Viện trưởng Bela Imre luôn luôn cho rằng đặc trưng rõ nét nhất đối với bất cứ xí nghiệp hoặc cơ quan nào không phải ở bộ máy hành chính mà là ở khối lượng sản phẩm, hay nói một cách khác đó là hiệu quả lao động của đơn vị đó. Vì thế bốn phân xưởng của nhà máy và hai phòng thí nghiệm lớn phải chịu sự chỉ đạo từ tòa nhà hai tầng rất khiêm tốn truyền đi. Vả lại, Imre tổ chức vấn đề này một cách khác: không phải chịu sự lãnh đạo mà tự mình điều hành công việc. Hơn nữa, tòa nhà hành chính với tấm biển đề “Viện năng lượng” chẳng hề đầy ắp các loại cán bộ, công nhân viên như vẫn thường thấy ở các nơi khác. Những cán bộ công nhân viên thuộc Viện năng lượng không phải chịu khổ sở vì chật chội. Họ làm việc một cách bình thản và đều đặn, không gây phiền hà cho nhau.
Bela Imre lãnh đạo viện, đúng ra là lãnh đạo nhà máy liên hợp chế tạo máy móc khoa học đã gần mười lăm năm. Trong thời gian này, chất lượng sản phẩm điện tử, dụng cụ và trang thiết bị mang nhãn hiệu Viện năng lượng đã tạo được uy tín thật sự ở tất cả các nước trong khối KOMECON ( Hội đồng tương trợ kinh tế ) và cả trên thị trường các nước phương Tây.
Imre làm việc rất nhiều. Thường thường ông đến phòng làm việc của mình lúc 6 giờ sáng. Kể từ giờ đó bắt đầu là ngày làm việc và ông làm mãi đến 6 –7 giờ tối. Vào buổi sáng, khi tòa nhà hành chính còn chưa có người và sự yên lặng vẫn còn đang ngự trị ở đó, ông đã có thể tập trung tư tưởng vào các bản thiết kế và thuyết trình, đánh giá những đề xuất của người thiết kế công trình, nghiên cứu các tài liệu, chuẩn bị bắt tay vào thực hiện, còn phần lớn thời gian ông xem xét và đào sâu suy nghĩ về những tài liệu từ phòng thí nghiệm – nơi ông đang cho tiến hành các cuộc thí nghiệm chuyển đến hay của các phân xưởng, nơi đã chế tạo xong các sản phẩm.
Thế nhưng, hôm nay đồng hồ mới chỉ 6 giờ mà ông đã ngồi ở bàn làm việc của mình. Mở chiếc cặp làm việc ra – loại cặp được bọc bằng da dê thuộc – ông tập trung tư tưởng đọc những tài liệu bằng tiếng Hungary và tiếng Nga đầy trong đấy. Thật ra, ông nói tiếng Nga còn vất vả nhưng hiểu tiếng Nga rất vững. Khi đọc ông có thể biết được những chỗ in sai hoặc những câu dịch không đạt yêu cầu. Vả lại, phòng quốc tế thuộc viện của ông đã làm việc rất hoàn hảo. Đọc nốt cho xong, ông đóng cặp và nghĩ: “Lẽ ra phải lưu ý đến món tiền thưởng bằng ngoại tệ dành cho cả chuyên viên lẫn cô đánh máy chữ mới phải”.
Ông ngả người ra chiếc ghế bành, mở máy thu thanh và mấy giây sau đã nghe thấy những tín hiệu quen thuộc báo đã đúng giờ phát sóng. Giọng đọc của xướng ngôn viên vang lên:
- Đây là tiếng nói Budapest, Đài phát thanh mang tên Kosut. Bây giờ là 7 giờ sáng, giờ địa phương, ngày thứ năm, 8 tháng 6 năm 1978. Xin kính chào quý thính giả đang trên đường đến nơi làm việc. Nha khí tượng dự báo thời tiết…
Đúng lúc đó cánh cửa ra vào bọc da ở bên trong mở tung ra và Tereza Kintres, thư ký của ông, bước nhanh vào, miệng khe khẽ hát một cách vui vẻ. Hơi vụng về kiểu trẻ con một chút, dáng người của cô cân đối và hài hòa trong bộ quần áo màu kem với chiếc áo cánh màu nâu ôm sát người. Mái tóc của cô thưa, màu vàng với kiểu chải để đường ngôi chính giữa cho tóc hai bên rủ xuống hơi che khuất vành tai cộng với những búp tóc hơi loăn xoăn ở hai bên do sự khéo léo của người thợ làm tóc. Kiểu để tóc này đã làm cho khuôn mặt hơi thuôn thuôn của cô trở nên tròn hơn, làm mất đi những nét cương nghị thường bộc lộ hàng ngày – Tereza đã ngoài 30 tuổi.
Nhìn thấy viện trưởng ngồi ở bàn, Tereza lúng túng:
- Xin viện trưởng thứ lỗi, tôi cứ tưởng là ông chưa đến. Xin thứ lỗi vì sự đường đột này!
