về ngành dịch vụ công ích và đã nhìn thấy cơ hội mua các tài sản ở mức giá hợp lý. Tuy nhiên, thỏa thuận này phải được thực hiện trong vòng 48 giờ hoặc công ty sẽ phải nộp đơn xin phá sản.

Sokol đã gọi điện đến văn phòng của Giám đốc Điều hành Constellation Mayo Shattuck III, người đang trong một cuộc họp hội đồng quản trị khẩn cấp. Khi trợ lý của ông trả lời, Sokol nói với cô rằng ông muốn nói chuyện với ông ấy. Người trợ lý trả lời rằng nếu cô ấy làm gián đoạn cuộc họp, cô ấy có thể mất việc. Sokol trả lời, “Nếu cô không làm gián đoạn cuộc họp, cô có thể bị mất việc.”

Sokol đã đến Baltimore trên chiếc máy bay Falcon 50EX. Ông đã gặp Shattuck và vào tối hôm đó đã thỏa thuận để mua công ty với giá 4,7 tỷ đô-la, ngăn nó khỏi phá sản.

Trong vòng vài tuần, trước khi vụ mua lại hoàn tất, hội đồng quản trị Constellation đã nhận được một mức giá cạnh tranh chênh lệch khoảng 30% của Électricité de France. Hội đồng quản trị thích đề nghị này, và Sokol cũng vậy nên ông đã rút lui với khoản phí đền bù trị giá 1,2 tỷ đô-la cho Berkshire.

Khi các nhà đầu tư nghĩ đến Berkshire Hathaway, tất nhiên họ nghĩ đến Warren Buffett với tiếng tăm của ông, nếu chú ý kỹ, là một giám đốc điều hành không can thiệp vào công việc cụ thể. Ông trao quyền cho những người đứng đầu một nhóm lớn gồm các công ty của ông, từ GEICO đến Dairy Queen đến Benjamin Moore, Buffalo News hay NetJets. Tuy nhiên, ngay cả trong đế chế của Buffett, đôi khi một giám đốc điều hành không làm tốt, và doanh nghiệp của ông ấy cần được củng cố hoặc một thỏa thuận cần được thực hiện nhanh. Những lúc như vậy, người mà Buffett luôn tìm tới là David Sokol.

Trong tất cả những người dưới quyền của Berkshire, Sokol, 53 tuổi, được nhắc đến nhiều nhất như người thừa kế của Buffett, mặc dù Sokol xem nhẹ những suy đoán như vậy. Buffett thích Sokol vì những gì ông làm, hoàn thành thỏa thuận, tăng lợi nhuận, và cải thiện rõ rệt các doanh nghiệp “ốm yếu”. Trong lời mở đầu của cuốn sách của Sokol, Hài lòng nhưng Không Thỏa mãn1, Buffett viết:

“Ông ấy mang đến lĩnh vực quản lý kinh doanh giao dịch tương đương với hệ số đánh trung bình của Ted Williams ‘.4062.”

1. Hài lòng nhưng Không Thỏa mãn (Pleased but Not Satisfied): Cuốn sách do David Sokol (1956), một doanh nhân nổi tiếng người Mỹ viết về tiểu sử bản thân và những giai thoại kinh doanh được xuất bản năm 2007.

2. Hệ số đánh trung bình của Ted Williams’ .406 (.406 batting average): Hệ số đánh trung bình là hệ số dùng trong môn bóng chày để đo mức xuất sắc của người đánh bóng, được tính bằng cách lấy số các cú đánh chắc (hit) chia cho số lượt đánh (at bat). Ted Williams là cầu thủ duy nhất cho đến nay đạt hệ số đánh trung bình là .406.

Buffett lần đầu tiên gặp Sokol vào năm 1999 khi Berkshire mua MidAmerican, nhà máy dịch vụ công ích của bang Iowa. Cùng người bạn lâu năm của Buffett là Walter Scott, Sokol đã mua một công ty địa nhiệt nhỏ có lợi nhuận 28 triệu đô-la một năm vào năm 1991 và xây dựng nó thành nhà máy điện tiện ích đó. MidAmerican, có trụ sở tại Des Moines, Chủ tịch là Sokol, hiện chiếm 11,4 tỷ đô-la (khoảng 10%) doanh thu của Berkshire. Trong năm 2007, Buffett đã yêu cầu Sokol vực dậy công ty sản xuất mái lợp và cách điện đang sa sút Johns Manville, và ông đã làm được; hiện ông là chủ tịch công ty này. Trong năm 2008, Charlie Munger, Phó Chủ tịch của Buffett, đã yêu cầu Sokol đến Trung Quốc để nghiên cứu kỹ về BYD, một nhà sản xuất pin và xe điện. Sokol thích những gì ông ta thấy, và Berkshire đã đầu tư 230 triệu đô-la đổi lấy 10% công ty. Số cổ phần đó hiện có giá trị khoảng 1,8 tỷ đô-la. Vào tháng 4, khi Buffett lo ngại về một điều khoản trong dự luật về quy chế tài chính của Thượng viện buộc Berkshire và các công ty khác phải báo cáo hàng tỷ khoản thế chấp của các chứng khoán phái sinh hiện có của họ, ông đã đề cử Sokol đi tranh luận về trường hợp của ông. Phía Buffett đã giành chiến thắng trong cuộc tranh luận.

Mùa hè năm ngoái, Buffett đã giao cho Sokol một nhiệm vụ có lẽ là lớn nhất trong sự nghiệp của ông: Cải cách NetJets. Công ty sở hữu phần về máy bay phản lực năm ngoái đã lỗ 711 triệu đô-la trước thuế - mức hiệu suất không thể làm vui lòng Buffett. Ngày nay, công ty này đã có lợi nhuận, và Fortune có một cách nhìn độc quyền, hiếm có về việc Sokol đã làm như thế nào. Nhưng vấn đề này sẽ được bàn sau.

Không khó để hiểu tại sao Buffett lại thích cư dân hoài bão vùng Bắc Mỹ này. Sokol bổ sung cho các kỹ năng của ông ấy. Trong khi Buffett xuất hiện như một người chú yêu thích của bạn – thoải mái, với một sự hài hước ấm áp – thì Sokol lại là người luôn hối hả. Ông là một kỹ sư nhờ đào tạo và là một nhà quản lý gai góc, thẳng thắn và thực tế. Ông ấy thức dậy trước 5 giờ sáng mỗi ngày, đi bộ 5 dặm và tập tạ 5 ngày một tuần, phần là để giảm cân và cũng để đủ sức trải qua một lịch trình dày đặc. Ông ấy luôn có mặt trên đường trong nửa năm, chưa tính đến việc di chuyển giữa các ngôi nhà của ông ở Omaha và Columbus, nơi có trụ sở NetJets. Ông và vợ, Peggy, có một con gái lớn, Kelly. Trong khoảng thời gian nghỉ hiếm hoi của mình, ông thích câu cá và trượt tuyết. Buffett nói: “Ông ấy làm được nhiều việc trong một ngày hơn là tôi làm trong một tuần, tôi không đùa đâu.”

Sokol đã được tưởng thưởng hậu hĩnh vì công việc khó khăn của mình. Ông cùng với Walter Scott, và Greg Abel, Tổng Giám đốc của MidAmerican hiện thời, cùng sở hữu 19% cổ phần của công ty đó, trị giá khoảng 300 triệu đô-la khi Berkshire mua lại công ty này vào năm 2000. Vào bất kỳ ngày nào, Sokol có thể xuất hiện để giao lưu với nhân viên của ông hoặc dành thời gian tiếp các khách hàng và đối tác kinh doanh, tìm kiếm các cơ hội mới ở Trung Quốc, Brazil, Đức hoặc bất cứ nơi nào khác. Làm thế nào mà ông có thể không ở văn phòng quá nhiều và vẫn điều hành được 3 doanh nghiệp lớn? Sokol có một công thức, được giới thiệu trong cuốn Hài lòng nhưng Không Thỏa mãn. (Ông ấy tặng cuốn sách tự xuất bản này cho tất cả các giám đốc điều hành của mình.)

Cuốn sách súc tích dài 129 trang giải nghĩa 6 quy tắc của Sokol: hoạt động xuất sắc, liêm chính, cam kết với khách hàng, cam kết với nhân viên, có sức mạnh về tài chính và tôn trọng môi trường. Vâng, chúng là những quy định tẻ nhạt về quản lý, nhưng Sokol đã ứng dụng chúng rất nghiêm ngặt và nhất quán trong mọi tổ chức mà ông quản lý – tàn nhẫn nếu cần thiết – vào lúc đó và một lần nữa chúng đem lại những kết quả làm ngay cả Warren Buffett cũng thích.

Sokol cho biết một mẹo khác để điều hành 3 doanh nghiệp cùng một lúc là thuê trợ lý điều hành hạng nhất và tận dụng họ tối đa. Ông nói: “Có quá nhiều người thuê trợ lý chỉ để gọi điện thoại, viết thư và soạn tập tin. Nhân viên của tôi làm 3 việc cùng lúc”. Ông ấy có 2 trợ lý toàn thời gian và một trợ lý bán thời gian, người mà ông cho biết rằng, “biết tôi nghĩ thế nào”. Họ cập nhật cho ông mỗi tuần một lần về tất cả các mục tiêu ông đặt ra cho các doanh nghiệp của mình và cho các giám đốc điều hành triển khai chúng.

Các trợ lý của ông cũng biết ông không bao giờ thích đến họp trễ – ông tin rằng nó cho thấy sự thiếu tôn trọng. Họ luôn dành thêm thời gian trong trường hợp có điều gì đó không ổn, nhưng họ cũng đảm bảo rằng ông ấy có việc để làm nếu ông tình cờ đến sớm hơn nửa giờ.

Thời thơ ấu của Sokol cho thấy một chút bằng chứng rằng một ngày nào đó ông sẽ thành công lớn. Ông lớn lên tại Omaha, ở nơi mà ông gọi là “mặt trái của thị trấn”. Tại Đại học Nebraska, ông muốn trở thành bác sĩ, nhưng lần đầu tiên nhìn thấy một xác chết ông đã ngất xỉu và va đầu vào bàn đá cẩm thạch. Bố ông đã tế nhị đề nghị ông theo bước chân anh trai để học ngành xây dựng dân dụng.

Năm 1982, 4 năm sau khi tốt nghiệp, ông đầu quân cho Citicorp tại New York, nơi ông tư vấn cho khách hàng về việc đầu tư vào các dự án năng lượng lớn. Ông sớm bị thu hút để điều hành một công ty kinh doanh năng lượng từ rác thải có tên là Ogden Martin, nó được ông xây dựng thành một công ty Giao dịch Chứng khoán New York trước khi gia nhập Walter Scott để sau đó trở thành MidAmerican.

Sokol không phải chưa từng gặp thất bại – ngay cả khi có hệ số đánh là .406 bạn vẫn đánh hụt một vài lần. Về việc mà ngày nay ông cho rằng nó có lẽ là thất bại lớn nhất trong sự nghiệp của ông, vào đầu những năm 2000, Sokol đã quyết định đầu tư vào một phương pháp mới để loại bỏ kẽm tại một trong những mỏ địa nhiệt của MidAmerican ở California. Công nghệ này hiệu quả trong phòng thí nghiệm, nhưng khi áp dụng thực tế nó đã thất bại, gây ra tổn thất 200 triệu đô-la cho MidAmerica. Nhìn lại, Sokol lẽ ra nên thực hiện nhiều thử nghiệm. Ông nói, “Tôi nghĩ sai lầm tồi tệ nhất là khi tôi chấp thuận dự án, tự đáy lòng tôi đã biết đó là một sai lầm. Tôi đã cố gắng dạy cho các giám đốc điều hành trẻ điều này kể từ đó. Lắng nghe linh cảm của bạn là việc cực kỳ quan trọng, đặc biệt khi chúng cho bạn biết rằng bạn không nên làm điều gì đó. Khi ông báo tin xấu cho Buffett, nhà lãnh đạo chỉ nói rằng, “Đừng để nó trở thành thói quen.”

