Tại cây số 15 tính từ ngoại ô Munich dọc theo một trong những con đường xe hơi chính, từ thủ phủ xứ Bavaria chạy tỏa ra, hiện thời phân thành một con đường hẹp và yên tĩnh, hai bên vệ đường trồng toàn những cây gia[1] và cây táo. Chạy uốn khúc giữa những quả đồi và những cánh rừng nhỏ, con đường đụng phải một bức tường đá đồ sộ. Dọc theo bờ của bức tường cao này chăng hai hàng dây thép gai thẳng băng, trong mỗi hàng đều có dòng điện chạy qua. Một cái cổng cao lớn bằng sắt chặn kín lối vào. Phía bên trong, ngay cạnh cửa hàng rào, xây một chiếc điếm canh lớn chẳng khác một cái lô –cốt kiên cố. Hai tên lính gác trang phục kiểu quân đội, đeo súng ngắn bên hông thường xuyên tuần tra qua lại cả ngày lẫn đêm. Ngay trong điếm canh còn treo cả súng tiểu liên.
Qua khỏi chiếc cổng rộng lớn là con đường lát đá vuông có viền hai bên bằng những bụi cây rậm dày đã được xén tỉa, dẫn sâu vào vườn hoa, ở đó nhô lên một tòa lâu đài, tuyệt nhiên không phải thứ lâu đài thời kỳ trung cổ mà là loại biệt thự lộng lẫy đã bắt đầu mọc lên như nấm ở vùng ngoại vi Munich, sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, được tạo dựng từ thứ tiền lãi của “phép màu Tây Đức” – một nghịch lý của thế giới sau chiến tranh.
Ngôi biệt thự được xây bằng loại gạch đỏ, theo phong cách kiến trúc hiện đại. Ở đây hình thức bị lệ thuộc vào tính hợp lý, còn chất liệu và trang trí chỉ cốt để làm nổi bật sự sung túc của chủ nhân ngôi biệt thự mà thôi.
Ở cổng vào – lắp những cánh cửa nặng nề bằng gỗ sồi ngâm – có những bậc đá rộng chạy sang hai phía với những bồn hoa rất đẹp. Phía sau chúng có hai ngôi nhà hóng gió làm theo kiểu những cành cây đan vào nhau um tùm, có kê hai bộ đồ gỗ giống hệt nhau – bàn tròn, đi –văng và mấy chiếc ghế.
Tại ngôi nhà bên trái, vợ chồng Jakay nắm tay im lặng ngồi bên nhau. Sự tĩnh mịch của vườn hoa, chỉ thỉnh thoảng mới bị phá vỡ do tiếng hót và âm thanh xào xạc của những cánh chim, tiếng lạo xạo dưới chân của những tên vệ binh đi tuần tra trên những con đường có trồng cây và những con đường nhỏ, tạo nên cảm giác vừa nặng nề vừa khó chịu.
Đôi vợ chồng trẻ ngồi ở đây từ sáng sớm, không được biết điều gì sẽ xảy ra với họ và chung quanh họ nên vẫn chú ý đề phòng, chẳng khác gì những con chim sợ tên.
Đột nhiên cánh cửa nặng nề của cổng chính hé mở, Carrini bước vào và đi về phía hai người.
- Chúng tôi yêu cầu các vị, trong vài phút tới đây cũng nên xử sự một cách khôn ngoan giống y như từ trước tới giờ, – gã mói. – Đặc biệt là điều này có liên quan đến cô, thưa cô. Xin lỗi, thưa bà Jakay.
- Ông cần gì ở vợ tôi? – Habor gay gắt hỏi.
- Chỉ cần sự bình tĩnh, không cần gì hơn! Vấn đề là ở chỗ chỉ sau một vài phút nữa bố của cô ấy sẽ đến đây.
Nét mặt Nora bừng sáng lên ngọn lửa của niềm vui. “Này, hãy đợi đấy, bọn vô lại! Bố tao sẽ nhanh chóng khuất phục được bọn mày” – cô nghĩ và bất giác mỉm cười.
