Ban đêm, phòng đợi dành cho hành khách của sân bay Pherissen ở gần Budapest thường vắng vẻ nên hành lang dường như càng trống trải. Bãi đỗ xe ôtô bus trước nhà ga lại càng trống vắng và mênh mông hơn. Quá nửa đêm ở đây chỉ có một vài chiếc máy bay đưa thư đậu, ngoài ra không còn loại máy bay nào khác. Việc bốc dỡ hàng chỉ chiếm mất rất ít thời gian và người bưu tá hàng không lại tiếp tục cuộc hành trình của mình. Những ngọn đèn pha báo hiệu trên tháp, nơi có điều độ viên chính đang ở, với một phần tư độ sáng, chỉ rực lên trong chốc lát cho các máy bay cất cánh hoặc hạ cánh. Thật ra chung quanh đường băng lên xuống được bảo vệ bằng một mạng đèn dày đặc có độ sáng cực mạnh và sáng suốt đêm nhưng chúng chỉ hướng lên bầu trời. Nhân viên trực ca đêm từ lâu nay đã bị tinh giản tới mức độ chỉ còn lại ít nhất. Vì không có hành khách nên những cuộc gặp gỡ và đưa tiễn cũng không. Bởi vậy sân bay như chìm trong im lặng.
Thế nhưng vào đêm mùng 7 tháng 8, toàn cảnh ở đây trông có vẻ không giống với những gì đã miêu tả ở trên. Khi những chiếc kim của chiếc đồng hồ lớn treo trên tường đã chỉ sang giờ thứ hai và tòa nhà của ga hàng không ngập tràn ánh sáng, người ta thấy rất đông nhân viên phục vụ kíp đêm đã có mặt tại nơi làm việc của mình. Những tiếng va chạm khe khẽ phát ra từ vô số ly tách cà phê mà họ đang uống để chống lại sự mệt mỏi khi họ gặp nhau – với họ, những cuộc gặp như vậy cũng đã khá nhiều – và cùng bực dọc đưa mắt nhìn lên bảng điện báo, ở đó sáng lên một cách lì lợm độc một dòng chữ:
“ Chuyến bay MA – 424, Frankfurt – Budapest – và sau đó, ở cột cuối viết mấy chữ to hơn, – ĐẾN CHẬM”.
Gặp nhau chỉ tổ buồn rầu, một số đến ngồi vào những chiếc ghế fauteuil, số khác đi lại vẩn vơ trong phòng hoặc đến đứng cạnh tấm biển điện báo. Mặc dầu có “ Bản thông báo”đã ghi phía sau bàn điều khiển song họ cũng không biết gì hơn, vì những cô gái mặc đồng phục màu xanh đã tỏ ra mệt mỏi do phải giữ lịch thiệp để lặp đi lặp lại mấy câu:
- Vâng, đúng đấy ạ! Chuyến bay đến chậm. Không, không phải tại tôi. Công nhân viên chức làm việc ở sân bay tại Frankfurt đã tuyên bố bãi công… Khi nào bay ấy à? Xin lỗi, cho đến lúc này cũng chưa thể biết gì hơn…
Lúc ấy, hai người đã cao tuổi, có lẽ là hai vợ chồng vừa đến kịp chỗ quầy bán vé. Người đàn bà khoảng dưới bảy mươi tuổi, còn người đàn ông trông có vẻ già hơn. Nhẫn nại chờ cho đến lúc cô nàng xinh đẹp với chiếc mũ ca –lô trên đầu ngồi trịnh trọng sau chiếc bàn chỉ dẫn chú ý đến mình, người đàn bà hỏi:
- Xin làm ơn cho biết, máy bay từ Frankfurt…
- Thật đáng tiếc, máy bay đến muộn, – không đợi nghe hết, cô gái vội cắt ngang lời bà lão. – Xin mời bà hãy theo dõi tấm bảng báo – làm ra vẻ mệt mỏi, cô gái chỉ tay về phía bức tường. – Công nhân và viên chức toàn bộ các sân bay của FRG ( Cộng hòa Liên bang Đức) đang bãi công. Đây là cuộc bãi công “cao su”…
- “ Cao su” ư ? – Bà lão tròn mắt.