Sokol lại cắn rứt một lần nữa vào tháng 4 năm ngoái, khi thẩm phán Omaha ban hành phán quyết phạt MidAmerican 32 triệu đô-la, phát hiện ra công ty này đã “chủ tâm và cố ý” tính sai lợi nhuận trong tương lai để buộc các cổ đông thiểu số từ bỏ một dự án thủy điện ở Philippin vào những năm 1990. Sokol phản đối dữ dội phán quyết này, trong khi công ty thì tỏ ra van nài.

Bất chấp những thất bại như vậy, Sokol chính là Ngài Khắc phục mà Buffett sẽ đề cử khi phần nào đó của cỗ máy Berkshire bị hỏng. Mọi thứ sẽ ra sao khi David Sokol tham gia vào? Hãy xem xét câu chuyện NetJets.

Vào giữa tháng 8 năm 2009, NetJets đã mất tiền và những khách hàng. Người sáng lập và Giám đốc Điều hành Rich Santulli đã soạn thảo thư từ chức, và được Buffett chấp thuận. Tình hình thật đau đớn cho cả hai người đàn ông. Buffett thích người bạn Santulli, và trong báo cáo thường niên của Berkshire năm 2003 ông đã miêu tả ông ấy là “một Giám đốc Điều hành phi thường”. Một cựu giám đốc của ngân hàng Goldman Sachs, Santulli đã tạo ra ngành công nghiệp máy bay sở hữu chia phần trong năm 1986; Vào năm 2009, NetJets đã có 842 máy bay, 3.500 phi công và doanh thu 3,1 tỷ đô-la. Santulli, người đã ký một thỏa thuận không nói xấu công ty, chọn không bình luận về bài báo này.

Santulli đã đưa ra khái niệm về quyền sở hữu chia phần khi ông nhận thấy rằng hầu hết các chủ sở hữu sử dụng máy bay phản lực chỉ vài trăm giờ một năm. Ông nghĩ rằng tại sao không chia nhỏ số chi phí sở hữu nặng nề này, và đồng thời tránh những rắc rối về thuê phi công và duy trì máy bay? Ngày nay, khách hàng của NetJets thường mua 1/8 của một chiếc máy bay phản lực, ví dụ, 5 năm. Khách hàng này cũng trả khoảng 5.000 đô-la cho một giờ sử dụng. Bởi vì NetJets có một đội máy bay khổng lồ, vì thế họ có thể đảm bảo có một chiếc máy bay cho chủ sở hữu – không nhất thiết phải là chiếc máy bay của chính họ mà là một mẫu giống hệt – chỉ với 4 giờ thông báo trước.

Buffett và gia đình ông, và nhiều giám đốc điều hành của Berkshire, từ lâu đã là những khách hàng hài lòng của NetJets. Buffett yêu quý công ty đến mức ông thích kể về nó với các cổ đông của Berkshire tại những cuộc họp thường niên, nơi thỉnh thoảng ông đề cập đến công ty máy bay. Trong bản báo cáo năm 2001, Buffett, công ty của ông cũng sở hữu công ty may mặc Fruit of the Loom, đã viết rằng, “Nếu bạn mua một phần chiếc máy bay, chúng tôi thậm chí có thể tặng thêm một bộ 3 quần lót ôm sát hoặc ống rộng.” Tuy nhiên, kể từ khi Buffett mua NetJets từ một nhà khởi nghiệp năm 1998 với giá 725 triệu đô-la, công ty vẫn chưa gần đạt đến mức hòa vốn đầu tư của Berkshire.

Kinh doanh sở hữu chia phần máy bay giống như điều hành một hãng hàng không, chỉ phức tạp lên theo cấp số nhân. Hãy tưởng tượng việc phải chuyên chở một khách hàng đến điểm đến sau khi báo trước 4 giờ. Không chỉ cần phải có sẵn máy bay phản lực, mà còn tất cả các phi công, tiếp viên hàng không, đội ngũ bảo trì, và các dịch vụ ăn uống phải sẵn sàng vào đúng lúc. NetJets chi 100 triệu đô-la một năm cho việc đào tạo phi công. Trụ sở tại Columbus thuê các nhân viên khí tượng học riêng để theo dõi điều kiện thời tiết có thể làm trì hoãn chuyến bay.

Và những khách hàng giàu có của NetJets đã quen có được những gì họ muốn. Một chủ nhân của chiếc máy bay G-5 chỉ uống cà phê đựng trong một chiếc cốc làm từ chất dẻo Styrofoam màu trắng, và các tiếp viên phải chia nhau đi tìm những chiếc cốc này và đặt chúng cạnh chỗ ngồi của ông. Một phi công NetJets nhớ lại đã chở một hành khách từ Denver đến LA để cắt tóc và sau đó quay về Denver. Hành khách là một con chó lông xù. Chuyến bay có phí là 32.000 đô-la.

Vào tháng 8 năm ngoái, cuộc khủng hoảng tài chính đã ảnh hưởng đến NetJets. Một số giám đốc điều hành hàng đầu không còn muốn bị mọi người nhìn thấy bước lên một chiếc máy bay Gulfstream trị giá 50 triệu đô-la. (Việc những giám đốc điều hành ở Detroit này đến các phiên điều trần bảo lãnh của quốc hội bằng máy bay cá nhân không giúp ích được gì.) Những người khác thì không đủ khả năng. Hợp đồng với NetJets đảm bảo mua lại cổ phần của chủ sở hữu với một mức giá thị trường hợp lý. Những người khổng lồ ở Phố Wall không thể bán nhà cửa, tranh nghệ thuật hay ngựa của họ, nhưng họ được đảm bảo rằng Berkshire sẽ mua lại máy bay của họ. Các chủ sở hữu bắt đầu bán lại cổ phiếu ở mức chưa từng thấy. Một giám đốc của NetJets tại đó vào lúc đó cho biết, “Chúng tôi đang nhìn thấy một mối nguy lớn. Các bảng xếp hạng giống như tàu lượn Siêu anh hùng tại khu giải trí Six Flags.” NetJets bị bỏ lại và giữ một số lượng lớn máy bay chưa bán trên sổ sách, trong một số trường hợp, ít hơn 40% số tiền đã được trả cho các máy bay này.

Khi tình hình xấu đi, Sokol đã thay Santulli làm Giám đốc Điều hành. Khi ông bay tới trụ sở NetJets ở Columbus vào đầu tháng 8 để kiểm tra tình hình, Sokol phát hiện ra hai vấn đề lớn của công ty. Thứ nhất, nó đã mua quá nhiều máy bay mới, khiến nợ tăng vọt. Thứ hai, theo Sokol, quản lý của NetJets đã quá thân mật nên không thể quản lý hiệu quả. Sokol bắt đầu phát các bản sao cuốn sách quản lý của ông. Không lâu sau, ông nhận ra rằng việc vực dậy NetJets sẽ khó khăn hơn nhiều so với những gì ông tưởng tượng.

Trong quý cuối cùng của thế kỷ, Santulli, một nhà lãnh đạo có sức thu hút, đã dựng nên một nền văn hóa mạnh mẽ tại NetJets. Nhiều nhân viên cảm thấy công ty như là gia đình, sẵn sàng làm nhiều hơn để đảm bảo rằng doanh nghiệp phức tạp này hoạt động tốt mỗi ngày. Nếu cần sự trợ giúp, bạn đã nhận được rồi. Các nhân viên đã bổ sung cho nhau.

Thách thức của Sokol là thay đổi hoàn toàn NetJets mà không hủy hoại tinh thần đồng đội đã định hình công ty. Nhưng ban quản trị thích mọi thứ như nó vốn có. Tại các cuộc họp, Sokol đề xuất bán máy bay hoặc cắt giảm chi phí, còn các giám đốc điều hành sẽ bác bỏ. Không lâu sau, Sokol đã thất vọng. Bill Olsen, người hiện đang quản lý NetJets Aviation, một bộ phận hoạt động: “Rõ ràng là David không cởi mở trước những đề xuất, những cuộc tranh luận quan trọng hoặc những lời chỉ trích mang tính xây dựng. Một khi bạn thách thức ông ấy trong một cuộc họp, ông ấy sẽ nhìn bạn với ánh nhìn sắc lạnh và rất nhanh bạn sẽ không còn được ông yêu thích.” (Olsen rời ban quản lý để trở lại làm phi công cho NetJets) Sokol trả lời: “Điều này không đúng. Phong cách quản lý của tôi chính là hợp tác.”

Mặc dù vậy, Sokol đã đẩy mạnh, hủy bỏ các đơn đặt hàng máy bay mới, bán những chiếc máy bay cũ để giảm nợ từ 1,9 tỷ đô-la xuống còn 1,3 tỷ đô-la. Ông cũng cắt giảm khoảng 100 triệu đô-la chi phí, đủ để giúp công ty tạo ra lợi nhuận. Ông bắt đầu với mục tiêu dễ nhất: Tiết kiệm khoảng 30 triệu đô-la chi phí từ việc ngừng cho sử dụng máy bay miễn phí. Cơ cấu cũ thường cho phép một ngôi sao điện ảnh, ca sĩ hoặc bạn bè của công ty được di chuyển miễn phí hoặc nâng hạng miễn phí vì các mục đích quảng cáo. Sokol nói: “Chúng tôi có thể chỉ thu được 2 hoặc 3 triệu đô-la lợi nhuận với chi phí 30 triệu đô-la” cho các chương trình khuyến mại như vậy. Sokol cũng đã chấm dứt một giải đấu bài poker đắt đỏ ở Las Vegas mà công ty tổ chức mỗi năm cho các khách hàng của nó.

Tiếp theo là việc sa thải. Santulli đã giảm số lượng nhân viên xuống khoảng 4%. Sokol sa thải thêm 5% và cho nghỉ phép khoảng 500 phi công, giảm tổng số nhân viên xuống còn 6.400. Ông cho biết vì NetJets đang dùng ít máy bay hơn, công ty không cần nhiều nhân viên. Nhiều nhà quản lý cấp cao phản đối dữ đội về quyết định cắt giảm sâu vì họ cho rằng sẽ ảnh hưởng đến dịch vụ. Không lâu sau đó, khoảng một nửa số đội ngũ quản lý cấp cao được cho nghỉ. Phần còn lại được phân bổ lại hoặc bị bỏ mặc một mình.

Sokol lập luận rằng đã quá muộn để cải tổ công ty. Ông nói: “Trong một ban quản lý bất thường, điều có thể rất tế nhị chính là rất khó để đánh giá con người. Các quản lý của NetJets được khen ngợi, cho rằng họ đang làm rất tốt, nhưng thật ra không có cách nào để đánh giá việc họ đang làm.” Một lãnh đạo của NetJets vẫn được nhận hàng tỉ đô-la tiền thưởng trong khi khu vực kinh doanh của họ đang thua lỗ.

