Ngày 11 tháng 8 năm 2003
Jerry Useem
Bài viết này bắt đầu với một mô tả về trận đánh golf ở Sun Valley vào tháng 7 năm 2003 mà người viết nghĩ rằng có thể đã thiết lập “một kỷ lục mới về sức mạnh kinh tế tổng thể”. Các đấu thủ gồm: “Giám đốc Điều hành một công ty lớn nhất thế giới, nhà đầu tư thành công nhất thế giới và người giàu nhất thế giới. Hãy tưởng tượng tất cả những người này nhồi nhét lên một chiếc xe chở khách chơi golf chạy bằng pin và bạn đang nhìn thấy một bức tranh rõ ràng để bắt đầu câu chuyện Quyền lực này.”
Lướt qua khoảng một tá trích đoạn về ý nghĩa của quyền lực để đến với đoạn các biên tập thảo luận về việc ai sẽ là người đầu tiên trong danh sách. Chúng tôi trích lại một số đoạn văn trong bài báo: – CL
Sau nhiều tháng thảo luận nội bộ về danh sách quyền lực, có hai điều đã rõ ràng: đầu tiên, quyền lực là một chủ đề thực sự sâu sắc; thứ hai, bất kỳ danh sách nào chúng tôi xuất bản đều có thể kích động những lời la ó phản đối và phản biện tràn ngập văn phòng của chúng tôi… Tuy nhiên, trong một khu vực, một sự kỳ thị lạ lùng đã nổ ra. Khi quyết định vị trí cao nhất của danh sách, có một cái gì đó gần với sự nhất trí. Trên thực tế, chúng tôi đã thu hẹp danh sách 3 đối thủ hàng đầu. Chính là bộ ba, những người tình cờ (có bàn tay sắp đặt của Thần thánh ở đây), đồng ý tham gia chơi golf tại Sun Valley.
Chúng tôi có 3 đối thủ lớn nhất. Và câu hỏi chính là: Ai sẽ là thủ lĩnh? Không có cuộc tranh luận nào về việc ai đang điều hành công ty vững mạnh nhất. Walmart của Lee Scott đang định hình lại khoảng 20 ngành công nghiệp cùng một lúc và có thể sẽ hội đủ điều kiện được một ghế trong Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nếu thành viên trong cơ quan này không bị giới hạn ở phạm vi “các quốc gia”. Tuy nhiên, Scott có thể là người có thể thay thế nhất trong bộ ba. Bill Gates, như một người lãnh đạo trong một công ty có năng lực trí tuệ, vẫn là Ngài Microsoft, và giống như Huck Finn từng nói, ông có quyền lực của lượng tiền lớn đi kèm. Tuy nhiên, quỹ tài chính trị giá 46 tỷ đô-la của tập đoàn này hiện chỉ là một nguồn lực tiềm ẩn, chưa được sử dụng, trừ khi tập đoàn tìm thấy những cách thức thay đổi mới để tận dụng nó. Trong thời gian gần đây, Microsoft đã chuyển nó cho các nhà đầu tư dưới dạng cổ tức.
Và giờ là tay golf thứ 3 của chúng tôi. Bên cạnh việc giám sát một đế chế với tên gọi Berkshire Hathaway, Warren Buffett đã tham gia vào những công ty quan trọng (Coca-Cola, Gillette, Washington Post) và tài sản cá nhân của ông đứng thứ hai chỉ sau Gates. Nhưng thực tế đáng chú ý nhất về Buffett có thể đến từ một cuộc khảo sát gần đây của Đại học Duke về các Thạc sĩ Kinh doanh. Sau cha của họ, người mà các thạc sĩ tốt nghiệp ngưỡng mộ nhiều nhất, hơn cả Tổng thống, hơn Đức Giáo hoàng, hơn cả nhà chính trị của Ấn Độ Gandhi, chính là Warren Buffett. Tầm quan trọng vượt trội mang lại cho ông ấy khả năng thuyết phục tinh thần, và việc ông sử dụng khả năng này rất dè sẻn đã làm nó thêm mạnh mẽ. Đó là khả năng định hình hành vi của những người ở rất xa chỉ bằng những lời nói của ông, tố chất này càng làm giàu thêm hình ảnh của Buffett như một Lãnh Chúa không chính thức của chế độ tư bản Mỹ.
Ông ấy có trong tay hòn đá, cái kéo và mảnh giấy. Và giờ đây ông ấy có một thứ khác: vị trí hàng đầu trong danh sách của chúng tôi.
Doanh nhân quyền lực nhất: Warren Buffett
Ngày 11 tháng 8 năm 2003
Andy Serwer
Doanh nhân quyền lực nhất ở Mỹ nổi tiếng về những phát biểu khiêm tốn về địa vị của ông. Chắc chắn Warren Buffett thích một vài đặc quyền của việc là người giàu thứ hai trên thế giới, chẳng hạn như bay vòng quanh trên một trong những chiếc máy bay Netjet của ông và chơi bài bridge với bạn bè (và với nhân vật thứ 2 trong danh sách của chúng tôi, Bill Gates). Tuy nhiên, phần lớn thời gian, người đàn ông 72 tuổi này gạt bỏ ý nghĩ rằng ông là một hình tượng kinh doanh của Mỹ. “Nó thực sự chỉ có nghĩa là nếu tôi thực hiện một việc gì đó ngu ngốc, tôi có thể thực hiện nó trên một quy mô rất lớn,” ông nói với nụ cười đặc trưng của mình. “Điều này có nghĩa là bạn có thể thêm rất nhiều số không vào số tiền thua lỗ.”
Không có nhiều vụ thua lỗ xảy ra. Công ty của Buffett, Berkshire Hathaway, đã trở thành một đế chế Mỹ, với lãi suất hàng tỷ đô-la trong mọi thứ từ bảo hiểm – nơi Buffett là một trong những thủ lĩnh hàng đầu thế giới – đến báo chí, thảm và giày cao bồi. Buffett đã chứng tỏ mình là nhà đầu tư vĩ đại nhất thế giới với lợi nhuận kép hằng năm là 21% trong vòng 15 năm trở lại đây (so với con số 11% của thị trường). Như vậy, ảnh hưởng của ông đối với chứng khoán và thị trường là vô song. Tin về việc Buffett đang mua hoặc bán số cổ phiếu nhất định nào đó (có thể là thực tế hoặc giả sử) sẽ làm cổ phiếu dao động như một quả bóng, đó là lý do tại sao ông ấy rất cảnh giác khi thảo luận về đầu tư.
Báo cáo thường niên cho các cổ đông, một trong số ít những nơi ông chia sẻ về đầu tư là bản tin truyền thông từ một Giám đốc Điều hành được đọc rộng rãi nhất trên thế giới. Khi cựu Tổng thống Trung Quốc Giang Trạch Dân thảo luận về bí ẩn của thị trường chứng khoán Mỹ với Bill Gates, Bill Gates nói với ông rằng chỉ có một người hiểu rõ điều đó là Warren Buffett. Gates nói thêm rằng khi ông trở lại Mỹ, ông sẽ gửi bản báo cáo thường niên gần đây nhất của Buffett cho Gandhi. Và Gates đã làm vậy. (Không có thông tin liệu hiện nay Gandhi có đang nắm giữ cổ phiếu trường của Berkshire hay không.)
Hơn thế nữa, không nghi ngờ gì về việc Buffett là doanh nhân được trông đợi nhất thế giới từ các giám đốc điều hành khác, những người muốn được chỉ dẫn. Buffett nói rằng, “Các giám đốc điều hành được vây quanh bởi những người đang được trả lương. Tôi không nhận gì cả, bởi vậy tôi có thể đưa cho họ những lời khuyên không thiên vị”. Trong 5 năm qua, hàng chục giám đốc điều hành đã đến Omaha để thăm nhà hiền triết, bao gồm Jeff Immelt của General Electric (đứng thứ 7 trong danh sách của chúng tôi). Immelt nói, “Tôi đã ở đó vài lần để trò chuyện với ông ấy và thưởng thức bò bít tết. Ông ấy là nhà đầu tư khôn ngoan nhất thế giới, và tôi đang cố gắng để hiểu được trí tuệ của ông.”
Quốc hội Mỹ cũng dựa vào những lời của Buffett. Vào ngày 20 tháng 5, chỉ vài ngày trước khi các nhà lập pháp bỏ phiếu cho dự luật thuế của Bush, Buffett đã viết một bài báo trên tờ Washington Post chỉ ra sự dại dột của việc loại bỏ thuế đối với cổ tức. Buffett lập luận rằng việc cắt giảm thuế đa phần chỉ có lợi cho người giàu có. Những từ ngữ mạnh mẽ đến từ Buffett đủ hùng hồn để thuyết phục một số thành viên Quốc hội giảm bớt hiệu lực của việc cắt giảm thuế.
Khá đơn giản, Buffett được tôn trọng và ngưỡng mộ nhiều hơn bất cứ doanh nhân nào khác, không chỉ bởi những doanh nhân khác trong kinh doanh mà còn bởi công chúng. Hiện tại, đó chính là sức mạnh. – Andy Sewer
Bài báo đầy đủ về Quyền lực, bao gồm tất cả 25 người được liệt kê, có thể được xem tại Fortunecombuffettbook.
Thâm hụt mậu dịch ngày càng tăng ở Mỹ đang làm chúng ta mất nước. Có một cách để sửa chữa rắc rối này – chúng ta cần thực hiện ngay!
Ngày 10 tháng 11 năm 2003
Warren Buffett & Carol Loomis
Bài báo này của Buffett, với một tiêu đề chắc chắn đã lập nên kỷ lục mới về độ dài trên tờ Fortune, than phiền về tình trạng thâm hụt mậu dịch ở Mỹ và đề xuất một ý tưởng mang phong cách Buffett,“giấy phép nhập khẩu1”, để cân bằng nhập khẩu và xuất khẩu. Vừa sáng tạo vừa thấu đáo, ý tưởng này đã thu hút sự quan tâm ở Washington, ví dụ như hai Thượng nghị sĩ Ted Kennedy và Joe Biden. Thậm chí ngay cả hiện nay, tuy Buffett không còn ủng hộ cho ý tưởng này nữa, thỉnh thoảng ông vẫn nhận được e-mail từ những người ngưỡng mộ sáng kiến này của ông và muốn biết làm thế nào để thực hiện nó.
Nhưng nhìn chung, ý tưởng của Buffett đã không được ủng hộ. Chắc chắn nó không được các nhà kinh tế hoan nghênh: Gần như tất cả họ đều là những người ủng hộ thương mại tự do, căm ghét hạn ngạch và tất cả những gì có thể gây khó khăn cho thị trường khi nó thực hiện phép màu Adam Smith1 của mình. Bản thân Charlie Munger, một người theo chủ nghĩa truyền thống, cũng không đồng tình với kế hoạch của Buffett khi ông tình cờ biết đến nó trong tờ tạp chí Fortune mới mà tôi tận tay đưa cho ông khi tới thăm vợ chồng ông ở California (vợ ông nay đã qua đời). Ông ngay lập tức đọc bài báo từ đầu đến cuối, sau đó nói rằng, “Dĩ nhiên Warren đã đúng khi ghê tởm thâm hụt mậu dịch. Tuy nhiên, giá mà ông ấy đừng gây chú ý theo cách này thì tốt hơn.”
Tuy vậy, đúng như sự chắc chắn của Buffett, các vấn đề mà ông đã chỉ ra vào năm 2003 đã trở nên tồi tệ hơn. Thâm hụt mậu dịch của Mỹ năm đó vào khoảng 500 tỷ đô-la. Trong giai đoạn 5 năm tiếp theo đó, mỗi năm con số này lại tăng lên từ 100 tỷ đô-la đến 250 tỷ đô-la, và chỉ giảm xuống mức dưới 500 tỷ đô-la vào năm 2009 khi cuộc khủng hoảng tín dụng khiến các công dân Mỹ sợ hãi đến mức họ phải ít nhất là tạm thời cắt giảm việc mua sắm hàng hóa vì lãi suất tiết kiệm tăng lên. Sau năm 2009, thâm hụt mậu dịch bắt đầu tăng lên. Mức độ của nó trong năm 2012 là 535 tỷ đô-la.
Ngày nay, mặc dù Buffett chỉ nói về ý tưởng giấy phép nhập khẩu khi được hỏi, nhưng ông vẫn cho rằng nó có giá trị. Ông bổ sung thêm rằng các ý tưởng khác nhằm cân bằng xuất khẩu và nhập khẩu cũng có thể có hiệu quả. Nói với giọng đầy niềm tin, ông cho biết: “Nhưng bằng cách nào đó chúng ta phải cân bằng. Tình hình thâm hụt khổng lồ hiện nay đơn giản là không thể chấp nhận được.”
Phần đầu của bài báo cho biết Buffett đã đưa Berkshire vào sân chơi ngoại tệ – đây là lần đầu tiên ông thực hiện giao dịch đổi nghịch đồng đô-la; và ông báo cáo định kỳ về tình hình khoản đặt cược này trong vài năm sau đó. Ông kết thúc câu chuyện này vào đầu năm 2006 khi tuyên bố Berkshire đã kiếm được khoảng 2,2 tỷ đô-la giao dịch ngoại hối và đã bán gần như tất cả các vị thế của mình. Đó không phải vì ông dự đoán đồng đô-la sẽ mạnh lên – thực ra ông nói rằng nó có thể sẽ suy yếu, và quả thật nó đã sụt giảm một lượng lớn – mà vì sự chênh lệch lãi suất giữa các quốc gia đã thay đổi và làm giảm tính hấp dẫn của các khoản đầu tư trực tiếp vào ngoại tệ. Theo Buffett, việc đầu tư tiền của Berkshire vào các công ty đang kiếm được nhiều lợi nhuận ở nước ngoài sẽ là một chiến lược tốt hơn cho tương lai.
Chỉ vài tháng sau, tuyên bố đó đã có thông tin cập nhật: lần đầu tiên Berkshire mua lại một công ty nước ngoài có tên là Iscar, nhà sản xuất dụng cụ cưa cắt của Israel đang tạo ra gần như toàn bộ lợi nhuận ở bên ngoài nước Mỹ. Cổ phần ban đầu của Berkshire trong Iscar khi mua lại công ty này vào năm 2004 là 80%, được mua với giá 4 tỷ đô-la. 9 năm sau, vào năm 2013, Berkshire đã mua 20% còn lại của công ty này với giá 2,05 tỷ đô-la. Hai mức giá mua này cho thấy tổng giá trị của Iscar trong 9 năm đã tăng từ 5 tỷ đô-la lên hơn 10 tỷ đô-la.
Bài viết ngay sau bài viết này về thâm hụt mậu dịch được đặt dưới dạng bài viết bổ sung. – CL
1. Giấy phép nhập khẩu (import certificates): Là chính sách do Warren Buffett đề xuất năm 2003 nhằm giải quyết tình trạng thâm hụt mậu dịch ở Mỹ. Nội dung cơ bản của ý tưởng này là cấp cho các công ty xuất khẩu của Mỹ giấy phép nhập khẩu một lượng hàng hóa có giá trị tương đương với giá trị của hàng hóa mà họ xuất khẩu. Các công ty nhập khẩu cần có giấy phép này để có thể nhập khẩu hàng hóa một cách hợp pháp vào Mỹ, nên họ có thể mua lại hoặc trao đổi với các công ty xuất khẩu được cấp giấy phép. Giá trao đổi của các giấy phép này do các lực lượng thị trường quyết định, do đó phụ thuộc vào sự cân bằng giữa thái độ sẵn sàng mua giấy phép theo giá thị trường của các công ty nhập khẩu vào Mỹ và giá trị hàng hóa từ Mỹ xuất khẩu đi toàn cầu (tức là phụ thuộc vào sự cân bằng giữa cung và cầu). Ý tưởng này được đưa vào dự thảo Đạo luật Khôi phục Thương mại Cân bằng năm 2006 của Mỹ, tuy nhiên sau đó không có thêm hành động nào đối với dự luật này nữa.
1. Adam Smith (1723-1790): Nhà kinh tế học người Scotland, người đã đặt nền tảng cho lý thuyết kinh tế thị trường tự do cổ điển.
Tôi sắp đưa ra cảnh báo về thâm hụt mậu dịch của Mỹ và cũng gợi ý một biện pháp khắc phục vấn đề này. Nhưng trước tiên tôi cần đề cập đến hai lý do bạn có thể nghi ngờ về những gì tôi nói. Thứ nhất, lịch sử dự báo của tôi về kinh tế vĩ mô không hề lạc quan. Ví dụ, trong hai thập kỷ qua, tôi hết sức sợ hãi lạm phát. Liên quan hơn đến vấn đề đang bàn, từ năm 1987 tôi đã bắt đầu công khai lo lắng về thâm hụt mậu dịch gia tăng – nhưng như các bạn biết đấy, chúng ta không chỉ sống sót mà còn phát triển nữa. Vì vậy, trên lĩnh vực thương mại, ít nhất bạn hãy ghi cho tôi một lần um xùm trong khi không có gì đáng phải làm cho to tát. Thế mà bây giờ tôi lại tiếp tục um xùm, lần này lại còn lấy tiền của Berkshire Hathaway ra để tiền hô hậu ủng. Cho đến mùa xuân năm 2002, tôi đã sống gần 72 năm mà không hề mua ngoại tệ. Kể từ đó Berkshire đã có những khoản đầu tư đáng kể vào ngoại tệ và hiện nay đang nắm giữ một vài loại tiền tệ. Tôi sẽ không nêu cụ thể đó là loại tiền tệ nào; trên thực tế, loại tiền tệ nào hầu như không có gì liên quan ở đây cả. Điều quan trọng là điểm ngụ ý: Khi giữ các loại tiền tệ khác có nghĩa là bạn đang tin rằng đồng đô-la sẽ suy giảm.
Ở cả vị trí một công dân Mỹ và nhà đầu tư, tôi thực lòng hy vọng những khoản cam kết này sẽ là một sai lầm. Bất kỳ khoản lợi nhuận nào Berkshire có thể thu được từ hoạt động kinh doanh tiền tệ đều sẽ chỉ như muối bỏ bể so với những tổn thất mà công ty và các cổ đông của chúng tôi, ở những khía cạnh khác trong đời sống của họ, phải chịu từ sự giảm sút của đồng đô-la.
Nhưng với tư cách là người đứng đầu Berkshire Hathaway, tôi có trách nhiệm dùng tiền của công ty để đầu tư sao cho hợp lý. Và lý do khiến tôi cuối cùng lại đặt tiền vào nơi mà từ lâu tôi đã làm um xùm là vì tình trạng thâm hụt mậu dịch của chúng ta đã trở nên tồi tệ hơn rất nhiều, đến mức “giá trị ròng” – tạm gọi như vậy – của đất nước này hiện đang được chuyển ra nước ngoài với một tỷ lệ đáng báo động.