- Vâng, đây là một hình thức mới. Các chuyến bay không hủy bỏ, công việc vẫn chạy nhưng chỉ có điều là chậm lại gấp đôi. Nó cứ kéo chằng ra như cao su.
Trong cái lồng bằng kính của phòng điều độ chính được xây cao khỏi mặt đất, người trưởng ca và những người giúp việc cho ông ta cũng không rời mắt khỏi màn ảnh. Nhưng hệ thống radar không có hoạt động thông báo gì. Mãi sau cùng, trên màn ảnh mới thấy thoáng qua cái gì đó.
- Hình như nó đang vào khu vực! – Người trưởng ca thở phào nhẹ nhõm.
- Rất đúng lúc, – kỹ sư quan trắc đáp lại, mắt vẫn không rời màn ảnh. – Quả là vượt kỷ lục: chậm vừa đúng 3 giờ 40 phút.
Từ xa, loa phóng thanh như sống lại và bắt dầu liên hệ với đài điều khiển ở gần bức tường. Cơ trưởng báo cáo máy bay đã vào khu vực, đề nghị tọa độ và xin phép được hạ cánh.
Trên tấm bảng báo trong phòng chờ nhấp nháy đèn báo hiệu màu xanh, những chữ cái bằng đèn điện tử chạy qua hợp thành những từ: “ CHUYẾN BAY MA – 424, FRANKFURT – BUDAPEST, ĐANG ĐẾN…”.
Mọi sự chờ đợi coi như kết thúc. Những người gặp mặt, những công nhân khuân vác như được sống lại trong khi nhân viên hải quan và các nhân viên trực ban lại thở dài. Sự kích động thần kinh và những nỗi bực dọc vụt biến mất. Một số người vội vàng đến trạm điện thoại tự động để báo tin cho những người ở nhà biết là họ sắp về nhà, số khác thì ra ngoài hành lang vừa hút thuốc vừa nhìn lên bầu trời đen cao thăm thẳm hoặc dán mắt vào đường viền sáng ánh đèn của đường băng.
Từ trên cao, tiếng ầm ầm của động cơ ngày càng rõ hơn. Đã có thể nhìn thấy ánh đèn báo hiệu màu đỏ nhấp nháy ngày càng đến gần ở mũi và phân nửa con chim sắt. Rồi có tiếng ầm ầm va chạm của càng máy bay, sau đó một chiếc máy bay đồ sộ lướt nhẹ trên đường bê –tông với tốc độ giảm dần. Sau đó nó quay ngược trở lại, lăn bánh đến nơi quy định và dừng hẳn. Bằng đôi tay cần mẫn người ta điều khiển chiếc cầu thang tự động lướt nhẹ đến con chim sắt khổng lồ.
Cửa khoang hành khách đã mở. Từ trong đó lần lượt bước ra cả thảy tám hành khách. Cuối cùng, theo cầu thang bước xuống là một người đàn ông tầm thước trạc bốn mươi tuổi. Ông ta đeo trên vai hai máy ảnh, tay xách chiếc túi du lịch loại trung bình.
Việc ghi phiếu ở trạm kiểm dịch chỉ chiếm mất một vài phút, sau đó hành khách tiếp tục đi đến chỗ kiểm tra hộ chiếu. Ở đây thủ tục diễn ra cũng nhanh như ở chỗ kiểm dịch. Người ta chỉ nhìn hành khách, nhìn vào tấm hộ chiếu đã mở sẵn có dán ảnh chủ nhân của nó và ngay lập tức đóng dấu chứng nhận được phép nhập cảnh vào lãnh thổ của nước Cộng hòa nhân dân Hungary với đầy đủ các mục chỗ ở, ngày tháng năm. Vẫn như lúc vừa xuống máy bay, người đàn ông với những chiếc máy ảnh vẫn bám theo sau đoàn. Bước đi ngập ngừng và cái nhìn do dự chứng tỏ ông không phải là người quen thuộc đối với những nề nếp sinh hoạt của sân bay này. Việc kiểm tra quá cảnh đối với ông ta cũng không lâu gì hơn so với những người khác. Tầm vóc trung bình, hơi gầy, tóc màu hạt dẻ, mắt nâu, mũi thẳng, môi mỏng. Dấu