Sau khi thanh lọc ban quản lý cấp cao, Sokol đã nhấc 3 lãnh đạo của NetJets có cấp bậc cao để đưa vào đội ngũ mới của ông và tuyển 3 người từ bên ngoài. Ông nói: “NetJets rất nặng nề và không có cơ cấu chức tốt. Chúng tôi cần trao cho nhân viên những trách nhiệm và mục đích rõ ràng, khả thi. Chúng tôi cần phải làm rõ ai đang làm việc gì.”

Theo cơ cấu cũ, dịch vụ và chi phí được đánh giá ở một mức độ nào đó, nhưng không rộng khắp trên toàn công ty. Bill Noe, một nhân viên lâu năm được Sokol đề bạt làm chủ tịch của NetJets Bắc Mỹ, giải thích: “Trong cơ chế cũ, bạn mời các quản lý cấp cao vào một căn phòng và nói rằng ‘Đây là mục tiêu của chúng ta, đây là những gì chúng ta đang làm.’ Nhưng liệu nhân viên ở tầng bậc thứ hai có biết những gì đang xảy ra không? Chắc là không.”

Sokol đã huấn luyện đội ngũ của mình để đánh giá từng việc công ty làm, từ dịch vụ theo kế hoạch đến thu thập hóa đơn và chất lượng phục vụ. Ông nói, “Khi chúng tôi mắc lỗi, chúng tôi phân tích lý do tại sao chúng tôi đã làm sai, và nếu có cách để khắc phục nó, chúng tôi sẽ khắc phục nó bằng cách áp dụng một hệ thống để giải quyết rắc rối.” Gần đây, một khách hàng của NetJets đã hạ cánh tại một sân bay nhỏ ở Fort Lauderdale cho biết ông cần thuê một chiếc xe tại sân bay Fort Lauderdale International. Sai lầm là do ông ấy, nhưng nhân viên dịch vụ NetJets đã không rút kinh nghiệm. Từ lúc đó đội ngũ của Sokol đã điều chỉnh hệ thống phần mềm để nhân viên dịch vụ không thể đặt chỗ xe mà không có hệ thống máy tính chỉ ra rằng xe và sân bay không khớp. Ông nói: “Chúng tôi đã mắc phải sai lầm khi đặt chỗ trong chưa đầy 0,5% các chuyến bay của chúng tôi. Nếu con số này là một nửa của 1% vẫn là quá nhiều.”

Sokol cũng đã gộp dịch vụ khách hàng, bán hàng và tiếp thị vào một nhóm, tạo ra các đội ngũ đa chức năng quen thuộc hơn với nhu cầu của một chủ sở hữu. Những người phục vụ, người thường xuyên gặp và chào đón các chủ sở hữu tại thực địa, có thể nhận ra rằng Mr. X thích cà chua và nước Coke Zero và ghi thông tin đó vào một hồ sơ chính mà công ty lưu trữ về mỗi khách hàng. Adam Johnson, Phó Chủ tịch cao cấp của NetJets cho biết: “Chỉ cần biết chủ sở hữu, biết ngày kỷ niệm và sinh nhật sẽ giúp xây dựng mối quan hệ vững chắc.”

Sokol nói rằng, văn hóa kinh doanh lâu đời của NetJets tập trung vào sự tăng trưởng tức thì hơn là kế hoạch dài hạn. Ông đã tiến hành quá trình lập kế hoạch 5 năm và 10 năm nghiêm túc để xem xét mọi thứ từ nhu cầu về máy bay mới đến giá nhiên liệu, lạm phát và các thị trường mới như Trung Quốc. Jordan Hansell, cố vấn của NetJets cho biết, “Bạn đưa ra một loạt các giả định chi tiết về nền kinh tế, kế hoạch kinh doanh, các quy định. Điều đó buộc bạn phải tự hỏi mình đâu là những yếu tố quan trọng có thể khiến bạn thay đổi một số quyết định. Việc này giúp hạn chế những bất ngờ.”

Một điều làm Sokol ngạc nhiên chính là cuộc chiến ngôn ngữ độc địa mà một số cựu giám đốc của NetJets đang tiến hành chống lại ông, một phần trên trang web của Alice Schroeder, người viết tiểu sử của Buffett. Jim Jacobs, đồng sáng lập của NetJets, là một trong những nhà phê bình khắc nghiệt nhất. Jacobs, người đã rời khỏi chức vụ Phó Chủ tịch vào tháng 1, cho rằng việc Sokol cắt giảm chi phí đồng nghĩa với việc hy sinh dịch vụ nên các chủ sở hữu đang than phiền và nhiều người rời bỏ. Ông cũng tuyên bố rằng hủy bỏ đơn đặt hàng mua máy bay mới là một sai lầm lớn. Ông nói: “Chúng tôi đã bảo vệ giá trị đặc quyền kinh doanh và khả năng sinh lợi của công ty. Chúng tôi đã không hoảng sợ và sa thải các phi công mà việc thuê họ trở lại sẽ tiêu tốn cả gia tài. Chúng tôi đã không hủy bỏ đơn mua những chiếc máy bay mới để mặc đội tàu bay của chúng tôi cũ dần và rồi tốn kém hơn khi sử dụng chúng. Chúng tôi đã không dẹp bỏ mạng lưới những người gây ảnh hưởng của chúng tôi. Hiện tại ở NetJets không ai biết phải điều hành nó như thế nào.”

Chỉ trích sự cắt giảm nhân viên, Jacobs nói rằng phần lớn khoản lỗ 711 triệu đô-la trong năm 2009 là chi phí ngoài tiền mặt và nói rằng công ty đang hướng tới sở hữu khoảng 70 triệu đô-la dòng tiền dương trong năm 2010 ngay cả khi công ty không bán được khoản sở hữu chia phần nào mới. Ông cho rằng, việc cắt giảm này đã làm cho NetJets trở thành “một cái bóng tí hon so với quá khứ của nó”.

Sokol bật lại, “Thật lố bịch. Trong tất cả các vụ mua bán và vực dậy doanh nghiệp mà tôi đã thực hiện, tôi chưa bao giờ thấy những nhân viên cấp cao rời công ty rồi sau đó cố gắng truyền bá tin đồn ra ngoài và gọi cho các khách hàng để cố gắng gây thiệt hại cho công ty. Thật là một điều kinh khủng, bởi vì họ chỉ đang làm tổn thương cho chính họ và nhân viên của công ty.”

Tất nhiên ở đây, đánh giá của Buffett rất quan trọng, và ông hài lòng và thỏa mãn. Buffett nói, “Dave đang kiếm tiền rất tốt, và không phải từ việc bán máy bay. Có vẻ như NetJets sẽ thu lợi nhuận trước thuế là 200 triệu đô-la trong năm nay. Đó là thành tựu đáng kể về quản lý mà tôi từng thấy. Khi ngành hàng không phát triển, nó có thể là một công ty có thể kiếm được 500 triệu đô-la một năm.”

Sokol cảm thấy rằng phần lớn việc cải tổ này đã xong. Ông hy vọng sẽ đề bạt 1 trong 6 người thuộc đội ngũ quản lý mới của ông lên vị trí Giám đốc Điều hành, có thể vào cuối năm nay. Câu hỏi hiện giờ là, khi điện thoại gọi từ Omaha reo lên, ông ấy sẽ bay đến đâu tiếp theo?

Ngài Buffett mới nhận ra Bắc Kinh

Ngày 17 tháng 10 năm 2011

Bill Powell

Một bộ phim nào đó năm 2010 có đại ý rằng “Lũ trẻ con thì luôn ổn”. Câu này cũng đúng với 3 “đứa trẻ” của Warren Buffett: Susie, 60 tuổi; Howard, 58 tuổi; và Peter, 55 tuổi. Những sinh viên tốt nghiệp từ trường công lập của Omaha và từ khi còn rất nhỏ đã quen thuộc với ý kiến mạnh mẽ của cha mẹ rằng sẽ không để lại-tất cả-tài-sản-cho-các-con, từ lâu đã trở thành những công dân mạnh mẽ với sự nghiệp riêng. Đúng vậy, ngày nay cả 3 người đều điều hành các quỹ được tài trợ bằng tiền của cha mẹ – một nghề nghiệp thích hợp dành cho những người có đặc quyền. Nhưng cả 3 đã làm việc một cách nghiêm túc, vì biết trao tiền từ thiện một cách đúng đắn là việc cực kỳ khó khăn. Quỹ của Susie chủ yếu hỗ trợ giáo dục mầm non ở Omaha, nơi bà sống; Howard, người làm việc ở nông trại giáp với thành phố Decatur của bang Illinois, đã tập trung cải thiện cuộc sống của người nghèo nông thôn ở châu Phi; và cư dân New York Peter và vợ, Jennifer, đã tìm cách cải thiện số phận của phụ nữ trên khắp thế giới.

Peter Buffett đã trở thành nhân vật trong bài báo trên tạp chí Fortune được in lại ở đây vì sự thành công rực rỡ của cuốn sách của ông xuất bản năm 2010 ở Trung Quốc, Life is what you make it (tạm dịch: Tạo dựng cuộc sống của bạn). Cuốn sách đã bán được 320.000 bản ở Trung Quốc khi bài viết này ra đời, và số lượng vào giữa năm 2013 là hơn 400.000 bản. Danh tiếng của Warren Buffett ở Trung Quốc rõ ràng đã không bị ảnh hưởng. Ông được biết đến như là “vị thần cổ phiếu”, và mọi động thái của ông đều được ghi chép lại. Nhưng việc Peter từ bỏ trường Stanford uy tín và bước ra đời để theo đuổi một sự nghiệp không chắc chắn, với không nhiều tiền – điều này đã làm giới trẻ Trung Quốc chú ý, nhiều người trong số họ không thể tưởng tượng được làm thế nào mà ông có thể chấp nhận rủi ro này.

Howard Buffett cũng đã viết một cuốn sách có tựa Forty Chances (tạm dịch: 40 cơ hội) được xuất bản vào tháng 10 năm 2013 về sự nghiệp nông nghiệp của mình và sau đó ông trở thành một chuyên gia về những thử thách nông nghiệp ở châu Phi. Susie Buffett không viết sách, ít nhất là không phải bây giờ. Theo thư của bà gửi từ Omaha, thì trong gia đình bà là người giao tiếp hiệu quả nhất với bố về tất cả những việc quan trọng, ví dụ, các hệ thống an ninh cá nhân. Warren không kiên nhẫn về chi tiết cũng như sự tồn tại của chúng. Susie tiếp quản, và công việc an ninh đã được thực hiện xong. – CL

Nói một cách nhẹ nhàng, đôi khi rất khó khăn để khái quát về một quốc gia với 1,3 tỷ người. Nhưng hãy thay đổi một chút bằng cách nói: Không nhiều người sẽ phản đối lời miêu tả rằng Trung Quốc bị tiền ám ảnh. Đây là một quốc gia nổi tiếng với câu nói “làm giàu là vinh quang” của nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình. Ở Trung Quốc, họ gọi Warren Buffett là “vị thần của cổ phiếu” và bất cứ khi nào ông đến thăm, phương tiện truyền thông Trung Quốc đều đưa tin về mọi hoạt động và lời nói của ông. Đã có hơn 40 cuốn sách về Warren Buffett được dịch sang tiếng Trung.