- Bà hãy ngồi nguyên ở đây, chỗ mà bà đang ngồi. – Gã người Ý nói tiếp. – Lúc đó bà sẽ nhìn thấy ngài Imre và ngược lại ông ấy cũng sẽ nhìn thấy bà. Nhưng bà sẽ không được chuyện trò với ông ấy và ông ấy cũng không được trò chuyện với con gái.
Nụ cười vụt tắt trong đôi mắt Nora.
- Ông có thể giải thích điều đó không? – Habor nổi nóng.
- Tôi chẳng có gì giải thích cho ông hết, ông trẻ ạ. Lệnh của sếp là như thế.
- Nhưng đây chính là một sự nhạo báng. Tôi phản đối!
Carrini khẽ nhún vai một cách lãnh đạm.
- Đó là quyền của ông. Nhưng như ông đã biết, sự phản đối chẳng đem lại kết quả gì hết. Chỉ có điều tôi báo trước cho biết, ông không được khăng khăng tự ý làm một việc gì để cho người ta lại phải xích tay như hồi còn ở khách sạn ấy. – Cái miệng của gã người Ý méo xệch đi giống y như khi Habor đấm vào mặt của gã, và trong khoảnh khắc gã đánh mất ngay vẻ lịch thiệp giả trá của mình. – Đợi đấy, chúng ta còn phải thanh toán nợ nần với nhau, anh chàng tốt mã ạ!
Nora đứng chen giữa hai người đàn ông.
- Nhưng sau đấy, dù sao chăng nữa tôi cũng có thể nói chuyện với bố tôi chứ, đúng không?
- Tôi không biết, thưa bà. Tôi không được ủy quyền hứa hẹn với bà một điều gì hết. Bây giờ tôi chỉ nhắc nhở bà: đừng có làm điều gì thất thố, thậm chí kể cả việc gọi tên ông bố của bà. Đằng nào họ cũng ngăn cản bà làm việc đó và bà chỉ làm cho tình cảnh của mình thêm trầm trọng, làm hại cho chính bản thân mình.
Carrini quay người, bước ra đứng ở bên cửa, tay đút vào túi quần.
Chiếc xe hòm lớn màu đen dừng lại trước cánh cổng sắt và nháy đèn hiệu hai lần.
Những tên vệ binh đi ra. Chúng đi vòng quanh xe, nhìn vào ghế ngồi, đưa cặp mắt sắc sảo quan sát những người ngồi trong xe, sau đó mở cả hai cánh cửa cho xe vào.
Vào đến vườn hoa, chiếc xe hòm nhẹ nhàng nhún nhảy trên bộ nhíp xe, lượn một nửa vòng và lăn bánh tiến sát đến bậc thềm của cửa ra vào. Vào lúc này Imre đã nhìn thấy con gái và con rể ngồi trong nhà hóng gió, cách ông một cái bồn hoa. Nora và Habor cũng đã nhận ra ông và nhảy bật ra khỏi chỗ ngồi của mình. Từ sau cây cột của cổng chính bỗng suất hiện một tên vệ binh, tay đặt lên bao súng ngắn. Hai vợ chồng lập tức đứng sững lại. Imre chui ra khỏi xe, vừa mới kịp vẫy tay với họ thì lập tức Carrini bước đến và nắm dưới khuỷu tay ông, đẩy ông đi về phía cửa.
Imre, thậm chí không thèm nhìn gã người Ý, tỏ vẻ kinh tởm hất những ngón tay của gã ra và bước vào nhà.. Hiểu rằng bây giờ không phải là lúc dành cho những chuyện bực mình vụn vặt, Carrini cắn môi vượt lên trước Imre, dẫn ông vào một gian phòng khách rộng mênh mông. Sau khi đã hất hàm chỉ bộ bàn ghế tiếp khách kê ở giữa phòng, gã đứng bên cạnh cửa đối diện trong tư thế của một vệ sĩ chủ yếu lo giữ gìn an ninh phần bên trong biệt thự.
