“Suy cho cùng,” Anne từng nói với Marilla, “tớ tin rằng những ngày tuyệt vời và ngọt ngào nhất không phải là những ngày có điều gì thật lộng lẫy, kỳ diệu hay phấn khích xảy ra, mà chỉ là những ngày mang theo những niềm vui nhỏ bé giản dị, nối tiếp nhau êm đềm như những hạt ngọc trai tuột khỏi chuỗi.”
Cuộc sống ở Green Gables ngập tràn những ngày như thế, bởi những cuộc phiêu lưu và rắc rối của Anne, cũng giống như bao người khác, không diễn ra dồn dập cùng một lúc, mà rải rác trong suốt cả năm, đan xen giữa những khoảng thời gian dài bình yên và hạnh phúc, ngập tràn công việc, những giấc mơ, tiếng cười và những bài học. Một ngày như thế đã đến vào những ngày cuối tháng Tám. Buổi sáng hôm đó, Anne và Diana chèo thuyền đưa cặp song sinh đầy phấn khích xuôi theo ao đến bãi cát để hái “cỏ thơm” và vầy nước bên bờ sóng, nơi ngọn gió đang thì thầm một khúc ca cổ học được từ thủa hồng hoang.
Vào buổi chiều, Anne đi bộ đến dinh thự cũ nhà Irving để thăm Paul. Cô bắt gặp cậu bé đang nằm dài trên thảm cỏ bên cạnh lùm linh sam rậm rạp che chở cho ngôi nhà ở phía bắc, mải mê đọc một cuốn truyện cổ tích. Cậu vùng dậy rạng rỡ khi nhìn thấy cô.
“Ồ, em rất vui vì cô đã đến, thưa cô giáo,” cậu hào hứng nói, “bởi vì bà đi vắng rồi. Cô sẽ ở lại ăn xế với em chứ ạ? Ăn xế một mình buồn lắm ạ. Cô biết đấy, thưa cô giáo. Em đã từng nghiêm túc nghĩ đến việc mời Bé Mary Joe ngồi xuống ăn xế cùng em, nhưng em đoán bà sẽ không tán thành. Bà bảo phải biết giữ đúng chỗ của người Pháp. Mà dù sao đi nữa, nói chuyện với Bé Mary Joe thật khó. Chị ấy cứ cười và bảo: ‘Chao ôi, cậu đúng là quái chiêu nhất trong số mấy đứa trẻ mà tôi từng biết.’ Đó không phải là cách nói chuyện theo ý em.”
“Đương nhiên là cô sẽ ở lại ăn xế rồi,” Anne vui vẻ đáp. “Cô đang thèm chết đi được đây. Miệng cô cứ rỏ dãi lên khi nghĩ đến món bánh quy bơ thơm ngon của bà em từ lần trước cô được ăn ở đây cơ mà.”
Paul tỏ ra rất đăm chiêu.
“Nếu điều đó do em quyết định, thưa cô giáo,” cậu nói, đứng trước mặt Anne với hai tay đút túi quần và khuôn mặt nhỏ nhắn xinh đẹp thoáng nét lo âu bất chợt, “thì cô sẽ được ăn bánh quy bơ ngay và luôn với tất cả tấm lòng. Nhưng nó lại phụ thuộc vào Mary Joe. Em nghe bà dặn chị ấy trước khi đi là không được cho em ăn bánh xốp bơ vì nó quá ngậy đối với dạ dày của trẻ con. Nhưng biết đâu Mary Joe sẽ cắt cho cô một ít nếu em hứa là em sẽ không ăn miếng nào. Mong là mọi chuyện sẽ suôn sẻ.”
“Ừ, hy vọng là thế,” Anne đồng tình, triết lý vui vẻ này hoàn toàn phù hợp với cô, “và nếu Mary Joe tỏ ra nhẫn tâm không chịu cho cô bánh thì cũng chẳng sao cả, thế nên em đừng có lo lắng về chuyện đó nhé.”
“Cô chắc là cô sẽ không buồn chứ nếu chị ấy không cho?” Paul lo lắng hỏi.
“Hoàn toàn chắc chắn, cục cưng à.”