Điều này khiến làm cho việc Peter Buffett, người con trai khiêm tốn 53 tuổi của Warren gần đây trở thành một ngôi sao đang lên ở Trung Quốc nhờ chính thực lực của ông, trở nên rất thú vị.

Và đó không phải là vì tất cả mọi người nghĩ rằng sự nhạy bén đầu tư của Warren được di truyền qua ADN. Peter Buffett là một nhạc sĩ và nhà soạn nhạc thành công, viết nhạc cho chương trình truyền hình và phim điện ảnh (Dances With Wolves – Khiêu vũ với bầy sói là một trong những bài nổi bật) và biểu diễn dòng nhạc New Age1 của ông tại các buổi hòa nhạc. Gần đây nhất ông đã chơi nhạc vào tháng 8 tại Bắc Kinh Tanglewood, một không gian hòa nhạc ngoài trời tuyệt đẹp gần Vạn Lý Trường Thành.

Nhưng Bắc Kinh không phải là Hạt Marin. Ngày nay ở Trung Quốc, nhạc New Age sẽ chỉ phát triển ở một chừng mực nào đó. Lý do Buffett đã thu hút được sự quan tâm của rất nhiều người Trung Quốc – sinh viên và các chuyên gia trẻ tuổi nói riêng – là vì ông đã đưa ra lời khuyên về cuộc sống trong âm nhạc của mình. Và nếu một phần thông điệp cốt lõi của ông – về bản chất, tiền không phải là tất cả – có vẻ khá khác thường ở Trung Quốc ngày nay, thì đó chính là lý do mọi người đồng ý với ông. Địa vị ngôi sao của Warren Buffett cho chúng ta biết một điều gì đó về Trung Quốc hiện nay; còn thành công của Peter có thể cho chúng ta biết đất nước này sẽ đi về đâu.

Đầu năm nay, một nhà xuất bản ở Bắc Kinh quyết định tận dụng sự sùng bái và cơn sốt về tất cả mọi thứ liên quan đến Buffett của người Trung Quốc và dịch cuốn sách Life is what you make it của Peter. Sách được bán ở Mỹ và được xuất bản tại Trung Quốc vào tháng 3. Mang tựa đề bằng tiếng Trung Quốc là Be yourself (tạm dịch: Hãy là chính mình), vào cuối tháng 8, cuốn sách đã bán được 320.000 bản – một con số khổng lồ, thậm chí ở một đất nước 1,3 tỷ người. Gần như trong suốt mùa xuân và mùa hè, Zhang Haióu, tổng biên tập của New World Press, nhà xuất bản Trung Quốc của Buffett, đã bán trực tuyến được 1. Nhạc New Age là nhạc chậm rãi nhằm tạo ra cảm hứng nghệ thuật, thư giãn và lạc quan. Nó được các thính giả sử dụng trong quá trình tập yoga, mát xa, thiền định và đọc, như một phương pháp quản lý căng thẳng hoặc để tạo ra một bầu không khí thanh bình như ở nhà hoặc các môi trường khác và thường gắn liền với chủ nghĩa môi trường và tâm linh New Age. 1.000 bản mỗi ngày. Zhang nói: “Rõ ràng là chúng tôi đã trông đợi điều tốt đẹp nhất, nhưng thành thật là, chúng tôi đã rất choáng váng.”

Buffett đã thực hiện chuyến công du đến 4 thành phố vào mùa xuân năm ngoái, như ông thường làm ở Hoa Kỳ, trong chuyến đi ông đã kết hợp âm nhạc với thông điệp của mình. (“Buổi hòa nhạc và Trò chuyện” là tên gọi của các sự kiện.) Ông đã thực hiện 25 cuộc phỏng vấn với các phương tiện truyền thông điện tử và báo chí quốc gia và địa phương, bao gồm cả một cuộc trò chuyện trên web quan trọng nhất đối với tất cả sinh viên học sinh và các chuyên gia trẻ, đó là trang blog vi mô thuộc Sinacom (phiên bản tiếng Trung của Twitter).

Đó chỉ là chuyến thăm đến Trung Quốc lần thứ hai của ông. Và mặc dù ông biết về vị thế của cha mình ở đất nước này, nhưng ông vẫn chưa hiểu rõ mức độ của nó. Ngồi tại một khách sạn Bắc Kinh vào tháng 8, một ngày trước buổi hòa nhạc ở gần Vạn lý Trường Thành, Buffett con nói rằng ông cảm thấy ngạc nhiên trước mức độ đón tiếp. “Đó không phải là điều tôi mong đợi”, ông nói và cười lớn. “Nó giống như một chiến dịch đón tổng thống hay tương tự thế. Phóng viên có mặt ở khắp mọi nơi.”

Bạn phải nhớ rằng dù Peter Andrew Buffett là con trai thứ hai của “vị thần cổ phiếu” và người vợ qua đời năm 2004 Susan Buffett – nhưng ông không quen với chế độ ngôi sao. Thực ra là rất xa lạ. Ông và vợ ông, Jennifer, có nhà ở New York nhưng dành nhiều thời gian của họ ở tại Quận Ulster yên tĩnh, cách New York khoảng 90 dặm về phía bắc. Bên cạnh việc theo đuổi sự nghiệp âm nhạc, ông, giống như hai anh chị em ruột của mình, đã điều hành quỹ từ thiện của mình, được cha ông tài trợ một cách hào phóng bằng cổ phiếu Berkshire Hathaway. (Chị gái ông là Susie vẫn sống ở Omaha và tập trung vào công việc từ thiện, anh trai Howard thì sở hữu một trang trại ở Decatur, Illinois). Trên hết, điều quan trọng nhất về Peter Buffett là ông có vẻ tuyệt đối và hoàn toàn dân dã. Đáng tin cậy, hòa nhã, điềm tĩnh và luôn mang lại cho người khác cảm giác tin cậy. Ông nói, “Đúng rồi, tôi nghe nói vậy suốt. Bạn là con của Warren Buffett, và bạn rất dân dã.”

Chắc chắn là khán giả ở khắp mọi nơi tò mò rằng chính xác là buổi diễn đã diễn ra như thế nào. Nhưng ở Trung Quốc, sự tò mò ở mức độ cao hơn nhiều. Một trong những điều Buffett muốn nhắc nhở khán giả khi ông trưởng thành hơn – rất lâu trước khi cha ông trở thành nhà tiên tri kinh tế của Mỹ, cố vấn cho các Chủ tịch và nhà báo độc lập nhằm an ủi một quốc gia rầu rĩ rằng mọi thứ rồi sẽ ổn – cha ông là một nhà đầu tư vô cùng thành công nhưng gần như vô danh. Ông ấy là một người bình thường được biết đến và tôn kính chỉ bởi những người sở hữu một cuốn sách gối đầu giường của Graham và Dodd. Và ngày nay về cơ bản, ông ấy vẫn là một người như vậy.

Sự tò mò ở Trung Quốc được đẩy lên bằng sự thật rằng cha của Peter thông báo ông đã trao tặng một phần tài sản khổng lồ của mình đến một quỹ do một người giàu có khác là Bill Gates, và có rất nhiều người ở đó đã nghĩ: “Tại sao ông ấy làm vậy với các con của mình?” Trong bản dịch của cuốn sách, một phần sự thật bị giấu đi chính là Buffett (cha) đã hành động phù hợp với quan điểm mà ông nói rõ từ lâu rằng ông sẽ cho các con của mình “đủ tiền để chúng cảm thấy chúng có thể làm bất cứ điều gì – nhưng không quá nhiều để chúng không làm gì cả.”

Nhưng chỉ tò mò không thôi sẽ không thể dẫn đến kết quả 320.000 cuốn sách được bán ra. Zhang, tổng biên tập nhà xuất bản sách của Buffett, nói rằng thông điệp của Buffett “chắc chắn sẽ được nhiều thanh thiếu niên Trung Quốc đồng cảm”. Thông điệp đó không thể tách rời với tiểu sử của Peter. Ông nói với khán giả rằng từ ngày còn bé, ông đã luôn yêu thích âm nhạc. “Mẹ nói rằng tôi đã biết hát trước khi tôi nói sõi”, ông nói với một phóng viên của CCTV vào mùa xuân năm ngoái. (Được biết cha ông biết chơi đàn ukulele.) Là một học sinh giỏi, ông đã theo học tại Đại học Stanford, nhưng không đặc biệt quan tâm đến nghề nghiệp hoặc hứng thú về Graham và Dodd. Trong một năm rưỡi đầu tiên tại trường đại học, ông nói, “Tôi đã chọn tất cả các môn kết thúc bằng 101 hoặc hậu tố ology1.”

1. Hậu tố ology: Được thêm vào sau danh từ để chỉ ngành nghiên cứu, ngành học.

Và rồi – lúc này một khán giả trẻ Trung Quốc rướn người lên, không hoàn toàn tin vào những gì họ đang nghe – ông ấy bỏ học. Ông quyết định rằng ông muốn theo đuổi sự nghiệp âm nhạc. “Đó là chuyện hiển nhiên trong cuộc đời tôi,” ông nói. Vì vậy, ông đã trích “một khoản thừa kế nhỏ từ ông nội, mua một căn hộ ở San Francisco, và cố gắng theo đuổi âm nhạc”. Ông nói với hầu hết những khán giả đang choáng váng rằng cha mẹ ông đều đồng ý. Buffett con cho biết: “Họ khích lệ nhưng cũng nói rõ rằng nếu tôi thất bại thì chúc may mắn.” Trong vòng hai năm, ông tin rằng mình đã có sự lựa chọn đúng đắn: “Lúc đó tôi biết tôi có thể kiếm sống bằng âm nhạc.”

Buffett lặp lại trong tất cả các lần xuất hiện của mình ở Trung Quốc rằng mấu chốt chính là bằng cách rời bỏ Stanford và cố gắng theo đuổi âm nhạc, ông đã làm điều tương tự như cha ông đã làm. “Từ rất sớm, cha tôi đã biết ông ấy thích làm những gì, quyết tâm theo đuổi việc đó và kiên trì cho đến ngày nay”, ông nói. “Vì vậy, tôi nói với khán giả Trung Quốc rằng cha tôi và tôi thực sự làm điều tương tự nhau để kiếm sống. Cả hai chúng tôi đều làm những gì chúng tôi yêu thích.”

Đối với người Mỹ, điều này nghe có vẻ sáo mòn. Người hoài nghi thì nói: “Được rồi, nếu Warren Buffett là cha ông, thì ông muốn làm gì cũng đều dễ dàng hơn.” Nhưng đó không phải là cách phản ứng của phần lớn khán giả Trung Quốc. Phần lớn các khán giả ở Trung Quốc đều cảm thấy ngạc nhiên tột độ vì những lý do hoàn toàn dễ hiểu. Thế giới bên ngoài coi Trung Quốc như một cường quốc kinh tế đang nổi, một quốc gia có đà kinh tế dường như không thể đảo ngược. Điều đó có thể đúng. Nhưng để có tất cả các số liệu thống kê kinh tế hào nhoáng, bên trong đất nước cũng là một chiếc nồi áp suất kinh tế. Trẻ em có nguyện vọng vào đại học dành 14 đến 18 giờ mỗi ngày để học tập, khao khát được nhận vào một trường đại học tốt. Nếu được nhận, chúng phải chọn chuyên ngành từ sớm. Chúng đang ở trên một chiếc thang cuốn và không thể bước xuống. Nếu một sinh viên tốt nghiệp và có một công việc đáng mơ ước, anh ta thường không được trả lương quá cao và phải làm việc trong nhiều giờ. Ngày nay nhiều nhân viên trẻ còn là lao động chính do chính sách một con của Trung Quốc, có nghĩa là họ phải một mình chịu trách nhiệm chăm sóc cha mẹ khi cha mẹ về hưu. Nói tóm lại, Edward Bell, một Giám đốc Điều hành của Ogilvy & Mather ở Thượng Hải, đã nghiên cứu sâu về Trung Quốc, cho biết, “đây là một thế hệ phải chạy nước rút để ở vị trí ngang bằng. Tôi gọi đó là Thế hệ Căng thẳng.”