Nếu sự lưu chuyển này kéo dài, những rắc rối lớn có thể xuất hiện. Để hiểu tại sao, hãy theo tôi tham gia một chuyến du lịch tưởng tượng đến với hai hòn đảo biệt lập ở cạnh nhau, có kích thước giống nhau là Squanderville và Thriftville. Đất đai là tài sản vốn duy nhất trên hai hòn đảo này, và các cộng đồng trên đảo là người nguyên thủy, chỉ cần thực phẩm và chỉ sản xuất thực phẩm. Thực ra, nếu làm việc 8 giờ một ngày, mỗi cư dân ở đây có thể sản xuất đủ lương thực để duy trì cuộc sống của mình. Mọi việc cứ thế tiếp diễn trong một thời gian dài. Trên mỗi hòn đảo, mọi người đều làm việc 8 giờ một ngày theo quy định, có nghĩa là mỗi xã hội đều tự cung tự cấp.
Tuy nhiên, cuối cùng, những công dân siêng năng của Thriftville quyết định thực hiện một số hoạt động tiết kiệm và đầu tư nghiêm túc, và họ bắt đầu làm việc 16 tiếng một ngày. Theo phương thức này, họ vẫn tiếp tục sống bằng số thực phẩm họ sản xuất được trong 8 giờ làm việc nhưng bắt đầu xuất khẩu một lượng thực phẩm tương đương sang đại lý giao dịch thương mại duy nhất của họ, Squanderville.
Các công dân của Squanderville rất vui mừng về sự kiện này, vì giờ đây họ không còn phải làm việc cực nhọc nhưng vẫn có cái ăn. Tất nhiên, ở đây có sự trao đổi, nhưng với người dân Squander, sự trao đổi này có vẻ vô hại: thứ mà các cư dân Thrift muốn có để đổi lấy lương thực của họ là các trái phiếu Squanderbond (các trái phiếu này được quy giá trị danh nghĩa theo các đồng Squanderbuck).
Dần dần, các cư dân Thriftville tích lũy được lượng lớn những trái phiếu này – về cơ bản, chúng đại diện cho các phiếu biên nhận về sản lượng trong tương lai của Squanderville. Một vài chuyên gia ở Squanderville cảm thấy rắc rối đang đến gần. Họ dự đoán rằng để cư dân Squander có thể vừa có cái ăn vừa trả hết được món nợ – hay chỉ đơn giản là trả lãi – đang chồng chất, cuối cùng họ sẽ phải làm việc nhiều hơn 8 giờ một ngày. Nhưng các cư dân của Squanderville không muốn nghe những lời tiên tri ảm đạm đó.
Trong khi đó, các cư dân Thriftville bắt đầu lo lắng. Họ thắc mắc liệu các chứng từ công nợ của một hòn đảo lười biếng thì có ích gì. Vì vậy họ thay đổi chiến lược: Họ chỉ giữ lại một số trái phiếu và bán hầu hết số trái phiếu còn lại cho các cư dân Squanderville để lấy Squanderbuck và sử dụng số tiền thu được để mua đất ở Squanderville. Và cuối cùng, các cư dân Thriftville sở hữu toàn bộ đảo Squanderville.
Lúc này, các cư dân Squanderville buộc phải đối mặt với một phương trình xấu: họ không chỉ phải trở lại làm việc 8 giờ mỗi ngày để kiếm ăn (vì họ không còn gì để trao đổi nữa), mà còn phải làm thêm giờ để trả nợ và trả cho các cư dân Thriftville tiền thuê chính mảnh đất mà họ đã bất cẩn bán đi. Thực ra, Squanderville đã bị chiếm làm thuộc địa qua con đường mua bán thay vì chinh phạt.
Dĩ nhiên, có thể lập luận rằng giá trị hiện tại của sản lượng tương lai mà Squanderville phải chuyển tới Thriftville chỉ tương đương với sản lượng ban đầu mà Thriftville đã cung cấp, và do đó cả hai đều đạt được một thỏa thuận công bằng. Tuy nhiên, vì một thế hệ của Squanderville chỉ ngồi mát ăn bát vàng và các thế hệ tương lai phải vĩnh viễn trả giá cho việc này nên dưới góc nhìn của nhà kinh tế học, ở đây có một số sự “bất bình đẳng liên thế hệ” khá nghiêm trọng.
Chúng ta hãy suy nghĩ về điều này trong bối cảnh một gia đình: Hãy tưởng tượng rằng tôi, Warren Buffett, có thể khiến các nhà cung cấp những gì tôi sẽ tiêu thụ trong suốt đời chấp nhận các chứng từ nợ của gia đình Buffett mà con cháu tôi sẽ trang trải bằng hàng hoá và dịch vụ kèm lãi suất. Có thể cho rằng kịch bản này tạo ra một sự trao đổi công bằng giữa gia đình Buffett và các chủ nợ. Nhưng các thế hệ con cháu của nhà Buffett sau tôi có lẽ sẽ không hoan nghênh thỏa thuận này (và, lạy Chúa, thậm chí chúng còn muốn tìm cách quỵt nợ).
Quay trở lại hai hòn đảo này: Sớm hay muộn, đứng trước các khoản thanh toán nợ nần ngày càng cao, chính phủ của Squanderville sẽ quyết định áp dụng các chính sách mang rủi ro lạm phát cao – tức là phát hành thêm tiền Squanderbuck để làm giảm giá trị của mỗi đơn vị tiền. Chính phủ này sẽ lập luận rằng, xét cho cùng thì những trái phiếu Squanderbond đáng ghét kia chỉ là những tờ phiếu biên nhận về số lượng cụ thể các tờ tiền Squanderbuck chứ không đòi những lượng tiền có giá trị cụ thể. Nói tóm lại, làm giảm giá trị của tiền Squanderbuck sẽ giúp xoa dịu nỗi đau tài chính của hòn đảo.
Triển vọng này là lý do tại sao tôi, giả sử tôi là một cư dân của Thriftville, sẽ lựa chọn phương án nhận quyền sở hữu trực tiếp đất đai của Squanderville chứ không lấy trái phiếu chính phủ của hòn đảo đó. Hầu hết các chính phủ đều cảm thấy xét về mặt đạo đức, việc tịch thu các tài sản mà người nước ngoài sở hữu khó khăn hơn so với việc làm giảm sức mua các phiếu biên nhận mà người nước ngoài nắm giữ. Trộm cắp lén lút vẫn hơn là trộm cắp bằng vũ lực.
Vậy ví dụ về hòn đảo này có gì liên quan đến nước Mỹ? Nói một cách đơn giản, sau Thế chiến II và cho đến đầu những năm 1970, chúng ta đã sống theo lối sống chăm chỉ của cư dân Thriftville, thường xuyên bán hàng ra nước ngoài hơn là mua vào. Đồng thời, chúng ta cũng đầu tư phần thặng dư của mình ra nước ngoài, kết quả là giá trị đầu tư ròng của chúng ta – tức là số lượng tài sản nước ngoài chúng ta đang nắm giữ trừ đi số lượng tài sản của nước Mỹ mà người nước ngoài đang nắm giữ – tăng (tính theo phương pháp đã được sửa đổi mà chính phủ áp dụng khi đó) từ 37 tỷ đô-la trong năm 1950 lên 68 tỷ đô- la vào năm 1970. Tóm lại, trong thời gian đó, nhìn một cách tổng thể thì “giá trị ròng” của nước ta bao gồm tất cả tài sản nằm trong biên giới cộng với một phần nhỏ tài sản nằm rải rác ở các nơi khác trên thế giới.
Ngoài ra, bởi vì nước Mỹ đang ở vị trí sở hữu ròng so với phần còn lại của thế giới, nên chúng tôi nhận thấy thu nhập từ đầu tư ròng đã trở thành một nguồn quỹ đầu tư thứ hai cao hơn nhiều so với thặng dư mậu dịch. Tình hình tài chính của chúng tôi tương tự như của một cá nhân đã tiết kiệm được một phần tiền lương và tái đầu tư các cổ tức từ rổ trứng hiện tại của anh ta.
Vào cuối những năm 1970, tình hình mậu dịch đảo ngược, tạo ra thâm hụt ban đầu vào khoảng 1% Tổng Sản lượng Quốc gia. Điều đó không nghiêm trọng, đặc biệt là do thu nhập đầu tư ròng vẫn rất tích cực. Thật vậy, với sức mạnh của lãi suất kép, số dư sở hữu ròng của chúng tôi đã đạt mức cao là 360 tỷ đô-la vào năm 1980.
Tuy nhiên, kể từ đó, tất cả đều lao dốc, với tốc độ suy giảm tăng nhanh chóng trong 5 năm qua. Thâm hụt mậu dịch hằng năm vượt quá 4% Tổng Sản lượng Quốc gia. Rất đáng lo ngại khi phần còn lại của thế giới sở hữu số lượng tài sản của Mỹ là 2.500 tỷ đô-la, lớn hơn đáng kinh ngạc so với số mà chúng ta sở hữu của các quốc gia khác. Một số trong số 2.500 tỷ đô-la này được đầu tư vào các chi phiếu chi trả lãi – trái phiếu Mỹ, cả chính phủ và tư nhân và một số tài sản như chứng khoán và bất động sản.
Trên thực tế, đất nước chúng ta đã hành xử như một gia đình cực kỳ giàu có và sở hữu một trang trại to lớn. Để tiêu thụ nhiều hơn 4% so với mức chúng ta sản xuất – đó là thâm hụt mậu dịch – ngày qua ngày, chúng ta đã vừa bán từng mảnh của trang trại vừa tăng khoản thế chấp đối với những gì chúng ta vẫn sở hữu.
Để xem xét khoản 2.500 tỷ đô-la sở hữu ròng nước ngoài, hãy đối chiếu nó với 12.000 tỷ đô-la giá trị các cổ phiếu công chúng của Mỹ hoặc số lượng tương đương bất động sản ở Mỹ hoặc theo tôi ước tính là tổng tài sản quốc gia là 50.000 tỷ đô-la. Những so sánh này cho thấy những gì đã được chuyển ra nước ngoài có trị giá tương đương – ví dụ, khoảng 5% tài sản quốc gia.
Tuy nhiên, quan trọng hơn, các tài sản của chúng ta được nước ngoài sở hữu sẽ tăng lên khoảng 500 tỷ đô-la mỗi năm tại mức thâm hụt mậu dịch hiện tại, nghĩa là tỷ lệ thâm hụt sẽ làm tăng thêm khoảng một điểm phần trăm mỗi năm lên các tài sản quốc gia của chúng ta được nước ngoài sở hữu ròng. Khi quyền sở hữu tăng lên, thì thu nhập đầu tư ròng hằng năm cũng sẽ chảy khỏi đất nước. Điều đó sẽ khiến chúng ta phải trả cổ tức ngày càng tăng và lãi suất cho thế giới chứ không phải là người được nhận những thứ này như trong quá khứ. Chúng ta đang bước vào thế giới của lũy tích tiêu cực, tạm biệt những niềm vui, và xin chào những nỗi đau.
Chúng ta được dạy trong cuốn Kinh tế 1011 rằng các quốc gia không thể duy trì các tỷ lệ thâm hụt mậu dịch lớn, và đang ngày càng tăng này. Tại một thời điểm, cuộc vui của một quốc gia tiêu dùng hạnh phúc sẽ bị kìm hãm bởi các điều chỉnh tỷ giá và vì các quốc gia chủ nợ sẽ không sẵn lòng chấp nhận một dòng chảy bất tận các chứng từ nợ từ các quốc gia tiêu dùng lớn. Và đó là cách mà phần còn lại của thế giới đang hoạt động, chúng ta có thể thấy nhiều quốc gia hoang phí đã phải chịu đựng việc cắt giảm tín dụng đột ngột trong những thập kỷ gần đây.
1. Kinh tế 101 (Economics 101): Cuốn sách của tác giả Alfred Mills giới thiệu tất cả các khái niệm về kinh tế mà độc giả cần biết, từ hành vi người tiêu dùng đến thị trường cạnh tranh.
Tuy nhiên, Mỹ đang có một vị trí đặc biệt. Nhờ vậy, hiện nay chúng ta có thể hành xử như chúng ta muốn bởi vì lịch sử tài chính trong quá khứ của chúng ta rất mẫu mực – và bởi vì chúng ta rất giàu có. Không ai đặt câu hỏi gì về năng lực hoặc ý định trả nợ của chúng ta, và chúng ta đang duy trì một núi tài sản đáng thèm khát để trao đổi lấy các mặt hàng tiêu dùng. Nói cách khác, thẻ tín dụng quốc gia cho phép chúng ta chi tiêu các khoản tiền đáng kinh ngạc. Nhưng hạn mức tín dụng không phải là vô hạn.
Hiện đã đến lúc ngừng giao dịch tài sản để đổi lấy hàng tiêu dùng, và tôi có một kế hoạch muốn đề xuất để thực hiện việc này. Giải pháp của tôi có thể nghe khá cường điệu, và trên thực tế nó là một loại thuế được gọi bằng một tên khác. Nhưng đây là một mức thuế giữ được phần lớn các đặc tính của thị trường tự do, không bảo vệ các ngành công nghiệp cụ thể và cũng không trừng phạt các quốc gia cụ thể hay khuyến khích các cuộc chiến mậu dịch. Kế hoạch này sẽ làm tăng hàng xuất khẩu của chúng ta và có thể làm thương mại toàn cầu tăng theo. Nó cũng sẽ giúp cân bằng sổ sách, mà không phải chịu sự suy giảm đáng kể giá trị của đồng đô-la, việc tôi tin rằng gần như chắc chắn sẽ xảy ra.
Chúng ta sẽ đạt được sự cân bằng này bằng cách ban hành những gì tôi gọi là Giấy phép Nhập khẩu cho tất cả các nhà xuất khẩu ở Mỹ với số tiền tương đương với giá trị đồng đô-la của các mặt hàng xuất khẩu của họ. Mỗi nhà xuất khẩu sẽ bán giấy phép này cho các bên, hoặc các nhà xuất khẩu ở nước ngoài hoặc các nhà nhập khẩu ở đây, muốn xuất khẩu hàng vào Mỹ. Ví dụ, để nhập khẩu một triệu đô-la hàng hóa, một nhà nhập khẩu sẽ cần các giấy phép này từ các sản phẩm phụ xuất khẩu trị giá 1 triệu đô-la. Kết quả chắc chắn là: thương mại cân bằng.
Bởi tổng trị giá hàng xuất khẩu của chúng ta khoảng 80 tỷ đô-la một tháng, các giấy chứng nhận sẽ được cấp với số lượng lớn tương đương, tức 80 tỷ giấy chứng nhận mỗi tháng và chắc chắn sẽ được giao dịch tại một thị trường thanh khoản đặc biệt. Cuộc cạnh tranh sau đó sẽ xác định ai trong số những bên muốn bán cho chúng tôi sẽ mua các giấy phép này và họ sẽ trả bao nhiêu tiền. (Tôi hình dung rằng các giấy phép sẽ được phát hành với một vòng đời ngắn, có thể là 6 tháng, để làm nản lòng các nhà đầu cơ muốn tích lũy chúng.)
Để minh họa, chúng ta hãy giả định rằng mỗi giấy phép sẽ bán với giá 10 xu, nghĩa là 10 xu cho mỗi đô-la xuất khẩu đằng sau chúng. Những thứ khác cũng tương tự, số tiền này có nghĩa là một nhà sản xuất ở Mỹ có thể nhận được thêm 10% bằng cách bán hàng ở thị trường xuất khẩu hơn là trong nước, với con số 10% thêm này từ việc bán các giấy phép.
Theo tôi, nhiều nhà xuất khẩu sẽ xem đây là một khoản cắt giảm về chi phí, để giúp họ giảm giá các sản phẩm của họ trên thị trường quốc tế. Các sản phẩm hàng hóa tiêu dùng nói riêng khuyến khích hành động này. Giả sử nếu nhôm được bán với giá 66 xu một pound1 trong nước và giấy chứng nhận có giá trị 10% số này, các nhà sản xuất nhôm trong nước có thể bán ra ở mức 60 xu một pound (cộng với chi phí vận chuyển) ở thị trường nước ngoài và vẫn kiếm được lợi nhuận bình thường. Trong kịch bản này, hàng hóa của Mỹ sẽ trở nên cạnh tranh hơn một cách mạnh mẽ và xuất khẩu sẽ tăng lên đáng kể. Theo đó, số lượng việc làm sẽ tăng lên.
Tất nhiên, các doanh nghiệp nước ngoài bán hàng cho chúng ta sẽ phải đối mặt với những điều kiện kinh tế khó khăn hơn. Nhưng đó là một vấn đề họ đang giải quyết bất kể là “giải pháp” mậu dịch nào được thông qua – chắc chắn, một giải pháp phải xuất hiện. (Như Herb Stein2 đã nói, “Nếu một thứ không thể kéo dài mãi mãi, nó sẽ dừng lại.”) Theo cách này, kế hoạch Giấy phép Nhập khẩu sẽ cho phép các quốc gia bán cho chúng ta một sự linh hoạt tuyệt vời, vì kế hoạch này không trừng phạt bất kỳ ngành công nghiệp hoặc sản phẩm cụ thể nào. Cuối cùng, thị trường tự do sẽ xác định những gì sẽ được bán ở Mỹ và ai sẽ bán chúng. Các Giấy phép Nhập khẩu sẽ chỉ xác định tổng khối lượng đô-la của những gì được bán.
1.1 pound bằng 0,45kg.
2. Herb Stein (27/8/1916 - 8/9/1999): Một nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ.
Để thấy điều gì sẽ xảy ra với hàng nhập khẩu, chúng ta hãy nhìn vào chiếc xe nhập vào Mỹ với chi phí cho nhà nhập khẩu là 20.000 đô-la. Theo kế hoạch mới và giả định là các giấy phép có giá 10%, chi phí của nhà nhập khẩu sẽ tăng lên 22.000 đô-la. Nếu nhu cầu về xe đặc biệt mạnh mẽ, nhà nhập khẩu có thể xoay xở để đẩy tất cả những phí này cho người tiêu dùng Mỹ. Tuy nhiên, trong trường hợp thông thường, các bên cạnh tranh sẽ giữ lại chi phí 2.000 đô-la giấy phép, đòi hỏi nhà sản xuất nước ngoài phải chấp nhận một phần, nếu không phải là tất cả.
Không có gì miễn phí trong kế hoạch Giấy phép Nhập khẩu: Nó sẽ gây ra những hậu quả tiêu cực nghiêm trọng nhất định đối với công dân Mỹ. Giá của hầu hết các sản phẩm nhập khẩu sẽ tăng, và giá của một số sản phẩm cạnh tranh nhất định sản xuất trong nước cũng vậy. Do đó, toàn bộ hoặc một phần chi phí của các giấy phép này thường đóng vai trò như một khoản thuế đối với người tiêu dùng.