“Vậy thì em sẽ không lo nữa,” Paul nói, thở phào nhẹ nhõm một hơi dài, “nhất là khi em thực sự nghĩ rằng Mary Joe là người biết điều. Chị ấy không phải là người vô lý bẩm sinh, nhưng chị ấy đã rút ra bài học từ thực tế rằng không nên trái lệnh bà. Bà là một người phụ nữ tuyệt vời nhưng mọi người phải làm theo những gì bà dặn. Sáng nay bà rất hài lòng với em vì cuối cùng em đã cố gắng ăn hết sạch đĩa cháo. Đó là một nỗ lực lớn nhưng em đã thành công. Bà bảo bà nghĩ thế nào rồi cũng nhào nặn em thành một người đàn ông cho mà xem. Nhưng thưa cô giáo, em muốn hỏi cô một câu hỏi rất quan trọng. Cô sẽ trả lời thật lòng chứ ạ?”
“Cô sẽ cố gắng,” Anne hứa.
“Cô có nghĩ là đầu óc em có vấn đề gì không?” Paul hỏi, cứ như thể sự sống còn của cậu phụ thuộc vào câu trả lời của cô.
“Trời ạ, không đâu, Paul,” Anne kinh ngạc thốt lên. “Chắc chắn là không rồi. Điều gì đã xui khiến em nghĩ ra ý nghĩ đó thế?”
“Mary Joe . . . nhưng chị ấy không biết là em nghe thấy. Veronica, cô gái làm thuê nhà bà Peter Sloane, đến chơi với Mary Joe tối qua và em nghe thấy họ nói chuyện trong nhà bếp khi em đang đi qua hành lang. Em nghe Mary Joe nói rằng: ‘Cái thằng Paul ấy, nó là đứa bé kỳ quặc nhất trên đời. Nó nói năng kỳ cục thật đấy. Tao nghĩ đầu óc nó có vấn đề gì rồi thì phải.’ Cả đêm qua em không sao chợp mắt được cứ nghĩ mãi về điều đó, và tự hỏi liệu Mary Joe có nói đúng không. Không hiểu sao em không dám hỏi bà về chuyện đó, nhưng em đã quyết định là sẽ hỏi cô. Em rất vui vì cô nghĩ đầu óc em hoàn toàn bình thường.”
“Đương nhiên là em bình thường rồi. Mary Joe chỉ là một cô gái ngốc nghếch, thiếu hiểu biết, và em không bao giờ phải bận tâm về bất cứ điều gì chị ấy nói,” Anne phẫn nộ nói, trong lòng thầm quyết định sẽ nhắc nhở khéo bà Irving về việc nên uốn lưỡi Mary Joe lại.
“Chà, thế thì trút được một gánh nặng trong lòng rồi,” Paul nói. “Em hoàn toàn hạnh phúc rồi, thưa cô giáo, nhờ có cô đấy. Chẳng hay ho gì nếu đầu óc mình có vấn đề phải không cô? Em đoán lý do Mary Joe tưởng tượng ra điều đó là vì đôi khi em nói cho chị ấy nghe những suy nghĩ của em về mọi thứ.”
“Đó là một việc khá nguy hiểm đấy,” Anne thừa nhận, đúc rút từ chính những trải nghiệm sâu sắc của bản thân.
“Chà, lát nữa em sẽ kể cho cô nghe những suy nghĩ mà em từng nói với Mary Joe và cô có thể tự mình xem xét xem trong đó có gì kỳ quặc không,” Paul nói, “nhưng em sẽ đợi cho đến khi trời bắt đầu tối. Đó là lúc em cảm thấy khao khát được chia sẻ mọi thứ với người khác, và khi không có ai ở gần thì em đành phải kể cho Mary Joe nghe thôi. Nhưng sau lần này em sẽ thôi, nếu điều đó khiến chị ấy tưởng tượng rằng đầu óc em có vấn đề. Em sẽ cố chịu đựng vậy.”
“Và nếu cảm giác đó quá khó chịu thì em có thể lên Green Gables và kể cho cô nghe những suy nghĩ của em,” Anne gợi ý, với tất cả sự trang nghiêm đã khiến cô trở nên gần gũi với trẻ em, những đứa trẻ rất thích được người lớn đối xử một cách nghiêm túc.