- Mọi việc đều ổn cả, cô Teri[1] ạ, – Imre tắt máy thu thanh. – Rất vui vì hôm nay cô đã tới rất sớm.
Tereza đưa mắt nhìn xuống, cười tủm tỉm:
- Sao hôm nay ngài lại lịch sự thế, thưa ngài viện trưởng! Có lẽ viện trưởng định nói là tôi luôn luôn dành phần lớn thì giờ vào việc trang điểm, phải không ạ?
- Có thể là như vậy, – Imre nhẹ nhàng rời ghế, đứng lên và bước ra khỏi bàn làm việc. Ông tỏ ra thích thú vì sự chú ý của cô nữ thư ký, mặc dù ông nhận thấy trong đôi mắt xanh mở to của cô đang ẩn giấu một nụ cười mai mỉa. Ông bước về phía trước và vươn người lên, ưỡn thẳng vai, như tất cả những người cao lớn, tuy ông có thói quen so vai. Như cái máy, ông sửa lại áo veston, đưa lòng bàn tay xoa xoa mớ tóc thưa và trắng như tuyết của mình.
- Tại sao điều đó làm cho viện trưởng phải ngạc nhiên? Chẳng lẽ những hôm khác nom tôi có vẻ xấu hơn ư? Tuy nhiên, viện trưởng nói đúng: hôm nay là một ngày đặc biệt. Chúng ta sẽ ký kết hợp đồng hợp tác với các đối tác bên Nga và Cộng hòa Dân chủ Đức. Điều này đòi hỏi một mức độ trang trọng nào đó, chẳng lẽ lại không đúng hay sao?
Cô gái phì cười.
- Còn bởi vì Bộ trưởng ngoại giao cũng sẽ có mặt trong lễ ký kết, – Imre tiếp tục, đầy vẻ nghiêm túc. – Về y phục của ông ấy cô sẽ nhận được thông báo chính xác, tôi xin hứa với cô nhu vậy. Nhưng thôi, yêu cầu cô nhắc cho tôi nhớ chương trình làm việc của ngày hôm nay.
Tereza chạy về phòng tiếp tân và một phút sau đã trở lại, tay cầm theo cả quyển sổ ghi chép và cây bút bi. Cô ngồi ghé bên chiếc bàn con kê ở chân trường, mở sổ ghi chép ra và bắt đầu báo cáo:
- Lúc chín giờ, như viện trưởng đã nói, sẽ có cuộc họp phổ biến những công văn quan trọng ở bộ. Mười một giờ viện trưởng hướng dẫn cuộc họp của lãnh đạo các phòng ban và các phân xưởng. Đến 14 giờ, người ta sẽ đợi viện trưởng ở nhà máy Liên hợp hóa chất Budapest, ở đó đang trưng bày thành tựu về việc tìm ra một chất mạ mới nhằm chống gỉ cho các vật liệu làm bằng chất rắn. Lúc 16 giờ viện trưởng lại phải họp ở Ban thường vụ Quận ủy, còn chiều tối viện trưởng dành thì giờ để đi thăm ông bạn Dodek. Trung tá Rona ngày hôm qua đã đặc biệt gọi dây nói cho tôi dặn tôi nhớ nhắc viện trưởng về chuyện này.
- Phải, phải, đi thăm Dodek. – Imre trầm ngâm nhìn ra cửa sổ – đi thăm người bạn thợ của tôi. – Ông im lặng một phút, sau đó hướng về phía Tereza. – Còn gì nữa không?
- Cơ quan đại diện du lịch Ibus có gọi dây nói về. Ở đấy mọi việc đều ổn. Họ đã sắp xếp xong xuôi một chuyến đi ngắn ngày sang một số nước châu Âu cho đôi vợ chồng trẻ theo đúng yêu cầu của viện trưởng. Ngày hôm nay có thể nhận được giấy tờ của chuyến đi này.
- Cảm ơn Teri, đây là một tin rất tốt. – Imre nhận xét, trong giọng nói đã thấy vang lên âm điệu vui vẻ. – Giữa lễ ký kết ở Bộ và cuộc họp, tôi có thể tranh thủ độ mười lăm phút để đến chỗ hai đứa. Cô thử tưởng tượng xem, con gái và cậu con rể của tôi sẽ vui đến thế nào.
- Viện trưởng đã chuẩn bị cho họ món quà cưới tuyệt diệu! Đúng là không thể mong đợi điều gì tốt hơn thế được.
Cả hai cùng im lặng. Bước nhẹ nhàng trên tấm thảm dày, Imre đi qua góc phòng làm việc và thả người xuống chiếc ghế bành kê bên cạnh chiếc bàn nhỏ để hút thuốc. Tựa cằm vào tay, ông lơ đãng nhìn ra ngoài cửa sổ một lúc lâu.
