Tereza Kintres sống độc thân trong một căn hộ.
Bố mẹ cô đã qua đời. Người bố mất cách đây ba năm, còn bà mẹ chỉ sống thêm có một năm nữa và cô gái lâm vào cảnh cô độc trong căn hộ có hai phòng lớn, đủ tiện nghi và bày biện đẹp mắt. Từ bên ngoài nhìn vào người ta chỉ thấy một tủ kính chưng bày rất nhiều chiếc cúp, huy chương và những giải thưởng trong các cuộc đua xe hơi, và ba vòng nguyệt quế treo ở tường, phía trên tủ. Trông chúng có vẻ thường thôi, nhưng thật ra chính chúng mới là những thứ quý giá hơn cả đối với con tim đam mê của một nữ vận động viên đua xe. Đó là những chiến lợi phẩm vinh quang mà Tereza đã đoạt được trong các cuộc tranh đua vốn không ít gay go, căng thẳng.
Tereza đang đứng trước gương và thử bộ quần áo thể thao mới tinh vừa đặt may để mặc trong cuộc đua xe Rangli sắp tới thì ở ngoài cửa bỗng vang lên tiếng chuông gọi.
Ngày hôm nay cô gái không đợi người nào cả, vậy tại sao cô lại phân vân, nửa muốn đứng yên, nửa lại muốn ra mở cửa. Cuối cùng thì tính tò mò của phụ nữ đã thắng. Cô nhón chân đi ra phòng ngoài, nhìn qua khe cửa và giật mình, lùi lại vì bị bất ngờ.
Balint Rona đang đứng trước cửa.
Tereza đẩy then cửa, xoay nắm tay cầm trên ổ khóa do nước Anh sản xuất, mở rộng cánh cửa, lặng yên nhìn chằm chằm vào người khách không mời mà đến.
- Xin chào cô Tereza! – Trung tá lên tiếng trước, trong tay ôm một bó hoa. – Tôi biết cuộc viếng thăm bất ngờ vào lúc muộn màng này sẽ làm cho cô ngạc nhiên biết dường nào. Nhưng tôi cần phải nói chuyện với cô và rất là cấp bách.
- Trung tá Rona, xin mời vào! – Cô gái niềm nở nói. – Nhưng cũng phải thú thật: lúc nghe tiếng chuông gọi cửa, tôi không bao giờ nghĩ rằng người đó lại là anh.
Rona đi theo Tereza vào phòng và khi nữ chủ nhân quay lại phía ông, ông liền đưa bó hoa cho cô.
- Hỡi ôi, vào cái giờ phút muộn màng này tôi chỉ có thể tìm được một bó hoa rất mộc mạc tại một cửa hàng nằm ở góc phố. Nhưng đây là hoa đồng cỏ nội, và chúng đến với cô, theo ý tôi, trông đẹp hơn hẳn những bông hoa cẩm chướng và hoa hồng. – Rona nói. – Chúng dịu dàng và tự nhiên như chính bản thân cô vậy. – Rõ ràng là trung tá đã nói những câu không có trong vốn từ xã giao của ông.
Tereza phì cười.
- Thế ra anh đến đây để tán tỉnh tôi, đúng không nào? Tôi không phản đối. – Cô cắm hoa vào bình và đổ nước. – Xin mời ngồi.
Rona ngồi vào ghế bành và đưa mắt nhìn quanh căn phòng.
- Chỗ cô ở đẹp thật.
Cô gái ngồi trên mép chiếc đi –văng có trải tấm thảm màu xanh sẫm, vắt chéo chân, vòng hai tay qua đầu gối, sẵn sàng nghe chuyện.
- Vậy thì tôi xin nghe đây.
- Còn những nốt tàn nhang chung quanh mũi của cô! Lần đầu tiên tôi nhận thấy, nói có trời chứng giám, chúng rất hợp với khuôn mặt của cô.
Tereza đã bắt đầu bực mình, nhổm người lên.