“Vâng, em sẽ làm thế. Nhưng em hy vọng lúc đó Davy không có nhà, vì em ấy toàn nhăn nhó làm mặt xấu với em. Em không bận tâm lắm vì em ấy còn quá nhỏ trong khi em đã lớn thế này rồi, nhưng dù sao thì việc bị người khác làm mặt xấu cũng chẳng mấy dễ chịu. Mà Davy toàn làm những cái mặt xấu kinh khủng. Thỉnh thoảng em cứ sợ rằng mặt em ấy sẽ cứng đơ lại không cách nào trở lại bình thường được nữa. Em ấy toàn làm thế với em ở nhà thờ, lúc đáng lẽ em phải suy nghĩ về những điều thiêng liêng. Dù vậy Dora vẫn thích em, và em cũng thích cô bé, nhưng không nhiều bằng trước khi cô bé nói với Minnie May Barry rằng lớn lên cô bé dự định sẽ lấy em làm chồng. Lớn lên em có thể sẽ kết hôn với ai đó nhưng bây giờ em còn quá nhỏ để nghĩ đến chuyện đó phải không cô?”
“Hơi nhỏ thật,” cô giáo đồng tình.
“Nhắc đến chuyện kết hôn lại làm em nhớ đến một chuyện khác đã làm em phiền lòng dạo gần đây,” Paul tiếp lời. “Bà Lynde đã đến đây chơi vào một ngày tuần trước để ăn xế với bà, và bà đã bắt em phải cho bà ấy xem bức ảnh của má em . . . bức ảnh mà ba đã gửi cho em làm quà sinh nhật. Thật sự là em không muốn cho bà Lynde xem chút nào. Bà Lynde là một người phụ nữ tốt bụng, nhưng bà ấy không phải kiểu người mà mình muốn cho xem ảnh má mình. Cô biết đấy, thưa cô. Nhưng tất nhiên là em đã vâng lời bà. Bà Lynde bảo má rất xinh nhưng trông cứ như đào hát ấy, và chắc chắn là phải kém ba rất nhiều tuổi. Rồi bà ấy bảo: ‘Thế nào rồi có ngày ba cháu cũng đi bước nữa cho mà xem. Cháu sẽ thấy thế nào nếu có một người má mới, hả cháu Paul?’ Chà, ý nghĩ đó suýt nữa làm em nghẹt thở luôn đấy cô ạ, nhưng em không đời nào để bà Lynde nhận ra điều đó. Em cứ nhìn thẳng vào mặt bà . . . thế này này . . . và em nói: ‘Bà Lynde ạ, ba đã làm rất tốt việc chọn người má đầu tiên cho cháu và cháu hoàn toàn có thể tin tưởng ba sẽ chọn được một người tốt không kém ở lần thứ hai.’ Và em hoàn toàn tin tưởng ba, thưa cô. Nhưng dù sao đi nữa, em vẫn hy vọng rằng nếu ba có lấy vợ mới thật, ba sẽ hỏi ý kiến em trước khi quá muộn. Kìa Mary Joe đang đến gọi chúng ta đi ăn xế kìa. Em phải đi bàn bạc với chị ấy vụ bánh quy bơ đây.”
Kết quả của cuộc “thương lượng” là Mary Joe đã cắt bánh quy bơ và dọn thêm một đĩa mứt hoa quả vào thực đơn. Anne rót trà và cô cùng Paul có một bữa ăn vô cùng vui vẻ trong phòng khách cổ kính u tịch có những ô cửa sổ mở rộng đón làn gió vịnh, họ trò chuyện những điều “vớ vẩn” nhiều đến mức Mary Joe cảm thấy vô cùng chướng tai gai mắt và tối hôm sau đã kể với Veronica rằng “cô giáo làng” cũng kỳ quặc chẳng khác gì Paul. Sau bữa trà, Paul dẫn Anne lên lầu để cho cô xem bức ảnh của má mình, món quà sinh nhật bí ẩn được bà Irving cất giữ trong tủ sách. Căn phòng nhỏ trần thấp của Paul chìm trong một luồng ánh sáng đỏ hồng dịu ngọt từ vầng thái dương đang lặn dần trên biển và những chiếc bóng đung đưa của rặng linh sam mọc sát bên khung cửa sổ vuông khoét sâu vào tường. Chiêm bao giữa thứ ánh sáng dịu ngọt và huyền ảo ấy là một khuôn mặt thiếu nữ ngọt ngào, với ánh mắt hiền từ của người mẹ, đang được treo trên tường ở phía chân giường.
