Ngày 30 tháng 11 năm 1981
Lee Smith
Điều này nghe có vẻ không hợp lý khi các tập đoàn lớn thường không cho phép cổ đông được quyền chọn hỗ trợ tiền cho tổ chức từ thiện nào. Hội đồng quản trị quyết định phần lớn ngân sách sẽ đi về đâu. Người lao động góp tiếng nói của mình bằng cách ủng hộ những chương trình đóng góp song phương đang ngày càng phổ biến. Nhưng trong hầu hết các chủ sở hữu không có quyền bầu chọn.
Sự bất công đối với những chủ sở hữu cổ phiếu này đã làm Warren E. Buffett, nhà đầu tư nổi tiếng kiêm Chủ tịch của Berkshire Hathaway, băn khoăn từ lâu. Do đó, tháng trước Buffett đã cho cổ đông của Berkshire Hathaway quyền phân phối khoảng 2 triệu đô-la cho các trường đại học, nhà thờ, bảo tàng, cơ quan xã hội và các tổ chức phi lợi nhuận khác mà họ tin trưởng.
“Tôi không muốn các cổ đông lập séc xuất tiền trong tài khoản ngân hàng của tôi để tặng cho các tổ chức từ thiện mà họ chọn,” ông nói. “Vì vậy tôi thấy việc ký séc trên tài khoản doanh nghiệp mà họ đồng sở hữu để hỗ trợ cho các hội từ thiện tôi chọn là không thỏa đáng.” Vì như Buffett nhìn thấy, phần lớn các nhà quản lý doanh nghiệp sẽ ủng hộ theo phản xạ bất kỳ quỹ nào đồng nghiệp của họ ủng hộ.
Buffett, ở tuổi 51, là một nhà quản lý đi theo đường lối riêng của mình. Khi vừa tốt nghiệp đại học, ông đã thành lập công ty hợp danh với bạn bè và người thân, huy động được 100.000 đô-la. Sau nhiều lần bổ sung vốn mới, cuối cùng ông đã nâng giá trị quỹ lên đến 100 triệu đô-la giá trị trên thị trường chứng khoán. Năm 1965 ông tiếp nhận và tái tổ chức Công ty Berkshire Hathaway, nơi kiểm soát các công ty khác là See’s Candies, Blue Chip Stamps và hàng tá các công ty bảo hiểm. Công ty cũng đồng thời sở hữu 5% cổ phần của General Foods và 13% của Công ty Washington Post. Lợi nhuận công ty khá lớn – 53 triệu đô-la, hay 51,72 đô-la cho một cổ phiếu vào năm ngoái. Giá cổ phiếu hiện tại được bán với giá 500 đô-la cho một cổ phiếu. Berkshire Hathaway không chi trả cổ tức từ năm 1967, nhưng giá trị ròng đã tăng trung bình 20% một năm. Bất chấp khả năng tài chính dồi dào, công ty chỉ đóng góp tương đối ít cho từ thiện – khoảng 200.000 đô-la một năm. Con số này nhỉnh hơn 0,2% của lợi nhuận trước thuế của họ năm 1980, so với đóng góp trung bình 1% của các công ty Mỹ nói chung.
Buffett đã khá chi li vì ông không biết làm thế nào để cải tiến phương pháp các doanh nghiệp lớn khác sử dụng để chọn nơi tiếp nhận từ thiện. Ông nghĩ rằng phương án mới của mình vừa công bằng vừa thực tế. Nó phỏng theo cách các công ty cổ phần khép kín thực hiện để thăm dò ý kiến cổ đông về các tổ chức từ thiện. Nhưng thay vì hỏi ý kiến khoảng một tá cổ đông, Buffett đang liên hệ với 1,500 người.
Những lá phiếu thăm dò được gửi đi trong tháng này. Với 1 triệu cổ phiếu lưu hành trên thị trường, mỗi cổ phiếu cho chủ sở hữu quyền được phân bổ 2 đô-la cho từ thiện. Một cổ đông sở hữu 1.000 cổ phiếu, nói cách khác, có quyền chỉ định công ty ủng hộ 2.000 đô- la. Những cổ đông quan trọng nhất cho đến nay sẽ không cần phải bỏ phiếu. Buffett và vợ sở hữu 47% công ty và họ có thể chỉ định phân bổ 935.000 đô-la cho các tổ chức từ thiện họ yêu thích. Số tiền ban đầu sẽ được phân về cho Quỹ Buffett, được thành lập cách đây 15 năm, và sau đó là các tổ chức ủng hộ việc kiểm soát tỷ lệ sinh đẻ.
Kế hoạch này của Buffett có lợi thế về thuế. Berkshire Hathaway có thể trả cổ tức cho các cổ đông, họ có thể lần lượt chuyển cổ tức này sang làm từ thiện. Tuy cổ đông phải chịu thuế khi được chia lợi nhuận, khoản ủng hộ từ thiện của doanh nghiệp được xem như chi phí kinh doanh và không bị đánh thuế. Vì vậy với mỗi đồng đô-la rời ngân quỹ của Berkshire Hathaway, số nhiều sẽ đến với từ thiện và số ít hơn chạy về sở thuế.
Thoạt nhìn, Buffett có thể nhận dồn dập đủ thể loại giấy tờ. 5 thành viên trong văn phòng 4 phòng của ông ở Omaha sẽ ngập trong đống giấy tờ này. Các cổ đông của Buffett sẽ gửi về những tờ đăng ký gồm địa chỉ và tên của 3 tổ chức từ thiện họ chọn ủng hộ. Nếu tổ chức chỉ định không được miễn thuế theo luật của Sở Thuế vụ Mỹ, nhân viên của Buffett sẽ yêu cầu bằng chứng.
Các nhân viên sẽ phải xác nhận số cổ phần mà các cổ đông này sở hữu, ghi chi phiếu, và gửi nó đi, kèm với tờ ghi chú giải thích rằng số chi phiếu này được gửi theo yêu cầu của cổ đông. Mỗi cổ đông phải bảo đảm rằng những chi phiếu này không có mục đích nào khác, hoặc Sở Thuế vụ sẽ tính nó như một cổ tức và theo đó tăng thuế của Công ty Berkshire Hathaway lên. Bất chấp sự phức tạp như vậy, Buffett cho rằng các thủ tục giấy tờ này không hơn nhiều so với lượng phiếu bầu trong một cuộc họp thường niên. Ông nói rằng, “Nếu tôi sai, tôi sẽ phải làm việc trong văn phòng cả thứ Bảy và Chủ nhật.”
Những đóng góp dưới tên cổ đông có thể làm giảm khoảng 1 triệu đô-la hoặc hơn thu nhập ròng của Công ty Berkshire Hathaway. (Giả sử thuế suất ở mức 46%, cho đi 2 triệu đô-la sẽ làm giảm 1,8 triệu đô-la lợi nhuận sau thuế.) Nhưng không phải tất cả số tiền từ thiện đều được dùng hết. Cổ phiếu đứng tên người môi giới mà các công ty môi giới và cơ quan khác bán cho khách hàng không có quyền biểu quyết, và một số cá nhân không bận tâm đến việc bỏ phiếu hoặc có thể không thích việc chuyển tiền ủng hộ từ thiện. Số tiền chưa được phân bổ sẽ được đưa trở lại vào thu nhập doanh nghiệp.
