Trái với thói quen thường ngày, ngài Sabin đã đặt một căn phòng riêng tại nhà hàng Milan. Lucille đang ở tâm trạng vô cùng phấn chấn.
“Ước gì đây chỉ là một trò chơi chứ không phải hiện thực!” cô vừa nói, vừa nở một nụ cười rạng rỡ hướng về phía ông qua chiếc bàn ăn, “Em sẽ thấy nó vô cùng cuốn hút. Anh dường như luôn xuất hiện bên em những lúc em cần anh nhất. Và anh biết không, việc bị anh bắt cóc theo cách này thật là tuyệt vời làm sao.”
Ngài Sabin mỉm cười nhìn cô, ánh mắt hiện lên vẻ trìu mến mà ông chẳng dành cho bất kỳ người phụ nữ nào khác.
“Thực chất mà nói,” ông đáp, “nó đang giúp anh trẻ lại. Mọi sự kiện dường như đang giam hũm chúng ta trong một chiếc mạng nhện nhỏ bé kỳ lạ. Suốt thời gian qua, chúng ta cứ giằng co giữa lối sống nguyên thủy thô mỉm nhất và những mưu mô thâm hiểm nhất. Ngày hôm nay chính là sự lên ngôi của bản năng nguyên thuỷ.”
“Ý anh là anh, một hiệp sĩ thời trung cổ, đã vác em, một thiếu nữ lỡ vận, lên vai mình.”
“Sau khi đã đánh lừa kẻ thù của anh,” ông tiếp lời, mỉm cười, “bằng một tình huống khó xử, dăm ba lời biện bạch, và bóng dáng chiếc mũ bảo hiểm của viên cảnh sát ở đằng xa.”
“Nơi này,” cô nhận xét với một tiếng thở dài thỏa mãn khi chọn một món chim chìa vôi, “quả là một chốn lý tưởng để bị bắt cóc đến. Còn anh,” cô nói thêm,ướn người qua bàn và khẽ chạm vào những ngón tay ông đầy âu yếm, “đúng là một hiệp sĩ lang thang vô cùng đáng yêu.”
Ông nâng những ngón tay ấy lên đôi môi mình—người phục vụ đã rời khỏi phòng. Cô đỏ mặt, nhưng cũng rất sẵn lòng để mặc bàn tay mình trong tay ông.
“Victor,” cô thì thầm, “anh sắp làm cho người phụ nữ bạc tình nhất trên đời này hư hỏng với tất cả những kẻ si tình của cô ta mất thôi. Anh làm em thấy vô cùng sốt ruột.”
“Vậy thì,” ông tuyên bố, “sự sốt ruột chắc hẳn phải là thứ dịch bệnh dễ lây lan nhất. Bởi vì anh cũng đang là một nạn nhân vô cùng đau khổ đây.”
“Ước gì Hoàng tử,” cô nói, “chịu uyển chuyển hơn một chút.”
Ngài Sabin đáp: “Anh e rằng chúng ta không thể kỳ vọng nhiều ở ông ta.”
“Thế mà,” cô tiếp lời, “em đã hoàn thành mọi điều kiện. Reginald Brott vẫn là kẻ thù của sự nghiệp và Hội của chúng ta. Dẫu vậy, một số người nói rằng ảnh hưởng của hắn đối với quần chúng đã suy giảm. Dù thế nào đi nữa, công việc của em đã chấm dứt. Hắn đã bắt đầu hoài nghi em từ lâu lắm rồi. Ngày hôm nay, em tin rằng sự hoài nghi đó chính là cảm xúc duy nhất mà hắn dành cho em. Em sẽ đòi lại quyền tự do của mình.”
“Anh e rằng,” ngài Sabin nói, “Saxe Leinitzer có những lý do khác để giữ em lại Dorset House.”
Cô nhún vai.
“Ông ta vẫn tỏ ra rất kiên quyết ngay cả trước khi em rời Vienna. Nhưng hẳn ông ta phải biết rằng điều đó là vô vọng. Em chưa từng khuyến khích ông ta.”
“Anh chắc chắn điều đó,” ngài Sabin nói. “Đó là thứ thói kiêu ngạo không thể sửa đổi của một kẻ cứ nghĩ mình là bất khả chiến bại. Ông ta đã được dạy để tin rằng không ai có thể cưỡng lại sức hút của mình. Anh chưa từng hoài nghi em dù chỉ một khoảnh khắc, Lucille. Anh không thể làm thế. Nhưng em đã làm nô lệ cho những kẻ này đủ lâu rồi. Như em đã nói, nhiệm vụ của em đã chấm dứt. Thất bại của nó vốn dĩ đã được định sẵn từ lâu. Brott tin vào định mệnh của hắn, và sẽ chẳng có thế lực nào dễ dàng ngăn cản hắn bước đi trên con đường đó. Họ phải trả em lại cho anh.”
“Chúng ta sẽ trở về Mỹ,” cô nói. “Em chưa từng hạnh phúc như khi ở Lenox.”