“Đó là má của em,” Paul nói với niềm tự hào đầy yêu thương. “Em nhờ bà treo nó ở chỗ mà em có thể nhìn thấy ngay khi mở mắt thức dậy vào buổi sáng. Bây giờ em chẳng bao giờ bận tâm đến việc không có đèn khi đi ngủ nữa, bởi vì cảm giác như má đang ở ngay đây với em vậy. Ba biết chính xác em thích món quà sinh nhật gì, mặc dù ba chẳng hỏi em bao giờ. Thật kỳ diệu phải không cô, khi các ông bố lại biết nhiều đến thế?”
“Má của em rất đáng yêu, Paul ạ, và trông em có nhiều nét giống má. Chỉ là mắt và tóc của má sậm màu hơn em.”
“Mắt em có màu giống của ba,” Paul vừa nói vừa chạy tung tăng quanh phòng để chất đống tất cả những chiếc gối có thể tìm thấy lên bệ cửa sổ, “nhưng tóc của ba thì bạc rồi. Ba có rất nhiều tóc, nhưng chúng đã bạc trắng cả. Cô thấy đấy, ba đã gần năm mươi tuổi rồi. Đó là độ tuổi xưa nay hiếm phải không cô? Nhưng ba chỉ già ở bề ngoài thôi. Còn bên trong thì trẻ trung chẳng kém gì bất kỳ ai. Nào, thưa cô giáo, xin mời cô ngồi đây; và em sẽ ngồi dưới chân cô. Em có thể tựa đầu vào đầu gối cô được không ạ? Đó là cách mà má con em thường hay ngồi ngày trước. Ồ, em nghĩ thế này thì tuyệt cú mèo luôn ấy chứ.”
“Bây giờ, cô muốn nghe những suy nghĩ mà Mary Joe cho là kỳ quặc đó,” Anne vừa nói vừa vỗ về búi tóc xoăn tít ở bên cạnh. Paul chẳng bao giờ cần phải nài nỉ gì nhiều để kể ra những suy nghĩ của mình . . . ít nhất là với những tâm hồn đồng điệu.
“Em đã nghĩ ra chúng trong lùm linh sam vào một đêm nọ,” cậu mơ màng kể. “Tất nhiên là em không tin chúng có thật nhưng em vẫn nghĩ ra. Cô biết đấy, thưa cô. Rồi em muốn kể chúng cho ai đó nghe nhưng chẳng có ai ngoài Mary Joe. Mary Joe đang ở trong phòng đựng thức ăn nhồi bột và em ngồi xuống chiếc ghế dài bên cạnh chị ấy và nói: ‘Mary Joe, chị có biết em nghĩ gì không? Em nghĩ ngôi sao hôm là một ngọn hải đăng ở xứ sở nơi các nàng tiên sinh sống.’ Và Mary Joe bảo: ‘Chà, cậu đúng là đứa kỳ cục. Làm gì có cái thứ gọi là tiên với chả tở.’ Em đã rất bực mình. Đương nhiên là em biết chẳng có nàng tiên nào cả; nhưng điều đó đâu có ngăn cản em nghĩ rằng chúng có thật. Cô biết mà, thưa cô. Nhưng em đã thử lại một cách vô cùng kiên nhẫn. Em bảo: ‘Thế thì, Mary Joe, chị có biết em nghĩ gì không? Em nghĩ có một thiên thần đi dạo khắp thế gian sau khi mặt trời lặn . . . một vị thiên thần cao lớn, mặc áo choàng trắng, với đôi cánh bạc khép lại . . . và hát ru nhữngaj bông hoa cùng loài chim chìm vào giấc ngủ. Trẻ con có thể nghe thấy vị ấy nếu chúng biết cách lắng nghe.’ Lúc đó Mary Joe giơ hai bàn tay dính đầy bột mì lên và bảo: ‘Chà, cậu đúng là một thằng bé kỳ cục. Cậu làm tôi phát hoảng lên được đấy.’ Và chị ấy trông có vẻ sợ thật sự. Lúc ấy em liền chạy ra ngoài và thì thầm phần còn lại của những suy nghĩ đó với khu vườn. Có một cây bạch dương nhỏ trong vườn và nó đã chết. Bà bảo hơi muối biển đã giết chết nó; nhưng em nghĩ vị thần cây trú ngụ trong đó là một nữ thần ngốc nghếch đã lang thang đi ngắm nhìn thế giới rồi bị lạc mất. Và cái cây nhỏ cô đơn quá nên đã chết vì tan nát cõi lòng.”