Đó hoàn toàn là nỗi lo lắng mà Peter Buffett đã gặp phải. Đó là lý do tại sao Tian Li Feng, một chuyên viên ngân hàng giống như rất nhiều người trẻ của Trung Quốc, không hoàn toàn ngạc nhiên trước thành công của cuốn sách. Anh ấy đã tốt nghiệp trường kinh doanh một năm trước ở Bắc Kinh, hiện là một chuyên gia tài chính đang làm việc cho Ngân hàng Truyền thông Trung Quốc, một ngân hàng nhà nước lớn. Một người hâm mộ cha của Peter – “Tôi nghĩ rằng tôi đã đọc tất cả những cuốn sách về ông ấy”, anh nói – anh đã đến xem Peter Buffett phát biểu vào mùa xuân năm vừa rồi mà không biết phải mong đợi điều gì. “Tôi đã rất xúc động,” anh nói. “Đặc biệt khi ông ấy nói về việc rời khỏi Stanford để theo đuổi âm nhạc.” Anh lắc đầu và nói thêm, “Thật là một ngôi trường danh giá.”

Buffett hiểu rằng những kinh nghiệm mà ông đã viết, và những động lực thúc đẩy sự nghiệp của ông, là đặc trưng của người Mỹ. Ông cũng khiêm tốn và đủ chắc chắn để thừa nhận rằng nếu họ của ông là Smith hay Jones, sẽ không có ai ở Trung Quốc quan tâm. Nhưng dù người Trung Quốc có quan tâm hay không, khi ông nói, “có vẻ như nơi này đang di chuyển ở một tốc độ ánh sáng đến nỗi rất nhiều người trẻ không có cơ hội để suy nghĩ lại,” ông đã đúng.

Tian nói: “Tôi không nghĩ rằng bố mẹ tôi sẽ cho tôi làm những gì Peter đã làm.” “Nhưng có thể một ngày nào đó”, ông nói thêm một cách nhẹ nhàng, “con tôi được phép chọn lựa như vậy.” Nếu vậy, Peter có thể để lại một di sản phong phú ở Trung Quốc như cha ông.

Một quốc gia chật vật với hoạt động từ thiện

Ngày 17 tháng 11 năm 2011

Bill Powell

Năm ngoái, Warren Buffett và Bill Gates đã đến thăm Bắc Kinh vì lý do mà họ nghĩ là sẽ ít gây tranh cãi nhất. Họ đã sắp xếp để có một bữa ăn tối riêng với một nhóm doanh nhân Trung Quốc giàu có, thành công, và nói chuyện với họ về một chủ đề dường như vô hại: từ thiện. Cộng đồng mạng của Trung Quốc đã nghe ngóng được và bàn tán sôi nổi. Peter Buckett thừa nhận: “Và không phải tất cả những lời bàn tán đều tích cực.”

Đó là nói một cách nhẹ nhàng. Chủ đề những người giàu có trao tiền của họ cho từ thiện có thể không gây tranh cãi ở Mỹ, nhưng ở Trung Quốc thì có. Trên thực tế, khi ông đến Trung Quốc để giao lưu và nói chuyện với các nhóm sinh viên và các chuyên gia trẻ, “chủ đề về tài sản cho thế hệ thứ hai luôn luôn xuất hiện. Họ luôn muốn nói về nó.”

Có hai lý do từ thiện khiến người Trung Quốc nổi giận. Thứ nhất, khá nhiều người giàu tin rằng trao tặng tài sản là hành động ngược lại với các giá trị Trung Quốc – khiến các gia đình căng thẳng. Đó là lý do tại sao một số người Trung Quốc cảm thấy thất vọng khi nghe (một cách nhầm lẫn) rằng Buffett và Gates sắp sửa chỉ dẫn những người giàu Trung Quốc cách để trao tặng tài sản của họ. Nhiều thanh niên Trung Quốc đã choáng váng khi Buffett nói rằng ông đang dành phần lớn tài sản của mình cho Quỹ Gates.

Nhưng lý do thứ hai vì sao người giàu Trung Quốc đã không trao tặng nhiều tiền của họ hơn, đặc biệt là trong năm nay, thì không mấy rõ ràng: các quỹ từ thiện ở Trung Quốc đang bị ảnh hưởng bởi sự lo lắng – và đôi khi còn hơn là vậy – về tham nhũng. Phí quản lý quỹ từ thiện ở Trung Quốc thường chiếm tới 10% số tiền quyên góp, so với khoảng 3% ở phương Tây. Đầu năm nay, bức ảnh một phụ nữ trẻ được xác định là quản lý của Hội Chữ thập đỏ Trung Quốc được truyền trên mạng đã khiến cộng đồng mạng giận dữ. Nguyên nhân? Bức ảnh cho thấy cô lái một chiếc xe hơi sang trọng và dùng một chiếc ví Hermès.

Cơ quan này khẳng định rằng người phụ nữ bị nghi ngờ không thực sự làm việc cho Hội Chữ Thập đỏ Trung Quốc. (Cô ấy là bạn gái của người mà cơ quan này mờ ám gọi là “đối tác kinh doanh”). Những lời chối bỏ không mấy hiệu lực. Các khoản đóng góp cho RCIC trong nửa đầu năm 2011 giảm mạnh và, theo báo cáo của báo chí Trung Quốc, khiến toàn bộ ngành từ thiện hoạt động chậm lại đáng kể.

Điều này cho thấy sự thiếu tin tưởng vào ngành từ thiện ở Trung Quốc. Một số doanh nhân Trung Quốc nổi tiếng và những nhà từ thiện – dẫn đầu bởi Cao Dewang, chủ sở hữu một trong những công ty sản xuất kính lớn nhất Trung Quốc, giờ đây đã công khai khăng khăng rằng các tổ chức từ thiện trong nước mà họ trao tặng phải trở nên minh bạch và có hiệu quả kinh tế. “Điều này không liên quan đến các giá trị của phương Tây hay Trung Quốc”, Cao nói. “Hiện tại tăng cường hoạt động từ thiện ở Trung Quốc là vấn đề về sự tin tưởng.”

Tại sao cổ phiếu vượt mặt vàng và trái phiếu?

Ngày 27 tháng 2 năm 2012

Trích đoạn từ lá thư Buffett gửi cổ đông Berkshire Hathaway trong báo cáo thường niên năm 2011

Vàng là một tài sản không sinh lời; trái phiếu ít khi có lợi cho các nhà đầu tư; các tài sản hữu ích được lựa chọn kỹ càng như cổ phiếu phổ thông và đất đai có triển vọng mang lại lợi nhuận cao hơn.

Đó là những thông điệp của bài viết sau, là một trích đoạn (có tên do Fortune đặt) từ bức thư của Warren Buffett trong báo cáo của Berkshire năm 2011. Đây cũng là những nguyên tắc Buffett áp dụng vào cuộc sống đầu tư của ông. Vì vậy, bài viết này là một bài hay nên đọc khi chúng ta sắp kết thúc cuộc tìm hiểu về 47 năm của Buffett – cuốn tiểu sử kinh doanh sống động này được trình bày trên những trang báo của tạp chí Fortune.

Chúng ta cũng có thể thêm vào những gì Buffett đã đạt được, cả trong vai trò nhà đầu tư và doanh nhân, trong 47 năm đó. Năm 1966, ông là chủ sở hữu của một quỹ phòng hộ vô danh có tên công ty hợp danh Buffett và Chủ tịch kiêm Giám đốc Điều hành của một công ty may vùng New England nhỏ tên là Berkshire Hathaway với doanh thu hằng năm 49 triệu đô-la. Đến năm 2012, Berkshire đứng thứ 5 trong danh sách Fortune 500 với doanh thu 162 tỷ đô-la. Sự tăng vọt này thật phi thường, tuy phần lớn không được công nhận – thậm chí Buffett cũng rất ngạc nhiên khi biết rằng ông có sự khác biệt đáng chú ý: Không một ai khác có thể đưa một công ty từ vô danh đến nằm trong danh sách 10 công ty đầu tiên trong 500 công ty lớn nhất chỉ trong thời gian họ còn sống.

Buffett sẽ nói rằng doanh thu là không quá quan trọng. Ông coi trọng giá trị thị trường nhiều hơn, và năm 2012, Berkshire đứng thứ 4 trong danh sách 500, với 257 tỷ đô-la doanh thu. Đứng ở trên trong bảng xếp hạng là một công ty khác được xây dựng bởi Steve Jobs quá cố của Apple, một doanh nghiệp có giá trị thị trường tại thời điểm đó là 416 tỷ đô-la. Hai người đàn ông đã quen biết nhau hàng thập kỷ trước, khi cả hai đều là thành viên của hội đồng trường Grinnell. Sau đó họ rất ít nói chuyện, nhưng Buffett tình cờ nhớ ra một lần cách đây không lâu Jobs đã gọi hỏi ý tưởng để xử lý lượng tiền mặt thừa của Apple, sau đó cúp máy và không thực hiện lời Buffett gợi ý.

Quỹ phòng hộ duy nhất trong đời Buffett, công ty hợp danh Buffett, đã đóng cửa vào cuối năm 1969 vì Buffett không thể chịu được cơn sóng đầu cơ xâm nhập thị trường. Tuy nhiên, có thể nói khoản đầu tư 100 triệu đô-la của nó sau đó là hạt giống của tổng tài sản trị giá 103 tỷ đô-la mà Berkshire sở hữu vào giữa năm 2013. Các cổ phần lớn nhất của Buffett đã trải rộng khắp nền kinh tế Mỹ: Berkshire sau đó đã sở hữu 19,9 tỷ đô-la trong Wells Fargo, 16 tỷ đô-la trong Coca-Cola, 13 tỷ đô-la trong IBM và 11,3 tỷ đô-la trong American Express.

Năm 2012, tất cả các chiến công tài chính của Berkshire đều bị lép vế trước hai mẩu tin của Buffett. Đầu tiên, trước đó một thời gian ngắn, vào tháng 8 năm 2011, tờ New York Times đã giới thiệu một bài viết độc lập của Buffett với tiêu đề “Ngừng chiều chuộng người giàu”. Buffett đã so sánh mức thuế thấp mà ông phải trả (17%) với mức thuế của 20 người khác trong văn phòng của ông (33% đến 41%) và kêu gọi tăng thuế lên bất cứ ai kiếm được hơn 1 triệu đô-la. Trong năm bầu cử 2012, chính quyền Obama đã chấp nhận và mở rộng đề xuất đó, ủng hộ “Quy tắc Buffett” – dĩ nhiên ngay lập tức đã gây tranh cãi lớn – áp đặt thuế cao hơn cho tất cả mọi người có thu nhập chịu thuế trên 250.000 đô-la. Sau khi Obama thắng, thuế suất đối với những người có thu nhập thực tế đã tăng lên, nhưng các mức lãi suất mới, cao hơn đã không áp dụng cho mức thu nhập 250.000 đô-la.