Đó là một nhược điểm nghiêm trọng. Nhưng sẽ có những bất lợi lên đồng đô-la đang tiếp tục mất giá trị hoặc lên các khoản thuế đang tăng trên các sản phẩm cụ thể hoặc lên các hạn ngạch cho hàng hóa – những cách hành động theo tôi có ít cơ hội thành công hơn. Trên hết, nỗi đau vì giá cả của hàng hóa nhập khẩu đang cao hơn ngày nay chỉ như muối bỏ bể so với nỗi lo rằng cuối cùng chúng ta sẽ phải chịu đựng nếu chúng ta buông xuôi và tiếp tục giao dịch những khối lượng lớn giá trị ròng của đất nước.
Tôi tin rằng các giấy phép sẽ rất nhanh chóng tạo ra sự cân bằng mậu dịch của Mỹ trên mức xuất khẩu hiện tại nhưng thấp hơn mức nhập khẩu hiện tại. Các giấy phép sẽ hỗ trợ tất cả các ngành công nghiệp của chúng ta khi cạnh tranh với thế giới, ngay cả khi thị trường tự do sẽ xác định cuối cùng thì ngành nào trong số này đã vượt qua được bài kiểm tra về “lợi thế cạnh tranh”.
Kế hoạch này sẽ không được sao chép bởi các quốc gia là nhà xuất khẩu ròng vì giấy phép của họ sẽ không có giá trị. Liệu các quốc gia xuất khẩu lớn có trả đũa theo những cách khác không? Liệu việc này có bắt đầu một cuộc chiến tranh thuế Smoot-Hawley 1 khác? Rất khó. Vào thời điểm Smoot-Hawley, chúng ta đạt được một mức thặng dư mậu dịch bất hợp lý mà chúng ta muốn duy trì. Hiện tại chúng ta đang gặp phải mức thâm hụt gây thiệt hại mà cả thế giới biết rằng chúng ta phải sửa chữa nó.
1. Cuộc chiến tranh thuế Smoot-Hawley: Đạo luật thuế Smoot-Hawley do Quốc hội Mỹ ban hành vào năm 1930 đã đưa ra những mức thuế nhập khẩu cao nhất trong lịch sử nhằm hạn chế nhập khẩu. Đạo luật ra đời vào giai đoạn đầu của cuộc Đại Suy thoái (1929-1933) đã làm dấy lên hàng loạt cuộc trả đũa của các quốc gia công nghiệp khác, ảnh hưởng sâu sắc đến thương mại quốc tế, khiến kinh tế thế giới càng suy thoái nặng nề hơn.
Trong nhiều thập kỷ, thế giới đã phải vật lộn với một mê cung của các thuế quan chuyển đổi, trợ cấp xuất khẩu, hạn ngạch, các ngoại tệ nói-không-với-đô-la, và các loại tương tự. Nhiều công cụ hạn chế nhập khẩu và kích thích xuất khẩu từ lâu đã được các nước xuất khẩu lớn sử dụng để cố gắng tích trữ các khoản thặng dư lớn hơn bao giờ hết. Tuy nhiên các cuộc chiến tranh thương mại nghiêm trọng đã không xảy ra. Chắc chắn công chúng sẽ không bị xáo trộn bởi một đề xuất đơn giản chỉ nhằm mục đích cân bằng các sổ sách của con nợ thương mại lớn nhất thế giới. Các nước xuất khẩu chính đã hành xử khá hợp lý trong quá khứ và họ sẽ tiếp tục làm như vậy. Mặc dù, như mọi khi, họ có thể muốn thuyết phục chúng ta rằng họ sẽ hành xử khác.
Kết quả khả thi của kế hoạch Giấy phép Nhập khẩu là sau một vài điệu bộ ban đầu, các quốc gia xuất khẩu sẽ khéo léo khuyến khích hàng nhập khẩu từ chúng ta. Nhìn vào vị thế của Trung Quốc, hiện đang bán cho chúng ta khoảng 140 tỷ đô-la hàng hóa và dịch vụ hằng năm trong khi chỉ mua của chúng ta 25 tỷ đô-la. Nếu giấy phép này tồn tại, để lấp đầy khoảng trống, Trung Quốc sẽ mua 115 tỷ giấy phép mỗi năm. Tuy nhiên, quốc gia này có thể làm giảm nhu cầu giấy phép của nó bằng cách cắt giảm xuất khẩu sang Mỹ hoặc bằng cách tăng mua hàng từ Mỹ. Sự lựa chọn cuối cùng này có lẽ là hấp dẫn nhất đối với Trung Quốc, và chúng ta nên mong muốn như vậy.
Nếu hàng xuất khẩu của chúng ta tăng lên và do đó nguồn cung cấp giấy phép sẽ được mở rộng, giá thị trường của giấy sẽ giảm. Thật vậy, nếu hàng hóa xuất khẩu của chúng ta tăng trưởng đủ, các giấy phép sẽ không còn giá trị và toàn bộ kế hoạch đều không thực tế. Sở hữu quyền lực để thực hiện việc này, các quốc gia xuất khẩu quan trọng có thể nhanh chóng loại bỏ các cơ chế mà họ sử dụng để hạn chế các hàng hóa xuất khẩu từ chúng ta.
Nếu triển khai kế hoạch Giấy phép Nhập khẩu, chúng ta có thể lựa chọn một số năm chuyển tiếp, trong đó ta cố tình để mức thâm hụt tương đối nhỏ, một bước để làm thế giới có thể thích nghi khi chúng ta dần dần tiến đến nơi chúng ta cần đến. Để thực hiện kế hoạch này, chính phủ của chúng ta có thể bán đấu giá hàng loạt các “phần thưởng” là giấy phép này hay chỉ đơn giản là giao chúng cho những nước kém phát triển đang cần tăng xuất khẩu. Ý tưởng thứ hai thể hiện một hình thức viện trợ nước ngoài có thể đặc biệt có hiệu quả và được đánh giá cao.
Tôi sẽ khép lại bài viết bằng cách nhắc bạn rằng tôi đã làm um xùm một lần trước đây rồi. Nói chung, hệ số chính xác trung bình của các nhà tiên đoán điều gở ở Mỹ là rất khủng khiếp. Đất nước chúng ta đã từng chế giễu những người nghi ngờ về tiềm năng kinh tế hoặc khả năng phục hồi của chúng ta. Nhiều nhà tiên đoán bi quan đã đánh giá thấp sự năng động cho phép chúng ta vượt qua những vấn đề mà trước đây dường như không có gì đáng nói. Đất nước và nền kinh tế của chúng ta vẫn thực sự đáng chú ý.
Nhưng tôi tin rằng trong thâm hụt mậu dịch, có một vấn đề sẽ đòi hỏi chúng ta vận dụng tất cả khả năng để tìm ra giải pháp. Một đồng đô-la suy giảm nhẹ sẽ không thể đưa ra câu trả lời. Đúng vậy, nó sẽ làm giảm thâm hụt mậu dịch ở mức độ nào đó, nhưng không đủ để ngăn chặn dòng chảy tài sản ròng của quốc gia và sự tăng trưởng của thâm hụt thu nhập đầu tư.
Có lẽ có những giải pháp khác hợp lý hơn giải pháp của tôi. Tuy nhiên, mơ tưởng và bạn đồng hành thường thấy của nó, hành động “mút ngón tay”1 không nằm trong số đó. Từ những gì tôi đang nhìn thấy, hành động để ngăn chặn dòng chảy của các tài sản quốc gia của chúng ta đang được kêu gọi, và giấy phép dường như là cách ít đau đớn nhất và chắc chắn nhất để giải quyết vấn đề. Chỉ cần nhớ rằng đây không phải là một vấn đề nhỏ: Ví dụ, hằng năm, phần còn lại của thế giới hiện đang đầu tư ròng ở Mỹ có thể mua và lấy đi gần 4% cổ phiếu được bán ra công chúng của chúng ta.
1. Mút ngón tay (thumb sucking): Cụm từ do Buffett nghĩ ra để miêu tả hành động suy nghĩ vẩn vơ, chờ thời thay vì quyết đoán trong một quyết định nào đó.
Về việc đánh giá các lựa chọn doanh nghiệp tại Berkshire, người bạn của tôi, Charles Munger, gợi ý rằng chúng tôi nên chú ý tới những lời đùa cợt của ông ấy: “Tất cả những gì tôi muốn biết là tôi sẽ chết ở đâu, để tôi không bao giờ đến đó.” Chính sách thương mại của chúng tôi nên chú ý đến lời cảnh báo này và tránh xa làng Squanderville.
Tiền đô-la của họ
Ngày 10 tháng 11 năm 2003
Warren Buffett & Carol Loomis
Bạn có thường thấy một nhận xét như thế này trong những bài báo về đô-la Mỹ không? “Các nhà phân tích cho rằng điều thực sự làm họ lo lắng chính là nhà đầu tư ngoại quốc sẽ bắt đầu rời bỏ đồng đô-la.”
Lần tiếp theo bạn nhìn thấy một bài báo như vậy, hãy phớt lờ nó đi. Thực tế là tất cả các nhà đầu tư nước ngoài không thể từ bỏ những đồng đô-la của họ. Thật vậy, bởi thâm hụt mậu dịch của chúng ta liên tục đưa đô-la Mỹ vào tay người nước ngoài, khiến họ phải liên tục tăng các khoản đầu tư vào Mỹ.
Dĩ nhiên, đúng là phần còn lại của thế giới có thể chọn giữ tài sản nào ở Mỹ. Ví dụ, họ có thể quyết định bán trái phiếu của Mỹ để mua cổ phiếu Mỹ. Hoặc họ có thể chuyển sang bất động sản, như Nhật Bản đã làm trong những năm 1980. Hơn nữa, bất kỳ động thái nào, đặc biệt là nếu chúng được thực hiện bởi những người bán hoặc người mua đang lo âu, có thể ảnh hưởng đến giá của đồng đô-la.
Nhưng hãy tưởng tượng rằng người Nhật Bản muốn từ bỏ bất động sản Mỹ và chạy xa khỏi các tài sản đô-la. Họ không thể đạt được điều đó bằng cách bán bất động sản cho người Mỹ, bởi vì họ sẽ được trả bằng đô-la. Và nếu họ bán bất động sản cho người không phải là người Mỹ, người Pháp chẳng hạn để nhận được đồng euro, tài sản sẽ vẫn nằm trong tay của người nước ngoài. Với một trong hai loại hình bán hàng này, các tài sản đô-la do các quốc gia còn lại nắm giữ sẽ không thay đổi (ngoại trừ bất kỳ sự thay đổi đồng thời của giá tiền đô-la).
Điểm mấu chốt là các quốc gia khác tuyệt đối không thể không đầu tư vào Mỹ trừ khi họ mua thêm hàng hóa và dịch vụ từ chúng ta hơn là chúng ta mua từ họ. Đây được gọi là thặng dư mậu dịch Mỹ, và chúng ta không gặp tình huống này.
Bạn có thể vẽ ra một số kế hoạch cực đoan để thay đổi tình huống. Ví dụ, phần còn lại của thế giới có thể gửi cho Mỹ khoản viện trợ nước ngoài khổng lồ để bù đắp cho thâm hụt mậu dịch của chúng ta. Nhưng dưới bất kỳ quan điểm thực tế nào về sự việc, thâm hụt mậu dịch khổng lồ của chúng ta đảm bảo rằng phần còn lại của thế giới không chỉ phải nắm giữ các tài sản Mỹ họ sở hữu mà còn liên tục mua vào thêm. Tất nhiên, đó là lý do tại sao, giá trị ròng quốc gia đang dần dần dịch chuyển khỏi biên giới của chúng ta.
Một thị trường đi theo Buffett
Ngày 17 tháng 5 năm 2004
David Stires
Bạn phải trả bao nhiêu tiền để được gần Warren Buffett? Về sự kiện có thể lập nên một kỷ lục mới về các hội nhóm hâm mộ doanh nhân, một số người hâm mộ đã đấu giá đến 117 đô-la trên eBay cho một vé tham dự cuộc họp thường niên của Berkshire Hathaway vào ngày 1 tháng 5. Nhằm đảm bảo có vé cho tất cả, Buffett đã phát hành 10.000 vé trên trang web, với giá 2,5 đô-la mỗi vé (mức giá hời, xét rằng một cổ phiếu hạng A trị giá 93.500 đô-la). Nhưng đây không phải là lần duy nhất cơn cuồng Buffett đã lên đến đỉnh điểm. Dưới đây, tập hợp những thứ được bán giá cao của Buffett:
16,95 đô-la: Tập thơ bán chạy nhất của Buffett
210.000 đô-la: Chiếc ví 20 năm tuổi của Buffett, được bán tại một cuộc đấu giá từ thiện vào năm 1999
5 đô-la: Hai vé tham dự cuộc họp thường niên của Berkshire Hathaway
250.100 đô-la: Buổi ăn trưa với Buffett, được bán trên eBay vào năm 2003
100 đô-la: Tờ tiền đô-la có chữ ký Buffett, bán tại một cuộc đấu giá nhà thờ ở Nebraska năm 2004
20 đô-la: Tượng nhỏ hình Buffett, được bán trên trang web của Omaha Royals
Phiên bán đấu giá buổi ăn trưa của Buffett trên eBay nhằm ủng hộ cho Quỹ Glide của San Francisco tiếp tục diễn ra và cũng sẽ tăng giá mỗi năm. Năm 2012, mức giá thắng cuộc, một lần nữa là một kỷ lục, là 3.456.789 đô-la. – CL
Lời khuyên hay nhất tôi từng nhận được
11 tháng 3 năm 2005
Hồi ức của Warren Buffett do Carol Loomis biên soạn
Ba lần trong những năm 2000, tạp chí Fortune tiếp xúc với khoảng 20 người nổi tiếng và hỏi họ về những lời khuyên bổ ích nhất họ từng nhận được. Buffett đã đồng ý được giới thiệu trong những nhóm đầu tiên, và trong vòng một giây sau khi ông đồng ý, tổng biên tập Rik Kirkland đã lập kế hoạch đưa ông lên trang bìa.
Tôi được phân công phỏng vấn Buffett, và khi tôi mở cuốn sổ ghi chép để ghi lại bất cứ điều gì ông ấy nói, tôi thực sự tò mò muốn biết ông sẽ phát biểu những gì. Tôi hoàn toàn không nghĩ rằng tôi đã từng nghe ông ấy bàn về chủ đề này. Vì vậy, tôi đã nói, “Vậy lời khuyên tốt nhất ông nhận được là gì?”
Đáp lại là một câu trả lời khác thường đầy sáng tạo. Ông ấy không có bất kỳ lời khuyên tốt nhất nào để kể. Thay vào đó, ông đã chia sẻ rất nhiều về “lời khuyên tồi tệ nhất” mà ông từng nhận được, và đó là từ hai người mà ông ngưỡng mộ nhất.
Tôi không thể nhớ làm thế nào mà tôi đã trình bày với Rik câu trả lời khác biệt đáng ngạc nhiên này về những gì ông ấy nghĩ. Có lẽ trí não tôi đã xóa bỏ ký ức này. Nhưng bạn biết không? Dù sao đi nữa chúng tôi đã đưa Buffett lên trang bìa. – CL
"Tôi có hai cố vấn: cha tôi, Howard Buffett, và Ben Graham. Đây là hai người mà tôi kính trọng và là người qua nhiều năm đã cho tôi vô số lời khuyên ý nghĩa. Nhưng khi tôi nghĩ về những gì họ đã nói với tôi, sự thật là, điều đầu tiên tôi nghĩ đến chính là những lời khuyên tệ hại.”
“Khi chuyện này xảy ra vào năm 1951, tôi vẫn chưa tròn 21 tuổi, và vừa mới tốt nghiệp trường kinh doanh tại Columbia. Tôi vừa theo học lớp của Ben ở đó, và tôi là sinh viên chuyên cần nhất mà bạn từng gặp. Tôi muốn làm việc cho Ben tại công ty Graham-Newman, và tôi đã đến gặp ông ấy và đề nghị được làm việc không công cho ông. Ông ấy đã từ chối.
“Nhưng tôi vẫn quyết tâm tham gia kinh doanh chứng khoán, và đó là nơi mà Ben và cha tôi đã cho tôi lời khuyên tệ hại. Cả hai đều nghĩ rằng đó là thời điểm không thuận lợi để bắt đầu. Họ nghĩ rằng chỉ số công nghiệp Dow Jones đã tăng đến trên 200 trong suốt năm, và chưa bao giờ có năm nào nó rơi xuống dưới 200. Vì vậy, cả hai đều nói rằng, “Con sẽ làm tốt, nhưng đây là không phải là thời điểm tốt để bắt đầu.” Bây giờ có một chuyện có thể ảnh hưởng đến bố tôi, và có thể là Ben nữa. Tôi đã quá non trẻ. Tôi không chỉ trông trẻ trung mà tôi còn cư xử như một người trẻ. Tôi gầy. Mái tóc tôi nhìn rất khiếp. Có thể lời khuyên của họ là cách lịch sự để nhận xét rằng trước khi tôi bắt đầu bán cổ phiếu, tôi cần phải trưởng thành một chút, hoặc tôi sẽ không thể thành công. Nhưng họ không nói điều đó với tôi; Họ nói theo một cách khác. Dù sao, tôi đã không quan tâm tới điều đó. Tôi đã trở lại Omaha và bắt đầu bán chứng khoán tại công ty của cha tôi, Buffett Falk.”
“Cha tôi là một người suy nghĩ hoàn toàn độc lập. Tôi cho rằng ông đã có ảnh hưởng đến suy nghĩ của chính tôi khi mua cổ phiếu. Ben cũng chỉ dẫn cho tôi về mua cổ phiếu. Ông ấy nói, ‘Cậu không đúng hay sai chỉ vì những người khác đồng ý với cậu. Cậu nói đúng vì thực tế và lý luận của cậu là đúng.’ “Tôi bắt đầu học hỏi từ Ben khi tôi đọc cuốn sách về đầu tư của ông ấy ở Đại học Nebraska. Cho đến lúc đó, tôi đã thử tất cả các loại đầu tư, nhưng những gì ông ta nói, đặc biệt là trong cuốn Nhà Đầu tư Thông minh, đã làm tôi mở mang tầm mắt về những thứ như ‘biên độ an toàn’ và cách sử dụng ‘ngài Thị trường’ hơn là để hắn ta sử dụng bạn. Sau đó tôi đã đến Columbia để theo học lớp do ông dạy và đã bị từ chối khi tôi hỏi xin công việc ở chỗ ông. Nhưng tôi vẫn nghĩ về ý tưởng đó khi tôi trở lại Omaha. Tôi vẫn cố gắng bán cổ phiếu cho Ben và phần nào quấy rầy ông ấy. Cuối cùng một ngày vào năm 1954, tôi nhận được một lá thư từ ông ấy nói rằng vào lần kế tiếp tôi đến New York, ông ấy muốn trò chuyện với tôi một chút. Tôi đã rất vui! Và tôi lập tức đến New York. “Tôi đã làm việc cho Ben vào tháng 8 năm 1954, mà không bao giờ hỏi đến mức lương tôi sẽ nhận. Hóa ra con số đó là 12.000 đô- la, cộng với khoản tiền thưởng 2.000 đô-la vào năm kế tiếp. Tôi làm việc cho cả hai lĩnh vực của công ty: Graham-Newman là một công ty đầu tư có đăng ký và công ty TNHH Newman & Graham là công ty mà chúng ta ngày nay gọi là quỹ phòng hộ. Nhưng cả hai công ty chỉ kiếm được 12 triệu đô-la!