Sau khi đánh giá phản ứng tức thời, Buffett ước tính rằng sẽ có đến 85% cổ đông hồi đáp. “Sự nhiệt tình có thừa,” ông nói. “Tôi biết một phụ nữ lớn tuổi rất sùng đạo nhưng thu nhập không cao và chỉ có thể tặng 5 đô-la một tháng cho nhà thờ. Bà ấy có kha khá cổ phiếu của chúng tôi, vì vậy bây giờ bà ấy có thể ủng hộ 60 hoặc 70 đô-la một tháng.”
Kế hoạch của Buffett tuy tương đồng nhưng lại ít rắc rối hơn đề xuất của Robert A. Sproull, Chủ tịch của Đại học Rochester, người đã đưa ra một phương án giúp cổ đông gửi tiền cho tổ chức từ thiện gần như gấp đôi lượng cổ tức anh ta sở hữu mà không tốn thêm chi phí cho bất cứ ai – ngoại trừ Kho bạc Mỹ. Cổ đông cho công ty biết rằng anh ta sẽ không nhận, cổ tức của quý III chẳng hạn là 100 đô-la nếu công ty có thể gửi số tiền trên, cộng với bất kỳ số tiền thuế thu nhập nào được trả trên con số lợi nhuận này, cho Hội Chữ thập Đỏ Mỹ, Đại học Rochester, hoặc các tổ chức từ thiện khác. Sproull nhận ra rằng một doanh nghiệp trả 46% thu nhập cho thuế phí không cần quan tâm đến việc nó phải gửi 185 đô-la trước thuế cho từ thiện hay 100 đô-la cổ tức cho cổ đông và 85 đô-la cho chính phủ.
Kế hoạch của Sproull tuy rất tài tình nhưng lại bất hợp pháp. Thượng Nghị sĩ Daniel Patrick Moynihan đang cố gắng thuyết phục Quốc hội hợp thức hóa bản kế hoạch, nhưng ông không có nhiều khả năng thành công, xét trên nỗi lo ngại hiện tại về sự thâm hụt. Hơn nữa, các doanh nghiệp có vẻ thờ ơ với ý tưởng. A. T & T, nói riêng, lo ngại rằng kế hoạch này có thể cạnh tranh với cơ chế cho phép cổ đông tự động tái đầu tư cổ tức của họ vào cổ phiếu. Chỉ trong năm 1980, Mẹ Bell1 đã thu được gần 1 tỷ đô-la bằng việc tái đầu tư tiền cổ tức.
1. Mẹ Bell: Tên gọi thông tục dành cho hãng viễn thông Công ty Điện thoại Bell.
Hãy chờ xem liệu kế hoạch của Buffett có bị bắt chước hay không. Nhiều doanh nghiệp có lượng cổ đông vượt xa Công ty Berkshire Hathaway, nhưng họ ước chừng sẽ cần số lượng nhân viên nhiều hơn để giải quyết giấy tờ. Một số doanh nghiệp được tờ Fortune giải thích rằng đó là ý tưởng thú vị nhưng họ vẫn còn hoài nghi. Một người quản lý các khoản đóng góp lo ngại cổ đông sẽ phản ứng dữ dội về việc doanh nghiệp ủng hộ tiền cho tổ chức tôn giáo, những nơi mà phần lớn số tiền ủng hộ của Công ty Berkshire Hathaway chắc chắn sẽ đổ về dưới kế hoạch của Buffett. (Các nhà thờ nhận hơn một nửa tất cả khoản đóng góp từ cá nhân.) Để ngăn bất đồng xảy ra, đa số doanh nghiệp chỉ ủng hộ những tổ chức từ thiện thế tục thay vì có liên quan tôn giáo.
Quan trọng rằng Berkshire Hathaway ít nhất là một công ty khác thường, nơi mà kế hoạch của Buffett lại đặc biệt thích hợp. Buffett cho biết công ty không có bất kỳ mục đích nào nhằm phục vụ cho doanh nghiệp khi phân bổ 2 triệu đô-la cho các tổ chức từ thiện, mà đó là sự lựa chọn của cổ đông. Các doanh nghiệp khác thật sự có những mục tiêu như vậy. Các công ty thuê kỹ sư sẽ ủng hộ tiền cho các trường kỹ thuật, hy vọng sẽ thúc đẩy nghiên cứu và thu hút sinh viên. Công ty dầu khí đóng góp cho đài truyền hình công cộng một phần là để thuyết phục công chúng nói chung và các nhà lập pháp nói riêng rằng họ là những công dân có trách nhiệm và không chỉ đơn thuần là những người thu lợi từ nguồn tài nguyên.
Tuy nhiên, nhiều công ty có thể đi theo mô hình của Berkshire Hathaway – đặc biệt là những công ty có mức lợi nhuận cao, ít gặp rắc rối trong quan hệ công chúng và có động lực làm từ thiện. Từ lâu Buffett đã có nhiều ý tưởng hay về hoạt động từ thiện. Vài năm trước đây ông tư vấn cho Đại học Grinnell ở bang Iowa đầu tư một phần quỹ hỗ trợ vốn của họ vào một đài truyền hình, đây được coi là lựa chọn không phổ biến cho một trường học. Grinnell đã mua đài truyền hình ở Dayton với giá 12,9 triệu đô-la và bán nó với giá 50 triệu đô-la 2 tháng trước. Vì vậy khi Buffett độc hành một mình, dõi theo từng nơi ông đi qua là rất có lý.
Berkshire từ bỏ việc trao tặng
Ngày 11 tháng 8 năm 2003
Nicholas Varchaver
Trong quá khứ, Warrant Buffett đã bi chỉ trích vì ủng hộ những tổ chức theo quan điểm tự do chọn lựa, nhưng việc này chưa bao giờ ảnh hưởng đến hoạt động từ thiện của Berkshire Hathaway – cho đến khi Cindy Coughlon, một bà mẹ nội trợ 34 tuổi ở Peoria, Arizona, xuất hiện. Hiện thời, chiến dịch chống lại việc ủng hộ tổ chức theo quan điểm tự do chọn lựa của bà mẹ này đã khiến người đàn ông quyền lực nhất trong kinh doanh phải chấm dứt toàn bộ chương trình ủng hộ từ thiện của Berkshire. Quỹ đã đóng góp gần 200 triệu đô-la trong suốt 2 thế kỷ qua cho các tổ chức khác nhau từ trường học đến các nhóm ở cả hai phía trong cuộc tranh luận về phá thai.
Chương trình đặc biệt này – được gọi là cổ tức từ thiện – cho phép cổ đông Berkshire phân bổ 18 đô-la trên mỗi cổ phiếu hằng năm cho 3 tổ chức từ thiện họ chọn. Một số cổ đông, bao gồm Buffett qua quỹ của ông, đã sử dụng cơ chế này để ủng hộ tổ chức theo quan điểm tự do chọn lựa như Tổ chức Kế hoạch hóa Gia đình Hoa Kỳ. (Cộng tác viên biên tập của tờ Fortune, Carol Loomis, chính là Giám đốc Quỹ Buffett.)
Sự việc bắt đầu vào mùa đông này khi Coughlon, bà mẹ 3 con muốn kiếm một chút tiền bằng cách bán sản phẩm của Pampered Chef, một công ty được Berkshire mua lại gần đây với doanh thu 740 triệu đô-la. Công ty có khoảng 70.000 “tư vấn viên” tự do bán đồ dùng làm bếp tại nhà thông qua các kênh theo phong cách Tupperware. Coughlon nói rằng bà quyết định làm việc cho Pampered Chef vì cảm thấy công ty có chung quan điểm về đạo Thiên Chúa giáo và giá trị gia đình. Chẳng hạn từ sứ mệnh của công ty là khuyến khích mọi người “phát triển tài năng mà Chúa ban cho họ.”