hiệu đặc biệt không có. “ Xin mời đi qua”. Theo sự sắp đặt của sở Hải quan khi phân loại hành lý của hành khách, những chiếc va ly được di chuyển theo băng chuyền. Nhưng người khách lạ, thay vì đứng đợi hành lý của mình lại bước thẳng đến cánh cửa, nơi có một bóng đèn đỏ đang cháy sáng. Anh nhân viên hải quan trong bộ đồng phục chặn ngang đường và chìa cho ông ta tờ giấy kê khai, lịch sự trỏ vào chiếc máy ảnh – Cần phải ghi thêm nó vào bản khai mẫu. Người khách lạ nhanh nhẹn điền vào tờ giấy, nhưng ở cột cuối mục nói về máy ảnh nhập vào té ra không phải hai mà có đến ba tên gọi. Nhân viên hải quan cầm lấy tờ giấy, nhìn vào máy ảnh rồi rà soát lại số hiệu. Đây là hai chiếc máy ảnh tuyệt hảo mang nhãn hiệu Minolta, mỗi máy đều có ống kính tele và ống kính macro. Tất cả đều chính xác. Nhân viên hải quan chỉ tay vào một phần ba dòng chữ, đưa mắt có ý hỏi. Người ngoại quốc thò tay vào túi và lấy ra một máy ghi âm nhỏ xíu. Kích thước của chiếc máy ghi âm ấy chỉ lớn hơn bao diêm chút đỉnh.
Nhân viên hải quan lấy làm ngạc nhiên bởi sự kỳ diệu của máy móc, như thể lần đầu tiên anh ta mới nhìn thấy một cái máy như thế. Anh ta nhìn xuống tấm thẻ hộ chiếu của người khách, chỗ đã có tờ kê khai kẹp bên trong.
“Người Ý” – nhân viên hải quan thầm nhận xét. Anh ta ra hiệu yêu cầu được mở máy ảnh ra. Vị khách lạ liền mở cả hai ngăn lắp phim. Chúng đều trống rỗng. Tiếp đó vị khách mở cả dây kéo chiếc túi xách của mình và đưa đến gần anh nhân viên hải quan, chỉ vào cuộn phim màu “Agra” còn nguyên cả giấy bọc của nhà máy sản xuất. Bằng nét mặt và cử chỉ, người Ý này giải thích rằng ông ta đã hiểu rất rõ và đã chấp hành một cách nghiêm chỉnh quy tắc đã đề ra: trên máy bay ông ta đã không hề sử dụng đến máy ảnh.
Cả hai bên: anh nhân viên hải quan và người Ý đếu lấy làm mãn nguyện, và trong khi người Ý sắp xếp lại đồ đạc của mình thì anh nhân viên hải quan đóng dấu thị thực vào bản kê khai và hoàn tất mọi thủ tục – đúng như bản chỉ thị đã hướng dẫn từ trước.
Người khách bước ra khỏi phòng chờ. Không có một ai ra đón ông ta cả. Ông ta do dự nhìn quanh và đi về phía có tấm biển ghi “Cho thuê xe hơi”. Sau bàn giấy có hai người đang ngồi, nét mặt tỏ vẻ hết sức mệt mỏi – người đàn ông mập mạp chừng 50 tuổi và trước mặt ông ta là một chàng trai trẻ mặc quần áo đồng phục lái xe du lịch của hãng Volan .
- Bonacera! – Người khách chào bằng tiếng Ý và chìa ra bức điện tín cho người lớn tuổi – nhân viên ban quản trị – xem.
- Tôi là Victorio Carrini, – người Ý tự giới thiệu và vẫn tiếp tục nói bằng thứ tiếng của nước mình. – Tôi muốn đặt thuê một chiếc xe hơi. Đây là bức điện tín đã được chứng thực rằng, đơn đặt hàng đã được chấp nhận.
- Si, si! – Người đại diện của hãng Volan mệt mỏi gật đầu. Ông ta thỏa mãn với sự hiểu biết về mấy tiếng Ý này của mình, nếu không ông ta đã đọc thêm mấy tiếng “No, no” – Ông ta nhìn bức điện tín và nói với người thanh niên mặc bộ combination[1].
- Khách hàng của cậu đấy ! Bám lấy ông ta đi !