Trong mẩu tin thứ hai, Buffett đã thông báo trong thông cáo báo chí vào ngày 17 tháng 4 rằng ông được chẩn đoán mắc bệnh ung thư tuyến tiền liệt giai đoạn 1, một dấu hiệu cho biết (ngoài các dấu hiệu khác) rằng ung thư không lan ra ngoài tuyến tiền liệt. Trong tháng 7, Buffett bắt đầu 2 tháng xạ trị tại một bệnh viện ở Omaha. Trong quá trình điều trị, ông trải qua sự mệt mỏi thông thường đi kèm với nó và do đó quyết định làm việc ở nhà vài ngày. Nhưng đến cuối năm ông đã lấy lại thể lực cũ và quay lại văn phòng của mình toàn thời gian.

Tại cuộc họp thường niên năm 2013 của Berkshire vào mùa xuân, một sự kiện diễn ra liên tục trong 5 ngày của Buffett, ông đã vượt qua tất cả, thể hiện năng lượng đáng kinh ngạc mà ông mang lại cho bất cứ điều gì ông thích. Buffett đã 83 tuổi vào tháng 8 năm 2013, và ông chắc chắn rằng ông sẽ sống rất lâu để tiếp tục nhảy thiết hài đến công sở. – CL

Đầu tư thường được mô tả như là quá trình đầu tư tiền ở hiện tại với mong muốn nhận được nhiều tiền hơn trong tương lai. Tại Berkshire Hathaway, chúng tôi có một cách tiếp cận khắt khe hơn, định nghĩa đầu tư như là hành động chuyển giao cho người khác sức mua trong hiện tại với mong đợi hợp lý là sẽ nhận được nhiều sức mua hơn trong tương lai, sau khi thuế đã được trả bằng các khoản lợi nhuận trên danh nghĩa. Cụ thể hơn, đầu tư là để từ bỏ việc tiêu dùng hiện tại để có khả năng tiêu dùng nhiều hơn trong tương lai sau này.

Theo định nghĩa của chúng tôi, có một hệ quả quan trọng: Rủi ro trong một khoản đầu tư không được tính bằng beta (một thuật ngữ của Phố Wall chỉ sự biến động và thường được dùng để đo lường rủi ro) mà bằng xác suất hợp lý rằng khoản đầu tư đó sẽ làm chủ sở hữu mất sức mua trong khoảng thời gian nắm giữ dự tính của họ. Tài sản có thể biến động mạnh về giá cả và không có rủi ro miễn là chúng chắc chắn có thể làm tăng sức mua trong thời gian nắm giữ chúng. Và như chúng ta sẽ thấy, một tài sản không biến động có thể có đầy nguy cơ.

Có rất nhiều khả năng đầu tư và rất đa dạng. Tuy nhiên, có 3 loại chính, và điều quan trọng là phải hiểu được đặc điểm của mỗi loại. Do đó hãy cùng khảo sát lĩnh vực này.

Các khoản đầu tư được tính bằng một loại tiền tệ nhất định bao gồm các quỹ thị trường tiền tệ, các trái phiếu, thế chấp, tiền gửi ngân hàng và các công cụ khác. Hầu hết các khoản đầu tư bằng tiền tệ này được coi là “an toàn”. Thực ra, chúng là một trong những tài sản nguy hiểm nhất. Chúng có thể có số beta bằng 0, nhưng chúng có rủi ro rất lớn.

Ở thế kỷ trước, các công cụ này đã làm giảm sức mua của các nhà đầu tư ở nhiều quốc gia, ngay cả khi những người nắm giữ này tiếp tục nhận các khoản thanh toán vốn và lãi đúng hạn. Hơn nữa, kết quả tệ hại này sẽ tái diễn mãi mãi. Các chính phủ định ra giá trị cuối cùng của tiền bạc, và các lực lượng hệ thống đôi khi sẽ làm cho họ chú ý đến các chính sách tạo ra lạm phát. Thỉnh thoảng các chính sách như vậy mất kiểm soát.

Ngay cả ở Mỹ, nơi nhu cầu về tiền tệ ổn định rất mạnh, đồng đô-la cũng đã giảm 86% giá trị kể từ năm 1965, khi tôi tiếp quản Berkshire. Ngày nay, ta phải trả không ít hơn 7 đô-la để mua những gì 1 đô-la mua được tại thời điểm đó. Theo đó, một tổ chức phi thuế có lẽ đã phải mất 4,3% lãi suất hằng năm từ đầu tư trái phiếu trong thời gian đó chỉ để duy trì sức mua của mình. Các nhà quản lý của nó có thể đã nói đùa với nhau nếu họ coi bất kỳ phần nào trong số lãi suất đó là “thu nhập”.

Đối với các nhà đầu tư trả thuế như bạn và tôi, bức tranh tồi tệ hơn rất nhiều. Trong cùng một khoảng thời gian 47 năm, liên tục gia hạn trái phiếu của Bộ Tài chính Mỹ đã mang lại 5,7% lợi nhuận hằng năm. Điều này có vẻ thỏa đáng. Nhưng nếu một nhà đầu tư cá nhân đóng thuế thu nhập cá nhân với tỷ lệ trung bình là 25% thì mức lợi nhuận 5,7% này có lẽ đã không mang lại thu nhập thực nào. Thuế thu nhập doanh nghiệp có thể nhìn thấy của nhà đầu tư này có thể khiến ông mất 1,4 điểm lợi tức, và thuế lạm phát không nhìn thấy được sẽ tiêu hao 4,3 điểm còn lại. Đáng chú ý là “thuế” lạm phát ngầm còn nhiều hơn gấp 3 lần thuế thu nhập công khai có thể được nhà đầu tư coi là gánh nặng chính của ông. Câu “Chúng ta tin vào Chúa”1 có thể được in trên đồng đô-la, nhưng bàn tay kích hoạt máy in ấn của chính phủ chính là con người.

1. Khẩu hiệu chính thức của nước Mỹ. Câu nói này được in trên đồng tiền Mỹ.

Tất nhiên, lãi suất cao có thể bù đắp nguy cơ lạm phát mà người mua phải đối mặt khi đầu tư bằng tiền tệ – và thực tế, lãi suất vào đầu những năm 1980 đã làm rất tốt. Tuy nhiên, các mức lãi suất hiện tại không thể bù đắp được rủi ro về sức mua mà các nhà đầu tư giả định. Ngay bây giờ các trái phiếu nên đi kèm với một nhãn cảnh báo.

Do đó, dưới các điều kiện hiện tại, tôi không thích các khoản đầu tư bằng tiền tệ. Mặc dù vậy, Berkshire vẫn nắm giữ một số lượng đáng kể các khoản này, chủ yếu là loại đầu tư ngắn hạn. Tại Berkshire, nhu cầu về thanh khoản dồi dào chiếm vị trí trung tâm và sẽ không bao giờ bị xem nhẹ, tuy nhiên các lãi suất không thích hợp thì có thể. Nhằm đáp ứng nhu cầu này, chúng tôi chủ yếu giữ các trái phiếu Bộ Tài chính Mỹ, đây là khoản đầu tư duy nhất có thể dựa vào về thanh khoản trong điều kiện kinh tế hỗn loạn nhất. Mức độ hoạt động của chúng tôi đối với thanh khoản là 20 tỷ đô-la; 10 tỷ đô-la là mức tối thiểu của chúng tôi.

Ngoài các yêu cầu mà tính thanh khoản và các nhà điều tiết đặt lên chúng tôi, chúng tôi sẽ chỉ mua các chứng khoán có liên quan đến tiền tệ khi chúng có khả năng sinh lời đáng chú ý – hoặc vì một tín dụng cụ thể bị định giá sai, như có thể xảy ra trong các vụ phá giá trái phiếu kỳ hạn, hoặc vì các lãi suất tăng đến mức có triển vọng tạo thặng dư vốn đáng kể từ trái phiếu cao cấp khi lãi suất giảm. Mặc dù đã sử dụng cả hai cơ hội trong quá khứ – và có thể làm vậy một lần nữa – nhưng chúng tôi hiện không còn những triển vọng như vậy. Ngày nay, lời nhận xét châm biếm mà chuyên gia Phố Wall Street Shelby Cullom Davis phát biểu từ lâu có vẻ khá phù hợp: “Các trái phiếu được khuyến khích vì mang lại lợi nhuận không rủi ro hiện được định giá để đem đến rủi ro không lợi nhuận.”

Hình thức đầu tư quan trọng thứ hai liên quan đến những tài sản không bao giờ tạo ra bất cứ lợi nhuận nào, nhưng được mua vì người mua hy vọng rằng người khác – người cũng biết rằng tài sản đó sẽ mãi mãi không sinh sôi – sẽ trả thêm để mua chúng trong tương lai. Vào thế kỷ XVII, trong tất cả mọi loại hoa, hoa tulip nhanh chóng được yêu thích bởi những người mua như vậy.

Loại hình đầu tư này đòi hỏi một nhóm gồm nhiều người mua, những người lần lượt bị lôi cuốn vì họ tin rằng các nhóm mua sẽ mở rộng hơn nữa. Người sở hữu không được gợi cảm hứng từ những gì mà bản thân tài sản có thể đem lại – nó vẫn luôn bất biến mãi mãi – mà là vì niềm tin rằng những người khác sẽ thèm muốn tài sản đó thậm chí còn cháy bỏng hơn trong tương lai.

Tài sản chính trong loại hình này là vàng, hiện là một tài sản rất được yêu thích bởi các nhà đầu tư, những người sợ gần như mọi tài sản khác, đặc biệt là tiền giấy (vì giá trị của nó, như đã lưu ý, họ đã đúng khi sợ hãi chúng). Tuy nhiên, vàng có hai khuyết điểm đáng kể là không được sử dụng nhiều và không sinh sôi. Đúng là vàng có một số lợi ích công nghiệp và trang trí, nhưng nhu cầu cho các mục đích này vừa hạn chế vừa không có khả năng sử dụng hết các sản lượng mới. Trong khi đó, nếu bạn sở hữu một ounce1 vàng mãi mãi, cuối cùng bạn sẽ vẫn sở hữu một ounce đó.

Động lực thúc đẩy phần lớn người mua vàng là niềm tin của họ rằng các mức độ sợ hãi sẽ phát triển. Trong thập kỷ qua, niềm tin đã được chứng minh là đúng. Hơn thế nữa, bản thân giá cả tăng lên đã tạo thêm động lực mua vào, thu hút những người mua xem sự gia tăng này là đúng theo luận điểm đầu tư. Khi những nhà đầu tư “đoàn tàu”2 tham gia vào bất kỳ bên nào, họ tạo ra sự thật riêng của họ – trong một thời gian.

1. 1 ounce bằng 0,8 lượng vàng.

2. Đoàn tàu (bangwagon): Khi giá cả hàng hóa giảm và nhu cầu của một vài bộ phận hay các cá nhân trong cộng đồng tăng, các cá nhân hoặc bộ phận “bắt chước” cách phản ứng này và cũng tăng nhu cầu của họ.