“Anh cũng vậy,” ngài Sabin dịu dàng đáp.
“Hơn nữa,” cô nói tiếp, “thời thế đã đổi thay kể từ khi em gia nhập Hội. Ở Hungary, anh biết mọi chuyện vốn ra sao đấy. Phe Xã hội chủ nghĩa khi ấy đang giành phần thắng trên mọi mặt trận, một khối đoàn kết vững chắc. Tầng lớp quý tộc buộc phải liên kết lại để chống lại họ. Chúng ta đã cứu nước Áo, và anh không chắc là chúng ta đã không cứu cả nước Nga. Nhưng nước Anh lại là một câu chuyện khác. Tầng lớp quý tộc ở đây là một lực lượng tại ngũ hùng mạnh. Họ có Viện Quý tộc, họ sở hữu đất đai và sẽ còn nắm giữ nó trong nhiều năm tới, vị thế của họ là bất khả xâm phạm. Đây là đất nước tồi tệ nhất ở châu Âu để chúng ta hoạt động. Chính khí hậu và tính cách của con người nơi đây vốn đã bài xích mưu mô. Chính Muriel Carey đã mang Hội đến đây. Đó là một sai lầm. Đất nước này chẳng có nhu cầu gì về nó cả. Chẳng có đất cho nó dụng võ đâu.”
“Ước gì người ta có thể vượt qua được Saxe Leinitzer,” ngài Sabin nói.
Cô lắc đầu.
“Đứng sau ông ta,” cô nói, “chỉ còn duy nhất một nhân vật mà mọi sự nhắc đến đều bị cấm kỵ. Và trên đời này chẳng có ai ít khả năng lắng nghe lời thỉnh cầu từ anh—hay từ em—hơn nhân vật ấy.”
“Dù sao đi nữa,” ngài Sabin nói, “dù Saxe Leinitzer là kẻ thù của chúng ta, anh vẫn không chắc rằng ông ta có thể làm hại gì được chúng ta. Nếu ông ta từ chối trả tự do cho em—thì này, khi thời hạn mười hai tháng kết thúc, em hoàn toàn được tự do dù ông ta có muốn hay không. Ông ta đã gạt anh ra ngoài vòng pháp luật. Nhưng đây không phải, và chưa từng là một Hội đoàn mang tính thù hằn cá nhân. Họ không giải quyết vấn đề bằng ám sát. Ít nhất là ở đất nước này, những chuyện đại loại như thế hiếm khi nào được đem ra thử nghiệm. Nếu anh là một thanh niên còn cả cuộc đời phải sống ở các thủ đô châu Âu, có lẽ anh sẽ ít nhiều trở thành một kẻ bị xã hội hắt hủi. Nhưng anh thì miễn nhiễm với thể loại đó.”
Lucille trông có vẻ hoài nghi.
“Hoàng tử,” cô nói, “là một kẻ mưu lược theo trường phái cũ. Em biết rằng ở Vienna, đã không dưới một lần ông ta sử dụng những thủ đoạn bạo lực hơn nhiều so với những gì ông ta dám làm ở đây. Và còn có một cỗ máy ngầm phía dưới mà em tin là rất hiếm khi được sử dụng, thứ mà những thành viên bình thường như chúng ta chẳng hề hay biết gì sất, mang lại cho ông ta quyền lực khủng khiếp.”
Ngài Sabin nghiêm nghị gật đầu.
“Nó từng được vận hành để chống lại anh ở Mỹ,” ông nói, “nhưng anh đã vượt qua được. Ở nước Anh này, anh không tin là ông ta dám dùng đến nó. Nếu có, anh nghĩ rằng từ lâu nó đã nhằm vào Brott rồi. Anh vừa mới đọc bài diễn thuyết của hắn ở Glasgow. Nếu hắn trở thành Thủ tướng, nó sẽ dẫn đến một cuộc cách mạng thực sự đấy.”
Cô thở dài.
“Brott là một kẻ khôn ngoan và mạnh mẽ,” cô nói. “Em lấy làm tiếc cho hắn, nhưng em không tin rằng hắn sẽ không bao giờ trở thành Thủ tướng nước Anh.”
Ngài Sabin trầm ngâm nhấp một ngụm rượu vang.
“Anh tin rằng,” ông nói, “mưu mô chỉ là chốn dung thân của những kẻ sống quá vội vã để rồi chuốc lấy sự chán chường mỏi mệt. Giờ đây những thứ đó chẳng còn thu hút anh bao nhiêu nữa. Anh chỉ tha thiết muốn có lại em, Lucille, để thấy chúng ta đang trên đường trở về ngôi nhà xưa của mình.”
Cô khẽ cười.
“Và em đã từng nghĩ rằng,” cô nói, “rốt cuộc em cũng chỉ có thể giữ anh được một khoảng thời gian ngắn—rằng chẳng mấy chốc những thanh âm từ thế giới bên ngoài sẽ thì thầm bên tai anh, và anh sẽ lén lút quay trở lại chốn mà những bánh xe cuộc đời vẫn đang quay.”