“Tôi và Walter Schloss đã cùng làm việc trong một căn phòng nhỏ, mặc dù ông ấy đã nghỉ việc sau đó để mở một quỹ phòng hộ. Chúng tôi đã có rất nhiều niềm vui, cộng với cùng nhau nghiên cứu các sổ sách để tìm kiếm các cổ phiếu giá rẻ. Chúng tôi không bao giờ ra ngoài để thăm bất kỳ công ty nào. Ben nghĩ rằng việc này là gian lận. Và khi chúng tôi tìm thấy một cổ phiếu tuyệt vời, Ben sẽ đầu tư 50.000 đô-la vào nó.
“Đầu năm 1956, Ben dự định sẽ rời công ty để đến California. Còn tôi sau đó đã quyết định trở lại Omaha. Tôi đã cảm thấy rất khủng khiếp khi phải thông báo với Ben chuyện này: tôi bước vào văn phòng của ông ta và quay trở ra, sau đó lại đi vào và không thể nói ra, trong một thời gian rất dài. Nhưng phản ứng của ông ấy giống như của cha tôi: hãy làm bất cứ điều gì tốt nhất cho mình.
“Tôi đã sở hữu 9.800 đô-la vào cuối năm 1950, và đến năm 1956, tôi đã có 150.000 đô-la. Tôi tưởng tượng rằng tôi có thể sống như một vị vua. Tôi không biết tôi sẽ làm gì ở Omaha. Có thể theo học trường luật. Tôi không có kế hoạch. Tôi chắc chắn không biết tôi sắp bắt đầu một công ty hợp danh đầu tư. Nhưng một vài tháng sau, có 7 người muốn tôi đầu tư tiền của họ, và một công ty hợp danh là cách để làm việc này. Rồi mọi thứ bắt đầu.”
Cuộc đối thoại trị giá 91 tỷ đô-la
Ngày 31 tháng 10 năm 2005
Daniel Roth
Nếu là Warren Buffett và Bill Gates, thì đã đến lúc Đại học Nebraska cũng có thể sánh ngang với sự kiện được tổ chức bởi Đại học Washington 8 năm trước đó. Thế là công bằng!
Tin lọt ra từ cuộc nói chuyện này, cho biết rằng Buffett đã suy nghĩ rất kỹ để quyết định sẽ trao tặng tiền của ông trong khi ông vẫn còn sống. Đó là một ý định từ thiện mang tính bước ngoặt của ông, nhưng trong cuộc đời của Buffett cũng có một bước ngoặt rất buồn. Đó là sự ra đi của Susie, người vợ của ông vì đột quỵ bất ngờ vào mùa hè năm 2004. Như đã lưu ý trước đây trong cuốn sách này, Buffett đã luôn luôn nghĩ rằng Susie, kém ông 2 tuổi, sẽ sống lâu hơn và vì với sự khôn ngoan và lòng từ bi quá mức của bà, bà sẽ nhanh chóng cho từ thiện hàng tỷ đô-la của ông. Sau khi Susie qua đời, việc xác định làm thế nào để ủng hộ từ thiện đã đè nặng lên tâm trí của Buffett. Tuy nhiên vào đầu năm 2006, ông đã có một kế hoạch tuyệt vời để dần dần chuyển các cổ phiếu Berkshire của ông cho 5 quỹ, trong đó có một quỹ do Bill và vợ ông, Melinda, điều hành.
Phần thông tin phụ “Buffett lên tiếng” theo sau các câu hỏi và câu trả lời cho thấy Buffett đã cảm thấy nặng nề như thế nào trong năm 2005 về sự bất công của việc giới siêu giàu (bao gồm cả chính ông và Gates) chịu thuế thấp trên thu nhập của họ. Ông đã đưa ra lập luận này thường xuyên trong vài năm kế tiếp và vào năm 2011 các quan điểm của ông, hoặc ít nhất là thứ tương tự như vậy, được mài giũa ở trụ sở Obama thành cái gọi là Quy tắc Buffett. Trong năm 2013 thuế đã tăng lên đánh vào các công ty có thu nhập cao, với mức tăng bắt đầu từ mức thấp hơn con số 1 triệu đô-la mà Buffett đã đề xuất. – CL
Đó là ngày thứ Sáu trước khi Đại hội 12 của Đại học Nebraska mở cửa trong trận đấu với Lincoln, nhưng vé tham dự trận đấu Cornhuskers không phải là vé nóng duy nhất trong thị trấn. Vào một buổi chiều đẹp trời vào cuối tháng 9, có khoảng 2.000 học sinh xếp hàng bên ngoài thính phòng Lied của trường, một giờ trước khi cánh cửa mở ra. Schoemacher, một sinh viên năm hai ngành kỹ sư hóa học 19 tuổi gầy gò, tuy không có vé, nhưng hy vọng cậu ấy có thể xin xỏ của ai đó để được vào. Làm sao mà cãu ấy có thể bỏ lỡ buổi nói chuyện này chứ? Cậu ấy cho biết, sau cùng, “Đó là vì Bill Gates và Warren Buffett.”
Gates và Buffett – những người bạn vừa trở thành hai người giàu nhất thế giới, với tài sản 51 tỷ đô-la và 40 tỷ đô-la, sắp ngồi với nhau trong một buổi hỏi đáp đa chủ đề. Họ đã thực hiện buổi thảo luận tương tự một lần trước đây. Hai người đã gặp nhau tại quê nhà của Gates ở Seattle vào năm 1998 với các sinh viên tại Đại học Washington. Sau đó, cả hai đều đang trên bờ vực của những giai đoạn hỗn loạn: Microsoft phải đối phó với chính phủ trong vụ xử chống độc quyền của mình, và Buffett chỉ còn vài tuần để mua lại hãng tái bảo hiểm General Re, nay là cái gai của Berkshire Hathaway, vì sự liên quan của nó với rắc rối của công ty bảo hiểm AIG. Fortune, tạp chí duy nhất được mời tham dự cuộc trò chuyện đầu tiên của họ, thấy sự tương tác như là “một cái gì đó rất gần với trí tuệ” để đưa cuộc trò chuyện trên trang bìa. Vì vậy, khi những tỷ phú quyết định gặp lại nhau, chúng tôi đã cùng nhau tìm hiểu về sự kiện và quan trọng hơn, tìm thời gian riêng tư để hỏi hai người đàn ông các câu hỏi của chúng tôi.
Trong buổi ăn trưa với Daniel Roth của tạp chí Fortune, bữa ăn gồm Coke Anh Đào, bánh mì trắng và gà tây thái lát cho Buffett; thịt bò nướng với mù tạt và bánh mì trắng dành cho Gates – hai vị lãnh đạo thư giãn, nói về mối quan hệ thân thiết của họ, kế hoạch chơi bài poker vào tối hôm đó, và về Phố Wall đã sẵn sàng dẫn dắt các nhà đầu tư đi sai đường. Cả hai người đều đang cải thiện vóc dáng: Gates, sẽ 50 tuổi trong tháng 10, đã giảm được khoảng 10kg cân nặng bằng cách chạy bộ thường xuyên; Buffett, 75 tuổi, đã giảm được 5kg cân nặng nhờ vào các buổi huấn luyện cá nhân 3 lần một tuần. Và họ đang định hình lại kế hoạch của họ: Buffett quay mặt lại với chính mình và cho biết lần đầu tiên, ông có thể sẽ bắt đầu cho đi tài sản của mình trước khi chết. Những gì sau đây là các trích đoạn của cuộc đối thoại đó.
Foftune: Một vài câu hỏi nhanh nhé. Đầu tiên: cuốn sách hay nhất mà ông đã đọc gần đây.
Buffett: Cuốn Personal History (tạm dịch: Lịch sử Cá nhân) của Katharine Graham rất giật gân. Tôi nghĩ rằng mọi người nên đọc nó.
Gates: Cuốn The bottom well (tạm dịch: Cái giếng không đáy), viết về năng lượng mà tôi rất thích. Và một cuốn về khoa học máy tính của Ray Kurzweil, Singularity is near (tạm dịch: Sự phi thường đang đến gần) về trí thông minh nhân tạo. Tôi có bản in trước, vì vậy tôi không chắc chắn khi nào nó xuất bản. Cuốn Thế giới phẳng của Tom Friedman rất đặc sắc. Jeffrey Sachs đã viết một cuốn sách mang tên The end of poverty (tạm dịch: Sự kết thúc của đói nghèo), cuốn Winning (tạm dịch: Chiến thắng) của Jack Welch ra năm nay, và đừng quên cuốn Sụp đổ1 của Jared Diamonds, đây là một bản tiếp theo của những cuốn sách hay nhất mọi thời đại (Súng, vi trùng và thép1).
Fortune: Lần phung phí tiền bạc mới nhất của ông?
Buffett: Bạn muốn đề cập đến chi tiêu cá nhân?
Fortune: Đúng vậy.
Buffett: Máy bay. Đó là lần duy nhất việc có nhiều tiền đã làm thay đổi cuộc đời tôi. Tôi mua một chiếc NetJets G4. [Lưu ý: Berkshire sở hữu NetJets.] Tôi chi tiêu hết vài trăm ngàn đô-la một năm, hoặc có thể nhiều hơn một chút.
Gates: Phung phí hả… Tôi đoán nếu tôi thua bài đêm nay, tôi đã phung phí 500 đô-la.
Buffett: Đó quả là một sự phung phí.
Gates: Các lần cá cược của tôi và Buffett luôn giới hạn ở mức 1 đô-la.
Buffett: Người bạn ở Omaha này đã gọi cho tôi để rủ chơi bài poker, việc nghe có vẻ thú vị. Nhưng với kiểu chơi bài Texas Hold ‘Em2, bạn phải chơi vì tiền. Đó là bản chất của trò chơi. Tôi nghĩ rằng bài bridge là một trò chơi tốt hơn, nhưng bài poker cũng rất vui.
Gates: Nếu chúng ta có thêm một thành viên thứ tư ở đây, chúng ta có thể chọn chơi bài bridge.
1. Sụp đổ (Collapse): Cuốn sách về đề tài nguyên nhân đưa đến sự sụp đổ của một số xã hội của tác giả Jared Diamond, được xuất bản năm 2005, đã được Alpha Books mua bản quyền và xuất bản năm 2014.
1. Súng, vi trùng và thép (Guns, Germs, and Steel): Cuốn sách về đề tài lịch sử khái quát những số phận của xã hội loài người của tác giả Jared Diamond, được xuất bản năm 1997, đã được Alpha Books mua bản quyền và xuất bản năm 2014.
2. Texas Hold ‘Em: Là một kiểu chơi bài poker trong đó mỗi người chơi được chia 2 lá bài úp. Có 5 lá bài chung của cả nhóm sẽ được lật ra lần lượt theo thứ tự 3 - 1 - 1 để cả nhóm cùng xem. Dựa vào các lá bài mình có, các lá bài chung đã lật và các lá bài người chơi đối thủ có khả năng có, người chơi sẽ quyết định đặt cược (bet), theo (call) hay rút lui (fold).
Fortune: Bạn bè của ông sẽ nghĩ gì khi ông nói, “Tôi sẽ đến để chơi bài poker. Tôi sẽ dẫn theo bạn thân của tôi là Bill Gates”?
Buffett: Chúng tôi giữ bí mật. Người tổ chức trò chơi sẽ biết, nhưng những người tham gia khác thì không.
Fortune: Trở lại chủ đề: thị trường chứng khoán. 7 năm nữa từ bây giờ, liệu chỉ số S&P 500 có quay trở lại hơn hoặc dưới 10% hằng năm không?
Buffett: Nhiều khả năng là nó sẽ dưới 10%. Không thể có chuyện Tổng Sản lượng Quốc gia trên danh nghĩa tăng 5% mỗi năm và tất cả mọi người kiếm được 10% một năm.
Gates: Tôi nghĩ rằng rất có thể là chưa đến 10%. Nhận định lợi nhuận rất cao là không chắc chắn.
Fortune: Warren, lần cuối cùng ông thực hiện một cuộc nói chuyện như thế này, ông đã nói rằng người ta thường có “những giả thuyết khá liều lĩnh” về lợi nhuận của các thị trường chứng khoán lớn. Liệu hiện nay điều tương tự có xảy ra với các quỹ phòng hộ và các cổ phần tư nhân?
Buffett: Vào cuối những năm 1990, mọi người nhìn vào gương chiếu hậu của họ, và nghĩ rằng Thiên Chúa đã cho phép người Mỹ được quyền nhận được 15% lợi nhuận một năm. Họ đã đưa nó thành những giả định về lương hưu. Họ đã dựa vào nó ở một mức độ nào đó để tính số tiền các quỹ quyên góp đã dùng. Bây giờ, 6 hoặc 7 năm sau, mọi người nhìn vào gương chiếu hậu, và họ thấy rằng các khoản đầu tư thông thường không tạo ra bất cứ món lợi nhuận nào như vậy. Và họ tự nói với mình, “Vậy thì làm sao để tôi nhận được lợi nhuận này? Tôi sẽ chuyển sang các lựa chọn đầu tư thay thế khác.” Bạn có thể chắc chắn rằng những người ở Phố Wall sẽ tập trung lại và nói rằng: “Bạn đang nhìn vào gương chiếu hậu, và nhìn thấy những khoản đầu tư thông thường không hiệu quả phải không. Hãy đến với chúng tôi, bởi vì chúng tôi có Chén Thánh.” Và Chén Thánh có nghĩa là bạn phải trả thêm rất nhiều tiền.
Gates: Trong đầu tư mạo hiểm, lợi nhuận rất cao đi cùng với số vốn nhỏ, và rồi lợi nhuận rất thấp song hành với số vốn lớn. Khao khát đạt lợi nhuận cao tuyệt đối – và nhìn thấy những nơi như Đại học Harvard đã sử dụng khéo léo các tài sản thay thế khác – đã dẫn đến suy nghĩ “Được rồi, phải có một cái gì đó ở ngoài kia có tỷ lệ lợi nhuận là 10%. Chỉ là tôi chưa tìm ra nó.” Vì vậy, sự thật là kỳ vọng về lợi nhuận vượt quá thực tế vẫn đúng trong hiện tại.
Buffett: Và Phố Wall là nơi nuôi dưỡng kỳ vọng đó.
Gates: Đó là công việc của Phố Wall. [Cả hai đều cười.]
Fortune: Warren đã có bài phát biểu với Allen & Co. vào mùa hè này về những lo lắng của ông về thâm hụt mậu dịch của Mỹ. Tôi tò mò rằng liệu Bill, ông có cùng lo ngại với Warren không.
Gates: Warren đã khiến tôi suy nghĩ về nó. Tôi đã xem bài diễn văn đó hai lần, và sau mỗi lần tôi lại thấy quan tâm hơn. Tôi tin vào nguyên tắc cơ bản rằng thương mại là một điều rất tuyệt vời. Tôi rất lo lắng vì để phản ứng sự mất cân bằng, người ta đặt các hạn chế thương mại nhằm giảm hàng nhập khẩu, dẫn tới việc các quốc gia khác sẽ làm những việc tương tự. Tôi nghĩ mối nguy hiểm lớn nhất là có một thứ gì đó sẽ trì hoãn những lợi ích mà hệ thống thương mại tự do mang lại.
Fortune: Liệu có phải việc các công ty như công ty của ông chuyển sản phẩm ra các nước là nguyên nhân của vấn đề thâm hụt mậu dịch?
Gates: Microsoft là một doanh nghiệp xuất khẩu ròng nhiều hơn bất kỳ doanh nghiệp nào khác. Chúng tôi thực hiện Nghiên cứu và Phát triển ở đây hơn là chúng tôi bán hàng ở đây. Nếu Mỹ có khoảng hơn 100 doanh nghiệp như Microsoft, thâm hụt mậu dịch sẽ không còn nữa.
Buffett: Công nghệ cao là một trong những lợi thế rất lớn của chúng tôi. Bạn đang tìm kiếm những thứ bạn hiểu rõ trên thế giới, và làm các đối thủ tức điên. Chúng ta sẽ không bao giờ trồng chuối tốt ở đất nước này. Nhưng tôi không nghĩ thâm hụt mậu dịch là một thứ ổn định. Nếu bạn gặp phải một sự sụp đổ kinh tế nghiêm trọng, và mọi người chỉ có ý kiến chung chung là “nhìn xem những gì tình huống này đã gây ra” – bạn sẽ phải chịu một số hậu quả chính trị tệ hại. Điều này hầu như không thể tránh khỏi.
Fortune: Đây là nỗi lo lớn nhất của ông về những gì sẽ xảy ra với nước Mỹ?
Buffett: Vấn đề lớn nhất chúng ta gặp phải là các quốc gia lừa đảo, khủng bố, vũ khí hạt nhân, hóa học, hoặc vũ khí sinh học. Về mặt kinh tế, tôi nghĩ rằng nước Mỹ sẽ ổn thôi. Nếu Tổng Sản lượng Quốc gia của mỗi đất nước trên thế giới tăng trưởng nhanh hơn của chúng ta, vốn dĩ nó nên diễn ra như vậy.
Gates: Thật tệ khi môn kinh tế học không được dạy hay không phải là sở thích của nhiều người, bởi vì bạn thường gặp những người dường như muốn nói, “Chỉ có một số công việc nhất định.” Đó không phải là trường hợp ở đây. Giả sử ngày mai chúng ta có thể quyết định rằng mọi người ở Ấn Độ cũng đều giàu có như chúng ta. Liệu thế giới có trở thành một nơi tốt hơn? Chắc chắn. Liệu Mỹ có phát triển tốt hơn vì những sản phẩm và công việc tuyệt vời đã được thực hiện ở đó hay không? Chắc chắn rồi. Thế giới trở nên giàu có hơn là một điều tuyệt vời. Đó đã là một điều tuyệt vời. Nó sẽ tiếp tục như vậy.