Sau một vài giây chờ đợi nặng nề, chiếc loa ẩn bên trong bức tường bắt đầu mở hết công suất phát ra giọng nói oang oang. Imre nhận ra giọng quen quen.
“Anh đã dây dưa, kéo dài câu trả lời và chúng tôi đã quyết định giảm bớt khó khăn với hoàn cảnh của anh. Chúng tôi nhận về phía mình trách nhiệm chăm sóc đôi vợ chồng mới cưới”. – Phải, đúng là giọng của Saad. “Con gái tôi bây giờ ở đâu?” – Imre nhận ra giọng nói của chính mình. “Anh sẽ được biết điều đó ngay, khi chúng tôi nhận được sự thỏa thuận của anh” – Saad tiếp tục. Lại giọng nói của Imre: “Được. Tôi đồng ý. Tôi bằng lòng hợp tác với các anh”.
Câu cuối cùng, cứ y như ở trong cái đĩa hát bị hỏng, lặp đi lặp lại vài lần, càng lúc càng lớn dần:
“Tôi bằng lòng hợp tác với các anh. Tôi bằng lòng…Tôi bằng lòng…Tôi bằng lòng…”. Đã nghe thấy tiếng tách tách – băng đứt.
“Những trò ảo thuật sân khấu” – Imre thầm nhận xét.
Cửa mở liền sau đó một phút. Benks bước vào, sau lão là Phoster. Gã người Ý đứng ngây người bên cửa giống như người lính trước mặt đại tướng.
Benks ngồi vào chiếc ghế bành đối diện với Imre, Phoster đứng dừng lại ở giữa hai người, hơi chếch về một phía để có thể nhìn thấy cả hai người đối thoại.
- Tôi cho việc tự giới thiệu là không cần thiết. – Không chào hỏi, Benks bắt đầu ngay. – Hoàn toàn có đủ cơ sở để nói rằng, tôi biết anh.
- Anh nói đúng, – Imre gật đầu. – Phần tôi thì, nói trắng ra, chẳng bao giờ thèm để ý đến tên tuổi của một kẻ như anh và cũng chẳng cần phải biết anh là ai.
Quai hàm của gã người Ý bạnh ra. Phoster lo lắng liếc cấp trên. Hóa ra, khách không phải là kẻ nhút nhát.
Benks vẫn giữ được bình tĩnh. Những tên cộng sự của lão chưa hiểu – cả tình thế lẫn con người – Imre bằng lão. Dù thế nào thì Benks cũng đã nghĩ như thế và đã thấy ngay từ trước rằng cuộc mặc cả sẽ không dễ dàng gì, mặc dù tất cả những quân bài dường như đã nằm trong tay lão.
- Ta vào việc thôi! – Lão bực bội ngắt lời Imre và mào đầu. – Anh vừa có dịp thấy chúng tôi đã ghi âm toàn bộ cuộc nói chuyện của anh ở Budapest với người của chúng tôi tên là Naldor Saad.
Imre lấy thuốc lá ra, chẳng thèm xin phép mà điềm nhiên châm hút và khoái trá nhìn những đợt khói bay tỏa chung quanh.
- Anh thứ lỗi, nếu như tôi có sửa lại lời anh. – Ông đáp, không hề cao giọng. – Cái trò băng ghi âm mà anh bày đặt ra ấy, chẳng có liên quan gì đến công việc. Cái trò “mần tuồng” ấy nên để giành cho những kẻ yếu bóng vía chứ tôi thì không thuộc vào số đó đâu. Cái chính là con gái tôi đang ở trong tay các anh. Anh muốn gì ở nó?
- Thôi được, sự can đảm của anh đáng được tôn trọng. Tuy nhiên lời nói trong bốn bức tường này không có nghĩa gì cả. Anh không việc gì phải lên gân như thế. Hãy tỏ ra là người lớn và chúng ta có thể thỏa thuận với nhau.
- Hãy trả lời vào câu hỏi của tôi!