- Lúc chúng nó đi du lịch, tôi sẽ lại chờ đợi chúng, – ông nói khẽ. – Còn sau đó? Sau đó thì tôi hoàn toàn cô độc. Lúc trở về con gái tôi sẽ đi theo chồng nó.
- Xin viện trưởng thứ lỗi, vì sao viện trưởng không lấy vợ? – Tereza quay mặt về phía ông. – Vợ viện trưởng mất cách nay cũng đã hai năm rồi cơ mà. Trong dân gian người ta vẫn thường nói: đàn ông khó mà sống một mình được.
Imre không trả lời.
Tereza hiểu rằng mình đã vượt quá giới hạn được phép của cuộc trao đổi nên vội vàng chuyển cuộc nói chuyện sang chủ đề khác:
- Xin viện trưởng cho phép tôi hỏi viện trưởng một câu, – cô nói và vì Imre nhìn vào mắt cô ra chiều khích lệ, cô hỏi luôn. – Mỗi lần khi nhắc đến ông Dodek, không hiểu sao viện trưởng lại gọi ông ấy là bạn thợ. Điều đó có nghĩa là gì?
Imre nghiêm mặt lại.
- Tereza, hôm nay cô có phần quá đáng đấy.
Cô gái gượng đỏ mặt:
- Xin viện trưởng thứ lỗi…
Tereza đứng dậy, gấp sổ tay và làm cho nắp đậy cây bút bi kêu tách một tiếng.
- Tôi đi chuẩn bị cà phê cho viện trưởng.
Tereza đã ra đến cửa, Imre giữ cô lại:
- Cô hãy nói xem, Teri, chúng ta cùng làm việc với nhau bao lâu rồi?
- Sáu năm rồi, thưa viện trưởng.
Mười phút sau, khi trở lại cùng với chiếc khay trên đặt chiếc tách trắng và mùi cà phê bay ngào ngạt, Tereza đã mặc thêm chiếc áo khoác làm việc màu xanh nhạt đã được ủi cẩn thận. Viện trưởng ngồi vào chỗ cũ trong góc phòng, đang đọc báo cáo trong tuần, xét đoán những dòng chữ ghi trong chiếc cặp giấy từ phòng thí nghiệm số 2 gửi đến. Tereza lặng lẽ đặt trước mặt ông chiếc khay nhỏ đựng tách cà phê, hộp đường và chiếc lọ đựng kem tí xíu.
Imre nhìn Tereza. Nét mặt của cô đã hoàn toàn trở lại là một nữ thư ký nghiêm trang và có vẻ đang tập trung tư tưởng vào công việc.
- Đem ly cà phê của cô lại đây và ngồi vào chỗ này, – ông chỉ vào chiếc ghế bên cạnh.
Nói xong, thấy Tereza đã thực hiện lời yêu cầu của mình, Imre mở hộp đựng thuốc để trên bàn, mời cô gái. Hai người cùng hút thuốc.
- Vậy là cô hỏi, tại sao lại gọi Dodek là bạn thợ ư? Đây là cả một câu chuyện dài, Teri ạ. Chuyện này bắt đầu từ hồi cô chưa có mặt trên thế gian này, tức là trong những năm chiến tranh kia.
Cuối mùa thu 1941, khi ấy Đảng cộng sản đang trong tình trạng hoạt động bí mật ra tuyên bố chuyển sang thời kỳ đấu tranh vũ trang chống bọn phát xít Đức xâm lược và bọn tay sai của chúng, tôi đã là một thành viên của nhóm Phản kháng. Chúng tôi kiếm vũ khí cho mình – một vài khẩu súng ngắn, số đạn dự trữ hùng hậu và hàng chục trái lựu đạn. Chúng tôi đã tiến hành được một vài vụ phá hoại, một số cuộc tấn công vũ trang đạt kết quả. Nhưng có một lần, đó là vào buổi chiều – đây đã là bắt đầu vào tháng 12 – ở gần quảng trường Canvaria, bất thình lình một toán tuần tiễu SS xuất hiện. Chúng có ba tên, đúng bằng số người của nhóm chúng tôi – Balint Rona, em trai út của cậu ấy và tôi. Hầu như không còn chỗ nào có thể lợi dụng để che chắn, chúng tôi buộc phải bắn thẳng vào bọn chúng. Bọn SS không kịp bắn lại sau loạt tiểu liên của chúng tôi. Chúng tôi kéo xác chúng giấu vào bụi cây, lấy súng và đạn. Rona nhận thấy tên chỉ huy toán tuần tiễu, một trung úy, bị giết chết bằng một phát đạn ngay giữa trán. Bộ quân phục của hắn vẫn nguyên vẹn, không hề dính một giọt máu. Chúng tôi lột bộ quân phục của hắn và lấy hết những giấy tờ cần thiết đem về khu căn cứ của chúng tôi. Cố nhiên, giấy tờ của hai tên khác chúng tôi cũng làm như vậy. Trong những ngày Budapest sống dưới sự kềm kẹp của bọn phát xít Đức, trên đường phố, ở quảng trường có khi có hàng chục xác chết nằm lăn lóc không có ai chôn cất. Và chúng tôi tin rằng, hành động như vậy dù có ai đó muốn đi tìm họ, người ta cũng khó có thể nhận ra được những kẻ đã chết.