Buffett: Đây không phải là một trò chơi có tổng bằng không.
Gates: Đúng, đó là điểm mấu chốt.
Fortune: Hai ông có những triết lý khác nhau về hoạt động từ thiện, như Bill hiện đã ủng hộ rất nhiều tiền cho từ thiện và Warren thì đợi cho đến khi ông qua đời để quyên góp tiền cho từ thiện. Ông sẽ lập luận ra sao để thuyết phục người kia rằng cách của ông là đúng?
Buffett: À, tôi nghĩ cách của cậu ấy tốt hơn. Cậu ấy và Melinda đang dành rất nhiều tiền, những bộ não tuyệt vời, và cả trái tim cho dự án. Đó là một sự kết hợp tuyệt vời. Tôi không thể làm điều ý nghĩa này khi tôi ở tuổi 40.
Ở tuổi của tôi bây giờ, bạn có thể cho rằng tôi đã kiếm được một khối lượng tiền rất đáng kể. Tôi không cần cổ phiếu để kiểm soát Berkshire, vì vậy thực hiện một điều gì đó cực kỳ quan trọng trước khi tôi qua đời có thể là hợp lý.
Fortune: Đây có phải là một sự thay đổi đối với ông?
Buffett: Đó là một sự tiến hóa.
Gates: Vào năm 1998, tôi chỉ mới bắt đầu làm thiện nguyện, và rồi lẽ ra tôi nên nói rằng “Nhìn này, thật quá rắc rối và mất tập trung khi kiếm tiền và cho tiền từ thiện cùng một lúc.” Tôi không nghĩ mình có thể dành thời gian cho việc đó. Vì cha tôi đã khuyến khích tôi bắt đầu, vì Melinda đã ở bên cạnh thuyết phục, và cả hai đều sẵn sàng để dành thời gian cho nó, chúng tôi có một Steve Ballmer1 tuyệt vời, người tôi thực sự đã quen biết tại Microsoft trong một thời gian dài. Những mảnh ghép quả thực rất vừa vặn. Tôi luôn nghĩ rằng tôi sẽ chờ đợi cho đến khi tôi ngừng làm việc toàn thời gian trước khi tôi thực hiện nhiều hoạt động từ thiện. Nhưng mọi thứ đã diễn ra tốt đến ngạc nhiên khi tôi có thể làm cả hai việc cùng lúc.
1. Steve Ballmer (24/3/1956): Một doanh nhân người Mỹ và là Giám đốc Điều hành của Microsoft từ tháng 1 năm 2000 đến tháng 2 năm 2014.
Buffett: Bill có suy nghĩ sáng suốt hơn về vấn đề này. Tôi không thể làm những gì cậu ấy làm. Tôi sẽ không tìm thấy niềm vui, bởi vì tôi biết tôi không giỏi việc đó như vậy. Tôi muốn thấy tiền của tôi được sử dụng thông minh. Không nhất thiết phải xem cái chết của tôi là thời điểm hoàn hảo để bắt đầu.
Fortune: Hai ông có chia sẻ về việc này không?
Buffett: Chắc chắn rồi.
Gates: Nhất định.
Fortune: Liệu ông có đang cố gắng thuyết phục Warren trải nghiệm hoạt động từ thiện như ông đang làm?
Gates: Không, nhưng tôi chia sẻ với ông ấy những niềm vui tôi tìm thấy trong công việc này và các động lực vui vẻ khi trải nghiệm thấy việc gì hiệu quả, việc gì không. Nó rất giống với thế giới kinh doanh – tuy không đủ để bạn chỉ cần bước vào là được, nhưng khi bạn làm quen với những điểm đặc thù của nó thì bạn có thể áp dụng các kinh nghiệm kinh doanh vào nó.
Buffett: Berkshire là một phần của tôi nên tôi không bao giờ có thể từ bỏ nó. Nhưng tôi không nghĩ rằng tôi sẽ nhân tài sản cá nhân của mình lên gấp 5 lần trong 6-8 năm. Hiện tại số tài sản này đủ lớn để thực hiện những việc rất quan trọng, và rất khác với thời điểm khi mà tôi ở độ tuổi 40. Ý tôi là, nếu tôi đã làm việc này từ những năm 40 tuổi, số tiền có thể đã là 20 triệu đô-la. Giờ thì chúng tôi có một số tiền có thể giúp làm một việc quan trọng nào đó. Tôi không cần nó để kiểm soát Berkshire. Không ai có thể chiếm Berkshire với quy mô hiện tại, nhưng đây không phải là trường hợp của 20 năm trước đây.
Gates: Tôi không bao giờ nghĩ rằng để các con thừa kế gia sản có thể là bất lợi cho đến khi tôi đọc một bài báo của tạp chí Fortune.
Buffett: “Bạn có nên để lại toàn bộ tài sản cho các con?”
Gates: Đúng vậy. Ý kiến của Buffett trong bài viết đó rất mạnh mẽ. Và sau khi tôi đọc nó, tôi đã nghĩ, chao ôi, sẽ là một sai lầm vì bạn phải vượt qua một lượng nhất định những người phản đối [để có thể cho con tất cả tài sản]. Vì vậy, ý tưởng tài sản nên quay trở lại đóng góp cho xã hội của Warren đã ảnh hưởng đến tôi rất nhiều.
Buffett: Anh đang làm một việc tốt hơn rồi đấy. [Cười] Thật thú vị khi chính những người nói về chu kỳ phụ thuộc vào phúc lợi tồi tệ rồi sẽ cho con cái của họ một nguồn cung phiếu thực phẩm suốt đời ngay khi chúng được sinh ra. Nhưng, họ cho rằng thật kinh khủng nếu phải cho những phụ nữ nghèo đã sinh nở hai lần khi mới 17 tuổi bất cứ thứ gì.
Fortune: Warren này, tôi biết rằng ông không thường đầu tư vào các công ty công nghệ cao, nhưng tôi tò mò liệu ông có thấy Microsoft cám dỗ không.
Buffett: Nếu Bill có mặt trong ban quản trị của tôi, mọi người sẽ cho rằng tôi nhận được nguồn tin nội bộ nếu tôi đạt lợi nhuận. Và nếu tôi không đạt lợi nhuận thì đây không phải là một ý tưởng hay. (Cả hai bắt đầu cười).
Gates: Vâng, họ cho rằng tôi đã lừa ông.
Fortune: Nhưng này Bill, ông chẳng phải đã mua thêm cổ phiếu Berkshire Hathaway hay sao.
Gates: Vâng, trong số tất cả các thành viên hội đồng quản trị, giá trị thực cổ phiếu Berkshire mà tôi sở hữu có tỷ lệ nhỏ nhất.
Fortune: Vậy thì đây không phải là một nỗ lực để mua lại Berkshire…
Gates: [Cười] Không, không, không.
Buffett: Nếu có ai đó tiếp quản, tôi hy vọng đó là Bill.
Gates: Khi tôi lên đến 1% cổ phần, tôi sẽ cho ông biết.
Fortune: Bàn về Berkshire, cả hai ông đều thích công ty con của nó, Dairy Queen.
Vì vậy, câu hỏi cuối cùng là: Dilly Bar hay Blizzard?
Buffett: Vâng, tôi thực sự thích món mà tôi gọi là Dusty Sundae. Nhưng nếu lựa chọn tôi sẽ chọn Blizzard.
Gates: Tôi sẽ chọn Dilly Bar.
Sau đó, Dan Roth đã trò chuyện riêng với hai người đàn ông. Đây là bản ghi chép về Buffett:
Buffett lên tiếng…
Về tưởng liên quan đến thuế phẳng
Tôi sẽ không ủng hộ nó. Theo tôi, chúng tôi có một hệ thống thuế đã quá phẳng rồi. Nếu bạn nhìn vào khoản thuế lương bổng, hiện trên 12% và áp dụng cho khoản thu nhập đầu tiên 80.000 đô-la hoặc 90.000 đô-la, bạn sẽ thấy Bill và tôi thực sự không phải trả bất cứ khoản nào liên quan đến thu nhập của chúng tôi. Đối với những người làm việc cho chúng tôi, thuế suất của họ trong nhiều trường hợp là bằng hoặc thậm chí còn cao hơn thuế của tôi, kể từ khi tỷ lệ lợi nhuận và cổ tức bị cắt giảm còn 15%. Những gì đã diễn ra ở đất nước này trong những năm gần đây rất có ích cho người giàu và không giúp gì nhiều cho những người nghèo hơn.
Thành thật mà nói, tôi nghĩ rằng Bill và tôi nên chịu mức thuế cao hơn đối với thu nhập của chúng tôi. Chúng tôi trả ít hơn một nửa mức mà tôi đã trả 25 năm trước đây khi tôi kiếm được ít tiền hơn. Họ đã thực sự chăm sóc người giàu rất tốt.
Về những quyết định đầu tư tồi tệ nhất
Những sai lầm lớn nhất là về sự bỏ lỡ chứ không phải về phí hoa hồng. Chúng tôi không bao giờ mất nhiều tiền như vậy cho bất kỳ khoản đầu tư nào, nhưng đó là với những thứ tôi biết đủ rõ để quyết định nhưng rồi lại không đầu tư. Chúng tôi đã bỏ lỡ lợi nhuận khoảng 10 tỷ đô-la. Thực tế là quyết định không mua Microsoft trước đây không phải là một cơ hội bị bỏ lỡ vì tôi không hiểu tường tận để đưa ra quyết định đó, nhưng có những khoản đầu tư khác mà tôi nắm chắc và vì một lý do nào đó mà tôi không đầu tư chút nào hoặc tôi đã đầu tư trên quy mô nhỏ. Tôi đã “mút ngón tay” vào lúc lẽ ra nên viết séc đầu tư, cơ bản là vậy.
Nhưng, bạn biết đấy, nếu bạn là một tay golf và bạn đánh trúng trên mỗi lỗ, trò chơi sẽ không vui chút nào. Ít nhất đó là lời giải thích của tôi về lý do tại sao tôi cứ mãi đánh bóng vào bãi cỏ.
Về việc cho con tiền thừa kế
Các con của tôi sẽ trở nên giàu có, trong danh sách nửa phần trăm dân số trên thế giới, nhưng 99% những gì tôi có sẽ cho từ thiện, và Bill cũng có cùng quan điểm. Chúng tôi sẽ không làm chúng trở thành những đứa trẻ siêu giàu. Chắc chắn chúng sẽ giàu có, nhưng ý tưởng về tài sản kế thừa làm tôi mất hứng. Nếu bạn nói về sự bình đẳng cơ hội ở đây và rằng thực sự tất cả những người có tài đều cạnh tranh công bằng để giành phần thưởng cao nhất, ý tưởng bạn phải bàn giao những vị trí cao trong xã hội cho ai đó chỉ vì họ được sinh ra đúng chỗ, tôi nghĩ nó gần như không phải là tính cách của người Mỹ.
Cắt giảm lợi nhuận của bạn!
Ngày 20 tháng 3 năm 2006
Trích đoạn từ bức thư Buffett gửi cổ đông Berkshire Hathaway trong báo cáo thường niên năm 2005
Một đồng nghiệp của Warren Buffett đã nói cách đây không lâu rằng “Ông ấy đúng là một nhà tiết chế,” sử dụng cụm từ lạ thường này để chỉ khả năng phi thường của Buffett khi làm giảm các rắc rối hoặc vấn đề xuống hết mức. Buffett thể hiện tài năng trong đoạn trích từ lá thư gửi cổ đông năm 2005 của mình, khẳng định “tất cả những gì các chủ sở hữu có thể kiếm được từ hôm nay cho đến Ngày Phán Xét chính là kết quả kinh doanh của họ”. Tiếp đó, dưới tiêu đề “Cắt giảm lợi nhuận của bạn!” màFortune đặt cho trích đoạn này, ông đã thương xót “các chi phí ma sát” và hệ quả đắt đỏ của nó lên một gia đình có tên là Gotrocks.
Cụm từ “chi phí ma sát” luôn ở trong đầu Buffett kể từ khi ông thành lập Công ty TNHH Buffett vào năm 1956. Theo định nghĩa ngày nay, nó là một quỹ phòng hộ. Tuy nhiên, để cạnh tranh với một vài quỹ khác, Buffett đã chuyển 6% đầu tiên trong lợi nhuận hằng năm của quỹ cho các đối tác của mình, trước khi bắt đầu thu thập bất kỳ khoản lợi nhuận nào cho chính mình. Sau đó, khi các lá thư cổ đông của ông bắt đầu nổi tiếng, ông khuyên rằng hầu hết các nhà đầu tư cá nhân phải đầu tư vào các quỹ có chỉ số giá rẻ hơn là cố gắng tự đương đầu với thị trường chứng khoán.
Tuy nhiên, sau đó, ông đã đặt cược chống lại Protégé Partners, trong đó ông cược rằng một quỹ chỉ số S&P không được quản lý và có chi phí thấp trong hơn 10 năm có thể vượt qua hiệu suất của 5 quỹ phòng hộ của những quỹ được lựa chọn kỹ càng cho vụ đánh cược này. Gánh nặng mà các đối tác hữu hạn của quỹ phải chịu tất nhiên là hai bộ chi phí ma sát, phí đầu tiên là ở cấp độ quỹ phòng hộ, phí thứ hai ở cấp quỹ của quỹ. Khi cuốn sách này được xuất bản vào năm 2013, 5 năm từ thời điểm đánh cược đã trôi qua và lần đầu tiên Buffett vượt lên vị trí dẫn đầu. – CL
Berkshire và các chủ sở hữu khác của thị trường Mỹ đang phát triển thịnh vượng một cách dễ dàng trong những năm qua. Lấy ví dụ trong khoảng thời gian dài hạn, từ ngày 31 tháng 12 năm 1899 đến ngày 31 tháng 12 năm 1999, chỉ số Dow đã tăng từ 66 lên 11,497 điểm. (Hãy đoán xem tốc độ tăng trưởng hằng năm là bao nhiêu để có thể tạo ra kết quả trên, câu trả lời đầy ngạc nhiên nằm ở phần cuối của bài báo). Sự tăng trưởng khổng lồ này là vì một lý do đơn giản: Trong suốt thế kỷ, các doanh nghiệp Mỹ đã hoạt động rất tốt và các nhà đầu tư đã lướt trên làn sóng thịnh vượng của doanh nghiệp này. Các doanh nghiệp tiếp tục hoạt động hiệu quả. Nhưng hiện tại các cổ đông, sau hàng loạt các vết thương tự gây ra, đang tập trung cắt giảm lợi nhuận họ có thể đạt được từ các khoản đầu tư của họ.
Lời giải thích chuyện này đã xảy ra thế nào bắt đầu với một sự thật cơ bản: Với những trường hợp ngoại lệ không quan trọng, chẳng hạn như nếu công ty phá sản, khi mà các chủ nợ của các công ty này phải gánh một số khoản nợ của nó, thì số lợi nhuận chủ sở hữu có thể kiếm được trong tổng thể từ bây giờ đến Ngày Phán xét chính là lợi nhuận công ty đó kiếm được trong tổng thể. Thật vậy, bằng cách mua và bán với một chút may mắn hoặc thông minh, nhà đầu tư A có thể nhận được nhiều hơn số cổ phần của mình trong miếng bánh nhờ chi phí bỏ ra của nhà đầu tư B. Vâng, tất cả các nhà đầu tư cảm thấy họ giàu hơn khi cổ phiếu tăng giá. Nhưng một chủ sở hữu chỉ có thể thoát ra một khi có ai đó thay thế vị trí của mình. Nếu một nhà đầu tư bán ra giá cao, có người sẽ phải mua giá cao. Đối với toàn thể chủ sở hữu, tuyệt đối không có phép thuật. Không có cơn mưa tiền từ ngoài không gian nào có thể giúp họ nhận thêm tiền từ các công ty của họ ngoài khoản tiền được tạo ra bởi chính các công ty đó.
Thật vậy, chủ sở hữu phải kiếm được ít hơn doanh nghiệp của họ kiếm được vì các chi phí “ma sát”. Đó là quan điểm của tôi: Các khoản chi phí đang phát sinh này sẽ làm cổ đông kiếm được ít hơn nhiều so với số tiền họ kiếm trước đây.
Để hiểu làm thế nào mà các chi phí lại tăng lên, hãy tưởng tượng rằng tất cả các công ty Mỹ đều và sẽ luôn thuộc về một gia đình. Chúng ta sẽ gọi họ là Gotrocks. Sau khi nộp thuế trên cổ tức, thế hệ nối tiếp thế hệ, gia đình này trở nên giàu có hơn nhờ tổng số tiền thu được từ các công ty của nó. Ngày nay số tiền đó vào khoảng 700 tỷ đô- la mỗi năm. Đương nhiên, gia đình này đã chi tiêu một chút trong tổng số tiền này. Nhưng phần nó tiết kiệm được đều đặn tăng trưởng để phục vụ cho lợi ích của gia đình. Trong gia đình Gotrocks, mọi người đều giàu có với tốc độ như nhau, và tất cả đều hòa thuận.
Nhưng bây giờ chúng ta hãy giả định rằng có vài người Trợ giúp bịp bợm nói năng lưu loát tiếp cận gia đình và thuyết phục mỗi thành viên cố gắng qua mặt người thân của mình bằng cách mua một số cổ phiếu của họ và bán chúng cho những người khác. Tất nhiên, những người Trợ giúp đồng ý xử lý các giao dịch này với một khoản phí. Gotrocks vẫn sở hữu tất cả các công ty Mỹ; các giao dịch chỉ giúp sắp xếp lại việc bên nào sở hữu cái gì. Vì vậy, lợi nhuận hằng năm của gia đình bị giảm đi, tương đương với số lợi nhuận của các công ty Mỹ trừ đi khoản hoa hồng được trả. Càng nhiều thành viên trong gia đình thực hiện mua bán, miếng bánh cổ phần của họ càng nhỏ và phần mà những người Trợ giúp nhận được càng lớn. Những người Trợ giúp kiêm môi giới không thể bỏ qua sự thật này: Các hoạt động giao dịch là bạn của họ, họ thúc đẩy nó bằng rất nhiều cách.
Sau một thời gian, hầu hết các thành viên trong gia đình nhận ra rằng họ không giỏi trong trò chơi “vượt qua người thân” mới này. Một nhóm Trợ giúp khác xuất hiện. Những người mới đến này giải thích cho mỗi thành viên của gia đình Gotrocks rằng bản thân anh ta sẽ không bao giờ khôn hơn những người khác trong gia đình. Phương pháp đề xuất: “Thuê chúng tôi làm người quản lý để thực hiện công việc một cách chuyên nghiệp.” Những người Trợ giúp kiêm nhà quản lý tiếp tục sử dụng những người Trợ giúp kiêm môi giới để thực hiện giao dịch; Các nhà quản lý thậm chí có thể tăng các hoạt động của họ để giúp các nhà môi giới kiếm nhiều tiền hơn nữa. Nói chung, giờ đây một miếng bánh cổ phần lớn hơn sẽ thuộc về hai lớp người Trợ giúp.