Chàng trai trẻ đứng dậy và đặt lên bàn hai chiếc chìa khóa xe hơi – một dùng để mở công tắc điện và một dùng để mở cửa xe. Nhưng khi người Ý vươn người lên theo, anh ta liền đưa tay ra phía trước có ý ngăn lại. Và với bộ mặt làm ra vẻ rất trịnh trọng, anh ta tuyên bố:
- Yêu cầu đưa trình bằng lái xe !
Lời yêu cầu này thể hiện sự nhận thức cao về trách nhiệm trong việc phục vụ nguời nước ngoài kết hợp với lợi ích kinh tế của nước cộng hòa nhân dân – Phải nộp ngoại tệ.
- A hà, giấy chứng nhận ! – Người Ý đã hiểu ra và thò tay vào túi.
Việc xuất trình giấy chứng nhận coi như đã được “nghiên cứu” một cách kỹ lưỡng và kết cục là những chiếc chìa khhóa đã chuyển sang tay người khách.
- Tiền thuê xe hơi sẽ thanh toán qua đường điện báo sau năm ngày đêm, – nguời cao tuổi giải thích, nhưng thấy Carrini một lần nữa tỏ ra không hiểu nên ông phẩy tay ra hiệu cho đồng nghiệp của mình dẫn khách ra xe.
Chàng trai trẻ trong bộ đồng phục áo liền quần đi về phía lối ra, nhân tiện nói khi họ vừa khuất:
- Anh hãy ra lệnh cho họ giữ ôtô bus lại. Ngữ ấy thì tôi cũng chẳng ham, đó là điều chắc chắn. Sáng ngày mai tôi sẽ giải thích lý do tại sao. Tóm lại, đúng là một thứ mít đặc[2].
Carrini thản nhiên đi đằng sau người dẫn đường, đầu hơi cúi xuống và mỉm cười: tiếng Hungary thì gã hiểu rành rẽ đến từng chữ một.
Từ trong hãng Volan ra, chàng trai trẻ dẫn gã người Ý tới chiếc xe mới tinh mang nhãn hiệu “ Fiat – 128” và ân cần mở cửa xe cho gã. Carrini xếp số hành lý ít ỏi của mình lên chỗ ghế ngồi ở phía sau và trước khi ngồi vào sau tay lái, gã hỏi:
- Đến trung tâm thành phố phải không?
Người dẫn đường khoát tay chỉ về phía thành phố. Lúc ấy gã người Ý rút từ trong túi ra 5 USD đưa cho anh chàng.
Chàng trẻ tuổi kinh ngạc, dập gót giày đánh cộp một tiếng và chào theo kiểu quân sự. “Coi kìa, chơi bảnh không – anh ta nghĩ bụng – những 5 USD trà thuốc!”[3]
Người Ý chui vào xe hơi, hạ kính xuống và chiếc xe nhẹ nhàng rời khỏi chỗ đậu.
- Arriverci! – Gã người Ý kêu lên khi xe đã chạy được một đoạn.
- Chào! – Chàng trai phẩy tay và đứng một vài phút nhìn theo ánh đèn đỏ của chiếc xe đang chạy xa dần. Tất nhiên là anh ta không thể biết chỉ một phút sau đó, cũng từ trong bãi đậu xe này có một chiếc xe du lịch màu xanh nhãn hiệu Renault phóng ra đuổi theo chiếc Fiat của gã người Ý đã thuê xe một cách không bình thường. Ra khỏi trục lộ chính dành cho xe hơi, hai chiếc xe như cùng bị hút về phía thành phố, chạy cách nhau khoảng gần hai chục thước.
“Thế đấy, cho đến giờ thì mọi việc đang diễn tiến một cách bình thường. – Carrini phấn chấn liếc mắt về phía người theo dõi gã và tiếp tục quan sát qua tấm kính chiếu hậu – Hắn ta đã tìm ra mình”.
Cả hai chiếc xe đều đã đến gần con đường ngầm đầu tiên dẫn vào thành phố. Không chắc là chúng đã gặp được nhau. Carrini giảm ga, để cho chiếc Renault màu xanh đuổi kịp mình. Hai xe chạy ngang nhau ngay trước lối vào đường ngầm. Từ bên cửa chiếc xe Renault bắn ra một vật giống như cái hộp nhỏ xíu, đập nhẹ vào ngực gã người Ý rớt xuống ghế nệm. Carrini đưa tay phải nhặt vật đó lên, nắm chặt trong lòng bàn tay còn tay kia vẫn tiếp tục điều khiển chiếc xe. Chiếc Renault vượt lên phía trước và hai lần nháy đèn tín hiệu ở đuôi xe. Carrini cũng hai lần nháy đèn tín hiệu đáp lại.