Carrini giận sôi lên: ngay gã cũng không thể hình dung nổi một kẻ láo xược nào đó lại dám nói với sếp bằng giọng điệu như vậy. Gã không nén được.
- Thưa sếp, cho phép được nắn gân một chút đối với cái tên ương bướng này!
Benks, kẻ bao giờ cũng gieo nỗi sợ hãi cho đám thuộc hạ, quay đầu về phía gã người Ý:
- Anh là thằng ngốc, – lão nói nhỏ, nhưng như thế cũng đủ làm cho người Carrini giật nảy người.
Đến bây giờ Imre mới có dịp nhìn kỹ và nhận ra gã người Ý. “Đây chính là thằng cha chụp hình, và là kẻ đã từng có mặt trong đám cưới của Nora!”.
Trong khi đó Benks lại nhìn trừng trừng vào mắt Imre.
- Chúng ta đang nói về chuyện lớn lao hơn nhiều so với số phận của con gái anh! Chúng tôi sẽ trả nhiều tiền nhưng chúng tôi đòi hỏi càng nhiều hơn. – Lão ra hiệu cho Phoster, tên này lấy ra những giấy tờ gì đó lần lượt bày lên trên bàn, trước mặt Imre.
- Trước mặt anh là bản sao lời tuyên bố trước khi chết của Istvan Dodek, – Benks nói tiếp. – Ở Budapest người ta cũng đã trao cho anh một bản giống y như thế.
- Người ta đã cưỡng bức Dodek viết tờ giấy này!
- Điều đó cần phải chứng minh. Thậm chí đến ông bạn trung tá của anh, dường như tên của ông ta là…
- Balint Rona. – Phoster nhắc.
- Phải, phải. Ngay ông bạn Rona của anh cũng tin rằng việc tự sát xảy ra là do kết quả của một phút u ám trong nhận thức, điều này đã được cả kết luận của y học xác nhận. Huống hồ vấn đề đặt ra ở đây là ông già ở trong trạng thái nào khi ông ấy viết tờ giấy này. Sự tưởng tượng bệnh hoạn chăng? Không! Từ những mối nghi ngờ nảy sinh như thế, họ sẽ loại trừ bằng cớ của những nhân chứng khác. Anh thấy đấy, bằng chứng nghi ngờ cũng đã được đặt ra đối với anh. Ở đấy Naldor Saad đã miêu tả một cách tỉ mỉ những việc anh đã làm với tư cách là một sĩ quan SS.
“Hắn đấy! Chính hắn đã chuẩn bị sẵn và hướng dẫn việc thực hiện toàn bộ cái kế hoạch ma quỷ này! Chính hắn đã ra lệnh giết Dodek!” – Ý nghĩ bất chợt này đã gây nên sự phẫn nộ và lòng căm thù sâu sắc trong Imre, máu dồn lên mặt ông đỏ phừng phừng. Chậm chạp kéo dài từng tiếng trong câu nói để che giấu sự giận dữ của mình, ông đáp:
- Saad viết tất cả những điều đó theo lệnh của anh. Anh đọc cho hắn viết. – Và ngay lúc ấy một ý nghĩ khác xuất hiện khiến ông chợt cảm thấy yên tâm. “Bọn chúng đã nghe lén tất cả những cuộc nói chuyện điện thoại của mình. Nghĩa là kể cả lần cuối cùng với Rona trước chuyến đi. Anh chàng Balint tài giỏi cũng đã đoán ra rồi”.
Sự biến chuyển đột ngột trong tâm trạng bất ngờ thể hiện trên nét mặt người tiếp chuyện đã không che giấu được Benks. Nhưng lão lại hiểu sự thay đổi này theo cách khác. Imre đã hoảng hốt, địch thủ coi như đã bị đánh qụy.
- Cố nhiên, Saad sẵn sàng nhắc lại lời tố cáo của mình trước ủy viên công tố của các anh. – Benks cất cao giọng và lại ra hiệu cho Phoster. Trên bàn còn một tờ giấy nữa.