Sự thất vọng của gia đình tăng lên. Mỗi thành viên hiện đang làm việc với các chuyên gia. Tuy nhiên xét về tổng thể, tình hình tài chính của nhóm đã biến chuyển tệ hại hơn. Giải pháp? Tất nhiên là cần nhiều sự trợ giúp hơn.
Các trợ giúp này xuất hiện dưới dạng các chuyên gia lập kế hoạch tài chính và cố vấn từ các tổ chức tài chính, những người sẽ tư vấn cho Gotrocks để lựa chọn những người Trợ giúp kiêm nhà quản lý. Gia đình mu muội sẽ hoan nghênh sự trợ giúp này. Đến hiện tại, các thành viên biết rằng họ có thể chọn hoặc là sai cổ phiếu hoặc là sai người lựa chọn cổ phiếu. Người ta có thể hỏi rằng tại sao họ nên mong đợi sẽ chọn được tư vấn viên phù hợp? Nhưng câu hỏi này không xảy ra với Gotrocks, và nhà tư vấn kiêm người Trợ giúp chắc chắn không gợi ý điều đó cho họ.
Gotrocks, hiện đang thuê đến 3 lớp người Trợ giúp đắt tiền, thấy rằng kết quả của họ ngày càng tệ hơn, và họ chìm vào thất vọng. Nhưng đúng lúc hy vọng dường như mất dần, nhóm thứ tư được gọi là những người Trợ giúp siêu đẳng đã xuất hiện. Những chuyên gia thân thiện này giải thích cho Gotrocks rằng các kết quả không đạt yêu cầu của họ xảy ra vì những người Trợ giúp hiện tại gồm môi giới, quản lý, tư vấn không đủ khả năng và hoàn toàn không thận trọng. Những người Trợ giúp mới hỏi rằng, “Bạn có thể trông đợi gì được từ nhóm những thây ma này?”
Những người mới đến đưa ra một giải pháp đơn giản tuyệt vời: Hãy trả nhiều tiền hơn. Với sự tự tin vào bản thân, các nhà trợ giúp khẳng định rằng các khoản thanh toán khổng lồ ngoài các khoản phí cố định là những thứ mà mỗi thành viên trong gia đình phải từ bỏ để thực sự vượt qua người thân của mình.
Các thành viên có khả năng quan sát nhất của gia đình thấy rằng một số người Trợ giúp siêu đẳng thực sự chỉ là những quản lý kiêm Trợ giúp với lớp vỏ bọc mới, mang những cái tên gợi cảm như quỹ đầu tư mạo hiểm hay quỹ cổ phần tư nhân. Tuy nhiên, các Trợ lý mới đã bảo đảm với Gotrocks rằng sự thay đổi bề ngoài này là quan trọng, nhằm mang lại sức mạnh kỳ diệu cho những người mang nó như Clark Kent khi ông chuyển sang trang phục Superman của mình. Yên tâm với lời giải thích này, gia đình quyết định trả tiền.
Và đây là tình trạng của chúng ta hiện nay: Một phần lợi nhuận ghi nhận lẽ ra dành toàn bộ cho chủ sở hữu, nếu tất cả số tiền này vẫn còn nguyên, giờ đây sẽ dành cho đội quân Trợ giúp tinh nhuệ. Trận đại dịch gần đây từ các sắp đặt lợi nhuận trong đó người Trợ giúp nhận được những phần lớn của số lợi nhuận khi họ thông minh hoặc may mắn, và để các thành viên trong gia đình gánh chịu tất cả các khoản lỗ và lệ phí cố định khi người Trợ giúp ngu ngốc hoặc xui xẻo (hoặc đôi khi quanh co).
Khá nhiều những vụ sắp đặt như thế này – một mặt, người Trợ giúp nhận phần lớn lợi nhuận; mặt khác, thành viên nhà Gotrocks thua và phải trả giá đắt vì đặc quyền được làm như vậy. Ngày nay, trên thực tế, tất cả các loại chi phí ma sát của gia đình có thể lên đến 20% lợi nhuận của doanh nghiệp Mỹ. Nói cách khác, gánh nặng phải trả cho những người Trợ giúp có thể khiến các nhà đầu tư cổ phiếu Mỹ chỉ kiếm được khoảng 80% lợi nhuận so với nếu họ chỉ ngồi yên và không nghe ai cả.
Cách đây rất lâu, Ngài Isaac Newton đã khai sáng cho chúng ta 3 định luật chuyển động. Tuy nhiên, tài năng của Ngài Isaac không phải về đầu tư: Ông đã mất một số tiền lớn trong vụ Bong bóng biển Nam Ấn1, sau đó ông giải thích rằng, “Tôi có thể tính được đường di chuyển của các ngôi sao, nhưng không tính được sự điên rồ của con người.” Nếu không bị thiệt hại vì lần đầu tư này, Ngài Isaac có thể đã khám phá ra định luật chuyển động thứ tư: Đối với tổng thể các nhà đầu tư, lợi nhuận giảm khi chuyển động tăng lên.
Đây là câu trả lời cho câu hỏi đặt ra ở phần đầu của bài báo này: Cụ thể, chỉ số Dow tăng từ 65,73 lên 11.497,12 trong thế kỷ XX, và đạt mức tăng kép 5,3% mỗi năm. (Tất nhiên, các nhà đầu tư cũng nhận được cổ tức). Để đạt mức tăng lợi nhuận tương đương trong thế kỷ XXI, chỉ số Dow sẽ phải tăng lên vào ngày 31 tháng 12 năm 2099 để đạt – hãy bình tĩnh – chính xác là 2.011.011,23 đô-la. Nhưng tôi sẵn sàng để chốt ở mức 2 triệu đô-la; 6 năm từ khi bắt đầu thế kỷ này, chỉ số Dow Jones không tăng một chút nào.
1. Bong Bóng Biển Nam Ấn (South Sea Bubble): Sự kiện diễn ra vào thế kỷ XVIII khi cổ phiếu công ty South Sea tăng 400% chỉ trong 3 tháng và giảm xuống với tốc độ tương tự, làm cho nhiều người bị phá sản.
Nhân cách phụ của Buffet
Ngày 29 tháng 5 năm 2006
Andy Serwer
Sự kết hợp của Warren Buffett và Charles Munger được xem là rất hoàn hảo – không thể tưởng tượng được nếu nó không xảy ra – đến mức hai cư dân Omaha khác tuyên bố rằng chính họ đã giới thiệu hai ông với nhau. Vụ tranh cãi này sẽ không được làm rõ ở đây. Tuy nhiên, cần nhớ lại rằng một trong những ứng cử viên, Richard Holland, đã viết trong cuốn sách Chân lý và những câu chuyện cao siêu khác1 của ông, về buổi tối mà ông tuyên bố đã gắn kết cả hai: “Chúng tôi sắp xếp hai chiếc ghế trong một góc phòng khách để mọi người trò chuyện, và đó là nơi Warren và Charlie ngồi suốt buổi tối. Theo trí nhớ của tôi, họ không rời khỏi ghế và cũng không ngừng nói chuyện cho tới khi phải rời khỏi tiệc… Charlie đã nói chuyện nhiều đến nỗi thở không ra hơi.”
Trong bài báo sau đó, Andy Serwer mô tả những tài năng độc đáo mà Munger mang đến cho bữa tiệc Berkshire, và làm cho cuộc họp thường niên trở thành buổi diễn tuyệt vời nhất của hai người đàn ông vốn chưa bao giờ trình diễn ở nhà hát Broadway. Về phần giới thiệu này, tôi nghĩ có thể cũng rất thú vị khi yêu cầu Charlie nhìn lại những năm gắn bó với Buffett/ Berkshire của ông và chia sẻ tường tận, bằng phong cách đặc trưng của ông, về những đóng góp mà ông nghĩ là quan trọng nhất cho thành công phi thường của Berkshire.
Ông ấy không hoàn toàn hưởng ứng câu hỏi mồi. Thay vào đó, ông đã sử dụng đại từ, “chúng tôi”, đó là một phần không tách rời của nền văn hóa Berkshire. Charlie nói: “Chúng tôi đã chọn phong cách làm việc phù hợp với bản chất của mình, nó đòi hỏi phải dành nhiều thời gian để suy nghĩ và học hỏi, đồng thời ràng buộc với sự tự chỉ trích suốt đời, sự dằn vặt nhẹ vì mọi lỗi lầm và nhiều sự hài hước. Đương nhiên, điều này đã dẫn đến sự ủy quyền cực đoan, là điều mà chúng tôi lẽ ra đã muốn ở vai trò người được tin tưởng. Chúng tôi biết phương pháp của mình sẽ tạo ra các kết quả tài chính tốt cho chúng tôi và cho những người dựa vào chúng tôi. Nhưng chúng tôi không dự đoán rằng mình sẽ thu hút nhiều sự ngưỡng mộ hơn mức chúng tôi xứng đáng có và rằng điều này sẽ giúp chúng tôi hạnh phúc khi kết quả là chúng tôi trở thành những nhà giáo, người ở một mức nào đó đã sao chép phong cách cố vấn của Warren, Ben Graham”. – CL
1. Chân lý và những câu chuyện cao siêu khác (Truth and Other Tall Tales): Cuốn tự truyện do tác giả Richard Holland viết về cuộc đời và những kinh nghiệm kinh doanh của ông.
Nếu hỏi mọi người về Berkshire Hathaway, hầu hết họ sẽ nói với bạn rằng đó là công ty của Warren Buffett, điều này luôn đúng. Nhưng những người biết thì nhận ra rằng thành công của Berkshire thực sự là một nỗ lực nhóm của Buffett và đối tác lâu năm của ông, Charlie Munger. Chắc chắn, Buffett là đầu tàu, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc cũng như nhân vật rất quen thuộc với công chúng của công ty, trong khi Munger chỉ là Phó Chủ tịch và thuộc tuýp người đứng sau sân khấu. Nhưng Munger từ lâu đã là một nhà tư tưởng đồng hợp tác tại Berkshire, vốn là việc không nhỏ.
Vào đầu tháng 5, tôi đã thực hiện chuyến hành hương tới Omaha để tham dự cuộc họp thường niên nổi tiếng thế giới của Berkshire và để thấy được cái mà Munger gọi là “lễ hội của chủ nghĩa tư bản”. Tuy nhiên, tôi đã có một lịch trình khác, đó là quan sát Munger ở cự ly gần và được phỏng vấn ông. Có lẽ bạn đã đọc rất nhiều về các cuộc họp thường niên của Berkshire, và tôi cũng vậy. Nhưng nó vẫn là một trải nghiệm siêu thực khi dạo bước vào trung tâm Qwest chật ních người ở Omaha và thấy 17.000 cổ đông, cộng với 7.000 người khác có mặt khắp nơi trong các căn phòng đông đúc. Và hầu hết (nhiều người trong số họ là tỷ phú) đang chú ý mãnh liệt đến hai ông lão – Buffett 75 tuổi và Munger 82 tuổi – thảo luận suốt 5 giờ. Ở bối cảnh này, bạn sẽ mong đợi được thấy hai nhà diễn thuyết đầy quyền lực và sức thuyết phục – trong trường hợp này, theo một nghĩa nào đó, Buffett và Munger là hai người như vậy.
Qua nhiều năm, chương trình biểu diễn của Buffett và Munger luôn đi theo một công thức vũ đạo. Hai người đàn ông ngồi ở trung tâm sân khấu, đối mặt với một biển những cổ đông. Các câu hỏi thường được Buffett nhận lấy đầu tiên, ông sẽ trả lời và sau đó huyên thuyên một cách không thể bắt chước về một hoặc hai câu nói đùa trong 5 phút hoặc lâu hơn. Tại thời điểm đó, ông ấy sẽ nhìn vào đối tác của mình và hỏi: “Còn anh thì sao Charlie?” Sau đó, một trong hai điều sẽ xảy ra: Munger sẽ xen vào và đưa ra lời bình luận sắc sảo, thường xuyên gay gắt (đôi khi gợi lên những tiếng nói lo âu hoặc ồn ào từ đám đông). Hoặc Munger sẽ chỉ lên tiếng rằng, “Tôi không có gì để nói.” (Việc có thể cũng gây cười sau một cuộc trình diễn của Buffett kéo dài dai dẳng). Sau đó Buffett thích trở lại với lời phát biểu cuối dài 2 phút. Buổi nói chuyện diễn ra trong 2 tiếng rưỡi buổi sáng. Sau đó tạm nghỉ vào giờ ăn trưa. Và rồi một vài giờ nữa vào buổi chiều. Munger nói với tôi một ngày sau cuộc họp marathon năm nay, “Chúng tôi tình cờ đi theo phong cách hai người này.” Mọi việc sẽ không như ý nếu chỉ có một người. Nếu có một nhân vật thông thái nhất trái đất trên sân khấu, mọi người sẽ cảm thấy rất mệt mỏi. Cần một chút tương tác giữa các nhân vật để tung hứng trong khoảng thời gian lễ hội dài dằng dặc.”
Những nhà quan sát Berkshire nói rằng Munger, người có thể trở nên gai góc và không thể chịu đựng nổi những trò ngu ngốc, gần đây đã trở nên gần gũi hơn. Không giống như Buffett, người dự định tham gia vào hoạt động từ thiện sau khi chết, Munger đã tích cực hiến tặng nhiều khoản tiền lớn, chủ yếu là từ giáo dục và chăm sóc sức khỏe trong tiểu bang California.
Và sau đó là cuốn sách ảnh đặc sắc, Niên lịch của Charlie Nghèo khổ: Sự thông minh và khôn ngoan của Charles T. Munger1, phiên bản thứ hai xuất hiện đúng vào thời gian diễn ra cuộc họp thường niên năm nay. Tất nhiên, tựa đề và hàm ý của cuốn sách là một sự gợi nhớ về Benjamin Franklin, người mà Munger rất ngưỡng mộ. Chỉ trong một giây, ông nở một nụ cười bí ẩn và nói: “Sự thông thái của Franklin và cả tài năng đều có rất nhiều trong sách.” Franklin chơi 4 nhạc cụ. Ông là nhà khoa học và nhà phát minh hàng đầu của quốc gia, và là một nhà văn, nhà chính trị và mạnh thường quân hàng đầu. Chẳng có ai giống như ông ấy cả.”
1. Poor Charlie’s Almanack: The Wit and Wisdom of Charles T. Munger (tạm dịch: Niên lịch của Charlie Nghèo khổ: Sự thông minh và khôn ngoan của Charles T. Munger): Cuốn sách về những phát biểu nổi tiếng của Charlie Munger do Peter Kaufman biên soạn, xuất bản lần đầu vào năm 2005.
Đối với các cổ đông của Berkshire, bản thân Munger khá khác thường. Một cổ đông nói với tôi, “Warren rõ ràng rất thông thái, nhưng tôi chỉ thích những gì Charlie nói.” Theo một cách nào đó, Buffett và Munger nhắc nhở tôi về ban nhạc Rolling Stones. Buffett, giống như Mick Jagger, chắc chắn là người hát chính. Nhưng nhiều người tin rằng Munger, giống như Keith Richards, cũng rất tuyệt vời, hoặc còn hơn thế.
Vậy trong năm nay đâu là những phát biểu dí dỏm của Charlie? Khi Buffett nói về các cổ đông đang đầu tư một mình, ông nói rằng điều đó sẽ tạo hiệu quả cho nhiều người trong số họ. Charlie tiếp tục theo đuổi ý này, “Nhiều người trong số các bạn sẽ không hoạt động hiệu quả.” Munger chỉ trích các kiểm toán viên, nói rằng họ “đáng khinh. Họ đã hoàn toàn bị bán.” Các chính phủ tham nhũng nước ngoài bị “thao túng”. Một tác giả đáng kính của nhiều cuốn sách kinh doanh được xem là “điên rồ”. Còn đối với cơ quan hành pháp, ông cho rằng Mỹ đang “xuất thuốc độc sang châu Âu”. Đã đến lúc quỹ phòng hộ và các công ty cổ phần tư nhân nhận hình phạt tại một thời điểm nào đó, và Phố Wall đầy những “cố vấn đánh cược đua ngựa”. Và nhiều nữa. Nhưng Munger không chỉ gọi tên những kẻ bất tài. Nhiều câu nói chế giễu của Munger là những bài tập về sự khiêm tốn và trí tuệ cơ bản. “Tôi và Warren tránh làm bất cứ việc gì mà người nào khác ở Berkshire có thể làm tốt hơn,” anh ta nói với tôi. “Bạn không thực sự có năng lực nếu bạn không biết giới hạn của bạn ở đâu.”
Trước khi cuộc họp kết thúc, Berkshire tuyên bố rằng họ đã mua 80% cổ phần của Iscar, nhà sản xuất dụng cụ cắt kim loại của Israel (đây là vụ mua lại đầu tiên của Berkshire ở nước ngoài) với giá 4 tỷ đô-la. Tại Iscar, Munger nói rằng ông và cộng sự đã tìm thấy một ban quản lý với “tài năng siêu đẳng và nhân cách toàn vẹn”. Tôi nghe nói rằng Munger, người thường hay lưỡng lự về các thương vụ hơn Buffett, lại rất nhiệt tình với Iscar từ giai đoạn thương thảo và thậm chí còn háo hức hơn Buffett khi thỏa thuận. Munger nói: “Ai mà không cảm thấy hào hứng với thỏa thuận này chứ?”
Việc luôn làm tôi phát cuồng về Berkshire, Buffett và Munger là cách họ làm cả công việc kinh doanh lẫn nghệ thuật đầu tư, những thứ mà tôi thấy quá phức tạp và rối rắm, trở nên rất đơn giản. Munger giải thích “Berkshire đang trong quá trình thực hiện các dự đoán dễ dàng.” Nếu một thương vụ có vẻ quá khó khăn, các cộng sự sẽ hoàn toàn mặc kệ nó. Nhưng một câu nói của Munger mà tôi nhớ rất rõ trong cuộc họp năm nay là: “Chúng tôi có một trách nhiệm đạo đức cao để giữ sự hợp lý”, ông nói. Hãy suy nghĩ về điều này trong một phút. Bạn đã bao giờ nghe bất kỳ nhà lãnh đạo doanh nghiệp mô tả như vậy về bổn phận của họ? Có lý do để giải thích vì sao chỉ có một Berkshire Hathaway và một Warren Buffett. Và cũng chỉ có một Charlie Munger.