- Tôi đã biết viện trưởng là du kích, – Tereza nói. – Người ta đã nói cho tôi biết điều này. Vả lại, sau này tôi thấy viện trưởng có huy chương du kích. Và, dù sao đi nữa…
- Ngày hôm sau, chúng tôi báo cáo tất cả mọi chuyện cho người chỉ huy của đội, còn về phần mình, anh ta lại báo cáo rành rẽ cho cấp chỉ huy cao hơn. – Imre đặt điếu thuốc lá vào gạt tàn. – Lúc đó tôi làm việc ở xí nghiệp chế tạo máy “Hanz”, nó được coi như là xí nghiệp quốc phòng, chúng tôi đều có giấy bảo chứng nên tôi không bị gọi vào quân đội. Một lần, tôi đang lúi húi bên chiếc máy tiện để tiện một chi tiết nào đó thay vào chiếc cần trục bị hư hỏng vì một trận oanh tạc. Lúc ấy, vì đang chú tâm vào công việc nên tôi không nhìn thấy người chỉ huy đội của chúng tôi đã đến đứng ngay bên cạnh. “ Cậu vẫn chưa mất thói quen nói tiếng Đức đấy chứ?” – anh ta khẽ hỏi. “Anh nói giỡn phải không?” – Tôi trả lời. – “ Tiếng Đức coi như là tiếng mẹ đẻ thứ hai của tôi.” – “ Thì chính chúng tôi cũng đã nghĩ đúng như thế”, – anh ta nói thêm. “ Thế thì có chuyện gì?” –Tôi hỏi với vẻ quan tâm, mặc dù nói đúng ra, tôi không mấy hài lòng vì thấy anh ta có vẻ bí ẩn thái quá. Nhưng liền đó, chỉ huy trưởng mỉm cười: “ Về chuyện mà … nhìn cậu, người ta tin là cậu sẽ đóng khá tốt vai một sĩ quan SS ! Tôi mới nhận được chỉ thị là cải trang cậu thành một trung úy SS với nhiệm vụ là phải kiếm cho được vũ khí. Nhưng cái chính là phải lấy được lương thực để cung cấp cho du kích của chúng ta” .
- Xin lỗi, tôi chưa thật hiểu, – Tereza rụt rè ngắt lời ông. – Bằng cách nào viện trưởng có thể coi tiếng Đức là tiếng mẹ đẻ thứ hai của mình?
- Ba mẹ tôi là người Đức, thậm chí còn là người gốc Bavaria[2] nữa kia. Từ thời Mari Tereza, tổ tiên của chúng tôi đã đi từ Áo đến đây. Vào năm 42, khi phải khai lại lý lịch, cha tôi đã chối bỏ chủng tộc “thượng đẳng” của mình và viết vào tờ khai “Hungary”. Cha tôi vốn là người xã hội dân chủ. Ngày trước, họ của chúng tôi được gọi một cách khác – Innauer, sau đó ông cụ mới biến nó thành âm Hung: Imre. Nhưng ở trường tôi vẫn mang lốt người Đức. Ở đấy người ta dạy chúng tôi văn học bằng tiếng Đức. Cha tôi muốn tôi học tiếng Đức cho hoàn chỉnh ngay khi đang còn nhỏ. Chuyện xảy ra như thế đấy !
- Và viện trưởng cải trang thành sĩ quan SS.
- Buộc phải làm do nhu cầu cần thiết thôi. Chúng tôi không thể ngồi chờ vũ khí từ Thượng đế đưa xuống. Những người phụ trách nhắc nhở trong lúc tôi đi vào trại lính. Ở đấy đã bố trí một số ít đơn vị người Đức và người Hung. Bọn lính trong trại chỉ toàn nói về “Vũ khí bí mật” của Hitler, kháo chuyện về sự “ chiến thắng hoàn toàn”, về tính xung kích của đội quân SS, cứ như là chúng đi cứu giúp cho Budapest đang bị bao vây. Thật ra ở bên ngoài thì hỗn độn, bát nháo, còn trong lòng chúng thì chán nản, u sầu. Sau đó, như tôi đã giải thích, do đặc điểm cá nhân của mình và nhờ vào số giấy tờ lấy được của tên trung úy SS bị giết, tôi đã lọt vào trại lính mà không một ai phát hiện ra được.
- Sau đó chúng cũng không nghi ngờ gì viện trưởng à?