- Xin giới thiệu với anh, – Phoster nói. – Đây là bản cung khai của Robert Haber. Anh ta đã cả quyết thề rằng, chính anh đã xả súng bắn vào anh ta trong cái đêm giao thừa ấy.
Imre dụi điếu thuốc vào gạt tàn, đứng dậy đi về phía cửa sổ. Bên ngoài hiện ra một vườn cây cảnh với các giống cây ở miền Nam được bàn tay của người làm vườn chăm sóc sắp đặt khá cầu kỳ. Tay Carrini nắm chặt báng khẩu súng ngắn giấu trong túi.
- Anh hãy nghe đây! – Imre quay lại, gay gắt. – Anh đã hiểu khá rõ việc tôi đã làm vào năm 1944 tại Budapest. Phải, tôi đã bắn, nhưng không phải bắn trong trại lính. Đúng, tôi đã giết, nhưng là giết những tên phát –xít, những tên tay sai của chúng và bọn đao phủ SS. Và anh nên hiểu điều đó!
- Tôi hiểu. – Benks lạnh lùng xác nhận. – Nhưng để làm quái gì những thứ ấy? Ở đây không phải là ủy ban kháng chiến, cũng không phải là ủy ban chống phát xít. – Lão liếc Carrini.
Gã người Ý luống cuống chạy đến cửa và mở tung nó ra. Trên ngưỡng cửa hiện ra thân hình của một người đàn ông, gần như là một lão già yếu đuối, đứng dựa vào hai chiếc nạng, tóc bạc trắng. Cặp mắt của lão cháy rực lên.
- Đây này, anh hãy ngắm xem. – Benks chỉ vào lão già. – Đây là Rober Haber, người mà anh đã muốn giết chết. Chẳng phải nhờ anh mà ông ta còn sống một cách ngẫu nhiên.
- Tôi chưa bao giờ nhìn thấy người này! Chưa gặp và chưa hề biết!
- A… mày, đồ đểu cáng hèn hạ! – Cặp mắt vằn những tia máu của Haber long lên. – Mày đã giết chết hàng trăm người, làm sao lại có thể nhớ hết mọi người phải không? Nhưng tao thì tao nhớ! – Phun nước miếng tung tóe, lão khó nhọc bước khập khiễng về phía trước vài bước. – Thằng đểu, tên ác ôn, đồ quái vật! Nào, bây giờ tao thanh toán với mày! – Haber vung một chiếc nạng như chiếc dùi cui tiến về phía Imre, nhưng Carrini đã giữ lão ta lại và dắt ra ngoài.
Imre quay lại chỗ chiếc ghế bành của mình và ngồi xuống.
Benks nhìn chằm chằm vào ông.
- Tôi xin thú thực, ông ta gây được ấn tượng đấy. – Imre gật đầu, ngừng một chút lấy giọng. – Một màn sân khấu tuyệt diệu, không có gì phải nói thêm. Phải chăng anh thường đào tạo loại “nghệ sĩ “ này?
Phoster đã hiểu tường tận cả con chủ bài lẫn mánh khóe của sếp hắn và mặc dù không một phút nghi ngờ kết cục trận quyết đấu của hai người, hắn cũng phải đánh giá địch thủ một cách xứng đáng – tuy chỉ tạm thời và ngoài ý muốn – rằng địch thủ đã thắng lão Benks tự phụ.
- Anh phỏng đoán như thế à? – Lão chủ cái ổ gián điệp phân vân hỏi.
- Tôi không phỏng đoán. Tôi đã đánh lừa anh đấy. – Imre nhìn chăm chắm vào cặp mắt của Benks. – Trò đánh bài thuần túy mà. Tôi học ở anh đấy.
Benks là người không có cảm xúc, tàn nhẫn và lạnh lùng, hệt như một cỗ máy làm việc theo chương trình định trước, nhưng khi lão chạm trán với những con người chân chính (chứ không phải bọn làm thuê và những kẻ sẵn sàng liếm gót giày cho lão ) thì lão cũng biết đánh giá đúng họ.