Đây chỉ là phần đầu của những diễn tiến theo đúng dự định.
Chiếc Renault tăng thêm tốc độ và tan biến vào bóng tối. Carrini, ngay lúc đó vẫn giữ nguyên tốc độ của xe, chạy theo hướng về Budapest. Gã dùng một tay mở cái vật mà người ở chiếc Renault đã búng qua xe gã, tìm thấy trong đó chiếc chìa khóa và một mẩu giấy. Trong mẩu giấy hiện lên mấy chữ bằng tiếng Đức: “Ga Phương Đông. Vàng”.
Gã nhét chiếc chìa khóa vào túi, còn mẩu giấy, gã xé thành những mảnh vụn ném ra ngoài cửa xe, mỗi mảnh bay đi một ngả.
Dừng xe tại bến đậu của ga Phương Đông, gã người Ý ngập ngừng giây lát, định rút chiếc máy ảnh của mình ra thì chợt nhìn thấy cách đó không xa có hai ba tên du thủ du thực – loại chuyên hành nghề vào ban đêm ở các nhà ga trên khắp thế giới. Và với bọn này, cách xử thế khôn ngoan nhất là lỉnh cho thật xa.
“Nếu chúng cuỗm mất máy ảnh, mình sẽ không thể biện hộ được rằng vì lý do đó mà mình đã không hoàn thành nhiệm vụ”. – Carrini suy nghĩ và một cảm giác ớn lạnh chạy dọc theo sống lưng gã.
Gã đi vội vào phòng lưu trữ có những chiếc tủ tự động. Tìm thấy chiếc tủ mang số 245, gã người Ý mở ra, dùng thêm chìa khóa đem theo sẵn mở nột lần nữa và nhìn vào bên trong. Gã thấy có hai chiếc va –ly loại nhỏ – một chiếc màu da lươn và một chiếc màu vàng. Theo đúng sự chỉ dẫn đã nhận được, gã xách chiếc va –ly màu vàng, đóng tủ lại, ném đồng tiền vào khe hở, đóng cánh cửa nhỏ lại và rút chìa khóa ra. Làm xong tất cả mọi việc, gã ngó quanh. Ngoài một ít hành khách đã quá mỏi mệt vì phải chờ đợi qua đêm đang ngủ gà ngủ gật và những kẻ lang thang chờ trời sáng còn thì không có một người nào khác nữa.
Trở lại xe, gã chui vào bên trong nhưng chưa sập kính cửa xuống vội. Mở nắp chiếc va –ly màu vàng, gã thấy trong đó có một vài chiếc áo sơ –mi, mấy chiếc cravate và một bộ đồ ngủ. Nhìn hú họa vào số đo in trên cổ áo, gã thấy size của chiếc áo là 40.
Carrini huýt sáo một cách mãn nguyện. Quả đúng là số áo của gã.
“Họ hành động rất chuyên nghiệp” – gã tự nhủ.
Trước khi “từ chỗ ấy” ra đi, Carrini đã tỏ ra hết sức lo lắng. Đã hai mươi năm trôi qua kể từ ngày gã rời xa tổ quốc. Từ đó đến nay, ở đây đã thay đổi những gì. Làm thế nào để che giấu và bảo đảm được sự an toàn của gã trước mọi người, theo như nhiệm vụ mà vì nó, gã đã tới Budapest? Nhưng lo lắng như thế này thì có vẻ như là chuyện tầm phào, cũng giống như là sự chính xác của số đo ở cổ mấy chiếc sơ –mi mà thôi, cứ yên tâm. Phải, họ quả là lo xa và cẩn trọng, đối với họ chẳng có gì là không đáng quan tâm cả. Bảo đảm an toàn tuyệt đối mà.
Lương lại cao nữa. Công việc này rất quan trọng, rất cốt yếu vì nó đã được giao cho chính gã. Carrini vốn xuất thân là thợ chụp hình. Và, mặc dù nhiệm vụ không có gì là nguy hiểm, họ cũng đã đền đáp cho gã nhiều, rất nhiều.