- Hàng năm vào đầu mùa hè là chúng lại xuất hiện. Cảm ơn sự quan tâm của anh. Điều đó chứng tỏ anh thực sự đến đây để tán tỉnh tôi phải không? Thôi này, anh Rona, chúng ta đừng chơi lối mèo chuột nữa! Thủ trưởng của tôi, viện trưởng Imre ấy, hai ngày nay thật đúng là đã trở thành một người rất dễ xúc động, tới mức tôi không thể nói một tiếng nào với anh ấy. Ấy là chúng tôi không chỉ cùng làm việc lâu năm với nhau, mà trong một chừng mực nào đó còn trở thành bạn của nhau. Anh là người bạn tốt nhất của anh ấy, thế mà anh lại đến vào lúc 8 giờ tối, theo tôi vào căn phòng này để nói với tôi cái chuyện chẳng ra đâu vào đâu. Anh lại còn cố tỏ ra mình là người hoàn toàn dễ thương nữa chứ. Xin anh bỏ qua những lời khiếm nhã của tôi, nhưng cứ nói thẳng vào công việc có phải hơn không? Tôi cảm thấy tôi xứng đáng với điều đó.
- Càng tốt, cô đã làm cho nhiệm vụ của tôi được nhẹ bớt, Tereza quý mến. Xin cảm ơn cô. Sự việc ở đây là, Bela Imre đã rơi vào tai họa lớn lao.
- Tôi cũng dự đoán như vậy. – Tereza nghiêng đầu, tế nhị hỏi. – Anh quan tâm đến tai họa này của anh ấy với tư cách một người bạn hay một nhà chức trách?
- Sẽ đầy đủ, nếu như tôi trả lời cô thế này: như một người bạn, nhưng người bạn ấy hiện thời là một nhà chức trách, được không?
- Thoạt đầu tôi nghĩ rằng cái chết của Dodek đã ảnh hưởng nặng nề đến anh ấy như vậy…
- Thủ trưởng của cô đã nói cho cô biết rằng Istvan Dodek bị giết chết? – Rona cắt ngang lời cô gái.
- Bị giết chết ư? Lạy chúa tôi! – Tereza tái mặt đi. – Không, anh ấy không nói như vậy. Imre chỉ nói rằng ông già đã chết. Khi tôi hỏi vì nguyên nhân gì, anh ấy trả lời rằng hiện giờ vẫn chưa biết. Nhưng tại sao người ta giết ông ấy? Vì lẽ gì?
- Hiện giờ chúng tôi đang quan tâm đến vấn đề ấy.
- Đáng thương, ông già đáng thương! – Tereza thở dài nặng nhọc. – Hai người thương nhau đến vậy. – Ngước nhìn trung tá, cô hỏi: – Và anh đã biết ai là kẻ giết người?
- Hiện nay thì chưa biết. Nhưng chúng tôi đang tìm và sẽ tìm ra. Bây giờ thì Dodek đã thành người thiên cổ, còn Bela Imre lại gặp nạn lớn.
- Anh muốn nói rằng, – cô gái thì thào trong cơn hoảng sợ, – người ta định giết cả anh ấy?
Rona không muốn trả lời thẳng vào câu hỏi.
- Để cứu anh ấy, chúng tôi cần sự giúp đỡ của cô.
Tereza bật dậy.
- Tất nhiên, tôi sẽ làm tất cả những gì mà tôi có thể làm được. Tôi cần phải làm gì?
- Tôi sẽ kể lại cho cô nghe từ đầu đến cuối. Còn bây giờ xin mời cô hãy ngồi xuống và nhìn kỹ con người này. – Rona cho tay vào túi, lôi ra tấm ảnh của Phoster và chỉ cho cô gái. – Cô đã nhìn thấy người này ở đâu đó lần nào chưa? Ở phòng tiếp khách, ở tòa nhà của viện, hoặc có thể, trên đường phố cạnh lối ra vào viện…
Tereza cầm bức ảnh, ngắm nghía rất lâu.
- Chưa, tôi chưa thấy và chưa gặp người đàn ông này.
- Được rồi. – Rona nói nhỏ. – Nếu vậy, có thể làm thêm việc sau đây…
Buổi sáng đầy sương mù.
Người lái xe đưa chiếc Mercedes ra khỏi ga –ra, rảy một ít nước lạnh lên tấm kính phía trước, bật cần gạt nước và cho xe chạy ra cổng.
Ngồi trong chiếc Juyguli ghé đậu cách đó không xa, Saad và Mills quan sát mọi hoạt động ở xung quanh.