Nhưng Coughlon đã mất đi nhiệt huyết khi phát hiện việc Berkshire mua lại Pampered Chef, điều đó có nghĩa là một phần lợi nhuận cô kiếm được sẽ dành để ủng hộ các nhóm theo quan điểm tự do chọn lựa. Cô đã gửi một bản kiến nghị yêu cầu Berkshire và Buffett chấm dứt tài trợ cho những tổ chức này, cho 100 bạn bè và gia đình vào tháng 1. Các tổ chức theo quan điểm thuận theo sự sống như Life Decisions International đã công bố bản kiến nghị này.
Chủ tịch của Pampered, Chef Doris Chistopher bước đầu đã chia sẻ với các tư vấn viên qua một e-mail vào tháng 4 rằng mặc dù “quan điểm cá nhân của tôi về một số vấn đề khác với quan điểm của Warren Buffett, nhưng tôi không có quyền hỏi hay phán xét”. Nhưng thông điệp của bà không thể dập tắt những tranh cãi. Coughlon cho biết các tư vấn viên bỏ việc và khách hàng than phiền. (Coughlon ước lượng đã có “gần 1.000 người” ký tên vào bản kiến nghị.) Tính đến cuối tháng 6, áp lực trở nên nặng nề hơn, và Christopher “đến gặp Warren với trái tim nặng trĩu,” theo e-mail bà gửi cho các tư vấn viên. “Việc Berkshire Hathaway hỗ trợ từ thiện gây khó khăn cho bạn khiến ông ấy hết sức phiền muộn.” Vào ngày 3 tháng 7, Berkshire thông báo chấm dứt chương trình ủng hộ từ thiện.
Trước năm nay, Berkshire dường như không phải bận tâm gì tới những áp lực như vậy. Các nhà hoạt động theo quan điểm thuận theo sự sống đã biểu tình tại các cuộc họp hằng năm của công ty và tẩy chay họ trong nhiều năm. Tuy nhiên năm ngoái, một nghị quyết của cổ đông nhằm hủy bỏ chương trình từ thiện đã gặp thất bại hoàn toàn với 97% lá phiếu chống. Và Buffett biện hộ cho chương trình trong báo cáo thường niên năm 2001 của Berkshire rằng bản thân công ty Berkshire “không hề đóng góp cho các tổ chức này ngoại trừ những khoản ủng hộ được chỉ định bởi cổ đông,”những người “chắc hẳn đứng về cả hai phía trong vấn đề phá thai với tỷ lệ ủng hộ và chống đối tương đương tỷ lệ dân số Mỹ”.
Vậy tại sao giờ đây Berkshire lại chấm dứt chương trình? Công ty phát biểu rằng “quyền sở hữu của công ty đang bị tổn hại” đến không chỉ một công ty con mà còn là các cá nhân. Hội đồng quản trị đã sẵn sàng chấp nhận con số thiệt hại từ cuộc tẩy chay trong quá khứ bởi vì chi phí đã được san đều cho cả tập đoàn lớn, nhưng việc tẩy chay này đã ảnh hưởng đến các tư vấn viên Pampered Chef, người không có liên quan gì đến chính sách của Berkshire.
Về phần mình, Coughlon “rất phấn khởi với quyết định”. Nhưng cô cho rằng cô sẽ không hài lòng cho đến khi người đàn ông mà cô tôn trọng gọi là “Ngài Buffett” dừng ủng hộ cho các tổ chức theo quan điểm tự do chọn lựa. Bà nói, “Hiện giờ ông ấy chính là tiêu điểm của sự chú ý.”
Những lá thư gửi cổ đông từ Chủ tịch Buffett
Ngày 22 tháng 8 năm 1983
Andrew Tobias
Buffett bắt đầu viết thư gửi cổ đông ở vị trí Chủ tịch trong báo cáo thường niên của Berkshire Hathaway kể từ năm 1966. 10 năm sau đó, ông đã làm việc cùng một nhóm thuộc “Ủy ban Chứng khoán và Sàn giao dịch Mỹ” để nghiên cứu cách để các công ty cải thiện việc truyền thông với cổ đông, và trong báo cáo thường niên năm 1977 ông đã sẵn sàng để đổi mới thư gửi cổ đông hằng năm. Ông dần dần đưa những thay đổi vào trong thư của mình. Đến đầu những năm 1980, những lá thư của ông đã được biết đến vì nội dung trí tuệ, hài hước, cá tính, và bắt đầu thu hút sự chú ý rộng rãi.
Tờ Fortune sau đó quyết định thực hiện một bài báo – trình bày như dạng bình phẩm sách – về những lá thư này. Tôi không phải là một ứng cử viên thích hợp để viết bài báo, vì đến gần ngày công bố báo cáo thường niên năm 1977, người bạn đã 10 năm nay của tôi, Buffett nhờ tôi cho ý kiến về lá thư gần hoàn tất của ông, nên tôi đã tư vấn ông thay mạo từ xác định “the” thành mạo từ bất định “a”. Kể từ đó, tôi trở thành một biên tập viên tình nguyện nhưng chu đáo của ông. Tôi thừa nhận là đã tăng mức độ sửa chữa lên rất nhiều kể từ lá thư năm 1977, nhưng thứ tự sau chưa bao giờ thay đổi: Ông viết, tôi biên tập.
Sau khi tôi từ chối viết bài báo năm 1983, tờ Fortune đã hợp tác với một nhà báo ở ngoài, Andrew Tobias, người suýt nhận lời làm việc cho tạp chí vài năm trước đây (thật tiếc là ông ấy đã không làm) nhưng sau đó đã có sự nghiệp viết sách thành công, The only investement guide you’ll ever need (tạm dịch: Chỉ dẫn đầu tư duy nhất mà bạn cần biết) và viết báo tự do. Tobias nói rằng khi một biên tập của tờ Fortune liên lạc với ông về bài báo này, ông chưa từng nghe đến tên tuổi của Buffett, người đã được miêu tả “gần như là một tín ngưỡng được sùng bái”. Tobias sau đó đã thực hiện bài báo – còn hơn cả một bài bình phẩm sách – thể hiện sự hài hước và cá tính riêng của ông.
Và tiếp theo liệu ông ấy có mua cổ phiếu của Berkshire, và sau đó bán với giá khoảng 1.000 đô-la mỗi cổ phiếu (so với mức 170.000 đô-la gần đây)? Tobias trả lời: “Tôi không ngừng nói với mọi người rằng Berkshire là vụ đầu tư tồi tệ nhất mà tôi đã không thực hiện. Nếu tôi lấy chỉ 1.500 đô-la mà tôi nhớ là số nhuận bút Fortune trả cho bài báo, thêm một vài đô-la nữa, và mua hai cổ phiếu thì…” Sau đó, Tobias ngẫm lại và cho rằng cổ phiếu đã ở mức hơi cao một chút so với giá trị thực, thế nên khi nào nó điều chỉnh một chút, ông mới mua. Ông nhớ rằng cũng từng nghĩ như vậy khi cổ phiếu có giá 10.000 đô-la và 30.000 đô-la.
Bù lại thì Tobias và Buffett đã trở thành bạn tốt, mối quan hệ bạn bè phát triển không chỉ qua những cuộc trò chuyện về bài báo này mà còn vì cả hai cùng quan tâm ủng hộ các ứng cử viên của Đảng Dân chủ. – CL
Cổ đông của Berkshire Hathaway đã trông đợi hai điều sau trong báo cáo thường niên: tin tốt lành (giá trị sổ sách đã tăng từ 19 đô-la lên 737 đô-la mỗi cổ phiếu trong 18 năm qua) và lá thư độc đáo từ vị Chủ tịch của họ, Warren Buffett (người đã mua lại tập đoàn 18 năm trước). Thực ra, lá thư từ Chủ tịch trên thực tế chính là báo cáo thường niên của Berkshire Hathaway.