“Và khi vị nữ thần cây tội nghiệp, ngốc nghếch ấy chán ngấy thế giới ngoài kia và quay trở lại cái cây của mình, tim cô ấy sẽ tan vỡ,” Anne tiếp lời.
“Vâng; nhưng nếu các vị nữ thần cây mà ngốc nghếch thì họ phải gánh chịu hậu quả, cũng giống như người phàm chúng ta vậy thôi,” Paul nghiêm túc nói. “Cô có biết em nghĩ gì về vầng trăng non không, thưa cô? Em nghĩ nó là một chiếc thuyền vàng nhỏ chở đầy những giấc mơ.”
“Và khi nó nghiêng mình trên một đám mây, một vài giấc mơ sẽ trào ra và rơi vào giấc ngủ của em.”
“Chính xác luôn, thưa cô. Ồ, cô hiểu ý em quá. Và em nghĩ những bông hoa violet là những mảnh vụn của bầu trời rơi xuống khi các thiên thần đục các lỗ để ánh sao chiếu qua. Còn hoa cúc dại được làm từ ánh nắng mặt trời cũ; và em nghĩ những bông hoa đậu thơm sẽ biến thành những chú bướm khi chúng lên thiên đường. Nào, thưa cô giáo, cô có thấy những suy nghĩ đó có điểm gì gọi là kỳ quặc lắm không ạ?”
“Không đâu, cục cưng của cô, chúng chẳng kỳ quặc chút nào cả; đó là những suy nghĩ thật kỳ lạ và đẹp đẽ đối với một cậu bé, thế nên những người không tài nào nghĩ ra được dù có cố gắng suốt một trăm năm đi chăng nữa mới thấy chúng kỳ quặc mà thôi. Nhưng hãy cứ tiếp tục suy nghĩ như vậy nhé, Paul . . . cô tin rằng có ngày em sẽ trở thành một nhà thơ đấy.”
Khi Anne về đến nhà, cô lại thấy một kiểu con trai hoàn toàn khác đang chờ được đi ngủ. Davy đang hờn dỗi; và khi Anne cởi quần áo xong, cậu bé liền nhảy tót lên giường và vùi mặt vào gối.
“Davy, em quên cầu nguyện trước khi ngủ rồi kìa,” Anne quở trách.
“Không, em không quên,” Davy bướng bỉnh đáp, “nhưng em sẽ không cầu nguyện nữa đâu. Em bỏ ý định cố gắng trở thành đứa trẻ ngoan nữa rồi, bởi vì dù em có ngoan đến đâu đi chăng nữa thì chị cũng thích Paul Irving hơn. Thế nên thà em cứ hư cho sướng cái thân.”
“Chị đâu có thích Paul Irving hơn,” Anne nghiêm túc nói. “Chị quý em nhiều như thế, chỉ là theo một cách khác thôi.”
“Nhưng em muốn chị quý em theo cùng một cách cơ,” Davy bĩu môi.
“Làm sao mà quý những người khác nhau theo cùng một cách được chứ. Em đâu có quý Dora và chị theo cùng một cách, phải không nào?”
Davy ngồim chồm hổm dậy và suy ngẫm.
“Không . . . ọ . . . ọ,” cuối cùng cậu bé cũng thừa nhận, “em thích Dora vì em ấy là chị em của em nhưng em thích chị vì chị chính là chị.”
“Và chị thích Paul vì cậu bé là Paul còn Davy vì em là Davy,” Anne vui vẻ nói.
“Chà, thế thì hơi tiếc vì ban nãy em không chịu cầu nguyện,” Davy nói, bị thuyết phục bởi lý lẽ này. “Nhưng bây giờ bắt dậy để cầu nguyện thì phiền phức quá. Sáng mai em sẽ đọc bù gấp đôi vậy, Anne. Thế có được không hả chị?”