Imre bật cười:
- Thú thật là lúc nào tôi cũng lo ngại về chuyện ấy nên suốt ngày tôi chỉ nói vài ba câu thôi. Do đó xung quanh cho rằng tôi có tính kiêu kỳ, không thích giao du với một ai, ẩn chứa trong mình niềm kiêu hãnh của một sĩ quan SS, của một con người thuộc chủng tộc “ thượng đẳng”. Điều này rất có lợi cho tôi. – Imre ngừng lại một lát rồi nói tiếp: – Tôi đã hoàn thành nhiệm vụ được giao phó. Tôi bí mật thu lượm súng tiểu liên, xoay xở được cả súng ngắn và tôi chuyển những thứ ấy cho đầu mối liên lạc của chúng tôi. Song chẳng bao lâu sau, từ đầu mối liên lạc này tôi nhận được chỉ thị mới: Istvan Dodek bị bắt nhốt ở trong trại, phải cứu anh ấy !
- Thế viện trưởng biết mặt người tên là Dodek chứ ?
- Tôi có nhìn thấy anh ấy vài lần. Tôi biết rằng Dodek có chân trong ban lãnh đạo Đảng nhưng chưa hề quen biết anh ấy.
- Vậy thì làm sao viện trưởng có thể nhận ra ông ấy ở trong trại được ?
- Khó nhất là việc tìm cho ra chỗ anh ấy bị nhốt. Ngày ngày tôi nhẫn nại lượn lờ quanh các phòng có giam giữ tù nhân. Làm ra vẻ như đang đi kiểm tra lại hệ thống canh gác, tôi yêu cầu mở cửa và bước vào phòng giam. Rốt cuộc, tại một trong các hầm tối, tôi đã tìm được Istvan Dodek. Anh ta tả tơi, râu ria tua tủa, trên mặt bê bết những máu là máu. Chắc là chúng đã đánh đập anh ta rất dữ trước khi quẳng vào hầm tối này. Dodek nhìn tôi và hiểu ngay. Tôi nhận ra ngay cái nhìn của anh ta – khởi đầu là ngạc nhiên, sau đó là cháy bỏng căm thù vì một trong những tên hầu cận của tôi đã giơ roi lên để đánh. Tôi giữ tay hắn lại: “Không cần. Chúng ta còn có dịp thanh toán”. – Tôi nói một cách khinh mạn để cho hắn không nhận thấy trong giọng nói của tôi có sắc thái nào khác.
Tereza rít một hơi thuốc rất sâu và cúi đầu xuống, chắc là cố tưởng tượng mình đang ở trong tình huống ấy.
- Hôm sau là ngày lễ Giáng sinh. Bọn lính ngụy và những kẻ được gọi là “đạo quân của nước Chúa” ngay từ sáng sớm đã đeo dính những chai đựng rượu, cho đến tối thì cả bọn chẳng còn đứng vững trên đôi chân của mình được nữa. Chúng lè nhè hát, cụng ly mừng sức khỏe của Fuhrer[3], vì sự thịnh vượng của Salasa, vì sự thắng lợi của “nước Đức vĩ đại” và cuối cùng bọn chúng quyết định đến ngày Tết dương lịch sẽ dọn sạch trại, hay nói cách khác là sẽ xử bắn tất cả những người đã bị chúng hành hạ lâu nay và nhốt trong hầm tối.
- Ôi, khủng khiếp làm sao !
- Tôi đi đến chỗ sĩ quan trực ban. Hắn ta cũng đã say nhưng trông khả dĩ còn có thể nói chuyện được. “Herr[4] trung úy , – tôi nói tiếng Đức rất cứng cỏi và gay gắt theo kiểu quân sự. – Hãy cắt cho tôi một tên lính để làm người hầu cận”.Thoạt đầu hắn ta nhìn chằm chằm vào tôi như không hiểu được tôi muốn gì ở hắn ta. “Tôi nhận được báo cáo , – tôi nói tiếp ngay, không để cho hắn có thì giờ hiểu được câu chuyện, – rằng cách trại không xa bọn cộng phỉ đã bắt đầu gài mìn toàn bộ tầng hầm. Cần phải vô hiệu hóa chúng lập tức. Ngay từ phút đó tôi dự tính có thể chuyển số đông những tên bị giam ra khỏi chỗ này một cách thật im lặng, tránh mọi sự chú ý không cần thiết – Để phục vụ cho việc gỡ mìn, tôi cần 15 tên tội phạm”. Cuối cùng tên sĩ quan trực ban cũng hiểu là tôi đang nói về chuyện gì: bằng bàn tay của những kẻ khốn khổ này, tôi muốn gỡ mìn ra khỏi khu vực của trại. – “Ồ, dĩ nhiên rồi ! – Hắn ta cười, kiểu cười của người xỉn. – Anh có thể lôi đi tất cả, quá mức yêu cầu cũng được. Chúng tôi cần tiết kiệm đạn”. – Hắn ta nói thêm và cầm lấy ống nghe. Mấy phút sau, tôi đã có một tên lính lực lưỡng, cơ thể bị bó căng trong bộ đồng phục với khẩu tiểu liên đeo trên cổ.