- Anh là một địch thủ lợi hại. Chúng tôi có thêm bạn đồng minh đích đáng như vậy càng tốt.
Imre không trả lời. Hắn lại tiếp tục:
- Tuy nhiên, anh không thể phủ nhận một điều là ông Haber này là một nghệ sĩ không tồi, trước tòa án ông ta sẽ biểu diễn có sức thuyết phục hơn nhiều. – Benks cố mỉm cười. – Cố nhiên, anh thừa sức hiểu rằng loại kiện cáo như thế có nghĩa là sẽ tiêu tan bước đường hoạn lộ của anh. Và, còn một điều quan trọng hơn, đó là sự mất lòng tin đối với anh ở tư cách một người cộng sản.Tôi nhấn mạnh điều đó, bởi vì theo tài liệu của tôi, chỗ đứng dưới mặt trời không gây được ấn tượng trong anh bằng những vấn đề danh dự và sự trung thành đối với lý tưởng, có đúng thế không?
Imre đáp lại nụ cười của đối phương cũng bằng một nụ cười.
- Anh hãy thừa nhận rằng ngay chính anh cũng không tin vào cái trò hề này cùng với vụ kiện. Nhiều người của các anh mà tôi đã từng gặp không hơn những cái bong bóng xà phòng hoặc những con bài để gỡ thua, nếu anh muốn. Mấy thằng bán thân bất toại, đứng xa cả cây số cũng bốc lên mùi xú uế gián điệp.
- Anh hoàn toàn đúng. Quả có như vậy thật. – Benks tán thành ngay. – Và chắc chắn là tôi sẽ không đưa họ ra đối chất trước tòa án của các anh. Vì sao ư? Họ sẽ đưa ra bằng chứng của họ ở đây, ở Munich này, dưới sự trông nom của chính tôi, nhưng có sự tham dự của ủy viên công tố và công chứng viên. Sau đó chúng tôi sẽ chuyển lời tố cáo của họ đến báo chí và tạo ra một “vụ nổ” nho nhỏ trên các báo.
Imre đờ người. Một đòn bất ngờ và thâm hiểm. Nụ cười biến mất trên mặt ông, chân tay ông trở nên cứng đơ như khúc gỗ. Trong khi đó, Benks vẫn tiếp tục nói, giọng lão mỗi lúc một thêm dữ dội.
- Cũng cần báo cho anh biết: tòa soạn của nhiều tờ báo lớn ở châu Âu, chưa nói đến ở châu Mỹ, rất sẵn sàng coi anh là nguyên liệu để khai thác thành chuyện giật gân. Anh thử hình dung những tiêu đề này mà xem: “Đường công danh của một cựu sĩ quan SS ở nước Hungary nhân dân” hoặc là “ Cựu SS biến thành viện trưởng Viện nghiên cứu như thế nào”.
- Họ cũng đã viết khá nhiều điều ghê tởm về chúng tôi rồi, – Imre bác bỏ lời công kích của địch thủ. – Thứ tin vịt trên các báo lá cải mà!
Benks tỏ vẻ thờ ơ trước lý lẽ của Imre.
- Trên hành tinh của chúng ta có đủ mọi thứ tổ chức dân chủ, chống phát –xít và đại loại như vậy đang hoạt động. Hãy tính thử mà coi, bao nhiêu cuộc meeting, biểu tình đã được tiến hành rồi, ầm ĩ biết bao nhiêu rồi! Một chiến dịch tương tự sẽ dẫn đến sự thiệt hại nghêm trọng đối với uy tín quốc tế của nhà nước các anh. Tôi nghĩ, bè bạn các anh ở các nước thuộc phe xã hội chủ nghĩa sẽ không thờ ơ đối với việc làm của viện trưởng Bela Imre – kẻ đã từng bắn giết những đảng viên cộng sản trong những năm chiến tranh.
Bầu không khí lại trở nên căng thẳng.
- Cứ theo logic của anh, – Imre nói, cố nén giận, – thì uy tín trên trường quốc tế của đất nước tôi sẽ tăng lên nếu tôi trở thành điệp viên của các anh?