Saad nhìn dồng hồ.
- Còn 1 giờ 20 phút nữa máy bay mới cất cánh. Có thực lão ta chẳng suy nghĩ gì sau một đêm không?
- Chúng ta sẽ thấy ngay bây giờ. Tôi không tin lão ta lại bỏ mặc con gái muốn ra sao thì ra. – Mills đáp.
- Ngoài ra lão ta còn lo cho riêng bản thân lão ta nữa chứ. Mặc dù cậu không nói gì về phẩm chất lão ta. Đấy là sự thực!
Mills im lặng. Nhãn quan hẹp hòi của gã đồng mưu ngày càng hiện rõ trước mặt hắn.
Imre hiện ra ở cửa kính của phòng ngoài và chạy xuống bậc tam cấp, trên tay xách một cái túi du lịch nho nhỏ. Sau khi đã lên xe, ông ném đại chiếc túi đó lên ghế sau.
- Thằng xỏ lá! – Saad rít lên qua kẽ răng. – Coi kìa, lão ta không xách theo chiếc Samsonite của lão.
- Thế thì sao? Đấy không phải là việc của chúng ta. – Mills thờ ơ đáp. – Sẽ có những người khác lo việc nghe những câu chuyện của lão ta trên máy bay và ở bên kia biên giới.
Imre ngồi vào ghế cạnh tài xế.
- Xin chào! – Ông cất tiếng và còn muốn nói thêm điều gì đó nữa nhưng giọng ông nghẹn lại.
Sau tay lái, ở chỗ của lái xe vẫn ngồi chính là Tereza Kintres. Bằng một cử chỉ kín đáo, dường như tình cờ, cô đưa ngón tay lên môi.
- Chúng ta phải phóng nhanh, thưa viện trưởng. – Cô cố tình nói lớn. – Nếu không, chúng ta sẽ bị chậm mất. Thời tiết đẹp tuyệt. Những chiếc máy bay sẽ cất cánh theo đúng thời gian biểu.
Nghiêng người sang phía bên phải, để đóng mạnh cửa xe lần nữa, cô khẽ nói thêm:
- Tôi đưa anh đi, đây là sự ủy thác của Rona. Anh ấy yêu cầu tôi chuyển lời chào anh.
Imre đã bình tâm.
Tereza mở máy, trong chốc lát chiếc Mercedes tăng nhanh tấc độ, lao vút về phía sân bay.
- Tôi gặp may, cô là một lái xe rất tuyệt. – Imre cay đắng nói.
- Cảm ơn. Nhưng cái chính bây giờ không phải là chuyện ấy, – Tereza đáp. – Hãy mở chiếc hộp đựng vật dụng của lái xe ra, ở đó có một tấm ảnh. Balint Rona muốn biết anh đã nhìn thấy con người trong tấm ảnh ấy lần nào chưa?
Imre nhìn rất lâu vào bộ mặt của người đàn ông trong ảnh, hết nhìn thẳng lại nhìn nghiêng.
- Chưa. Tôi chưa gặp hắn.
- Nghĩa là, không phải hắn đã nói chuyện với anh trên chiếc xe Juyguli khi người ta chở lên trên núi.
- Không, không phải hắn. – Im lặng một lát, Imre nghiêng sang phía Tereza: – Tất cả những chuyện này nghĩa là gì, Teri? Cô biết hết mọi thứ à?
- Tôi chẳng biết gì hết! Thậm chí ngay cả chuyện ông bạn già của anh bị người ta giết chết, tôi cũng chỉ mới biết hôm qua.
- Ai cho cô biết thế?
- Chiều hôm qua trung tá Rona đến chỗ tôi. Anh ấy đem hoa cho tôi và ủy thác tôi trao cho anh mấy câu hỏi. Những câu hỏi này anh ấy muốn nhận được câu trả lời ngay lập tức.
- Cứ nói ra xem!
- Trước tiên, anh ấy yêu cầu chú ý nhìn trong những chiếc xe hơi đuổi theo chúng ta dọc đường vào sân bay. Anh hãy ghi nhận xem có tên nào trong số bọn chúng là kẻ đã chở anh trong vụ đi dạo trong núi hay không. – Nói xong câu này, Tereza nhìn vào tấm kính chiếu hậu, quan sát phía sau xe. – Tôi cần phải để ý xem có kẻ nào đó bám theo đuôi chúng ta hay không. – Đột nhiên cô nói một cách gay gắt. – Chỉ có anh là không được ngoái cổ lại.