Tereza muốn nói một điều gì đó, nhưng chợt nhớ ra, lại thôi. Cô mở to đôi mắt nhìn người kể chuyện. Nét mặt của Imre dường như tái lại trong hồi ức về những chuyện đã qua.
Tôi xuống dưới tầng hầm. Những tù nhân sợ hãi lùi vào sát tường, nhìn vào tôi và tên lính hộ vệ. “ Istvan Dodek!” – tôi hét. Dodek bước lên phía trước. Anh ta chăm chú nhìn phía sau lưng tôi. Nơi khung cửa vừa mở đã thấy tên lính đứng đấy cùng với khẩu tiểu liên tự động đã hờm sẵn. Tôi thộp ngực Dodek giật về phía mình: “Hãy giữ mình” – Tôi nói nhỏ với anh ta. – “Nếu trong trại còn những đảng viên cộng sản khác, hãy đưa họ đi theo” – “Mày là thằng chó đểu!” – Anh ta quát khẽ như thế. “Còn anh là thằng ngốc!” – Tôi nói có phần dịu hơn. Sau đó Dodek hiểu rằng những tiếng ấy quả có làm cho anh ta yên tâm.
Tereza phì cười.
- Tôi biết là trong việc này, Dodek đã chỉ thị cho một người đàn ông và một phụ nữ nào đó, tôi bèn lựa chọn số còn lại, trong số đó có phụ nữ và trẻ em. Chúng tôi kéo ra ngoài cổng trại. Đi đâu bây giờ? Tôi vắt óc nghĩ cách hành động. Trên đường phố tối tăm vắng tanh vắng ngắt, tiếng trẻ con nức nở nên những người mẹ đang cố ghì chặt chúng vào lòng. “Hãy bịt miệng chúng lại!” – Tên lính áp giải thét. Tôi bí mật mở khóa an toàn khẩu súng ngắn. “ Này, cậu!” – Tôi kêu tên lính áp giải. Hắn ta ngoảnh cổ lại và sửng sốt nhìn chằm chằm vào tôi. – Chưa bao giờ hắn nghe thấy tôi nói tiếng Hungary. Tôi bắn thẳng vào mặt hắn.
Tereza giật nảy mình.
- Cô thương hại hắn ta? – Imre hỏi.
- Không, tất nhiên là không. Nhưng bây giờ thậm chí ngay cả tưởng tượng cũng không thể nào… – Cô bỏ dở câu nói.
- Lẽ nào tôi lại có thể giết chết một con người ư? Có thể lắm chứ! – Ngừng một lát, Imre tiếp tục. – Bỗng dưng một thứ ánh sáng rực rỡ phủ ngập đường phố và nhà cửa trong toàn bộ khu vực. Những chiếc máy bay ném bom ban đêm của Liên Xô giăng ra trên thành phố. “Những chiếc đèn cầy Stalingrad” – người ta thường gọi pháo sáng như vậy đó. Ngay sau đó vang lên những tiếng nổ – bắt đầu các cuộc ném bom. “Chạy đi!” – Dodek thét lên. Chính anh ta nhảy ào xuống đất và bò đến bên xác tên lính đã bị bắn chết để thu súng. Số người chạy trốn còn lại, chỉ trong một vài phút như biến mất trong những ngõ hẻm và ở các khe cửa của những ngôi nhà. Tôi theo Dodek trườn qua cầu, sát tới mức gần như chạm vai nhau. Tiếng bom nổ nghe mỗi lúc một gần hơn. “Hãy nhanh hơn nữa!” – Dodek hét lên và gập mình bổ nhào về phía ngôi nhà đổ nát thấy lờ mờ cách đó không xa. Từ phút ấy, tôi đâm ra do dự, không biết có nên chạy theo Dodek hay không để mà bật ngay dậy, nên đã không thể đuổi theo Dodek được nữa. Bên cạnh tôi, tiếng bom nổ nghe đinh tai nhức óc và chúng hất tôi về một phía. Lúc rạng đông tôi trở về nhà mình. Tôi lảo đảo bước, khó khăn lắm mới lê được tới chỗ ngôi nhà đổ nát, nơi tôi thấy Dodek chạy đến vào tối hôm trước. Tôi tìm anh ta nhưng không thấy đâu cả. Sau đó hai năm tôi mới biết anh ta đã được cứu thoát và đã lánh sang Nga.
- Thế Dodek không tìm viện trưởng à?
- Có tìm. Nhưng lúc ấy trời tối và trong tình trạng hỗn loạn sau những trận bom thì làm thế nào tìm được tôi. Tôi không muốn nói về chuyện đã rồi, giống như là chuyện sau đó ba tuần tôi đã được thoát chết. Khi thì trong bộ quân phục của bọn SS, khi thì trong bộ quần áo dân sự. Cứ như thế cho đến khi Hồng quân Liên Xô giải phóng Budapest. Còn sau đó là bắt đầu… – Imre thở dài. Tháng 3 năm 1946 tôi bị người ta tố cáo, bị bắt giam và bị đưa ra trước tòa án nhân dân.