Buffett ủng hộ GM – và mua một chiếc Caddy
Ngày 29 tháng 5 năm 2006
Alex Taylor III
Warren Buffett không phải là một trong số những người luôn phải sở hữu thứ xa hoa nhất có mặt trên đời. Sau tất cả, ông chỉ là một tỷ phú thích dùng bữa tại Dairy Queen. Hằng ngày, thời gian ông đến công sở chỉ mất 5 phút. Nhưng sau khi nhìn thấy Rick Wagoner, Chủ tịch và Giám đốc Điều hành của General Motors, trên chương trình Face the Nation của đài CBS vào đầu tháng 4, Buffett quyết định đã đến lúc mua một chiếc xe mới. Ông đã gửi cho Wagoner một điện tín ca ngợi ông vì sự “thẳng thắn, sáng tạo và hợp lý” khi thảo luận những vấn đề mà GM phải đối mặt không phải vì sự điều hành của ông và thêm vào một dòng tái bút: “Tôi không mua xe hơi thường xuyên, nhưng chiếc tiếp theo sẽ là Cadillac.” Wagoner đã trả lời bằng một đề nghị giúp Buffett mua xe, nhưng nó không cần thiết. Buffett đã đưa con gái ông tới một đại lý gần đó để ông có thể “bầu một phiếu cho người đàn ông này” theo cách nói của ông. Cô chọn một chiếc DTS 4 cửa là mẫu xe được các tay lái thành thục chọn lựa và có giá 41.900 đô-la. Buffett nói: “Tôi nghĩ mình sẽ trở thành một nhân viên bán xe, vì tôi sẽ không gặp rắc rối khi bán chiếc xe này cho bất cứ khách hàng nào. “Tôi ủng hộ GM 100%.” Trong trường hợp bạn muốn biết, ông ấy đã trả tiền mặt.
Mạnh thường quân xuất hiện
Đầu tháng 5 năm 2006, tôi đến văn phòng của tổng biên tập Eric Pooley, đóng cửa lại và nói với ông ấy rằng chúng tôi có cơ hội viết một bài báo hấp dẫn. Tôi nói chung chung rằng: “Như ông biết đấy, Warren Buffett luôn nói phần lớn tài sản của ông sẽ dành cho từ thiện, nhưng ông ấy chưa bao giờ viết ra bất kỳ kế hoạch để thực hiện nó. Giờ thì ông ấy định sẽ công bố vào tháng 6 rằng ông sẽ bắt đầu làm từ thiện ngay thời điểm này. Tiền của ông sẽ dần dần đi đến 5 quỹ, và người nhận lớn nhất sẽ là Quỹ Gates. Fortune có thể viết một bài báo, có thể là dạng Hỏi-Đáp với ông ấy, trong đó chúng ta có thể tiết lộ tất cả thông tin này, nếu chúng ta muốn.”
Eric choáng váng, nhưng chỉ trong một giây, ông đã nói: “Chúng ta muốn chứ.” Ngay lập tức nghĩ đến câu chuyện ảnh bìa, ông ấy nói chúng tôi cần phải gọi cho Greg Pond, trưởng bộ phận hình ảnh. Khi Greg đến, Eric yêu cầu tôi lặp lại các thông tin tôi biết. Tôi bắt đầu kể lại, và khi tôi nhắc đến tiền quyên góp sẽ dành cho tổ chức nào, Eric ngắt lời và nói với giọng hoàn toàn có thể xuyên thủng cánh cửa đóng kín, “Ông ấy sẽ đưa nó cho Bill Gates!”
Buffett muốn đưa ra thông báo vào cuối tháng 6, nên chúng tôi lên kế hoạch sắp bài báo vào số ngày 23 tháng 6. Tuy nhiên, bài báo không được đưa vào trong danh sách dự kiến của mỗi số vốn thường được thông báo cho nhân viên. Thay vào đó, nhóm chúng tôi xôn xao nhưng vẫn lặng lẽ thực hiện công việc bình thường của một tạp chí: Việc phỏng vấn, viết và chỉnh sửa đã diễn ra; Một nhiếp ảnh gia không biết chính xác câu chuyện được chọn để chụp ảnh bìa; giám đốc nghệ thuật của chúng tôi bị kéo vào vòng bí mật để thiết kế bìa và trang nội dung.
Bằng một phép màu nho nhỏ, chúng tôi đã giữ được bí mật về bài báo này ngay cả với nhân viên trong hơn một tháng. Chỉ vài ngày trước khi xuất bản, trong cuộc họp buổi sáng của chúng tôi, một số người nhanh nhạy đã hỏi, “Có phải có một bài báo nào đó trong số này mà chúng tôi không được biết?” Eric Pooley trả lời thực sự là có, nhưng ông rất cảm kích nếu không có bất kỳ câu hỏi sâu nào được đưa ra. Khi nhân viên quan hệ công chúng của Fortune đưa ra một thông cáo báo chí dài vào ngày Chủ nhật, 25 tháng 6, tiết lộ về bài báo này, nó đã làm thế giới (và hầu hết nhân viên của tạp chí) hoàn toàn ngạc nhiên.
Buffett đã chuyển những món quà đầu tiên của mình cho 5 quỹ trong tháng 8 năm 2006, và đã tiếp tục chuyển tiền mỗi mùa hè. Theo thống kê tất cả các khoản đóng góp được thực hiện cho đến năm 2013, ông đã cho đi gần 16 tỷ đô-la cho 5 quỹ. Trong số đó, khoảng 13 tỷ đô-la là cho Quỹ Bill và Melinda Gates; 1,3 tỷ đô-la cho Quỹ Susan Thompson Buffett; Và 1,6 tỷ đô-la – nghĩa là hơn 500 triệu đô-la mỗi năm cho các quỹ do 3 đứa con của ông điều hành.
Bởi vì tất cả khoản đóng góp cho các quỹ là một bộ, nên mặc dù con số giảm hằng năm, số cổ phần Berkshire Hathaway, hay giá trị của những gì Buffett cho đi dao động cùng với giá của cổ phiếu Berkshire hằng năm. Ví dụ, khoản ủng hộ cho quỹ Gates đã dao động từ mức cao là 2 tỷ đô-la trong giai đoạn thị trường chứng khoán ổn định năm 2013 xuống mức thấp nhất là 1,25 tỷ đô-la trong năm 2009.
Một lưu ý: Dữ liệu cho cổ phiếu loại B của Berkshire trong bài viết này và trong bài tiếp theo không được điều chỉnh theo việc chia tách cổ phiếu theo tỷ lệ 50:1 diễn ra trong năm 2010. – CL
Warren Buffett ủng hộ từ thiện
Ngày 10 tháng 7 năm 2006
Carol Loomis
Chúng tôi cùng ngồi trong phòng khách ở Manhattan vào một buổi chiều mùa xuân, và Warren Buffett cầm trong tay một lon Coke Anh Đào như thường lệ. Nhưng khung cảnh không có gì đặc biệt này sắp sửa thay đổi một cách ngạc nhiên. Buffett nhắc nhở với một nụ cười “Hãy bình tĩnh”. Sau đó ông kể về những suy nghĩ quan trọng đã thay đổi của mình. Trong vòng vài tháng, ông nói ông sẽ bắt đầu cho đi tài sản của mình tại Berkshire Hathaway, hiện tại và về sau trị giá hơn 40 tỷ đô-la. Một tin thực sự tuyệt vời. Trong thế kỷ qua, Buffett, 75 tuổi, đã từng nói gia sản của ông sẽ dành cho từ thiện nhưng cũng chỉ rõ rằng việc bàn giao sẽ được thực hiện khi ông qua đời. Giờ đây ông đã thay đổi kế hoạch. Ông nói, “Tôi biết tôi muốn làm gì, và lúc này là hợp lý để bắt đầu.” Vào ngày mùa xuân đó, kế hoạch của ông vẫn còn một số chi tiết không chắc chắn; và hiện tại kế hoạch cơ bản đã hoàn thiện. Đó là phong cách điển hình của Buffett: hợp lý, độc đáo, phá vỡ lối mòn khi quyên góp tiền từ thiện của người giàu.
Buffett đã cam kết sẽ dần dần chuyển 85% cổ phần Berkshire của mình cho 5 quỹ. 5/6 cổ phần sẽ dành cho tổ chức từ thiện lớn nhất thế giới, quỹ Bill & Melinda Gates trị giá 30 tỷ đô-la, với hai nhà sáng lập là bạn thân của Buffett (mối liên hệ bắt đầu vào năm 1991, khi một người bạn chung giới thiệu Buffett và Bill Gates với nhau). Bill nói rằng hai thành viên nhà Gates biết ơn Buffett vì đã “truyền cảm hứng” cho họ về việc ủng hộ tài sản cho cộng đồng. Các hoạt động nổi tiếng trên thế giới của tổ chức này tập trung vào phòng chống các bệnh như sốt rét, HIVAIDS, lao, và nâng cấp các thư viện và trường trung học ở Mỹ. Cho đến bây giờ, hai sáng lập viên nhà Gates là hai người được ủy thác duy nhất của quỹ. Nhưng khi kế hoạch của ông ấy được tiến hành, Buffett sẽ tham gia cùng họ. Bill Gates nói rằng ông và vợ của ông rất “phấn khởi” vì điều đó và vì biết rằng tiền của Buffett sẽ giúp quỹ “tăng tốc và tiến xa hơn”. Gates nói thêm, “Sự hào phóng và niềm tin mà Warren đã thể hiện là đáng kinh ngạc.”
Bắt đầu từ tháng 7 và tiếp tục mỗi năm, Buffett sẽ cho đi một bộ cổ phiếu loại B của Berkshire theo số lượng giảm dần hằng năm, từ 602.500 cổ phiếu trong năm 2006 và giảm 5% mỗi năm sau đó cho 5 quỹ. Buffett hoặc công ty của ông sẽ thực hiện việc trao tặng các món quà cho quỹ Gates miễn là ít nhất một trong hai người – Bill, hiện 50 tuổi, hoặc Melinda, 41 tuổi – vẫn đang điều hành quỹ. Giá của cổ phiếu Berkshire vào ngày gửi mỗi món quà sẽ xác định giá trị đồng đô-la của món quà đó. Ví dụ, cổ phiếu loại B có mức giá tháng 7 của nó được xác định vào ngày 23 tháng 6 là 3.071 đô-la, 500.000 cổ phiếu quà tặng năm 2006 của Buffett gửi cho quỹ sẽ có giá trị khoảng 1,5 tỷ đô-la.
Với rất nhiều khoản đóng góp mới cần xử lý, quỹ sẽ có hai năm để thay đổi quy mô hoạt động. Nhưng do các điều khoản của món quà của Buffett, hằng năm quỹ được yêu cầu chi tiêu số tiền thuộc đóng góp của ông ấy cũng như số tiền nó thu được từ những tài sản hiện có. Hiện tại, con số 1,5 tỉ đô-la gấp đôi số tiền từ thiện hằng năm của quỹ.
Tuy nhiên, con số 1,5 tỷ đô-la không liên quan lắm với giá trị của những món quà tương lai của Buffett, vì trị giá của các món quà này sẽ phụ thuộc vào giá của các cổ phiếu Berkshire khi chúng được gửi đi. Trung bình nếu cổ phiếu tăng hằng năm, thậm chí giả sử chỉ khiêm tốn ở mức 6%, lợi nhuận của nó sẽ hơn cả bù đắp cho 5% số lượng cổ phiếu giảm dần hằng năm. Trong những trường hợp này, giá trị đóng góp của Buffett sẽ tăng lên. Chính Buffett nghĩ rằng điều đó sẽ xảy ra. Hoặc bàn về nhận định này một cách thẳng thắn hơn: Ông tin rằng giá của Berkshire, và cùng với nó là giá trị các khoản đóng góp bằng đồng đô-la có thể sẽ tăng lên đáng kể qua thời gian.
Những món quà khác cho quỹ mà Buffett đang thực hiện cũng sẽ xuất hiện hằng năm và bắt đầu vào tháng 7. Theo giá hiện tại của Berkshire năm 2006, tổng số những món quà này sẽ là 315 triệu đô- la. Những đóng góp này sẽ được gửi cho các quỹ do 3 người con của ông, Susan, Howard, và Peter điều hành, và đến Quỹ Susan Thompson Buffett. Quỹ cuối cùng này trong 40 năm qua được biết đến với tên gọi đơn giản là Quỹ Buffett và gần đây đã được đổi thành tên của người vợ quá cố của Buffett là Susie, đã qua đời năm 2004 sau khi bị đột quỵ. Ước nguyện của bà là sẽ trao tặng khoảng 2,5 tỷ đô-la cho quỹ, các quà tặng của chồng bà cũng sẽ được thêm vào quỹ này. Quỹ tập trung chủ yếu vào vấn đề sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình, và các tổ chức phò chọn lựa, và ngăn ngừa sự bành trướng của vũ khí hạt nhân.
Cộng vào các quà tặng cho 5 quỹ, Buffett sẽ dần dần giảm mạnh các cổ phần ông nắm giữ của Berkshire. Hiện ông sở hữu gần 31% tổng công ty, trị giá gần 44 tỷ đô-la vào cuối tháng 6, và tỷ lệ này sẽ giảm xuống khoảng 5%. Theo những ý định dài hạn của mình, Buffett cho biết số dư còn lại 5%, hiện trị giá khoảng 6,8 tỉ đô-la, cũng sẽ dần dần được quyên góp cho từ thiện, có thể là khi ông còn sống hoặc không thì sau khi ông qua đời.
Bởi vì giá trị của các món quà từ Buffett gắn liền với một mức giá chưa thể biết được trong tương lai của Berkshire, không có cách nào để tính được tổng giá trị đồng đô-la của chúng. Tuy nhiên, số cổ phần được dành sẵn cho từ thiện hiện có giá trị khổng lồ là 37 tỷ đô-la. Con số này nói riêng đã là món quà từ thiện lớn nhất trong lịch sử. Và nếu Buffett nghĩ đúng rằng giá của Berkshire sẽ tăng lên, số tiền cuối cùng được trao tặng có thể vượt quá con số đó.
Kế hoạch là như vậy. Những gì sau đây là một cuộc trò chuyện trong đó Buffett giải thích vì sao ông ấy thay đổi suy nghĩ ban đầu của mình và quyết định bắt đầu trao tặng tiền ngay bây giờ. Người hỏi chính là biên tập viên tự do của Fortune, Carol Loomis. Tôi là bạn lâu năm của Buffett, cổ đông Berkshire Hathaway, và là một giám đốc Quỹ Susan Thompson Buffett.
Kế hoạch này của ông rất đáng ngạc nhiên. Cho đến giờ, ông không nổi tiếng về việc quyên tiền từ thiện. Trên thực tế, ông thường bị chỉ trích gay gắt vì không cho tiền từ thiện. Một câu hỏi ngắn hiển nhiên: Ông có đang bị ốm không đấy?
Không, hoàn toàn không. Tôi cảm thấy khỏe mạnh, và trong lần kiểm tra sức khỏe trước đây vào tháng 10 vừa qua, bác sĩ đã kết luận tôi rất khỏe.
Vậy thì chuyện gì đang xảy ra ở đây? Việc ông thay đổi kế hoạch liệu có liên quan gì đến cái chết của Susie?
Vâng, đúng vậy. Susie trẻ hơn tôi hai tuổi, và phụ nữ thường sống lâu hơn nam giới. Bà ấy và tôi luôn giả định rằng bà sẽ kế thừa cổ phần Berkshire của tôi và là người giám sát việc đóng góp tài sản của chúng tôi cho cộng đồng, cả hai chúng tôi luôn xác định sẽ ủng hộ tiền theo cách này. Susie lẽ ra đã thích thú khi giám sát quá trình này. Bà ấy đã hơi lo lắng về việc mở rộng quy mô. Nhưng bà ấy có thể đã thích làm việc đó, và có thể đã rất giỏi về nó. Và bà ấy lẽ ra đã có thể thực sự tăng tốc.
Theo đó có nghĩa là bà ấy luôn muốn trao tặng nhiều tiền hơn và nhanh hơn so với ông?
Đúng vậy, bà ấy đã nói như vậy nhiều lần. Đối với tôi, tôi luôn luôn nghĩ thiện nguyện là một việc quan trọng hiện tại, và sẽ quan trọng không kém trong 1 năm, 10 năm, 20 năm tới, và trong tương lai nói chung. Tôi cho rằng người đang đạt lợi nhuận ở mức cao, tốt hơn hết nên chăm lo cho những hoạt động từ thiện được thực hiện trong 20 năm tới, trong khi những người kiếm được lợi nhuận ở tỷ lệ thấp hơn nên quan tâm đến tình hình từ thiện hiện tại.
Nhưng lý thuyết đó tình cờ cũng giống với những gì ông muốn làm, phải không?
(Ông ấy cười nghiêng ngả.) Không nghi ngờ gì về điều này. Tôi đã và đang cảm thấy vui khi làm những gì tôi làm. Trong một lúc tôi cũng nghĩ về việc kiểm soát Berkshire. Tôi đã mua quyền kiểm soát hoàn toàn Berkshire vào đầu những năm 1970, sử dụng 15 triệu đô-la có được khi tôi giải thể công ty hợp danh Buffett. Tôi sở hữu ít hơn 1 triệu đô-la ngoài Berkshire. Mức lương của tôi là 50.000 đô-la một năm. Vì vậy, nếu tôi hoạt động từ thiện nhiều vào lúc đó, tôi có thể đã phải trao tặng cổ phần của Berkshire. Tôi không mua những cổ phiếu này để ngay lập tức trao tặng chúng.
Mặc dù vậy, ông và Susie đã thành lập Quỹ Buffett từ những năm 1960, điều đó có nghĩa là ông rõ ràng đã dự định quyên góp tiền cho từ thiện vào một lúc nào đó. Vậy suy nghĩ của ông lúc đó là gì?
Vâng, khi chúng tôi kết hôn vào năm 1952, tôi đã nói với Susie rằng tôi sẽ trở nên giàu có. Điều đó sẽ không xảy ra vì bất kỳ tính tình đặc biệt nào của tôi hoặc thậm chí vì làm việc chăm chỉ, đó hoàn toàn là vì tôi được sinh ra với những kỹ năng phù hợp ở đúng nơi vào đúng thời điểm. Tôi có kỹ năng phân bổ vốn bẩm sinh và rất may mắn khi những người xung quanh tôi như bố mẹ, các giáo sư và Susie ngay từ đầu đã giúp tôi phát triển tối đa kỹ năng này.