Không, Anne quả quyết là không thể làm thế được. Thế là Davy lồm cồm bò dậy và quỳ sụp xuống bên đầu gối cô. Khi đã đọc xong kinh nguyện, cậu bé ngả người ra sau chống lên hai gót chân trần nhỏ xíu và ngước lên nhìn cô.
“Anne, bây giờ em ngoan hơn hồi trước nhiều rồi nhé.”
“Đúng vậy thật, Davy ạ,” Anne nói, cô chưa bao giờ ngần ngại công nhận sự tiến bộ của ai đó khi họ xứng đáng.
“Em biết là em ngoan hơn mà,” Davy tự tin nói, “và em sẽ kể cho chị nghe làm sao mà em biết điều đó. Hôm nay Marilla cho em hai miếng bánh mì phết mứt, một miếng cho em và một miếng cho Dora. Một miếng to hơn hẳn miếng kia và Marilla không nói rõ miếng nào là của em. Nhưng em đã nhường miếng to hơn cho Dora. Em làm thế là ngoan lắm phải không chị?”
“Rất ngoan, và rất ra dáng đàn ông đấy, Davy ạ.”
“Tất nhiên rồi,” Davy thành thật thú nhận, “Dora lúc ấy không đói lắm nên em ấy mới ăn có nửa miếng rồi đưa phần còn lại cho em. Nhưng lúc nhường bánh em đâu có biết là em ấy sẽ làm thế, nên em vẫn là đứa trẻ ngoan mà, Anne.”
Trong ánh hoàng hôn chập choạng, Anne thong thả đi dạo đến Bọt Nước của Nữ Thần Cây và nhìn thấy Gilbert Blythe đang đi xuống qua khu Rừng Ma Ám mờ sương. Chợt cô nhận ra rằng Gilbert bây giờ không còn là một cậu học sinh nữa. Trông anh mới nam tính làm sao — chàng trai cao lớn, phóng khoáng, với đôi mắt sáng thẳng thắn và bờ vai rộng. Anne nghĩ Gilbert là một thiếu niên rất khôi ngô, dẫu cho trông anh chẳng có điểm nào giống với hình mẫu lý tưởng của cô cả. Từ lâu cô và Diana đã cùng nhau định hình mẫu người đàn ông mà họ ngưỡng mộ và thị hiếu của hai người có vẻ y hệt nhau. Người đó phải thật cao ráo và mang dáng vẻ xuất chúng, với đôi mắt u buồn, thâm trầm, và giọng nói trầm ấm, đầy cảm thông. Trong diện mạo của Gilbert chẳng có lấy chút u buồn hay thâm trầm nào, nhưng tất nhiên điều đó chẳng hề ảnh hưởng gì đến tình bạn!
Gilbert nằm dài trên đám dương xỉ bên cạnh Bọt Nước và trìu mến nhìn Anne. Nếu có ai đó yêu cầu Gilbert miêu tả người phụ nữ lý tưởng của mình, thì bức tranh ấy sẽ khớp với Anne đến từng chi tiết, kể cả bảy nốt tàn nhang đáng ghét vẫn luôn làm cô phiền lòng. Gilbert lúc bấy giờ vẫn chỉ lớn hơn một cậu bé một chút; nhưng một thiếu niên cũng có những giấc mơ của riêng mình như bao người khác, và trong tương lai của Gilbert luôn có hình bóng một cô gái với đôi mắt xám to tròn, trong veo, và khuôn mặt thanh tú, tinh tế tựa đóa hoa. Anh cũng tự nhủ rằng tương lai của mình phải thật xứng đáng với vị nữ thần ấy. Ngay cả ở Avonlea yên bình này cũng có những cám dỗ luôn chực chờ. Giới trẻ White Sands vốn thuộc tuýp người khá “bạt mạng”, và Gilbert lại đi đến đâu cũng được mến mộ. Nhưng anh muốn giữ cho bản thân luôn xứng đáng với tình bạn của Anne và có lẽ là cả tình yêu của cô trong một tương lai xa xôi nào đó; và anh kiểm soát từng lời ăn tiếng nói, từng suy nghĩ và hành động ngặt nghèo như thể đôi mắt trong trẻo của cô đang soi xét chúng vậy. Anh chịu đựng ảnh hưởng vô thức từ cô, thứ ảnh hưởng mà bất kỳ cô gái nào có lý tưởng cao đẹp và trong sáng đều có thể tác động lên bạn bè mình; một thứ ảnh hưởng sẽ còn trường tồn chừng nào cô còn trung thành với những lý tưởng ấy và cô chắc chắn sẽ đánh mất nó nếu có ngày phản bội chúng. Trong mắt Gilbert, điểm quyến rũ nhất ở Anne chính là việc cô không bao giờ hạ mình trước những thói hư tật xấu của biết bao thiếu niên ở Avonlea — những sự ghen tị vặt vãnh, những trò lừa dối và ganh đua nhỏ nhen, hay những toan tính tầm thường để chuộc lợi. Anne luôn giữ cho mình đứng ngoài những điều đó, không phải vì cô cố tình hay có sự sắp đặt trước, mà đơn giản vì những thứ đó hoàn toàn xa lạ với bản tính trong sáng, bộc trực, với những động lực và khát vọng trong veo như pha lê của cô.