“Một người đàn ông,” ông đáp, “không dễ gì bị những lời thì thầm dụ dỗ rời khỏi Thiên đàng.”
Cô mỉm cười trêu chọc ông.
“À, thật quá dễ dàng,” cô nói, “để nhận ra rằng tuổi trẻ của anh đã được chôn vùi tại một chốn hoàng cung.”
“Chỉ có duy nhất một chốn hoàng cung,” ông đáp, “nơi con người ta học được cách nói sự thật.”
Cô ngả người ra lưng ghế.
“Ôi, anh thật hết thuốc chữa,” cô khẽ nói. “Cái vai diễn duy nhất trong đời mà em cứ nghĩ anh sẽ lúng túng thì anh lại thể hiện nó một cách hoàn hảo đến mức khó tin.”
“Và đó là?”
“Anh là một người chồng đáng yêu vô cùng!”
“Anh rất muốn,” ông nói, “có một cơ hội tốt hơn để chứng minh điều đó!”
“Mong rằng,” cô thì thầm, “sự chia ly của chúng ta sắp sửa kết thúc. Tối nay em sẽ thỉnh cầu Hoàng tử. Việc em tiếp tục ở lại Dorset House không còn cần thiết nữa.”
“Anh sẽ đến,” ông nói, “và trực tiếp đòi người.”
Cô lắc đầu.
“Không! Họ sẽ không để anh vào đâu, và điều đó chỉ làm mọi chuyện rắc rối hơn thôi. Hãy kiên nhẫn thêm chút nữa đi.”
Ông bước đến ngồi cạnh cô. Cô rướn người đón nhận cái ôm của ông.
“Em đang biến sự kiên nhẫn,” ông thì thầm, “thành một thứ cực hình!”
Ngài Sabin đi bộ về phòng mình vào lúc chiều muộn, nhìn chung vô cùng hài lòng với ngày hôm nay của mình. Ông hoàn toàn không chuẩn bị tinh thần cho cú sốc đang đón chờ khi bước vào phòng khách. Duson đang ngả người trên chiếc ghế bành thoải mái nhất của hắn.
“Duson!” ngài Sabin sắc giọng gọi. “Thế này là thế nào?”
Không có tiếng trả lời. Ngài Sabin bước nhanh tới trước, rồi khựng lại chết sững. Ông đã từng nhìn thấy người chết, và ông thừa biết những dấu hiệu đó. Duson đã chết cứng.
Thần kinh của ngài Sabin vẫn đủ sức đối phó với tình huống này. Ông nén lại sự thôi thúc giật chuông gọi người hầu ngay lập tức, và chăm chú tìm kiếm trên bàn xem có bức thư hay lời nhắn nào từ người đã khuất hay không. Ông tìm thấy nó gần như ngay tức khắc—một chiếc phong bì lớn mang chữ viết tay của Duson. Ngài Sabin vội vã bóc niêm phong và đọc:
“Thưa Ngài,—Tôi tự sát bởi vì đó là con đường dễ dàng nhất và tốt nhất. Chất độc vốn được đưa cho tôi để dành cho ngài, nhưng tôi không đủ can đảm để trở thành kẻ sát nhân, hay sau đó phải che đậy tội ác của mình. Ngài là một người chủ tốt đối với tôi, và phu nhân Nữ bá tước cũng luôn rộng lượng và tử tế. Sai lầm lớn nhất đời tôi là đã gia nhập vào tầng lớp thấp kém của Hội. Số tiền mà tôi nhận được chẳng thấm vào đâu so với nỗi lo âu và phiền muộn đã giáng xuống đầu tôi kể từ khi phu nhân Nữ bá tước rời nước America. Giờ đây, khi tìm kiếm sự che chở nơi nấm mồ, tôi được tự do cảnh báo ngài rằng Hoàng tử S. L. là kẻ thù quyết liệt và tàn nhẫn của ngài, và ông ta đã lạm dụng vị thế của mình trong Hội vì tư thù cá nhân. Nếu ngài muốn kết giao với một người bạn có thế lực, ngài nên tìm đến Phu nhân Muriel Carey.
“Mong ngài làm ơn tiêu hủy bức thư này sau khi đọc xong. Di chúc của tôi nằm trong hòm đồ của tôi. “Người đầy tớ trung thành của Ngài, “Jules Duson.”
Ngài Sabin đọc kỹ bức thư này cho đến tận dòng cuối cùng. Sau đó, ông cất nó vào ví và nhanh tay giật chuông gọi người hầu.
“Anh mau đi gọi bác sĩ ngay lập tức,” ông bảo người phục vụ vừa xuất hiện. “Người hầu của tôi hình như bị cơn bệnh đột ngột quật ngã. Tôi e rằng cậu ta đã chết hẳn rồi.”