Các cổ đông không thấy bất kỳ hình ảnh, các chữ in màu hay dập nổi, không biểu đồ giá hay biểu đồ cột – thậm chí không có cả biểu tượng của công ty. Lá thư trông giống như báo cáo thường niên bạn thấy từ một công ty đã sụp đổ sau khi giá trị tăng tới mức bong bóng. Nhưng chỉ Berkshire Hathaway, một tập đoàn bảo hiểm nắm giữ số lượng lớn cổ phần trong nhiều ngành công nghiệp khác nhau là không bị bong bóng.; và với mức 955 đô-la một cổ phiếu, tăng từ mức 85 đô-la 6 năm trước, không có dấu hiệu cho thấy công ty sẽ bị nổ bong bóng.
Theo kinh nghiệm thông thường, cách đọc các báo cáo thường niên sẽ là lướt qua phần ý kiến của kiểm toán, sau đó kiểm tra kết quả tài chính và lời ghi chú cuối trang. Nhưng với lá thư ngỏ của chủ tịch thì sao? Hãy tiết kiệm thời gian của bạn và đừng đọc nó. Nhưng những lá thư của Warren Buffett lại được theo dõi và yêu thích đông đảo. Thậm chí còn được yêu cầu tái bản! Công ty đã xuất bản một tập hợp 5 lá thư gần nhất để đáp ứng nhu cầu của độc giả.
“Những lá thư rất tuyệt,” Leon Levy của Công ty Odyssey Partners, một huyền thoại Phố Wall nói, và rồi ông nhớ lại một đoạn mình thích nhất ở lá thư gần đây – trong thư Buffett nói rằng ông hoàn toàn không muốn tham gia các vụ mua lại được phần lớn các công ty khác thực hiện vào năm 1982. Buffett viết, “Nhiều vụ trong số này là kết quả của việc trí tuệ quản trị đã chịu thua khi cạnh tranh với hoóc môn adrenaline1 quản trị. Cuộc chạy đua trong việc mua bán sáp nhập đã làm các nhà đầu tư mờ mắt trước hậu quả của nó. Quan sát của Pascal có vẻ hợp lý: ‘Tôi cảm thấy chấn động vì tất cả những xui xẻo của con người đều bắt nguồn từ lý do duy nhất là họ không thể ngồi yên một mình trong phòng.’2 (Tôi – Chủ tịch đã rời khỏi phòng quá nhiều lần vào năm ngoái và gần như đóng vai chính trong hồ sơ những Vụ sáp nhập Dại dột năm 1982. Nhìn lại, thành tựu lớn của chúng ta trong năm là một vụ mua bán khổng lồ mà chúng ta đã nắm chắc nhưng lại thất bại vì những lý do hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát. Để hoàn thành giao dịch này, chúng ta đã có thể phải tiêu tốn một lượng tiền bạc và sức lực không tưởng, tất cả là vì một kết quả không chắc chắn. Nếu chúng ta đưa biểu đồ vào báo cáo này, việc minh họa các công việc kinh doanh phát triển thuận lợi trong năm qua, 2 trang trống để miêu tả vụ mua bán điên rồ này thích hợp để ở giữa.)”
1. Adrenaline: Hoóc-môn được sản sinh ra khi cơ thể con người cảm thấy thích thú hoặc sợ hãi.
2. Tôi cảm thấy chấn động vì tất cả những xui xẻo của con người đều bắt nguồn từ lý do duy nhất là họ không thể ngồi yên một mình trong phòng (It has struck me that all men’s misfortunes spring from the single cause that they are unable to stay quietly in one room): Một câu nói nổi tiếng của Pascal (19/6/1623 – 19/8/1662) – nhà toán học, nhà vật lý, nhà phát minh, triết gia người Pháp.
“Tôi thích điều này,” Levy tươi cười nói.
Tự Buffett nói rằng ông cố gắng thuyết phục cổ đông như thể họ chính là đối tác của mình. “Tôi giả định rằng mình đang có một đối tác rất thông minh, người đã đi xa trong một năm và cần được cập nhật về những gì đã xảy ra.” Ông cũng đồng thời giả sử rằng 2.000 cổ đông của mình thu được lợi nhuận ít. Ông cho biết, “Thay vì lặp lại những điều giống nhau mỗi năm, tôi chọn những chủ đề giúp họ hiểu nhiều hơn.” Đây là một bài tập có vẻ ông rất thích – những lá thư, hiện tại dài khoảng 12 trang, và cứ dài thêm mỗi năm. (Một lá thư xuất sắc khác từ chuyên gia ngân hàng tiểu bang Wisconsin, Jack Puelicher, một Giám đốc Điều hành khác có tư tưởng chống đối những tín ngưỡng lâu đời, người đã viết thư cho cổ đông của Công ty Marshall & Ilsley như sau, nguyên văn: “Công ty của bạn đã có một năm 1982 thành công. Một phần nhờ vào may mắn; một phần nhờ vào chiến lược và quản lý tốt. Chúng tôi hy vọng bạn sẽ thích những con số và hình ảnh trong đây.”)
Nhờ nghiên cứu các cách công khai thông tin cho người mua chứng khoán cùng nhóm chuyên gia thuộc Ủy ban Chứng khoán và Sàn Giao dịch Mỹ (SEC) thành lập năm 1976, khả năng thảo thư của Buffett càng thêm nhạy bén. (Ủy ban đã phát hành một tài liệu dài 1.200 trang kết luận rằng hệ thống các thông tin công khai về cơ bản khá đầy đủ.) Cựu ủy viên SEC A. A. Sommer con, người đã lãnh đạo Ủy ban – và bản thân là cổ đông của Berkshire Hathaway – nói rằng Ủy ban đánh giá cao tầm quan trọng của những lá thư này. Thậm chí vì vậy, ông nói thêm, “Những lá thư của Warren là độc nhất vô nhị. Có rất ít các lãnh đạo có trí tuệ về nhiều mặt như Warren. Để thảo được những lá thư trò chuyện như vậy cực kỳ khó khăn đối với tất cả các lãnh đạo.”
Buffett đã bao giờ đề cập đến những chủ đề khác trong thư của ông chưa? Có, ông trả lời, ông đã bàn luận về những sai lầm của mình.
“Doanh nghiệp dệt may lại có một năm rất khó khăn”, ông báo cáo trong năm 1977. (Khi Buffett mới mua lại Berkshire Hathaway vào năm 1965, đó là tất cả những gì Berkshire sở hữu – một doanh nghiệp dệt may ở New Bedford, Massachusetts.) “Chúng tôi đã dự đoán nhầm là trong 2 năm qua, kết quả mỗi năm sẽ tốt hơn. Công ty đã trải qua nhiều khó khăn chủ yếu là do tình trạng ngành, nhưng một số khó khăn là do chúng tôi tạo ra.”
Ông viết cho các cổ đông của mình vào năm 1979, “Chúng tôi tiếp tục tìm cách để mở rộng hoạt động bảo hiểm, nhưng bạn không nên quá vui mừng với ý định này. Một số nỗ lực bành trướng, chủ yếu được khởi xướng bởi chủ tịch là tôi – đã không có hiệu quả rõ ràng, một số khác là những thất bại đắt giá.”