- Được thôi, tôi sẽ không ngoái cổ lại đâu. – Imre nói bằng giọng bất mãn. – Còn gì nữa không?
- Chúng ta vào sân bay chậm hơn lúc bắt đầu đăng ký vé một chút. Bạn anh yêu cầu anh không được hấp tấp, thậm chí phải đi một cách hết sức chậm rãi. Khởi đầu là đi qua phòng chờ, sau đó đi qua chỗ kiểm tra hộ chiếu và cuối cùng là phòng hải quan, cũng đi với tốc độ đó.. Tất cả những ai đứng gần anh đều sẽ bị theo dõi và chụp ảnh.
- Thật là phiền phức biết bao! – Imre cằn nhằn, tuy vậy trong thâm tâm ông lấy làm cảm động bởi sự quan tâm này.
- Phải, cũng mệt thật đấy – Tereza gật đầu đồng tình. – Trung tá Rona còn yêu cầu anh…
- Cái gì? Bấy nhiêu đó còn chưa đủ hay sao?
- Chính điều này mới quan trọng nhất: trong những cuộc trò chuyện mà anh tiến hành ở Munich, có lẽ không phải chỉ có kẻ đó – cái kẻ đã chở anh vào núi ấy – tham gia mà còn có cả kẻ anh vừa nhìn thấy mặt hắn trong bức ảnh. Cần phải nhớ kẻ nào trong bọn chúng có mặt ở đấy và hắn giữ vai trò gì trong vụ việc của anh.
- Được, tôi sẽ mở mắt thật lớn.
- Thưa…viện trưởng, – sau khoảng ngừng ngắn ngủi, Tereza nói với giọng nài nỉ. – Hãy vui lên nào. Anh thấy đấy, mọi việc rồi sẽ tốt cả thôi. Anh hãy tin ở trung tá Rona!
- Tôi tin, – Imre cười buồn. – Nhưng dù sao tôi cũng là người bay tới Munich, tôi chứ không phải anh ấy. Và tôi hy vọng rằng cô đã hiểu được điều đó.
- Tôi hiểu. Và hoàn toàn thông cảm.
Vừa nói chuyện, Tereza vừa không quên nhìn kính chiếu hậu, nhưng chiếc Juguli màu Bordeaux vẫn giữ khoảng cách xa đến nỗi cô không thể nhìn thấy kẻ đang bám theo mình.
Họ đi đến ngôi nhà có dòng chữ đề “GA ĐI”.
- Cô là một cô gái đáng mến, – Imre nói trước khi rời khỏi xe. – Tôi lấy làm tiếc vì thời gian gần đây tôi thường làm cho cô phiền lòng.
- Có gì đâu! Tôi không nghĩ như anh nói đâu. – Tereza vui vẻ reo lên. – Xin chuyển lời chào của tôi đến Nora và chúc cô ấy sống hạnh phúc bên chồng.
- Cảm ơn. Tôi sẽ chuyển lời của cô đến con bé, nếu như tôi có thể. – Imre bắt tay cô gái, cầm lấy chiếc túi đặt ở ghế sau rồi bắt đầu bước lên bậc thềm của nhà ga.
Tereza mở máy xe và rời khỏi chỗ đậu ngay. Khi chiếc Mercedes vừa mới lượn một vòng và phóng thẳng như một mũi tên trên con đường cao tốc thì chiếc Juguli của hai điệp viên “song sinh” cũng phóng ngay vào bãi đậu xe của sân bay.
Mới tang tảng sáng, Rona đã đứng bên cửa sổ văn phòng nhìn dòng chảy không ngớt của những chiếc xe hơi đang chạy chậm rì trên đường phố. Ông đã nghe nói là để giải tỏa những trục lộ chính, hình như người ta tập trung áp dụng một biện pháp gọi là “phân cấp” xe chạy lúc bắt đầu một ngày làm việc trong các cơ quan và xí nghiệp. Nhưng bây giờ nhìn cảnh hỗn độn dưới kia, ông bất giác nghĩ rằng ngay cả sự phân cấp đó – nói có trời chứng giám – cũng chẳng giải quyết được gì, bởi vì không có một máy tính nào lại có khả năng biết trước được lúc nào thì bắt đầu một ngày làm việc.