- Viện trưởng mà phải ra trước tòa án? – Giọng của Tereza biểu lộ một sự ngạc nhiên chân thật.
- Phải. Có một kẻ nào đó xưng tên là Robert Haber viết đơn tố cáo tôi, hình như là trong đêm lễ Giáng sinh tôi đã tham gia vào vụ xử bắn tập thể, rằng chính mắt hắn trông thấy tôi bắn vào hắn nhưng chỉ làm hắn bị thương, còn sau đó hắn lại lành lặn y như là hắn có phép thuật vô cùng màu nhiệm. Hắn xác nhận toàn bộ điều đó ở chỗ lấy khẩu cung tại cơ quan công an.
- Nhưng chính trong đêm ấy viện trưởng đã cứu Dodek và mấy người nữa thoát chết cơ mà?
- Chẳng hiểu từ đâu lại tòi ra một gã nhân chứng có cái tên là Nandor Saad mà thằng cha này trong đời tôi chưa hề nhìn thấy bao giờ.
- Nhưng còn Dodek? Ông ta không bảo vệ viện trưởng trước tòa hay sao?
- Thời gian này anh ta không có mặt ở Hungary. Vào giai đoạn cuối chiến tranh anh ta đã chiến đấu cùng các chiến sĩ Hồng quân Liên Xô và trong một trận không chiến, anh ta đã bị trọng thương vì một mảnh đạn trúng vào đầu. Anh ta được nằm điều trị tại một bệnh viện dã chiến ở Ketskemet, rồi từ đấy cùng với những chiến sĩ bị trọng thương khác, được chuyển về hậu phương ở gần Kiev. Mãi đến đầu năm 47 anh ta mới trở về Tổ quốc. Từ lúc ấy tôi không được biết gì về anh ta, mà nếu như tôi có tìm đến chăng nữa, anh ta cũng không thể giúp đỡ gì được. Từ sau vụ bị một mảnh đạn vào đầu và bị trọng thương, có một khoảng thời gian hình như anh ta không còn nhớ được nữa. Chỉ huy trưởng nhóm du kích của tôi lại bị hy sinh vào một trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến..
- Khủng khiếp thật. Nhưng còn những người khác, những người mà viện trưởng đã cứu tính mạng ấy?
- Quả thật là họ không thể giúp đỡ được tôi vì họ đâu có nhìn kỹ tôi. Cho đến ngày hôm nay tôi cũng không biết tên tuổi của họ là gì, họ ở đâu, còn sống hay đã chết. Vả lại, kẻ tố giác đã tính toán rất giỏi và khôn khéo mọi việc. Thời kỳ quan trọng của việc kiện tụng đối với bọn tội phạm chiến tranh coi như đã chấm dứt. Vì vậy, về chuyện buộc tội tôi, trên báo chí chỉ xuất hiện tất cả đâu chỉ vài ba dòng. Mọi người chú ý đến – ngay cả sự chắp vá của những trang báo – một chủ đề khác: việc khôi phục lại đất nước, cuộc đấu tranh trong Đảng và những thông báo về việc tìm thân nhân.
- Thế còn cái người tên là Rona thì sao?
- Anh ta là nhân chứng duy nhất ở phiên tòa. Thời gian này, anh ta đã làm đến chức trung úy công an nhân dân. Cương quyết và dũng cảm, anh ta bênh vực tôi, bảo vệ tôi với toàn bộ khả năng mà anh ta có, đã cãi vã cả với ủy viên công tố. Sau đó lại xảy ra một chuyện khá là kỳ quặc – Nandor Saad thình lình bác bỏ toàn bộ những gì hắn ta đã khai để buộc tội tôi mà bản khai này đã được tra xét một cách sơ bộ, còn Robert Haber thì biệt tăm tích. Người ta nói y đã bỏ chạy ra nước ngoài. Thời gian sau Nandor Saad cũng noi theo gương Haber.
- Nghĩa là cả hai kẻ tố giác đều bỏ chạy hết cả? Cả hai nhân chứng buộc tội? – Tereza ngạc nhiên. – Trong trường hợp này người ta sẽ phải xử trắng án cho đồng chí.
- Đúng. Họ đã xử trắng án cho tôi. Nhưng không phải vì thiếu bằng chứng phạm tội mà vì lời buộc tội thiếu bằng chứng. Cô hiểu được sự khác biệt đó chứ? Bản án giống như là một sự … Phải, hắn ta chính là tội phạm nhưng chỉ không có bằng cớ mà thôi.
- Tôi hiểu là viện trưởng đã bị xúc phạm biết dường nào!