Trong 15 năm qua, cả bong bóng Internet cổ phiếu và nhà đất đều chứng minh sự dư thừa bất thường có thể được tạo ra bằng cách kết hợp một luận điểm hợp lý ban đầu với các giá tăng được công khai rộng rãi. Trong các bong bóng này, một quân đoàn những nhà đầu tư nghi ngờ ban đầu đã không cưỡng lại được trước “minh chứng” do thị trường cung cấp, và trong một khoảng thời gian, số lượng người mua đã tăng lên đủ để đẩy “đoàn tàu” tiếp tục chạy. Nhưng bong bóng đã được thổi đủ to để vỡ. Và rồi câu tục ngữ đã được chứng thực một lần nữa: “Ban đầu người khôn làm gì, kết thúc kẻ ngốc cũng làm vậy.”

Ngày nay, trữ lượng vàng thế giới ở vào khoảng 170.000 tấn. Nếu tất cả số vàng này được nấu chảy, nó sẽ tạo thành một khối lập phương có cạnh khoảng 20m. (Hãy tưởng tượng khối lập phương này có thể đặt vừa vặn vào một sân bóng chày.) Với mức giá 1.750 đô-la/ ounce vàng khi tôi viết bài này, giá trị của nó sẽ là 9.600 tỷ đô-la. Hãy gọi khối lập phương này là khối A.

Bây giờ chúng ta sẽ tạo ra một khối B có giá trị tương đương. Để làm vậy, chúng ta có thể mua toàn bộ đất trồng trọt của Mỹ (400 triệu mẫu Anh với sản lượng khoảng 200 tỷ đô-la mỗi năm), cộng với 16 công ty Exxon Mobil (công ty có lợi nhuận cao nhất thế giới, mỗi công ty thu được trên 40 tỷ đô-la hằng năm). Sau khi mua, chúng ta sẽ còn khoảng 1.000 tỷ đô-la để “dằn túi” (không cảm thấy túng thiếu sau khi mua quá tay). Bạn có thể tưởng tượng một nhà đầu tư với 9.600 tỷ đô-la sẽ chọn khối A hay khối B?

Ngoài việc định giá đáng kinh ngạc khối lượng vàng hiện có, các mức giá hiện tại làm cho sản lượng vàng hằng năm ngày nay đạt lệnh khoảng 160 tỷ đô-la. Những người mua – dù là người dùng làm trang sức hay công nghiệp, những cá nhân sợ hãi, hay những nhà đầu cơ – cũng phải liên tục tiếp nhận nguồn cung cấp bổ sung này chỉ để duy trì cân bằng các mức giá hiện tại.

Sau một thế kỷ kể từ bây giờ, 400 triệu mẫu đất nông nghiệp sẽ tạo ra một số lượng đáng kinh ngạc ngô, lúa mì, bông, và các loại cây trồng khác – và sẽ tiếp tục đem lại những lượng tiền có giá trị, bất kể là loại tiền tệ nào. Exxon Mobil có thể đã chuyển hàng tỷ đô-la cổ tức cho chủ sở hữu của nó và cũng sẽ nắm giữ tài sản trị giá nhiều ngàn tỷ đô-la (và nhớ là bạn có 16 công ty Exxon). 170.000 tấn vàng sẽ không thay đổi về quy mô và vẫn không có khả năng sản xuất ra bất cứ thứ gì. Bạn có thể ôm ấp khối vàng, nhưng nó sẽ không thể đáp lại.

Phải thừa nhận, khi mọi người ở thế kỷ kế tiếp sợ hãi, có thể nhiều người vẫn sẽ vội vã mua vàng. Tuy nhiên, tôi tự tin rằng trong suốt thế kỷ, giá trị hiện tại của khối A trị giá 9.600 tỷ đô-la sẽ tăng trưởng kép với tỷ lệ thấp hơn nhiều so với những gì khối B đạt được.

Hai loại hình đầu tiên của chúng tôi được phổ biến tối đa ở những đỉnh cao của sự sợ hãi: Nỗi khiếp sợ kinh tế sụp đổ hướng các cá nhân đến những tài sản bằng tiền tệ, đặc biệt phần lớn là các nghĩa vụ nợ của Mỹ, và nỗi sợ hãi tiền tệ sụp đổ thúc đẩy họ dịch chuyển sang các tài sản vô hại như vàng. Chúng ta nghe nói “tiền mặt là vua” vào cuối năm 2008 ngay khi tiền mặt nên được sử dụng hơn là nắm giữ. Tương tự như vậy, chúng ta đã nghe “tiền mặt là rác” vào đầu những năm 1980 ngay khi các khoản đầu tư bằng đồng đô-la cố định đang ở mức thu hút nhất của chúng trong lịch sử. Trong những dịp này, các nhà đầu tư yêu cầu đám đông ủng hộ phải trả giá đắt cho sự yên tâm.

Cái mà riêng tôi yêu thích – và bạn biết nó đang đến – là loại hình thứ 3 của chúng tôi: đầu tư vào các tài sản hiệu quả, dù là doanh nghiệp, trang trại hay bất động sản. Một cách lý tưởng, trong thời kỳ lạm phát, các tài sản này cần có khả năng tạo ra sản lượng mà sẽ duy trì giá trị sức mua của nó trong khi đòi hỏi vốn đầu tư mới tối thiểu. Các trang trại, bất động sản và nhiều doanh nghiệp như Coca-Cola, IBM và Kẹo See’s của chúng tôi đều đáp ứng được bài kiểm tra hai vế. Một số công ty khác – ví dụ như nghĩ về các công ty tiện ích được điều chỉnh của chúng ta – đã thất bại vì lạm phát đặt lên chúng những yêu cầu lớn về vốn. Để kiếm được nhiều hơn, chủ sở hữu của chúng phải đầu tư nhiều hơn nữa. Mặc dù vậy, những khoản đầu tư này vẫn sẽ cao hơn các tài sản không sinh lời hoặc tài sản tính bằng tiền.

Cho dù sau một thế kỷ kể từ bây giờ tiền tệ có tính bằng vàng, vỏ sò, răng cá mập, hay một mảnh giấy (như ngày nay), mọi người sẽ sẵn sàng trao đổi vài phút tiền công lao động hằng ngày của họ để mua một lon Coca-Cola hoặc kẹo đậu phộng giòn của See’s. Trong tương lai, dân số Mỹ sẽ mua nhiều hàng hóa hơn, tiêu thụ nhiều lương thực hơn, và đòi hỏi nhiều không gian sống hơn hiện nay. Con người sẽ mãi mãi trao đổi những gì họ sản xuất để lấy những gì những người khác sản xuất.

Các doanh nghiệp tại Mỹ sẽ tiếp tục cung cấp hiệu quả các hàng hoá và dịch vụ mà người Mỹ muốn. Theo nghĩa bóng, những con bò “thương mại” này sẽ sống hàng thế kỷ và hơn nữa còn cho số lượng “sữa” lớn hơn bao giờ hết. Giá trị của chúng sẽ không được xác định bằng phương tiện trao đổi mà bằng năng lực cung cấp sữa. Tiền thu được từ việc bán sữa sẽ sinh lợi cho chủ sở hữu chúng, như chúng đã làm trong thế kỷ XX khi chỉ số Dow tăng từ 66 lên 11,497 điểm (và cũng tạo ra vô số cổ tức).

Mục tiêu của Berkshire là tăng quyền sở hữu các doanh nghiệp hạng nhất của nó. Lựa chọn đầu tiên của chúng tôi là sở hữu chúng hoàn toàn – nhưng chúng tôi cũng sẽ là những người sở hữu bằng cách nắm giữ một lượng lớn các cổ phiếu có thể bán được. Tôi tin rằng trong bất kỳ khoảng thời gian dài nào thì khoản đầu tư này sẽ chứng minh thành công trong số 3 loại hình chúng tôi đã xem xét. Quan trọng hơn, nó sẽ là an toàn nhất.

Warren Buffett lạc quan… về phụ nữ

Ngày 20 tháng 5 năm 2013

Warren Buffett

Bài viết này, như lời nói đầu ghi lại, mới xuất hiện trong cuốn sách này. Bài báo được đăng trên tạp chí Fortune vào đầu năm 2013, vài tháng sau khi ấn bản bìa cứng của cuốn sách được phát hành vào cuối năm 2012. Tuy nhiên, chào đón bài báo đến với cuốn sách bìa mềm này là một niềm vinh dự, không chỉ bởi vì nó là cuốn sách hạng nhất mà còn vì nó đem đến cho tôi cơ hội để nhìn lại lịch sử của Buffett trong phạm vi liên quan đến phụ nữ tại văn phòng.

Trước tiên, ông xứng đáng nhận được lời khen ngợi thật lòng: Trong số hàng trăm giám đốc điều hành kinh doanh hàng đầu mà tôi biết, đối với tôi ông luôn có vẻ là ít thiên vị nhất về những đặc điểm như giới tính, chủng tộc và sắc tộc. Ông hoàn toàn không quan tâm đến việc sự thông minh và khả năng được kết hợp thế nào – mặc dù như lời tuyên bố gợi ý, đó là những phẩm chất mà ông thực sự thiên vị.

Bản thân tôi cũng là một trong số những người được hưởng lợi từ quan điểm của Buffett về giới tính. Suy cho cùng, ông lẽ ra đã chọn một người đàn ông – nhưng ông đã không làm vậy – để chỉnh sửa lá thư gửi cổ đông thường niên của mình (một công việc phi lợi nhuận trong 36 năm mà tôi cảm thấy rất ưng ý). Ông cũng công khai nói rằng từ lâu ông đã đề cử tôi vào Hội đồng Quản trị của Berkshire Hathaway nếu công ty Time Inc. của tôi, không có các quy định cấm các nhà báo làm giám đốc doanh nghiệp.

Tuy nhiên, có một sự bù trừ cho sự thật đó. Mặc dù Buffett không có thành kiến về vấn đề giới tính, nhưng ông đã tác động rất chậm trễ lên chính sách cho rằng các tập đoàn lớn nên cho phụ nữ tham gia hội đồng quản trị. Điều này hoàn toàn không phải là tình cờ, như trong một sự việc vào đầu những năm 1990. Sau đó Buffett đã có một thời gian điều hành Salomon Inc. (trên cơ sở khẩn cấp), với các giám đốc đều là nam giới. Báo chí ngày càng tập trung vào việc có rất ít nữ giám đốc trong thế giới doanh nghiệp nói chung. Tôi nhớ rõ một cuộc đối thoại giữa Buffett và tôi, trong đó ông chỉ trích báo chí vì đã bỏ qua một điểm thực tế. Ông nói, “Mục tiêu nên là bầu chọn một giám đốc tốt nhất có thể, bất kể đó là nam hay nữ.”

Tất nhiên, điều đó hoàn toàn hợp lý. Nhưng nó bỏ qua tính thực tiễn của thời đại, đó là số phụ nữ được tín nhiệm trong kinh doanh và có chuyên môn để công ty có thể chọn làm thành viên hội đồng quản trị rất hạn chế – điều này có nghĩa là cơ hội tìm thấy và đề cử một phụ nữ có thể là “Giám đốc có năng lực nhất” không hề cao.

Năm 2003 sự thay đổi cuối cùng đã xuất hiện tại Omaha khi Charlotte Guy-man, 46 tuổi vào lúc đó, một cựu quản lý của Microsoft mà Buffett biết qua Bill Gates, đã tham gia vào Hội đồng Quản trị Berkshire. Bà đã tự chứng tỏ mình là một giám đốc thông minh, rất chu đáo và chăm chỉ, và trong 4 năm Susan Decker, lúc đó 44 tuổi, cựu Giám đốc Điều hành của Yahoo!, người mà Charlie Munger biết từ Hội đồng Quản trị Costco, đã tham gia vào hội đồng cùng với bà. Sau đó, ngay trong năm này, Meryl Witmer, 51 tuổi, điều hành một công ty hợp danh đầu tư ở New York và được đề cử cho Buffett bởi một trong những đồng nghiệp Berkshire của ông, cũng tham gia vào Hội đồng Quản trị.