Klara bước vào phòng, như thường lệ, đặt lên bàn chiếc khay đựng ấm cà –phê. Những chiếc tách kêu lanh canh khiến Rona phải ngoái cổ lại.
- Cái tình trạng như hiện giờ thật là lố bịch, tôi sẽ không bao giờ mắc phải nữa. – Rona cằn nhằn. – Những tráng sĩ của tôi vào sân bay đã lâu, còn tôi thì phải ngồi ở đây, tự giam mình trong nhà, đã thế lại còn bị kết tội vì đã để cho một thằng cha phó nháy chết tiệt nào đó chụp hình như một minh tinh màn bạc.
- Anh hãy dùng cà –phê của mình đi, – Klara động viên thủ trưởng, – rồi lát nữa tôi đem chút gì đó lại cho anh điểm tâm. Vào lứa tuổi của anh, để giúp tinh thần không bị xáo động cần phải ăn nhiều hơn.
- Thế sao chị không chuyển hẳn tôi vào nhà dưỡng lão? – Trung tá vừa khuấy cà –phê, vừa tiếp tục cằn nhằn. Và mặc dù trong giọng nói của ông không thấy rõ nỗi bực tức, Klara vẫn ngượng chín cả người và vội vàng lái câu chuyện sang đề tài khác.
- Anh nghĩ xem, có mối nguy cơ nghiêm trọng nào đe dọa Imre không?
- Tôi lo sốt vó cho anh ấy. Tôi còn chưa biết một cách đích xác, nhưng đã đoán được chúng bức chế anh ấy vì cớ gì. Nhưng Bela là con người cứng rắn, gai ngạnh và nóng tính. Nếu như ở đấy anh ấy phản ứng gay gắt, thì có thể dẫn đến một kết cục bi thảm.
- Chúng có thể giết chết anh ấy?
- Không, chúng đủ thông minh để không làm việt đó. Bởi làm việc đó chúng không kiếm được một chút lợi lộc nào hết.
- Anh muốn nói điều gì?
- Bela Imre hiện đang phải đơn độc chống lại một tổ chức mạnh mẽ nhiều thế lực và một guồng máy bí mật to lớn…
Rona không thể nói tiếp. Ngoài cửa xuất hiện cả hai “tráng sĩ” – Kuty và Shalai. Họ lịch sự nhường cho thiếu tá Ladani và Sasvari thấp nhỏ vào trước.
- Đã bay rồi. – Kuty báo cáo và lấy trong túi ra quyển sổ ghi chép. – Đây là tài liệu về con người mang cái tên giả “Ngài Peter Volf” trong hộ chiếu mà y xuất trình ở trạm hải quan.
- Chính vì có cái hộ chiếu đó mà hắn đã vào sống một cách hợp pháp bên cạnh chúng ta. Nó thế nào?
- Tên Thomas Phoster. Theo hộ chiếu thì hắn là công dân của nước cộng hòa Panama. Thị thực nhập cảnh thu nhận như khách du lịch trong kỳ hạn một tháng.Từ sân bay, bằng telex, tôi đã báo toàn bộ tài liệu này về cho bộ phận kiểm tra.
- Đúng. – Rona tán thành và hướng về Sasvari: – Còn cậu thì có thể nói gì nào?
- Chúng tôi đã chụp ảnh mọi thứ và mọi người trên thế gian này. – Nhà hình pháp học quen lối trình bày nhanh gọn. – Trong phòng thí nghiệm, tài liệu đang hiện hình.
- Không phải là tồi, – Rona khen ngợi. – Nhưng cần lưu ý rằng các anh phải làm việc nhiều hơn nữa. Tôi cần hai kiểu ảnh. Kiểu đầu: toàn bộ khuôn mặt, phóng thật lớn, còn kiểu thứ hai: ảnh của cả nhóm. Có như vậy mới phân biệt được cụ thể sự khác nhau của nhân vật này với những người có mặt ở chung quanh. Rõ nhiệm vụ chưa?
Sasvari chạy đi ngay. Bắt đầu đến lượt Ladani.