Nhưng Gilbert không dám thốt lên thành lời những suy nghĩ ấy, bởi anh đã có đủ bài học xương máu để biết rằng Anne sẽ lạnh lùng, tàn nhẫn dập tắt mọi manh mún của sự lãng mạn ngay từ trong trứng nước — hoặc tệ hơn là cô sẽ cười vào mặt anh, điều đó còn tồi tệ hơn gấp mười lần.
“Trông cậu chẳng khác nào một nữ thần cây thực thụ dưới gốc cây bạch dương kia vậy,” anh trêu chọc.
“Tớ rất thích cây bạch dương,” Anne nói, áp má vào lớp vỏ trắng mịn màng như satin của thân cây mảnh dẻ, thực hiện một trong những cử chỉ xinh xắn, âu yếm đã trở thành bản năng của cô.
“Thế thì cậu sẽ rất vui khi nghe tin ông Major Spencer đã quyết định trồng một hàng bạch dương trắng dọc theo phần đường trước trang trại của ông ấy, coi như để hưởng ứng phong trào của Hội Cải thiện Vẻ đẹp Avonlea,” Gilbert nói. “Ông ấy vừa mới bàn với tớ chuyện đó hôm nay. Major Spencer là người có tư duy cấp tiến và tinh thần vì cộng đồng nhất ở Avonlea. Và ông William Bell cũng định trồng một hàng rào cây vân sam dọc theo mặt tiền đường và lối đi vào nhà ông ấy. Hội của chúng ta đang tiến triển rất tốt đấy, Anne. Nó đã vượt qua giai đoạn thử nghiệm và trở thành một thực tế được công nhận. Những người lớn tuổi bắt đầu quan tâm đến nó và người dân ở White Sands cũng đang bàn chuyện thành lập một hội tương tự kìa. Ngay cả Elisha Wright cũng đã thay đổi thái độ kể từ cái ngày đoàn khách người Mỹ từ khách sạn đến dã ngoại ở bờ biển. Họ khen ngợi những lề đường của chúng ta hết lời và bảo rằng chúng đẹp hơn bất kỳ nơi nào khác trên Hòn đảo này. Và khi đến thời điểm thích hợp, những người nông dân khác noi theo gương tốt của ông Spencer và trồng các loại cây cảnh cũng như hàng rào dọc theo mặt đường nhà họ thì Avonlea sẽ trở thành khu định cư đẹp nhất trong tỉnh.”
“Hội Phụ nữ đang bàn về việc tôn tạo lại nghĩa trang,” Anne nói, “và tớ rất hy vọng họ sẽ làm thế, bởi vì sẽ phải gây quỹ cho việc đó, và Hội chúng ta sau vụ lùm xùm ở hội trường thì chẳng còn tích sự gì nữa nếu đứng ra lo việc ấy. Nhưng Hội Phụ nữ sẽ chẳng bao giờ nhúc nhích nếu Hội chúng ta không khéo léo gợi ý cho họ. Những cái cây chúng ta trồng trong khuôn viên nhà thờ đang phát triển rất tốt, và ban quản trị đã hứa với tớ là họ sẽ làm hàng rào quanh khuôn viên trường vào năm tới. Nếu họ làm thế tớ sẽ tổ chức một ngày hội trồng cây và mỗi học sinh sẽ phải trồng một cây; và chúng ta sẽ làm một khu vườn ở góc gần đường lớn.”