Buffett đã hạ mình khi đánh giá những nỗ lực xuất sắc của chính ông, nhưng như một huấn luyện viên đầy tự hào, ông đề cao nỗ lực của những đồng đội. Berkshire Hathaway sở hữu phần lớn GEICO, công ty bảo hiểm phương tiện, và ông đã viết về thành tích vẻ vang của công ty này như sau: “Jack Byrne và Bill Snyder đang đạt được những mục tiêu khó khăn nhất đối với con người – đó là duy trì mọi thứ đơn giản và ghi nhớ những gì bạn đặt ra để thực hiện.”
Buffett đã viết về giám đốc 81 tuổi của một công ty con khi ông này qua đời như sau: “Kinh nghiệm của chúng tôi cho thấy người quản lý của một doanh nghiệp có chi phí hoạt động cao lại có “biệt tài” trong việc tìm kiếm những cách thức mới để gia tăng chi phí, trong khi người quản lý hoạt động của một doanh nghiệp một cách chặt chẽ thường liên tục tìm tòi thêm phương pháp để tiết kiệm chi phí, ngay cả khi chi phí của họ thấp hơn các đối thủ cạnh tranh. Không ai có thể làm tốt hơn việc tiết giảm chi phí bằng Gene Abegg.”
Đây đó xuất hiện một vài ghi chú cảm tính rằng, nếu Buffett muốn nói một chút gì đó ngớ ngẩn về Công ty Washington Post, nơi ông đã nhận việc đi giao báo ở tuổi 13, hoặc về GEICO, công ty mà ông nhìn thấy lần đầu tiên vào năm 20 tuổi, thì bạn nên nhớ rằng cổ phần nắm giữ của Berkshire trong công ty đầu tiên đã tăng giá từ 11 triệu đô-la lên đến 103 triệu đô-la và trong công ty thứ hai đã tăng từ 47 triệu đô-la lên 310 triệu đô-la, cả hai chỉ trong một thập kỷ. Vì vậy, ông có thể nói những gì ông thích.
Rất vui là ông luôn phát biểu một cách hài hước. Ông viết: “Trong một động thái vội vàng đặc trưng, chúng tôi đã mở rộng đại bản doanh World Headquarters lên đến 24m2 (17%), trùng hợp với việc ký kết một hợp đồng thuê mới 5 năm.” Đại bản doanh của công ty ở Omaha gồm Buffett và 5 người khác. (“Một tổ chức nhỏ gọn cho phép tất cả chúng tôi dành nhiều thời gian để quản lý doanh nghiệp thay vì quản lý lẫn nhau.”)
Hầu hết các lá thư ngỏ từ chủ tịch mô tả mọi thứ đã diễn biến trôi chảy như thế nào, dưới mọi hoàn cảnh, với hy vọng rằng cổ đông sẽ mua cổ phiếu của họ. Buffett nhấn mạnh những điểm ngược lại, ông biết rằng cổ đông sẽ không bị thuyết phục như vậy.
Trong báo cáo gần đây nhất, ngay sau khi thấy rằng khoản tăng giá trị sổ sách trong 18 năm của Berkshire Hathaway đạt tỷ lệ tăng trưởng kép hằng năm là 22%, ông nói thêm: “Bạn có thể chắc chắn rằng tỷ lệ này sẽ giảm trong tương lai. Cuối cùng quá trình tăng trưởng theo cấp số nhân này rồi cũng sẽ chậm lại.” (Tất nhiên, ông đã đúng. Duy trì tỷ lệ này trong vòng 18 năm có nghĩa là tiếp tục tăng trưởng giá trị sổ sách đến 22 tỷ đô-la, và sau 18 năm nữa, đến gần 1 triệu đô-la cho một cổ phiếu.) Ngay cả khi nêu rõ khoản lợi nhuận trên giấy trong danh mục đầu tư của Berkshire Hathaway là trên 40% vào năm 1982, ông đã thận trọng để trừ đi các khoản thuế sẽ phải trả trước tiên nếu khoản lợi nhuận này được hạch toán.
Thật ra, giữ thái độ khiêm tốn và thẳng thắn khi nói về bản thân rất dễ trong trường hợp ngay cả một kẻ ngốc cũng thấy bạn tuyệt vời thế nào. Việc có thể làm một số đồng nghiệp của Buffett hơi khó chịu chính là trong thư ông không chỉ đề cập hiệu quả hoạt động và cả những sai lầm của mình, mà còn đánh giá thành tích của các nhà quản lý khác trong nước. Ông viết: “Có những dấu hiệu cho thấy rằng vào năm 1982 một số công ty bảo hiểm lớn đã lựa chọn cách kế toán sổ sách mập mờ và duy trì những thủ thuật giúp họ che dấu kết quả kinh doanh sụt giảm đáng kể. Trong ngành bảo hiểm, như những ngành nghề khác, hoạt động yếu kém là phản ánh của việc quản lý yếu kém và thường dẫn đến những bản báo cáo kế toán yếu kém.” Chủ đề định kỳ của ông: quyền của cổ đông, khi bị quá nhiều nhà quản lý khác lấn lướt.
Những nhà quản lý doanh nghiệp được nhiều người biết đã đấu tranh kiên cường để cưỡng lại những lời mời chào hào phóng và hấp dẫn. Còn các nhà quản lý được đánh giá là ít nhạy bén hơn thường trả quá nhiều tiền mua bán sáp nhập để tăng trưởng. Buffett chế giễu một cách hài hước “Các nhà quản lý muốn mở rộng lãnh địa của họ bằng tiền của cổ đông tốt hơn hết nên làm việc cho chính phủ.” Theo quan điểm của ông, việc này thậm chí còn tồi tệ hơn khi vụ mua lại được thực hiện bằng cổ phiếu, bởi vì cổ phiếu của bên mua thường được bán trên thị trường với giá ưu đãi so với giá trị thật của nó. “Bên mua lại – những người vẫn bất chấp lao về phía trước hiện đang sử dụng cổ phiếu được định giá thấp hơn so với giá trị thật của họ để mua một tài sản nguyên giá… Những nhân viên tư vấn đầu tư thân thiện của ngân hàng sẽ trấn an họ về quyết định đúng đắn này. (Đừng đi hỏi anh thợ cắt tóc rằng bạn có cần cắt tóc hay không.)”
Khi xem xét khoản phí khổng lồ cần để mua tất cả cổ phần của một công ty, chiến lược của Buffett chính là mua lại một phần. Trong trường hợp một công ty khác ra giá 48 đô-la một cổ phiếu để mua lại toàn bộ cổ phiếu của công ty vốn bán ra ở mức 25 đô-la một cổ phiếu vào ngày hôm trước, Buffett sẽ sẵn lòng lặng lẽ mua với giá 25 đô-la. Ông thừa nhận, “Điều thực sự làm cho chúng tôi vui mừng,”chính là mua lại 100% doanh nghiệp với một mức giá tốt, nhưng việc này hết sức khó khăn. Và do đó, vào cuối năm công ty Berkshire Hathaway đã sở hữu một lượng cổ phiếu Blue Chip Stamps (60%), GEICO (35%), General Foods (4%), nhà chế tạo kim loại quý Handy & Harman (17 %), RJ Reynolds (2,7%), Interpublic (15%), Ogilvy & Mather (9%), Time Inc., nhà xuất bản của tạp chí Fortune (2,7%) và Washington Post (13%) ngoài các cổ phần khác.