- Tôi quan tâm đến chiếc Ostin của Phoster. Nhân đây chúng ta thống nhất gọi hắn bằng cái tên đó.
- Xe của hắn ở đâu?
- Đậu ở bến xe trong sân bay.
- Vậy thì chờ đến đêm anh hãy vào đó mà xem kỹ lại chiếc xe một lần nữa. Bây giờ thì anh đã có thời gian rồi đấy. Tôi rất quan tâm đến chiếc đài vô tuyến thu phát sóng định vị của hắn. Nhưng chúng ta sẽ không làm việc trong sân bay mà là ở đây, “ở nhà” này. Tôi đã ra lệnh, lúc nhá nhem tối, trên chỗ chiếc xe của Phoster đã đậu, bố trí một chiếc xe giống hệt chiếc Ostin, kể cả biển số cũng thế. Phải làm sao cho không có một sự nghi ngờ nào hết. Chắc chắn là Phoster có những “người bạn” còn ở lại đây, họ sẽ tìm kiếm chiếc xe. Còn trước và sau khi đánh tráo, – ông hướng về Kuty, – cậu hãy tổ chức việc theo dõi chung quanh.
- Nhưng chỉ sau ba ngày Phoster lại quay về kia mà! – Kuty nghi hoặc. – Vì lẽ gì lại đem cùm chân lực lượng của chúng ta trong khi chúng ta chưa phải là đã có nhiều người cho lắm?
- Cậu cứ việc hành động theo sự xét đoán của cậu. – Rona nổi nóng. – Nhưng chỉ trong trường hợp tất cả đồng bọn của Phoster đã bay đi cùng với hắn.
Kuty im lặng nuốt nước bọt.
- Sáng hôm nay Tereza Kintres – thư ký của Bela Imre – đã chỉ cho anh ấy xem bức ảnh của Phoster. Anh ấy không hề biết và chưa bao giờ gặp mặt hắn ta cả. Nói chuyện với anh ấy là một người khác, tên là Naldor Saad. – Rona lại nhìn vào Kuty. – Còn trong bản báo cáo của cậu, tôi không thấy có một tí thông tin nào về việc con “bồ câu” đó cũng đã bay đi cùng với Imre và Phoster hết. Từ đó rút ra kết luận rằng, kẻ đồng mưu hoặc là những kẻ đồng mưu của Phoster nếu như Saad không phải là độc nhất, đang có mặt ở đây, tại Budapest này. Đã đến lúc cần học cách phân tích mặc dù đã có sự quan sát của chính bản thân mình, đại úy ạ!
Máy telex bắt đầu chạy.
Shalai cất giọng đọc văn bản trong telex.
- “ Thomas Phoster, sinh năm 1922 tại Owelington…”
- Hắn ở xa thật nhưng đã kịp lọt vào. – Ladani nhận xét.
- “… Công dân của nước cộng hòa Panama. – Thượng úy đọc tiếp. – Đi qua Hedeshan ngày 16 tháng 6. Tạm trú theo đăng ký chỗ ở của chi nhánh du lịch “Ibus”, địa chỉ: Budapest, quận 30, đường Valenberg, II, tầng bốn, căn hộ số 4. Dấu thị thực nhập cảnh vừa tròn một tháng. Ảnh trong hộ chiếu và trong tờ khai cùng với yêu cầu bước đầu về dấu thị thực nhập cảnh là đồng nhất và giống nhau hoàn toàn. Hết”.
- Hãy xác nhận rằng chúng ta đã tiếp nhận được tin tức. – Kuty yêu cầu.
Shalai bối rối nhìn những hàng nút bấm của máy, không hiểu nên bấm vào đâu. Đại úy nhảy tới hai bước, định đến để chỉ cho bạn đồng ngiệp cách sử dụng máy như thế nào, nhưng vừa lúc đó máy làm việc trở lại, nhả ra một hàng chữ mới. Bây giờ thì Kuty đọc to lên.
- “Lời chú dẫn. Căn cứ theo tài liệu của cơ quan lưu trữ hồ sơ, năm 1945 ở Hungary có một tên Thomas Phoster nào đó. Đã từng là thành viên của Ủy ban giám sát đồng minh ngay sau khi kết thúc chiến tranh. Những tài liệu khác không có, cả ảnh cũng không.Hết”.