- Sau này, khi tôi về lại nhà máy Hanz, người ta đã bầu tôi là Bí thư Đảng của một trong các phân xưởng. Hai năm sau tôi trở thành thủ trưởng ngành công nghiệp của các nhà máy liên hợp. Có một thời gian dài công việc khá là trôi chảy. Nhưng một ngày kia, một đơn kiện về việc trong thời kỳ chiến tranh, tôi đã phục vụ trong đội quân SS và đã làm đến chức trung úy – đã giáng xuống đầu tôi. Tôi không được biết tên họ của kẻ thưa kiện, nhưng hồ sơ đã được chuyển đến cơ quan và vụ kiện bắt đầu. Tôi tin rằng lần này thì địa vị của tôi chẳng ai làm gì được, vì để chứng minh cho sự vô tội này của mình, tôi không chỉ có một Balint Rona như lần trước mà còn có cả Istvan Dodek. Nhưng tôi đã lầm. Tôi lại được trắng án và khỏi bị giam cầm nhưng cái giá phải trả lần này quá đắt: Rona ngay sau đó đã bị đưa ra khỏi cơ quan nội vụ, và có một kẻ nào đó hoàn toàn không ai biết đã ngăn cản anh ta làm việc ở cơ quan nhà nước. Còn về phần Dodek, đúng vào lúc đó thì lại xảy ra một chuyện hoàn toàn quái gở.
- Họ đã làm gì ông ấy?
- Vào lúc đang đồn đãi vụ án của tôi thì thình lình “vỡ lẽ” rằng Dodek là một tên lính tiễu phạt và chuyên săn lùng du kích. Ngay sau khi anh ta biện minh, vì danh dự của tôi, thì người ta lôi thẳng anh ta vào phiên tòa. Tôi được tự do thì anh ta lại vào tù. Anh ta lãnh án 5 năm. Ngay từ hồi bấy giờ Dodek đã thầm nghĩ rằng đây là biểu hiện của cái mà người ta gọi là “thợ bạn”. Tôi ra tù thì anh ấy lại vào tù.
- Chuyện khó tin thật.
- Vào năm 1953 Istvan Dodek được thả ra trước thời hạn và được phục hồi hoàn toàn danh dự. Quả là anh ta chưa bao giờ bị gọi vào quân đội, chưa bao giờ làm người lính dưới thời Horti và giản đơn hơn, không thể là tên lính săn lùng du kích. Balint Rona cũng được phục hồi chức vụ và cấp bậc. Về sau này, cả hai người kể cho tôi nghe rằng: ngay bước đầu của quá trình tiến hành vụ án người ta đã báo trước một cách tế nhị rằng: nếu như hai người không tỏ thái độ chống lại tôi thì tự họ sẽ rơi vào tai họa. Nhưng hai người đã không sợ hãi và tin vào sự thật.
Imre ngưng lại. Tereza sợ phá vỡ bầu không khí yên lặng này, cứ ngồi bất động.
Viện trưởng lại cầm bản báo cáo của phòng thí nghiệm và mở cặp giấy, chú tâm vào nghiên cứu, dường như quên mất cô gái ngồi bên cạnh .
Teraza chậm rãi đứng lên, thu dọn khay và ly tách rồi đi ra.
Một phút sau Tereza quay trở lại và đứng ngay ngưỡng cửa.
- Xin hãy nói cho biết, vì lẽ gì mà viện trưởng lại kể cho tôi nghe tất cả những chuyện đó? Hẳn là viện trưởng định trách móc tôi vì hôm nay tôi quá đỗi lạ lùng!
Imre làm như không hề nghe thấy những lời cô gái nói.
- Cô hãy nhìn xem, kỹ sư trưởng có ở đây không? – Giọng ông vang lên một cách lạnh lùng, gần như gay gắt. – Nếu anh ta chưa rời khỏi cơ quan, cô đi mời anh ta đến chỗ tôi. Hãy quan tâm tới vấn đề sao cho toàn bộ tài liệu tới được cuộc họp của những người phụ trách ở các phân xưởng và chuyển giao các bản thông tin, tuyên truyền đến các đơn vị nhỏ nhất cũng như tới các ban ngành. Hãy chuẩn bị bản thông báo để đưa cho báo chí.
Ông quay về hướng Tereza, nhìn dáng điệu trẻ trung trong bộ quần áo làm việc màu xanh nhạt và nụ cười ấm áp của cô.
- Sáu năm, Teri ạ, đấy là khoảng thời gian đủ để cho hai người làm việc bên nhau như tôi và cô trở thành những người bạn, phải không? Nhất lại là một người trong số đó chẳng bao lâu nữa sẽ trở nên hoàn toàn cô độc.
❀ ❀ ❀
[1] Tên Tereza gọi theo lối thân mật.
[2] Dân vùng Bavaria thường được coi là dân Đức chính gốc.
[3] Nguyên văn tiếng Đức: Thủ lĩnh tối cao, chỉ Hitler.
[4] Herr (tiếng Đức): Ngài, ông v.v…