Thu nhập được báo cáo của Berkshire Hathaway bao gồm cổ phần sở hữu trên lợi nhuận của Blue Chip Stamps – công ty đang được sáp nhập vào chung với Berkshire – nhưng chỉ bao gồm thu nhập cổ tức của các công ty khác trong danh mục đầu tư. Vì vậy, mỗi năm Buffett phải nhắc nhở các cổ đông rằng lợi nhuận báo cáo đã loại trừ một phần lớn sức mạnh kiếm tiền thực sự của tập đoàn. “Đây không phải là lời chỉ trích các quy trình kế toán”, ông vội vã bổ sung.
“Chúng tôi không muốn nhận việc thiết kế một hệ thống tốt hơn. Chỉ đơn giản là các nhà quản lý và nhà đầu tư cũng phải hiểu rằng những con số kế toán chỉ là điểm khởi đầu, chứ không phải là điểm kết thúc, của quá trình thẩm định giá trị doanh nghiệp.”
Than phiền về sự phức tạp của quy trình kế toán, ông tiết lộ rằng “người da đỏ Yanomamo sử dụng chỉ 3 con số: 1, 2 và nhiều hơn 2. Có thể thời hoàng kim của họ sẽ đến.”
Do tầm quan trọng ngày càng tăng của những cổ phần chưa được bao gồm của tập đoàn, Buffett lập luận rằng hiện đã không còn thích hợp để các cổ đông đánh giá hiệu suất Berkshire bằng tỷ lệ của thu nhập báo cáo trên vốn chủ sở hữu, điều mà đến gần đây ông đã khuyên họ nên làm. Nhưng sau đó ông nói thêm: “Bạn nên nghi ngờ lời khẳng định như vậy. Thước đo này ít khi được gạt bỏ vì nó đem lại nhiều bài học bổ ích. Nhưng khi kết quả sụt giảm, hầu hết các nhà quản lý chọn thay đổi thước đo chứ không phải thay đổi từ nhà quản lý. Đối với những nhà quản lý phải đối mặt với sự sụt giảm như vậy, có một hệ thống đo lường linh hoạt hơn dành cho họ: bắn các mũi tên thành tích kinh doanh vào khung vải trống và sau đó cẩn thận vẽ hồng tâm tại điểm mũi tên cắm trên vải. Chúng ta thường tin tưởng vào các điểm hồng tâm nhỏ được vẽ sẵn, có thể tồn tại lâu dài.”
Một trong những điểm hồng tâm ông cho rằng không có gì ấn tượng là việc loan báo rộng rãi việc đạt được “lợi nhuận trên báo cáo”. Ông giải thích, “Sau tất cả, thậm chí một tài khoản tiết kiệm hoàn toàn không có giao dịch cũng sẽ đem lại thu nhập lãi suất tăng cao đều đặn mỗi năm do lãi kép.”
Không có gì ngạc nhiên khi Buffett ủng hộ quyền lợi của cổ đông; ở tuổi 52, bản thân ông từ lâu đã là một cổ đông chuyên nghiệp. Đến gần đây số cổ phiếu ông và vợ nắm giữ ở Berkshire Hathaway có trị giá 460 triệu đô-la, và bản thân Berkshire Hathaway chủ yếu kiếm tiền bằng cách sở hữu cổ phần của các công ty khác nhau.
Tác giả Jerry Goodman, trong cuốn Supermoney (tạm dịch: Siêu tiền) đã viết về Buffett như “một nhà quản lý đầu tư nổi bật của thế hệ”, ông cũng chú thích rằng công ty hợp danh được Buffett thành lập vào năm 1956 – và có tầm nhìn chiến lược khi đóng cửa vào năm 1969 – đã đạt mức tăng trưởng kép hằng năm là 31%. Goodman viết, “Điều đáng chú ý hơn chính là ông đã thực hiện việc này theo triết lý của thế hệ khác, hoàn toàn là triết lý của Benjamin Graham, được áp dụng với sự nhất quán tuyệt đối.” Nhà đầu tư quá cố Benjamin Graham là tác giả của cuốn The Intelligent Investor (tạm dịch: Nhà đầu tư thông minh), tái bản gần như liên tục kể từ năm 1949. Buffett chọn Graham là một người cố vấn cho ông (và, nhiều năm sau, Graham đã chọn Buffett giúp ông rà soát lại cuốn sách của mình).
Mặc dù Graham và Buffett không đồng thuận ý kiến về tất cả mọi thứ, nhưng nhận thức chung của họ là mua các tài sản với giá rẻ tới mức để theo thời gian họ khó có thể thua lỗ. Cách tiếp cận này đòi hỏi một trí tuệ đẳng cấp và khả năng làm việc chăm chỉ. Buffett viết: “Thị trường chứng khoán, như đức Chúa Trời, chỉ cứu rỗi những người biết giúp đỡ chính bản thân họ. Nhưng, không giống như Chúa Trời, thị trường này sẽ không tha thứ cho những người không biết họ phải làm gì.”
Chiến lược mua lại một phần của Buffett rất có lý vì các công ty đang bán cổ phiếu của họ trên thị trường với mức giá giảm đáng kể so với giá trị thật như những doanh nghiệp vẫn đang hoạt động, nhưng chiến lược này lại không hợp lý cho lắm khi theo chu kỳ, thị trường tăng giá vọt lên tận cung trăng. Vào năm 1972, trong khi Avon và các công ty còn lại bán ra cổ phiếu ở mức giá gấp 60 lần thu nhập, chỉ 15% danh mục đầu tư của Berkshire là đổ vào chứng khoán, so với mức 80% vào cuối năm 1982.
Ông viết, “Trong năm 1982 cũng có nhiều doanh nghiệp hoạt động tốt như vào năm 1972 nhưng cái giá mà thị trường trả cho những doanh nghiệp này vào năm 1972 thật nực cười.” Nếu giá cả của thị trường chứng khoán tiếp tục leo thang, ông cảnh báo, “khả năng sử dụng hiệu quả nguồn vốn ở vị thế sở hữu một phần của Berkshire sẽ sụt giảm hoặc bị tước mất. Hiện tại chúng tôi đang nhìn thấy những dấu hiệu đầu tiên của vấn đề này.” (Chết tiệt – lại một thị trường theo chiều giá lên.)
Một vấn đề mà tất cả các lá thư từ Buffett đều đề cập chính là tình hình hoạt động ngành công nghiệp bảo hiểm tài sảntai nạn – lĩnh vực kinh doanh chính của ông. Ông viết: “Trong phần lớn thế kỷ, hầu hết những công ty trong ngành công nghiệp này bắt buộc phải sử dụng một hệ thống các giá bán được quản lý hợp pháp đề ra bởi những nhà quản lý bảo hiểm. Mặc dù có sự cạnh tranh về giá cả nhưng nó không phổ biến trong các công ty lớn.” Buffett cho biết thời điểm lý tưởng đó đã qua rồi. “Tuy vài phần của cơ cấu cũ vẫn còn… nhưng cơ chế mới đã sẵn sàng sử dụng chiến lược giá như một vũ khí cạnh tranh quan trọng. Thậm chí, nó còn thích việc này. Trong quá trình đó, khách hàng đã nhận ra rằng bảo hiểm không còn là ngành kinh doanh một giá. Họ sẽ không quên.”
Đó là kế hoạch của Buffett để chịu đựng khối lượng giao dịch cổ phiếu thấp trong khi chờ đợi những cú rung lắc mạnh giúp giá cổ phiếu tạo nền mới ổn định.