Kuty phát tín hiệu đã nhận được và tắt máy.
- Trong chừng mực nhất định, tôi hiểu rằng công việc của chúng ta đã bắt đầu trôi chảy được một ít. – Rona hơi có vẻ cằn nhằn. – Tôi lại cảm thấy thích thú với cái gã Phoster này. Hắn là một kẻ gian xảo của ba châu trên thế giới. Sinh ra ở châu Úc, nhận quốc tịch ở Nam Mỹ và hoạt động gián điệp ở châu Âu.
- Không hiểu sao hắn lại chịu đựng nổi những cuộc dạo chơi lôi thôi như thế? – Tinh thần của Kuty được nâng lên một cách rõ rệt. – Chắc hắn ta khỏe như một con lợn thiến, không có gì cản trở hắn được.
Shalai phụ họa:
- Chắc quá đi chứ. Chỉ có điều hắn bị dày vò vì những chiếc răng.
- Sao lạ thế? – Trung tá tỏ vẻ không hiểu. – Những chiếc răng của Phoster bị đau à? Sao không thấy cậu báo cáo điều này?
- Những người theo dõi báo cáo rằng, trong khi Phoster bò ra khỏi chiếc Ostin của mình, hắn bịt chặt chiếc khăn vào miệng, bịt kín đến nỗi che khuất gần hết cả khuôn mặt. Không nhận thấy thời tiết ấm áp, trên đầu hắn đội chiếc mũ cat phủ xuống tận mang tai và hắn khom lưng bước kéo dài lệt sệt, cứ y như đột nhiên già thêm đến hai mươi tuổi.
Rona lắng nghe, không xen vào một lời nào.
- Nếu không có họ, tôi đã không hiểu được hắn. Chúng ta đứng ở hàng hiên để hộ tống, trong lúc viện trưởng Imre và những thành viên khác bước ra khỏi ô –tô bus cạnh chân cầu thang máy bay. Trong đám đông có cả Phoster. Quan sát viên của chúng ta đi ngang qua đã chỉ hắn cho tôi. Anh ta nói rằng kia kìa, lão già bị đau răng ấy.
- Kuty! – Trung tá kêu lên. – Thế còn cậu? Lúc đó cậu ở đâu? Để lỡ mất cơ hội phải không?
- Cậu ấy không thể nhìn thấy hắn. – Kuty đứng lên bênh vực người đồng đội Shalai tận tụy. – Hơn nữa trước khi Imre đến nơi, tôi ra hiệu cho cậu ta đi qua hướng khác của hàng hiên, tại chỗ ấy có thể nhìn thấy được cả khu vực nhà ga. “Xem kìa, tôi nói – ở đằng ấy ba người chúng ta chẳng việc gì phải đứng lù lù như thế”. Tôi đi về phía lối ra trong sân bay, còn cậu ấy đi vào phòng đợi.
Rona hết sức giận dữ:
- Nếu vào lần khác, bất chợt cậu nhìn thấy một tên gián điệp bị ốm, một kẻ phá hoại hoặc là một điệp viên tầm thường, không cần phải thương hại hắn ta mà phải báo cáo ngay về chuyện đó! Ái chà, họ mới dễ xúc động làm sao! – Ngẫm nghĩ một phút, ông nói với giọng đã điềm tĩnh hơn. – Rõ ràng những tên đồng lõa của Phoster không biết rằng hắn ở Budapest và, có lẽ, hắn đang kiểm tra chúng. Hắn cải trang thành ông già và che kín mặt không phải vì chúng ta mà là vì chúng nó. Mục đích chỉ là để bọn kia không nhìn ra hắn, rõ chưa?
Ladani nói:
- Tôi cho rằng, sắp tới đây chúng ta sẽ biết vì ai mà chúng cải trang. Các “nhiếp ảnh gia” và những người quay phim của chúng ta đã làm việc không đến nỗi tồi lắm, chúng ta hãy đợi kết quả.
- Hay thật, làm sao họ xác định được những kẻ đê tiện này giữa rừng người như thế? – Shalai băn khoăn hỏi.
- Không hề gì, họ sẽ giúp chúng ta, – Rona cam đoan với Shalai.