“Chúng ta đã thành công với hầu hết các kế hoạch cho đến nay, ngoại trừ việc di dời ngôi nhà cũ của nhà Boulter,” Gilbert nói, “và tớ đã hoàn toàn bó tay với vụ đó rồi. Levi kiên quyết không chịu cho dỡ bỏ chỉ để chọc tức chúng ta mà thôi. Trong người nhà Boulter lúc nào cũng có sẵn một mạch ngầm bướng bỉnh và nó thể hiện rất rõ ở lão ta.”
“Julia Bell muốn cử thêm một ủy ban nữa đến gặp ông ta, nhưng tớ nghĩ cách tốt nhất lúc này là cứ mặc kệ lão ta đi,” Anne khôn ngoan đáp.
“Và phó mặc cho Chúa định đoạt, như lời bà Lynde vẫn thường nói,” Gilbert mỉm cười. “Chắc chắn là không còn ủy ban nào nữa rồi. Chúng chỉ làm lão ta thêm ngứa mắt thôi. Julia Bell cứ nghĩ cậu có thể làm được mọi thứ, miễn là có lập ra một ủy ban để giải quyết nó. Mùa xuân tới, Anne, chúng ta phải phát động một chiến dịch vận động làm thảm cỏ và khuôn viên cho đẹp đẽ. Ngay mùa đông này chúng ta sẽ gieo những hạt giống tốt. Tớ có một cuốn chuyên luận về thảm cỏ và cách tạo thảm cỏ ở đây và tớ sẽ chuẩn bị một bài viết về chủ đề này sớm thôi. Chà, có vẻ như kỳ nghỉ của chúng ta sắp kết thúc rồi. Thứ Hai tới là trường khai giảng rồi đấy. Ruby Gillis có nhận được trường Carmody không thế?”
“Có chứ; Priscilla viết thư bảo rằng cậu ấy đã nhận dạy ngay trường ở quê nhà, thế nên ban quản trị trường Carmody đã giao suất đó cho Ruby. Tớ rất tiếc vì Priscilla không quay lại, nhưng vì cậu ấy không thể nên tớ rất mừng vì Ruby đã nhận được lớp. Cậu ấy sẽ về nhà vào các ngày thứ Bảy và mọi thứ sẽ giống như những ngày xưa cũ, khi cậu ấy, Jane, Diana và tớ lại được quây quần bên nhau.”
Marilla, vừa đi thăm bà Lynde về, đang ngồi trên bậc cửa sau nhà khi Anne bước vào.
“Rachel và tao đã quyết định ngày mai sẽ đi thị trấn,” bà nói. “Ông Lynde tuần này khỏe hơn rồi và Rachel muốn đi trước khi ông ấy lại đổ bệnh.”
“Con định ngày mai sẽ dậy thật sớm, vì con có rất nhiều việc phải làm,” Anne ra điều chăm chỉ nói. “Một trong số đó là con sẽ chuyển lông vũ từ chiếc ruột gối cũ sang cái mới. Lẽ ra con phải làm việc đó từ lâu lắm rồi nhưng cứ khất lần khất lữa mãi . . . đúng là một việc đáng ghét. Thói quen trì hoãn những việc khó chịu là một thói quen rất xấu, và con tuyệt đối không bao giờ tái phạm nữa, bằng không con sẽ chẳng thể thoải mái khi bảo học sinh của mình không được làm thế. Làm vậy thì trước sau bất nhất mất. Sau đó con muốn làm một cái bánh cống hiến cho ông Harrison, hoàn thành bài viết về những khu vườn cho Hội Cải thiện Vẻ đẹp Avonlea, viết thư cho Stella, giặt và ủi cứng chiếc váy muslin của con, rồi may thêm cái tạp dề mới cho Dora.”
“Mày chẳng làm nổi một nửa số đó đâu,” Marilla bi quan nói. “Tao chưa bao giờ lên kế hoạch làm một đống việc mà lại không có chuyện gì đó xảy ra để phá đám cả.”