Qua mỗi lá thư, ông càng kém tự tin hơn về những triển vọng của ngành công nghiệp dệt may – một ngành kinh doanh đòi hỏi vốn lớn ở những giai đoạn nguồn cung thắt chặt, và do đó những mức giá phải chăng chỉ hiếm hoi xuất hiện (sau đó chỉ tồn tại trong “hơn nửa buổi sáng”). Tuy nhiên, ngoài sự trung thành của ông với nhân viên, và có lẽ là ngoài sự lưu luyến nhất định về nguồn gốc của Berkshire, Buffett kiên định từ chối rời bỏ ngành kinh doanh của ông. Những hành động trên có vẻ coi thường lợi ích của cổ đông Berkshire – chỉ khi, với 47% cổ phần công ty, thực ra Buffett có khả năng tự mình kêu gọi một lượng lớn phiếu bầu cho chính sách này, hoặc bất kỳ chính sách nào khác. Mặc dù vậy, ông trấn an các cổ đông của mình rằng đây không phải là loại hình kinh doanh ông sẽ hăng hái tham gia trong tương lai.
Trong những dòng cuối cùng trên những lá thư của Buffett là một bài thông báo ngầm về các loại doanh nghiệp họ muốn mua. Nó nói lên rất nhiều về cách Warren Buffett điều hành. Buffett thông báo Berkshire Hathaway đang tìm kiếm các doanh nghiệp lớn và hoạt có hoạt động kinh doanh dễ hiểu (“còn nếu là doanh nghiệp về công nghệ, chúng tôi sẽ không thể hiểu rõ”) có khả năng thu lợi nhuận ổn định, ít nợ, có sẵn bộ phận quản lý (“vì chúng tôi không thể cung cấp người quản lý”), và một mức giá chào bán (“chúng tôi không muốn lãng phí thời gian của chúng tôi hoặc của người bán bằng cách nói chuyện, thậm chí là tìm hiểu sơ bộ, khi vẫn chưa biết giá cả là bao nhiêu”). “Chúng tôi sẽ không tham gia vào các giao dịch không thân thiện. Chúng tôi có thể hứa bảo mật hoàn toàn và đáp lại nhanh chóng trước những thắc mắc – thường là chỉ trong 5 phút.”
Viết một lá thư gửi cổ đông thú vị sẽ giúp bạn nảy sinh những ý tưởng thú vị trên cương vị chủ tịch. Buffett đang tiếp tục đổi mới phong cách trong kinh doanh cũng như trong văn phong.
Bạn có thể đánh bại thị trường chứng khoán?
Ngày 26 tháng 12 năm 1983
Daniel Seligman
Bài viết này khắc họa sắc sảo giả thuyết thị trường hiệu quả (EMH – Efficient Market Hypothesis1) cho rằng “con người không thể đánh bại thị trường chứng khoán”. Vì vậy, đối với tất cả những ai tin vào giả thuyết này thì thành tích đầu tư đáng kể của Buffett trong một thời gian dài thật phi lý. Các tín đồ của trường phái này thông thường sẽ phản ứng rằng Buffett chỉ đơn giản là gặp may – một sự may mắn lạ thường.
Mặc dù tên tuổi của Buffett được biết đến nhiều hơn, nhưng ông được đánh giá là một nhà đầu tư “bất thường” với những thành tích tuyệt vời không thể giải thích bằng phương pháp ngẫu nhiên. Định kiến này không làm phóng viên tờ Fortune Dan Seligman, người đã viết bài báo lo lắng. Người thầy và người bạn thân của tôi, Seligman, bị thu hút bởi thuyết EMH – ông đã để lộ sự yêu thích này qua bài báo – và rất mong giả thuyết được chứng minh là đúng. Nhưng lòng trung thực và khả năng nắm bắt tin tức của ông cho thấy rằng ở đây có một câu chuyện ly kỳ, và chưa được biết đến, nên ông bắt tay vào viết về nó.
Chúng tôi đã không in lại toàn bộ bài viết, mà chỉ in đoạn mở đầu, phần chính của bài và một chú thích đính kèm khắc họa chân dung Buffett và 3 người bạn lâu năm của mình, Charlie Munger, Bill Ruane và Walter Schloss quá cố. Bạn có thể đọc trực tuyến toàn bộ bài báo; nhưng hãy chuẩn bị tinh thần trước rằng về cơ bản bài báo đã mô tả lại một giả thuyết đã được “cất tủ”, vì phần lớn của thuyết EMH này đã không còn được sử dụng.
Có một tái bút quan trọng trong bài báo: Đại học Columbia đã tổ chức một cuộc tranh luận vào tháng 5 năm 1984 về thuyết EMH, và đã đề cử Buffett so tài với giáo sư tài chính Michael Jensen ở Đại học Kinh doanh Rochester nổi tiếng. Là người phát biểu đầu tiên, Jensen khẳng định lòng tin mạnh mẽ của ông về thuyết EMH, viện dẫn những lý do thuyết phục, sau đó kết thúc bằng cách đặc biệt nhắc đến bài viết trên tạp chí Fortune như một “bài đánh giá xuất sắc” về EMH. Ông cho biết thật sai lầm khi nghĩ rằng các thành tích đầu tư nổi bật của Buffett và 3 người bạn khác hiển nhiên là nhờ kỹ năng của họ. Theo thống kê trích dẫn xác suất “lật đồng xu”, ông nói họ có thể đạt được những thành tích này một cách dễ dàng là nhờ may mắn.
Buffett cho biết không phải như vậy, khi nhận ra ông đã bị lôi vào cuộc tranh luận mà ông đã lên kế hoạch cho nó. Buffett đã thêm 5 “chuyên gia tung đồng xu” vào chung nhóm gồm ông và 3 nhà đầu tư khác nêu trên. Ông đặt tên nhóm 9 thành viên của mình là Những nhà Đầu tư Siêu việt của Graham-và-Doddsville. Theo lời giải thích và mô tả của ông thì từng người một trong tất cả 9 người có chung một “người cha trí tuệ” là chuyên gia đầu tư nổi tiếng kiêm tác giả Ben Graham, người tin rằng các nhà đầu tư nên tìm ra sự khác biệt giữa giá trị của một doanh nghiệp và giá từng phần nhỏ của doanh nghiệp đó trên thị trường.
Tuy nhiên, Buffett cho biết, 9 nhà đầu tư này đã đạt thành tích bằng những cách rất khác nhau, với rất ít cổ phiếu trùng nhau trong danh mục đầu tư của họ. Nói cách khác, họ là cư dân của cùng một “làng trí tuệ”, nhưng cách họ hoạt động kinh doanh thì khác nhau. Buffett cho rằng nếu nói họ đạt được các thành tích ưu việt là nhờ “may mắn” thì rất vô lý.
Theo dõi cuộc tranh luận, tôi cảm thấy rằng Buffett đã chiến thắng thuyết phục trước Jensen, quả thực kết luận chung cuộc cũng giống với quan sát này của tôi. Buffett tự thấy rằng trong số tất cả các bài thuyết trình bằng văn bản và bằng miệng ông đã thực hiện, bài thuyết trình này có lập luận hợp lý nhất và vì vậy hoàn hảo nhất. (“Những nhà Đầu tư Siêu việt của Graham-và-Doddsville” có thể được xem trên Internet.) – CL
1. Giả thuyết thị trường hiệu quả (Efficient Market Hypothesis): Là một giả thuyết của lý thuyết tài chính khẳng định rằng các thị trường tài chính là hiệu quả, rằng giá của chứng khoán trên thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường chứng khoán, phản ánh đầy đủ mọi thông tin đã biết. Do đó không thể kiếm được lợi nhuận bằng cách căn cứ vào các thông tin đã biết hay những hình thái biến động của giá cả trong quá khứ. Có thể nói một cách ngắn gọn là các nhà đầu tư không thể khôn hơn thị trường.