- Không, chưa đến nỗi như thế. Ở đây chỉ nói về việc hợp tác mà thôi. Còn về phần hoạt động gián điệp thì đã bắt được quả tang con gái anh làm việc đó. Điều này đã được xác nhận hoàn toàn rồi.
Đòn thứ hai lại giáng trúng đích. Imre cảm thấy đau nhói ở tim. Cái giọng điệu lịch thiệp của Benks đã khiến ông nao núng. Giờ thì lão ra lệnh một cách cáu kỉnh và tàn nhẫn, cứ choang choang như đang đóng đinh vào tường. Benks lại trở lại là Benks. Lão đứng lên và lần này, chính lão đi đến bên chiếc bàn giấy kê ở chân tường.
- Chính trong chiếc hộp này, – lão chỉ cho Imre xem một cái ống dẹt nhỏ, – đựng một số phim âm bản chụp các loại vũ khí của khối NATO, cực kỳ bí mật. Còn đây, – Benks lật một vài trang, kẹp ở khoảng giữa tập tài liệu của lão, – biên bản chính thức của các cơ quan có trách nhiệm bảo vệ những tài liệu mật này đã xác nhận việc những bức ảnh này đã được khám phá ra ở đâu và như thế nào.
- Tất cả những chuyện ấy thì quan hệ gì đến tôi? – Imre cố gắng che giấu sự hồi hộp đang vây bủa lấy ông.
- Không có liên quan gì đến anh nhưng lại liên quan đến con gái anh. Những tấm phim âm bản ấy đã được tìm thấy trong chiếc va –li của chồng Nora là Jakay. Và trên những tấm phim ấy có in rõ dấu tay của cô ta. Cô ta đã phạm tội cùng với chồng, nếu có thể nói được như vậy. Những tang chứng trực tiếp không thể không cần đến nghi vấn. Cũng như tính chất nghiêm trọng của hình phạt căn cứ theo bản án của tòa. Nếu như nó xảy ra, tất nhiên…
- Anh mất trí rồi! – Đến lúc Imre phải nổi sùng, nhưng hiểu mình đã phạm sai lầm, ông nén giận và ngồi nguyên chỗ cũ. – Anh đã nói đúng trong mối tương quan của giá cả: anh cho nhiều nhưng đòi trả nhiều quá! – Imre cố tỏ ra cho người cùng đàm thoại cảm thấy ông đã bị đánh gục và sẵn sàng bắt đầu đàm phán. – Vậy là anh trả cho tôi sự tự do cho con gái và con rể tôi, bảo vệ uy tín của đất nước tôi và bảo vệ danh dự trong sạch cho tôi. Còn anh thì đòi lại thứ gì?
Trên nét mặt của Carrini biểu lộ niềm hân hoan, đắc thắng. Những nếp nhăn dữ dằn ở khóe miệng Phoster cũng giãn ra.
- Anh trao cho chúng tôi toàn bộ tài liệu kỹ thuật về quá trình nghiên cứu của chương trình “ Mặt trời “. Mỗi trang anh đều phải ký tên mình để xác nhận, có ghi rõ ngày tháng anh trao những tài liệu ấy cho người đại diện của tôi ở tại đây. Tôi nhắc lại, không phải trao những tài liệu ấy ở Budapest mà là ở đây, tại Munich này.
- Được, tôi đồng ý. – Imre nói. – Nhưng điều này liệu có ý nghĩa gì không, nếu các phương pháp của chúng tôi đã được ở đây, ở phương Tây này, áp dụng sớm hơn chúng tôi, thì đương nhiên chúng sẽ gây nghi ngờ và chắc chắn tôi sẽ bị sa thải và không còn ích lợi gì đối với các anh nữa. – Imre đủ bình tĩnh để mỉa mai. – Tại sao lại không mua giấy phép sử dụng có phải đơn giản hơn cho anh không? Việc này chẳng đến nỗi tốn kém lắm đâu!