Gã người Ý thọc tay xuống dưới lớp quần áo, sờ soạng dưới đáy chiếc va –ly, nơi có một chỗ hơi gồ lên. Gã ấn nút. Từ ngăn đựng quần áo và lớp đáy rơi ra một cuốn băng cassette nhỏ xíu, loại dùng cho máy ghi âm của gã. Gã liền lắp băng cassette vào máy rồi cho xe rời khỏi chỗ đậu và lượn một vòng rộng, sau đó cho xe chạy theo đại lộ Racossi.
Chính vào thời điểm đó, chiếc Renault màu xanh phóng vụt qua. Carrini không kịp nhận ra ai ngồi sau tay lái nhưng gã hiểu rằng người ta đang kiểm tra gã…
“Cứ việc mà kiểm tra, – gã nghĩ – chẳng có gì đe dọa được ta hết. Trái lại…”.
Vẫn tiếp tục cho xe chạy theo đại lộ Racossi, Carrini bật máy ghi âm. Ngay từ phút đầu trong máy chỉ phát ra những tiếng xào xào rất nhẹ, sau đó, bất thình lình Carrini phải giật mình vì giọng nói của một người đàn ông:
“Đã dành sẵn cho anh một phòng trong khách sạn Budapest. Số phòng là 365. Đối diện với cửa phòng là cầu thang để sử dụng mỗi khi có việc bất trắc xảy ra. Anh sẽ nhận được phiếu ủy nhiệm vào ngày mai từ người phụ trách. Không được nói tiếng Hungary. Coi như anh chưa từng bao giờ ở Hungary hết. Hãy tránh xa mọi chỗ người ta có thể nhận ra anh. Anh không có quyền mạo hiểm. Tài liệu, sau một ngày phải bỏ lại vào chiếc tủ tự động để ở nhà ga. Mỗi lần anh hãy thay đổi va –ly. Không được sử dụng vũ khí ngay cả khi chỉ nhằm mục đích tự vệ. Nếu có đem theo súng, hãy cất ngay vào va –ly và bỏ nó trong chiếc tủ ngay vào ngày mai, không được chậm trễ. Địa chỉ khâu trong cổ chiếc áo sơ –mi ca –rô. Anh hãy học thuộc lòng chúng rồi hủy mảnh giấy ghi ngay. Ngày mùng 3 tháng 6, anh cần phải đem những tài liệu cuối cùng trở về. Những tài liệu của anh được lấy đi đều đặn từng ngày một. Hãy cố gắng khám phá tài liệu trên những bức ảnh dành cho anh. Phải xóa ngay lập tức băng gốc này, không được đem ra khỏi xe hơi và ghi nhạc thay vào đó. Anh phải rà soát lại xem băng có chỗ nào bị nhòe tiếng không? Anh đã nghe chỉ thị của sếp rồi đó”.
Carrini quay trả băng và nghe lại một lần nữa, ghi nhớ nguyên tắc và những điều cấm kỵ. Rồi gã rút ra chiếc micro nhỏ cỡ bằng hạt đậu lắp vào máy ghi âm và dò tìm tần sóng đang phát nhạc nhẹ trong chiếc máy thu thanh gắn trong xe hơi và tiến hành ghi nhạc vào đấy.
Lúc này chiếc Fiat đã chạy đến quảng trường mang tên Moscow. Phía trước đường cáp chuyền toa của nhà ga, một chiếc đèn tín hiệu giao thông màu đỏ đang bật sáng. Dừng xe lại, Carrini nghe thấy tiếng xè xè nho nhỏ – cuốn băng đã ghi xong. Quay xe trở lại chỗ đậu ở cạnh khách sạn Budapest, Carrini tắt máy xe. Trong bầu không khí yên tĩnh, gã nghe lại một lần nữa toàn bộ cuốn băng. Lời huấn thị đã biến mất, thay vào đó là tiếng nhạc vang lên.
❀ ❀ ❀
[1] Combination: Áo liền quần.
[2] Nguyên văn: dốt như gốc cây.
[3] Nguyên văn: “Coi kìa, đúng là Crez!”. Theo truyền thuyết của Quốc vương Lidi (Tiểu Á), từ Crez dùng để chỉ một người có của cải nhiều vô kể.