Hầu hết những người quan tâm đến thị trường chứng khoán đều được phân vào 1 trong 3 nhóm: (1) những học giả hàn lâm nghi ngờ liệu có ai thật sự biết cách để đánh bại thị trường; (2) các nhà đầu tư chuyên nghiệp phẫn nộ bác bỏ quan điểm trên; và (3) các nhà đầu tư nghiệp dư cũng tin rằng bạn có thể đánh bại thị trường nhưng không nhận ra giả thuyết này có thể gây tranh cãi thế nào. Từ lâu tôi thuộc về nhóm đầu tiên, và tôi đã cho rằng lập luận của nhóm này rất chặt chẽ cho đến khoảng năm ngoái.
Các giáo sư dường như đã dựng lên một ví dụ hơi quá cho cái gọi là giả thuyết thị trường hiệu quả (EMH). Nếu bạn nghĩ giả thuyết này như một bản mô tả chân thực về thế giới, thì thị trường chứng khoán không thể bị đánh bại bởi con người. Câu hỏi đặt ra: Thuyết EMH gần với thực tế đến mức nào? Sau khi nghiên cứu lại trường hợp kinh điển để xây dựng lên trường phái này trong các trường kinh doanh đồng thời xem xét một số những phát hiện có vẻ không nhất quán với giả thuyết này mới đây, câu trả lời của riêng tôi là thuyết EMH cực kỳ hữu ích cho việc tìm hiểu về thị trường cổ phiếu – tuy nhiên tôi không chắc liệu giả thuyết này có gần với thực tế như tôi từng tin hay không. Ngoài kia một số nhà đầu tư lão luyện dường như đang đánh bại thị trường một cách có hệ thống…
Giống như rất nhiều người hâm mộ giả thuyết EMH, tôi đã hoang mang trước sự gia tăng của những “điều bất thường” – đây là thuật ngữ yêu thích của nhà nghiên cứu để chỉ các tin tức về thị trường chứng khoán có thể đi ngược lại với giả thuyết này…
Một điều bất thường đáng lo ngại chính là các thành tích đặc biệt của những nhà đầu tư nhất định có tầm nhìn xa. Thành tích của một nhóm các nhà đầu tư gắn bó chặt chẽ với nhau, trong đó Warren Buffett được biết đến nhiều nhất, được trình bày dưới đây. Buffett nhận thức rất rõ việc thành tích đầu tư của ông ảnh hưởng đến giả thuyết thị trường hiệu quả đến mức nào. Ông tin rằng trên thị trường tồn tại những “chiếc túi chưa hiệu quả” có thể được khai thác, và ông đã từng tranh luận về trường hợp của mình trong những lần xuất hiện tại trường kinh doanh Stanford, trước hội đồng tư vấn của trường nơi ông phục vụ. Phát biểu trước hội đồng, giáo sư William F. Sharpe của Stanford, một trong những ngôi sao hàn lâm của trường và là tác giả của một cuốn sách giáo khoa phổ biến ủng hộ mạnh mẽ giả thuyết EMH, từng gọi Buffett là một “trường hợp 5 sigma”. Trong tiếng lóng của trường kinh doanh, mức so sánh cao nhất này có ý nghĩa là thành tích đầu tư của ông có 5 độ lệch chuẩn trên trung bình; nếu đúng theo nghĩa đen – không ai khẳng định điều này – độ lệch chuẩn cho chúng ta biết xác suất để tình cờ đạt được kỷ lục đầu tư Buffett chỉ là 1 phần 3,5 triệu.
BẠN CHỈ CÓ THỂ CHỌN 3 VÀ 0
Bài viết phụ của Daniel Seligman
Về nguyên tắc, theo giả thuyết thị trường hiệu quả, không ai có thể đánh bại thị trường chứng khoán một cách hệ thống. Khi áp dụng giả thuyết EMH vào trường hợp của Warren Buffett, Charles Munger, William Ruane và Walter Schloss, bạn sẽ gặp 3 khó khăn: (1) tất cả họ đều có thành tích vượt trội hơn thị trường trong thời gian dài; (2) họ đạt thành tích trong khi thị trường tăng giá và xuống giá, vì vậy khó mà nói rằng lợi nhuận của họ cao hơn phản ánh mức rủi ro lớn hơn; và (3) cả 3 đều theo đuổi chiến lược đúc kết từ ý tưởng của Benjamin Graham, nên khó mà cho rằng thành tích của họ là ngẫu nhiên. Buffett, Ruane và Schloss cùng theo học với Graham, và cả 4 người bao gồm Gramham đều bị ảnh hưởng bởi cuốn sách kinh điển của ông Security Analysis (tạm dịch: Phân tích Chứng khoán), được ông viết cùng với David L. Dodd và xuất bản lần đầu vào năm 1934. Ý tưởng cốt lõi của Graham chính là: tìm các công ty được định giá thấp vì một số lý do và giữ các cổ phiếu cho đến khi thị trường nhận ra được giá trị của nó. Rõ ràng là các công ty như vậy rất khó tìm. Nói như Buffett, “Bạn chờ đợi đến lượt ném bóng 3 và 0.” Một ví dụ về phần thưởng bạn đạt được bằng cách chờ đợi: Công ty Washington Post vào năm 1974 có giá trị thị trường là 80 triệu đô-la và riêng đài truyền hình của nó có giá trị nhiều hơn thế. Hiện nay giá trị thị trường của công ty vào khoảng 1 tỷ đô-la, và Berkshire Hathaway của Buffett đang sở hữu 13% cổ phần.
Buffett đã không còn chính thức tham gia vào việc quản lý tài chính cho các doanh nghiệp của ông từ năm 1969, khi ông giải tán công ty hợp danh TNHH Buffett sau gần 14 năm hoạt động. Một lý do cho việc giải thể: Buffett đã ngừng tìm kiếm các cổ phiếu được định giá thấp. Trong suốt thời gian hoạt động công ty hợp danh Buffett có tỷ lệ lợi nhuận trung bình hằng năm là 29,5%, so với mức 8,2% của chỉ số S&P 500 (Giống như các số liệu dưới đây, những con số này giả định mức tái đầu tư cổ tức hằng năm.)
Công ty hợp danh của Charles Munger (Wheeler Munger & Co.) hoạt động trong giai đoạn 1962-1975. Nó có mức lợi nhuận trung bình là 19,8%, so với 5,3% của chỉ số S&P 500. Bill Ruane điều hành Quỹ Sequoia vô cùng thành công, quỹ lần đầu tiên ra mắt công chúng vào tháng 7 năm 1970 và kể từ đó đã có lợi nhuận trung bình là 18,6%, so với 10,6% của chỉ số S&P. Hiện Quỹ Sequoia sở hữu 333 triệu đô-la tài sản và đã tạm ngưng mở bán cho các nhà đầu tư mới vì theo Ruane thì “lợi nhuận đến nhanh hơn tôi nghĩ”.
Quỹ hợp danh tư nhân do Walter Schloss điều hành từ năm 1956 đã có mức lợi nhuận trung bình là 21,3%, so với 8,7% của chỉ số S&P. Trong một bức thư đầy cảm xúc gửi đến đối tác của mình gần đây, Schloss bày tỏ sự ngưỡng mộ Graham và cuốn Phân tích Chứng khoán, vì “đã giúp đỡ nhiều người trong chúng tôi trên chặng đường chông gai.”
Bản đầy đủ của bài báo “Bạn có thể đánh bại thị trường chứng khoán?” có thể được xem tại fortunecombuffettbook.