- Tài liệu ấy cần cho tôi chỉ như một thứ bảo chứng, hay là, nếu anh muốn, như là sự bảo đảm cho sự cộng tác của anh đối với chúng tôi! – Benks làm như không nhận ra vẻ mỉa mai của Imre. – Sau này anh chỉ phải nhận những nhiệm vụ không làm tổn hại đến thanh danh của anh thôi.
- Nghĩa là để đổi lại tôi sẽ được nhận đứa con gái và con rể của tôi? – Imre gật đầu tỏ ra đã hiểu rõ.
- Lớn hơn, lớn hơn nhiều! Sẽ không có vụ điều tra và xét xử của tòa án, sẽ không có cuộc vận động trên báo chí, sẽ không có lý do để làm bùng nổ lòng căm phẫn của các đoàn thể dân chủ. Và cộng với tất cả các thứ ấy là tại một ngân hàng có uy tín ở Thụy sĩ sẽ mở một tài khoản mang tên anh. Sau này mỗi khi anh hoàn thành được một nhiệm vụ của chúng tôi, tùy theo tầm quan trọng của nó, một món tiền tương xứng sẽ được chuyển vào tài khoản này.
- Hết sức đa tạ, anh làm cho tôi rất an tâm.
Benks lại bỏ qua câu nói mỉa đó.
- Chúng tôi sẽ theo dõi anh. Trước hết nhằm mục đích bảo đảm an toàn cho anh. Anh sẽ không biết được ai là thần hộ mệnh của anh, nhưng rồi anh sẽ thấy ngay là chúng tôi hết sức quan tâm đến người của chúng tôi, bảo đảm an toàn cho họ.
- Khi nào tôi có thể nói chuyện với con gái tôi?
- Ngay bây giờ. Cuộc gặp gỡ của anh sẽ không lâu được đâu, vì hôm nay anh còn phải hội đàm với hãng Stanblex. Ở Budapest người ta cho rằng anh đến Munich chính là vì mục đích này, đúng không?
Imre đứng dậy, đi về phía lối ra. Benks nói với theo:
- Chúng tôi cần nhận được tài liệu vào ngày 27 tháng 6.
- Tôi không thể ra nước ngoài thường xuyên như vậy được, – Imre vừa dừng lại vừa cãi.
- Có thể được. Cuộc hội đàm trong ngày hôm nay với hãng Stanblex rất tiếc là sẽ kết thúc mà không có kết quả đối với anh. Vì thế anh sẽ được họ báo tin bằng telex cho biết rằng lãnh đạo của hãng chấp nhận điều kiện của anh và có ý định gặp anh để ký kết hợp đồng một lần nữa, đã định vào ngày 27.
Imre bước nhanh vào vườn hoa, Carrini theo sau ông.
Benks quay về phía Phoster:
- Anh không cần phải đợi ông ta. Anh hãy bay ngay chuyến bay đầu tiên. Tại Budapest anh hãy giao nhiệm vụ mới cho “cặp bai trùng”. Vẫn theo kênh bình thường . Điều chủ yếu là không được để mất hút Bela Imre.
- Tôi hiểu, thưa sếp. Anh phóng thích đôi vợ chồng trẻ chứ?
- Tạm thời để đó đã. Cần phải thử thách và chiêu mộ họ. Còn ông bạn Imre này, cố nhiên, không cần phải biết điều đó.
Im lặng một chút, Benks bổ sung:
- Kể từ hôm nay, tôi bắt đầu đưa “Thứ sáu” vào hoạt động. Anh hãy theo sát chỉ dẫn người đó. Nếu người đó muốn trực tiếp gặp anh hay “Cặp bài trùng”, anh hãy chuyển lệnh cho người đó. Về những quyết định tiếp theo của tôi, anh sẽ được thông báo sau.
- Tôi hiểu, thưa sếp.
- Thế bây giờ anh còn chờ đợi gì nữa, Phoster? Hãy lên đường đi! Tôi trông cậy ở anh.
❀ ❀ ❀
[1] Tên Latin: Tilia.