Trong mọi trường hợp, Susie không thấy quá hào hứng khi tôi nói với bà ấy rằng chúng tôi sẽ giàu có. Trên thực tế, bà ấy không quan tâm hoặc không tin tôi, hoặc có thể là cả hai. Nhưng khi chúng tôi đã có tài sản, chúng tôi hoàn toàn đồng thuận về việc phải làm gì với nó, chúng tôi đóng góp nó cho xã hội. Về vấn đề này, chúng tôi đồng ý với Andrew Carnegie1 rằng phần lớn các tài sản khổng lồ bắt nguồn từ xã hội sẽ quay trở lại cho xã hội. Trong trường hợp của tôi, khả năng phân bổ vốn có lẽ chỉ có chút ít lợi ích trừ khi tôi sống ở một đất nước giàu có, nơi những khối lượng chứng khoán thị trường lớn được giao dịch và thỉnh thoảng bị định giá sai lệch một cách điên rồ. Thật may mắn với tôi vì đó là những điều mô tả nước Mỹ vào nửa sau của thế kỷ trước.
Chắc chắn cả Susie và tôi không bao giờ nghĩ rằng chúng tôi nên dành một khoản tiền khổng lồ cho các con của chúng tôi. Các con của chúng tôi rất tuyệt vời. Nhưng lập luận của tôi là nếu con bạn có tất cả lợi thế, về mặt nuôi dưỡng chúng lớn lên và những cơ hội về giáo dục, bao gồm những gì chúng học ở nhà, tôi nghĩ rằng cho chúng quá nhiều tiền là không đúng và cũng không hợp lý. Trên thực tế, chúng đã có một sự khởi đầu vượt bậc trong một xã hội có khuynh hướng trọng nhân tài. Các khoản gia sản thừa kế khổng lồ sẽ làm mất cân bằng xã hội nơi mà chúng ta đang cố gắng giữ bình đẳng.
✦ ✦ ✦
1. Andrew Carnegie (25/11/1835 - 11/3/1913): Một doanh nhân người Mỹ gốc Scotland được mệnh danh là Vua Thép. Ông là người giàu thứ 3 trong lịch sử thế giới. Ông là người đã góp phần giúp ngành công nghiệp sản xuất thép của Hoa Kỳ phát triển mạnh mẽ vào cuối thế kỷ XIX.
❀ ❀ ❀
Từ thực tế là ông đã cho các con mình tiền trước khi họ thành lập các quỹ và hiện đang có kế hoạch cho họ nhiều hơn, tôi thấy rằng ông không nghĩ việc để cho họ nhiều tiền là sai.
Không, tôi không nghĩ vậy. Những gì chúng đang làm với các quỹ của chúng là quyên góp tiền cho cộng đồng nơi tôi và Susie đều muốn ủng hộ. Và việc của chúng không chỉ là viết chi phiếu: Chúng đã suy nghĩ và nỗ lực chăm chỉ cho quá trình này. Tôi rất tự hào về chúng vì cách chúng thực hiện mọi thứ và tôi tin chúng sẽ đi đúng hướng.
Vậy còn Quỹ Susan Thompson Buffett thì sao? Những điều này có ý nghĩa gì với nó?
Như bà biết đấy, vì ở vị trí giám đốc bà đã quan sát quỹ ở cự ly gần, Allen Greenberg1, chủ tịch của quỹ đã điều hành quỹ một cách xuất sắc và chu đáo. Hệ số kết quảchi phí2 của anh ấy tốt nhất tôi từng thấy. Anh ấy vẫn sẽ tiếp tục công việc, không chỉ với tiền của Susie mà còn với tiền của tôi nữa. Thực ra, nếu tôi qua đời trước Susie và bà ấy bắt đầu việc phân bổ tài sản của chúng tôi, quỹ này lẽ ra đã tăng quy mô lớn hơn – hiện quỹ chỉ có 5 nhân viên – và trở thành cỗ máy từ thiện chính của bà ấy. Quỹ cũng nhận của các kế hoạch của tôi. Cho đến khi tôi thay đổi suy nghĩ về việc khi nào sẽ trao tặng, đây cũng là nơi tôi quyên góp các tài sản của mình.
1. Allen Greenberg giữ vị trí Chủ tịch quỹ Buffett từ năm 1987. Ông từng kết hôn với con gái đầu của Buffett (Susan Alice Buffett) năm 1983 và họ đã ly dị vào năm 1995.
2. Hệ số kết quảchi phí (Resultcost ratio): Hệ số hiệu quả của hoạt động kinh doanh so với chi phí bỏ ra.
Và điều gì làm thay đổi suy nghĩ của ông?
Câu trả lời ngắn gọn là tôi đã nhận ra có một quỹ từ thiện tuyệt vời có quy mô lớn – không giống như Quỹ Buffett, nó sẽ không phải trải qua quá trình mài giũa thực sự để tăng quy mô – và quỹ sẽ có thể sử dụng tiền của tôi một cách hiệu quả ngay trong hiện tại. Câu trả lời dài hơn là qua nhiều năm, tôi đã quen thân với Bill và Melinda Gates, dành nhiều thời gian làm bạn cùng họ, và hơn cả là dần ngưỡng mộ những gì họ đang làm với quỹ của họ. Tôi đã nhìn thấy họ truyền tải những bài thuyết trình về các chương trình của quỹ, và tôi luôn ngạc nhiên trước sự nhiệt tình, niềm say mê và năng lượng mà họ đang dành cho công việc này. Bạn có thể nói rằng, họ đã sống cùng nó với cả tâm trí và trái tim. Bill đọc hàng ngàn trang mỗi năm để bắt kịp với những tiến bộ y tế và các phương tiện hỗ trợ. Melinda, thường xuyên cùng với Bill, đã đi khắp thế giới để xem những ý tưởng tốt đẹp đang trở thành kết quả tuyệt vời như thế nào. Cuộc sống đã đem những rắc rối và bất công đến hàng tỷ người trên khắp thế giới, nên Bill và Melinda đang cố gắng ở mức họ có thể để giảm sự bất bình đẳng này.
Nếu bạn nghĩ mục tiêu của bạn là đóng góp tiền cho xã hội bằng cách giải quyết các vấn đề chính yếu chưa nhận được tài trợ tương xứng, thì liệu bạn có thể làm được gì tốt hơn là ủng hộ tiền cho một vài người trẻ tuổi liêm khiết, có những ý tưởng đã được chứng minh, người đã cho thấy khả năng tăng quy mô quỹ của họ và điều hành nó một cách đúng đắn? Thông thường bạn không thể tìm thấy cơ hội như vậy. Tôi có hai người bạn cực kỳ thành công trong công việc này, tôi đã có cơ hội quan sát những gì họ làm – và tôi biết họ sẽ tiếp tục làm việc đó – họ làm việc đó bằng tiền của họ, vì vậy họ không sống trong một thế giới tưởng tượng – nói chung, tôi đồng ý với lý lẽ của họ. Nếu tôi đã tìm được công cụ đúng đắn cho mục tiêu của tôi, không có lý do gì để chờ đợi nữa.
Hãy so sánh những gì tôi đang làm cùng họ với vị trí của tôi tại Berkshire, nơi mà tôi có những người đã được chứng minh là tài giỏi phụ trách các doanh nghiệp của chúng tôi. Họ điều hành hoạt động của họ tốt hơn tôi làm. Còn gì hợp lý hơn là tìm kiếm một người nào đó có kinh nghiệm nhiều hơn bạn để làm bất cứ điều gì bạn muốn? Liệu có ai không chọn Tiger Woods1 trong một trận golf có rủi ro cao? Đó là cảm giác của tôi về quyết định quyên tiền này.
1. Tiger Woods (30/12/1975) là vận động viên golf chuyên nghiệp người Mỹ, được xem là vận động viên golf thành công nhất mọi thời đại.
Theo tôi, mọi người sẽ rất tò mò để biết liệu quyết định của ông và việc thông báo nó vào thời điểm này liên quan thế nào đến tuyên bố của Bill Gates vào giữa tháng 6 rằng ông ấy sẽ từ bỏ trách nhiệm điều hành của mình tại Microsoft và bắt đầu dành phần lớn thời gian của mình cho quỹ. Câu chuyện ở đây là gì?
Tôi nhận ra rằng thời gian công bố của hai thông tin cho thấy chúng có liên quan. Nhưng chúng không hề liên quan một chút nào. Thời điểm chỉ là tình cờ. Tôi vẫn sẽ tiết lộ các kế hoạch của mình ngay bây giờ cho dù cậu ấy có tuyên bố động thái của mình hay không. Thậm chí, trên thực tế, nếu cậu ấy tiếp tục không giới hạn công việc của mình tại Microsoft. Mặt khác, tôi yên tâm rằng cậu ấy sẽ dành nhiều thời gian hơn cho quỹ. Tôi nghĩ cậu ấy và Melinda hài lòng khi biết rằng họ đang hoạt động với nhiều nguồn lực hơn.
Liệu ông có nghĩ rằng hơi mỉa mai khi người đàn ông giàu thứ hai trên thế giới gửi hàng tỷ đô-la cho người đàn ông giàu có nhất thế giới?
Bạn nghĩ về nó theo cách này nghe có vẻ buồn cười. Nhưng sự thật là tôi trao nó đến quỹ của cậu ấy và Melinda chứ không phải trao cho cậu ấy.
Một số người nói rằng quỹ Gates có tính quan liêu, và sự quan liêu là điều ông không hề thích. Vậy ông đã phản ứng với lời kết luận đó thế nào?
Tôi muốn nói rằng hầu hết các tổ chức lớn đều quan liêu ở một mức độ nào đó, trừ Berkshire là một ngoại lệ rõ ràng. Dù sao, điều mà một số người thực sự nghĩ khi họ cho rằng quỹ Gates quan liêu chính là vì những quyết định lớn không được thực hiện bởi bất cứ ai ngoại trừ Bill và Melinda. Tôi thấy điều này ổn. Tôi muốn hai người trong số họ ra các quyết định lớn.
Ý nghĩa của việc ông tham gia vào hội đồng quản trị của quỹ Gates là gì?
Không có gì nhiều. Lý do lớn nhất là để xem liệu họ có bao giờ cùng nhau xuống máy bay không. Hơn thế nữa, tôi hy vọng thỉnh thoảng sẽ có ý tưởng mang tính xây dựng. Nhưng tôi không nghĩ rằng tôi có khiếu làm từ thiện giỏi như Bill và Melinda. Các thông tin phản hồi về hoạt động từ thiện rất chậm nên sẽ làm tôi khó chịu. Tôi sẽ phải làm việc với rất nhiều người mà tôi không muốn và phải lắng nghe nhiều ý kiến hơn tôi muốn. Trong hoạt động từ thiện, bạn cũng phải mắc một số sai lầm lớn. Tôi biết điều đó. Nhưng tự mắc lỗi sẽ làm tôi thêm bực mình hơn là người khác mắc lỗi, người mà tôi tin tưởng sẽ làm tốt. Nói chung, Bill và Melinda sẽ có tỷ lệ đánh cược trung bình cao hơn tôi.
Ông có chia sẻ về ý định lớn lao này với những người khác trước khi quyết định tiếp tục kế hoạch?
Vâng, tôi đã nói chuyện với các con tôi, Allen Greenberg và 4 giám đốc của Berkshire, bao gồm cả con trai Howard và cộng sự Charlie Munger. Tôi nhận được rất nhiều câu hỏi, ban đầu một số người thắc mắc về kế hoạch vì đó là một sự thay đổi đột ngột từ những gì họ biết trước đây. Nhưng tất cả mọi người, chắc chắn bao gồm cả Allen, người hiểu rằng mở rộng quy mô của Quỹ Buffett là cả một gánh nặng. Đã đến để tìm hiểu sự hợp lý của kế hoạch tôi đề xuất. Giờ thì mọi người đang rất mong chờ bắt đầu, đặc biệt là tôi.
Nói thẳng là tôi có những niềm hy vọng nhỏ rằng những gì tôi đang làm có thể động viên những người giàu đang nghĩ tới việc từ thiện khác quyết định rằng họ không nhất thiết phải thiết lập quỹ riêng, mà có thể tìm kiếm những quỹ tốt nhất đang hoạt động để trao tặng tiền. Mọi người thường xuyên đầu tư như vậy. Họ bỏ tiền ra cho những người mà họ nghĩ rằng sẽ làm tốt hơn họ. Có một số lợi ích thực để nghĩ như vậy về việc cho đi gia sản của bạn, thay vì thành lập quỹ rồi đưa nó cho các công ty kinh doanh cũ kỹ hay một nhân viên nào đó điều hành nó sau khi bạn chết. Một số phiên bản của kế hoạch của tôi này không hề điên rồ nên một số trong 20 người tiếp theo sắp qua đời với 1 tỷ đô-la trở lên có thể làm theo. Một vấn đề của đa số người giàu chính là họ đã già, và những người xung quanh họ số thì chưa đủ kinh nghiệm, số thì không còn nhiều thời gian. Về mặt này thì tôi may mắn vì tôi có thể tin tưởng những người trẻ tuổi.
Vậy hiện tại điều này có ý nghĩa gì đối với Berkshire?
Tôi sẽ nói rằng hầu như nó không có ý nghĩa gì. Bất cứ ai biết tôi đều biết tôi cảm thấy thế nào về việc đưa Berkshire phát triển hết mức có thể và mục tiêu này vẫn đang tiếp tục. Tôi sẽ không làm bất cứ điều gì khác biệt, bởi vì tôi không có khả năng làm mọi việc khác biệt. Chỉ có tên trên các chứng nhận cổ phần sẽ thay đổi, còn lại không có gì khác thay đổi.
Tôi luôn nói rõ với các cổ đông của Berkshire rằng tài sản của tôi ở công ty sẽ dành cho từ thiện, vì vậy việc tôi bắt đầu quá trình này cơ bản không phải là sự kiện quan trọng đối với họ. Và bạn biết đấy, mặc dù điều này có thể gây ngạc nhiên cho một số người, nhưng nó cũng là một sự kiện không quan trọng đối với tôi. Ted Turner, người có các hoạt động từ thiện mà tôi rất ngưỡng mộ, đã từng nói với tôi rằng tay ông ta run rẩy khi ký một cam kết từ thiện trị giá 1 tỷ đô-la. Vâng, tôi không hề như vậy. Tôi không để tình cảm dính đến việc này.
Liệu các quỹ đang nhận cổ phần của ông có cần bán nó đi không?
Vâng, trong một số trường hợp. Quỹ Buffett và những quỹ của các con tôi sẽ phải bán cổ phiếu của họ tương đối sớm sau khi họ nhận được nó, bởi vì đó sẽ là tài sản duy nhất của họ và họ sẽ cần huy động tiền để làm từ thiện. Quỹ Gates sẽ có nhiều lựa chọn hơn vì nó có rất nhiều tài sản khác, vì vậy nó sẽ linh hoạt chọn lựa để chuyển tài sản nào thành tiền mặt. Bill và Melinda sẽ đưa ra những quyết định về việc này. Tôi sẽ hoàn toàn không can thiệp vào bất kỳ quyết định đầu tư nào đến từ quỹ của họ, để họ tự do làm bất cứ điều gì họ nghĩ là phù hợp. Có lẽ họ sẽ quyết định bán phần lớn của các tài sản khác và giữ một số cổ phần Berkshire. Vì đó là một tập thể gồm các doanh nghiệp tuyệt vời và là một tài sản không thích hợp để quỹ từ thiện sở hữu. Nhưng tôi sẽ không buộc quỹ đi theo bất kỳ định hướng nào.
Nếu như vậy, có thể tất cả các cổ phần ông cho đi hằng năm sẽ được bán ra thị trường?
Vâng, điều đó cũng có thể xảy ra. Theo lẽ tự nhiên mọi người sẽ quan tâm rằng liệu việc bán ra có thể làm giảm giá của Berkshire hay không. Tôi không hề nghĩ như vậy, và đó là sự thật ngay cả khi tỷ lệ vòng quay hằng năm của Berkshire chỉ dao động khoảng 15% một năm, rất thấp đối với các cổ phiếu vốn hóa lớn. Giả sử 5 quỹ đều bán tất cả cổ phiếu mà họ có được trong năm nay. Nếu khối lượng giao dịch tiếp tục tăng, việc họ bán ra sẽ làm tăng vòng quay lên gần 17%. Thật nực cười khi nghĩ rằng việc bán ra nhiều cổ phiếu có thể ảnh hưởng đến giá của chúng. Trên thực tế, nguồn cung bổ sung thậm chí còn có thể có lợi để làm tăng tính thanh khoản của cổ phiếu và làm tăng khả năng cổ phiếu Berkshire cuối cùng cũng sẽ được đưa vào chỉ số S&P 500.
Tôi muốn nói điều này: Tôi sẽ không cho đi cổ phần nếu nó ảnh hưởng xấu đến cổ đông của Berkshire. Và nó sẽ không ảnh hưởng đâu.
Kế hoạch này có lẽ đã xác định số phận lâu dài của tất cả số cổ phần Berkshire của ông. Điều đó có nghĩa là ông không tặng gì cho gia đình mình trong số các món quà trực tiếp này?
Không, tôi luôn nói rằng gia đình tôi sẽ không được nhận những khoản tiền khổng lồ trong tài sản ròng của tôi. Điều đó không có nghĩa là họ sẽ không có gì. Các con tôi đã nhận được một số tiền từ tôi và Susie, và sẽ còn nhận được nhiều hơn. Tôi vẫn tin vào triết lý, Fortune đã trích dẫn lời tôi cách đây 20 năm, rằng một người giàu có nên cho con họ đủ tiền để làm mọi thứ nhưng không đủ để không làm gì cả.
Bạn có nhớ tôi đã nói như vậy khi tôi mua Berkshire, tôi có ít hơn 1 triệu đô-la tiền mặt ở ngoài? Vâng, tôi đã thực hiện một số khoản đầu tư kha khá với số tiền này trong nhiều năm kể từ lúc đó như mua các vị thế chứng khoán có quy mô quá nhỏ đối với Berkshire, thực hiện một số giao dịch thu nhập cố định chênh lệch giá1, và bán lợi tức của tôi trong một ngân hàng đã được tách ra từ Berkshire. Vì vậy, tôi vui mừng khi nói rằng tôi đang có kha khá tiền mặt. Nói chung, tôi có thể và sẽ sử dụng cổ phần Berkshire của tôi cho các mục đích từ thiện và vẫn có rất nhiều cổ phần còn lại để dành cho tất cả những người thân thiết với tôi.
1. Giao dịch thu nhập cố định chênh lệch giá (Fixed-income arbitrage): Chiến lược đầu tư kiếm lợi nhuận từ những giao dịch kinh doanh chênh lệch giá (mua chứng khoán với giá thấp ở một thị trường và bán với giá cao ở một thị trường khác) từ những chứng khoán có thu nhập cố định.
Những gì các huyền thoại đã cho đi
Các khoản tiền từ thiện của họ rất lớn, xét trong bối cảnh nền kinh tế nhỏ ở thời đại của họ. Nhưng đóng góp của Buffett còn lớn hơn gấp nhiều lần.

Nguồn: Tổ chức Từ thiện Mỹ của tác giả Robert H. Bremner, nghiên cứu của Fortune