Việc bầu chọn 3 giám đốc này cùng với Steve Burke của NBCUniversal và Comcast, người đã tham gia Hội đồng Quản trị vào năm 2009 ở tuổi 49, có thêm lợi thế là làm giảm đáng kể độ tuổi trung bình của các giám đốc của Berkshire, trong đó có 6 người ở tuổi 88, bao gồm cả Buffett và Munger. Các Giám đốc Howard Buffett, 58 tuổi, và Bill Gates, 56 tuổi cũng làm giảm độ tuổi trung bình. – CL

Trong những dòng chữ được viết gần đây về phụ nữ và công việc, một điểm quan trọng và có liên quan đối với tôi dường đã bị lãng quên. Đó là về tương lai của nước Mỹ, về điều mà tôi hoàn toàn lạc quan về. Giờ hãy xem xét thêm một ý kiến khác của tôi: rằng phụ nữ là lý do chính khiến chúng ta làm mọi việc rất tốt.

Bắt đầu với một thực tế rằng kể từ năm 1776 nước Mỹ đã và đang phát triển một cách kinh ngạc, một thực tế mà thế giới chưa từng thấy bao giờ. Nguyên nhân bí mật chính là một hệ thống chính trị và kinh tế quan trọng có thể phát huy tối đa tiềm năng của con người. Kết quả là người Mỹ ngày nay được thụ hưởng hàng hóa và dịch vụ phong phú mà cách đây vài thế kỷ chẳng ai dám mơ đến.

Nhưng đó chỉ là một nửa của vấn đề. Nước Mỹ đã đạt thành công trong khi chỉ sử dụng chỉ một nửa lượng tài năng của đất nước. Trong suốt hành trình lịch sử, phụ nữ – bất chấp khả năng của họ – đã bị đẩy sang một bên. Chỉ trong những năm gần đây chúng ta mới bắt đầu sửa đổi vấn đề này.

Mặc cho lời khẳng định gây cảm hứng “con người sinh ra đều có quyền bình đẳng” trong Tuyên ngôn Độc lập, uy thế của nam giới đã nhanh chóng được ghi nhận trong Hiến pháp. Trong Điều II, về quyền của Tổng thống, 39 đại biểu đã ký kết tài liệu – tất cả đều nam giới – đã sử dụng lặp đi lặp lại đại từ nhân xưng chỉ giới nam một cách tự nhiên.

Cuối cùng, 133 năm sau, vào năm 1920, Mỹ đã hạn chế sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ thông qua một bản Tu chính án 19, trao cho phụ nữ quyền bỏ phiếu. Nhưng điều luật này hầu như không làm lay chuyển thái độ và cách đối xử. Kết quả của nó là, 33 nam giới đã tranh cử vào Tòa án Tối cao trước khi thẩm phán Sandra Day O’Connor1 giành chiến thắng – 61 năm sau khi Tu chính án được phê chuẩn. Tỷ lệ phản đối sự cạnh tranh của nam giới xảy ra ngẫu nhiên là hơn 8 tỷ/1.

1. Thẩm phán Sandra Day O’Connor (26/3/1930): Phụ nữ đầu tiên giữ chức thẩm phán Tòa án Tối cao Mỹ từ năm 1981-2006.

Khi mọi người đặt câu hỏi về sự vắng mặt của những đại biểu nữ, câu trả lời tiêu chuẩn trong 61 năm đơn giản là “không có ứng cử viên đủ tiêu chuẩn”. Các cử tri cũng có một lập trường tương tự. Khi cha tôi được bầu vào Quốc hội năm 1942, chỉ có 8 trong số 434 đồng nghiệp của ông là phụ nữ. Bà Margaret Chase Smith vùng Maine là phụ nữ duy nhất có mặt trong Thượng viện.

Sự đối kháng giữa các thế lực là điều rất tự nhiên khi sự thay đổi đụng độ với lợi ích của cá nhân. Kinh doanh, chính trị và cả tôn giáo đem đến nhiều ví dụ về những hành vi phòng vệ như vậy. Suy cho cùng, ai lại muốn số lượng đối thủ cạnh tranh cho những vị trí hàng đầu tăng gấp đôi chứ?

Nhưng một kẻ thù thậm chí còn lớn hơn của sự thay đổi là những quan điểm thâm căn cố đế của những người hoàn toàn không thể tưởng tượng ra một thế giới khác với nơi mà họ đang sống. Những gì đã xảy ra trong gia đình tôi là một ví dụ. Tôi có 2 chịem. Cả 3 chúng tôi đều được cha mẹ và giáo viên của chúng tôi coi là có trí thông minh gần bằng nhau và các bài kiểm tra IQ thực tế đã xác nhận sự ngang bằng của chúng tôi. Bên cạnh đó, trong một thời gian dài, chịem của tôi có chỉ số IQ “xã hội” cao hơn tôi. (Không, chúng tôi đã không làm bài kiểm tra này – nhưng, hãy tin tôi, có quá nhiều bằng chứng).

Tuy nhiên, ngay khi tôi ra đời, những khả năng của tôi đã vượt khả năng của các chịem của tôi, vì tôi là con trai! Còn các chịem thông minh, tử tế và đẹp đẽ của tôi thì không. Bố mẹ tôi yêu thương chúng tôi như nhau, và giáo viên của chúng tôi cho chúng tôi các điểm số tương đồng. Nhưng các chị em gái của tôi sẽ luôn được dạy bằng các ám hiệu hơn là lời nói rằng thành công của họ chính là “cưới một người chồng môn đăng hộ đối”. Trong lúc đó, tôi nhận ra rằng cơ hội từ thế giới ngoài kia là dành cho tôi.

Vì vậy, cơ hội của tôi đã trở thành trở ngại của các chị em tôi – và không ai nghĩ nhiều đến việc xóa bỏ khuôn mẫu đó cho đến một vài thập kỷ trước. Hiện nay, ơn Chúa, những rào cản về cơ cấu đặt lên phụ nữ đang giảm.

Nhưng vẫn còn một trở ngại: Quá nhiều phụ nữ tiếp tục áp đặt những giới hạn lên bản thân họ, khiến không thể đạt đến tiềm năng của mình. Ở đây, tôi cũng đã có một số trải nghiệm trực tiếp.

Trong số những người phụ nữ tuyệt vời và thú vị mà tôi biết có bà Katharine Graham quá cố, từng là cổ đông kiêm Giám đốc Điều hành của Washington Post. Kay biết mình thông minh. Nhưng bà ấy đã bị tẩy não – tôi không thích từ đó, nhưng nó rất phù hợp – bởi mẹ của bà ấy, chồng và ai mà biết có ai khác nữa tin rằng đàn ông thì xuất sắc hơn, đặc biệt là trong kinh doanh.

Khi chồng bà qua đời, một số nam giới xung quanh Kay vì lợi ích của chính họ đã thuyết phục bà rằng cảm giác của bà về sự không tương thích là đúng đắn. Những áp lực mà họ đặt lên bà thật sự đã gây ra đau đớn. May mắn thay, ngoài sự thông minh, Kay còn có sức mạnh nội tâm. Nhờ vào nó, bà ấy đã phớt lờ những tiếng nói nam giới kêu gọi bà chuyển gia sản thừa kế cho họ.

Tôi gặp Kay năm 1973 và nhanh chóng thấy rằng bà là một người có khả năng và tính cách khác thường. Nhưng sự hoài nghi của bản thân liên quan đến giới tính cũng có mặt ở đó. Trí thông minh của bà biết rõ, nhưng bà không bao giờ có thể biết khi tiếng nói từ bên trong bà nói rằng, “Đàn ông biết cách điều hành một doanh nghiệp nhiều hơn bạn.”

Tôi đã nói với Kay rằng bà ấy phải vứt bỏ chiếc gương nhà cười mà những người khác đã đặt trước mặt bà và thay vào đó bà nên nhìn vào tấm gương phản chiếu thực tế. Tôi nói, “Sau đó, bà sẽ thấy một đối thủ ngang tài với bất cứ ai, dù là nam hay nữ.”

Tôi ước tôi có thể khẳng định rằng mình đã thành công trong chiến dịch đó. Bằng chứng chắc chắn là ở phía tôi: Cổ phiếu Washington Post đã tăng hơn 4.000 % – tức là 40% trong một năm – trong suốt 18 năm Kay làm lãnh đạo. Sau khi nghỉ hưu, bà đã giành được giải Pulitzer Prize cho cuốn tự truyện tuyệt vời của mình. Nhưng sự tự nghi ngờ của bà vẫn còn đó, một bằng chứng cho thấy thông điệp về sự bất tài có thể hằn sâu ngay cả trong một tâm trí thông minh.

Tôi vui mừng nói rằng những tấm gương nhà cười đang trở nên ít phổ biến hơn trong số những phụ nữ mà tôi gặp. Hãy thử đặt một cái gương trước mặt con gái tôi. Nó sẽ cười và đập vỡ nó. Phụ nữ không bao giờ nên quên rằng những người đàn ông mạnh mẽ và có vẻ tự tin thông thường có nhiều hơn một chút phép thuật xứ Oz trong họ. Kéo bức màn sang một bên, và bạn sẽ thường phát hiện ra họ không phải là siêu nhân.

Vì vậy, hỡi các đồng nghiệp nam của tôi, chúng ta đúc rút ra được điều gì ở đây? Tại sao chúng ta nên quan tâm xem liệu những rào cản còn lại mà phụ nữ đang đối mặt có được dỡ bỏ và những tấm gương nhà cười sẽ bị đập vỡ hay không?

Không một nhà quản lý nào lại điều hành các doanh nghiệp của họ ở hiệu suất 80% nếu có thể thực hiện được các bước nâng sản lượng. Và không một giám đốc điều hành nào không muốn sử dụng hết khả năng của các nam nhân viên nếu cải thiện đào tạo hoặc những điều kiện làm việc có thể thúc đẩy tính chuyên nghiệp. Vì vậy, hãy tiến thêm một bước nữa: Nếu có các lợi ích rõ ràng từ việc giúp nam giới trong lực lượng lao động đạt được tiềm năng của họ, tại sao bạn lại không muốn xét đến nữ giới?

Các đồng nghiệp nam, hãy sẵn sàng. Nước Mỹ đang ngày càng đạt đến việc sử dụng hết năng lực của tất cả công dân, sản lượng hàng hoá và dịch vụ sẽ càng lớn. Chúng ta đã nhìn thấy thành quả có thể đạt được khi chúng ta sử dụng “một nửa thế giới”. Nếu bạn hình dung những gì mà “hai nửa” có thể làm, bạn hẳn sẽ lạc quan hết mực về tương lai của Mỹ.

Khi Fortune lần đầu đề cập đến Warren Buffett vào năm 1966, cổ phiếu của Berkshire (ngày nay là cổ phiếu loại A) có giá khoảng 22 đô-la. Vào giữa năm 2013, giá cổ phiếu là 168.600 đô-la. Nếu đã đầu tư 1.000 đô-la vào cổ phiếu Berkshire ở mức giá năm 1966 là 22 đô-la, con số tăng trưởng đến giữa năm 2013 là 7.663.636 đô-la. – CL

Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.