Quá nửa đêm, Rona và hai cộng sự của ông mới quay về đến sở.
Klara, thư ký riêng của trung tá, đã biết những sự việc vừa xảy ra ở ngôi nhà gác rừng. Đã 17 năm trời bà làm việc cùng với Rona. Và mặc dù đã có cháu gọi bằng bà, song trông bề ngoài hầu như Klara không có gì thay đổi. Bà vẫn giữ được dáng người thon thả của thời còn trẻ, thậm chí hình dáng vẫn mảnh mai chẳng khác gì những năm tháng trước kia, khi lần đầu tiên bà bước qua ngưỡng cửa căn phòng làm việc này. Mái tóc đen của bà đã ánh lên những sợi bạc, làm tăng thêm vẻ khả ái riêng biệt cho khuôn mặt vốn đã khá đẹp.
- Cảm ơn Klara về việc chị có mặt ở đây, – Rona nói. Sau những năm tháng cùng công tác, Klara đối với ông đã trở thành một cái gì đó cực kỳ quý giá. Và bà vừa như người nữ giúp việc, vừa như một người thân hết sức gần gũi của ông.
- Cái chết của Dodek làm tôi rất xúc động. – Klara thông cảm nhìn thủ trưởng – Quả thật họ đã giết chết ông ấy rồi sao?
Rona mệt mỏi gật đầu. Mãi cho đến lúc này mới thấy rõ là cái chết bất bình thường và vô nghĩa – vì vậy mà trở thành quá nặng nề – của người bạn đã tác động quá mạnh đến Rona. Shalai bèn trả lời thay cho trung tá:
- Hiện giờ đã rõ được một điều: cái chết của Dodek không phải là do tự sát. Đã lâu lắm rồi tôi chưa từng gặp phải những chuyện rắc rối và những sự việc trái ngược nhau như ở chỗ vừa xảy ra vụ án.
- Bây giờ tốt hơn hết là các anh nên nghỉ ngơi một lúc, – Klara mở cửa bước vào phòng làm việc. – Tôi sẽ đem cà phê nóng cho các anh.
- Thế nào? Vẫn chưa có kết quả từ bên giám định pháp y phải không? – Rona hỏi.
- Họ chưa gọi. Nhưng bây giờ anh hãy cứ uống cà phê đi đã, tôi sẽ điện hỏi họ ngay. – Klara nói cho trung tá an tâm.
Kuty ủ tách cà phê trong lòng bàn tay. Đêm trong rừng khá lạnh, vì thế sự ấm áp dễ chịu của tách cà phê như lan khắp cơ thể anh.
Rona vẫn ngồi ở chỗ thường ngày của mình, phía sau bàn làm việc. Shalai và Kuty ngồi ở phía đối diện.
- Klara thân mến, – Shalai nói, nháy mắt một cách ngượng nghịu. – Bây giờ mà tình cờ chị có một khúc bánh mì nhỉ? Hay là chị có một thứ gì đại loại như thế không? Bánh bích quy chẳng hạn. Từ trưa đến giờ chưa có chút gì bỏ vào miệng hết.
- Cũng là chuyện tình cờ thật. Tôi có đem từ nhà bánh mì, bơ, xúc xích, một miếng phô –mai và một hộp đồ ăn. Bây giờ tôi sẽ làm sandwich. Các anh chịu khó chờ một lát nhé.
Rona nuốt được hai ba miếng rồi để miếng sandwich sang một bên.
- Loại tội phạm chuyên nghiệp đã hành động, điều ấy thì đã rõ, – ông nói thành lời, rồi tiếp tục suy nghĩ.
- Đúng vậy. Một gã săn bắn trộm hoặc một tên kẻ cướp bình thường nào đó thì không thể có chuyện cố bắt ép ông già viết mẩu thư “di chúc” trước khi chết. – Kuty tán thành, miệng vẫn còn đầy bánh. Sau đó sực nhớ ra, anh ta vội vàng nuốt hết thức ăn rồi nói tiếp. – Thậm chí chúng không thèm đụng đến tủ và bàn viết của ông ấy. Cả những đồ vật khác hầu như vẫn giữ nguyên vị trí như nó đã có từ trước. Chúng không thèm lấy đi một thứ gì hết.
- Ngay cả tiền cũng thế, – Shalai nhớ lại. – Chúng tôi tìm thấy dưới ngăn tủ 80.000 forint. Tất cả đều có vẻ hợp lý: nếu những tên hung thủ muốn tạo được vẻ ngoài rằng đây là một sự tự sát thì có nghĩa là tất cả mọi thứ trong phòng đều phải giữ đúng nguyên trạng.
- Bác sĩ Chalto và trưởng phòng kỹ thuật pháp y đã tới, – Klara báo cáo.
- Hãy mời hai người vào và chị pha giúp cà phê luôn, – Rona nói.
Ông bắt tay bác sĩ và trưởng phòng kỹ thuật pháp y.
- Xin mời ngồi. Chắc các anh mệt lắm phải không?
Bác sĩ gạt phắt.
- Tôi sống được là nhờ chút hơi tàn đấy.
- Đúng thế đấy, thưa trung tá! – Nhà kỹ thuật pháp y có tầm vóc vừa phải, nhanh nhẹn và hoạt bát vội thừa nhận.
- Thế bây giờ ai muốn nói trước?
- Nếu được anh cho phép, tôi xin bắt đầu. – Bác sĩ nói thẳng vào công việc, không cần phải mào đầu. – Cuộc khám nghiệm cho thấy rằng Dodek đã chết trước khi chúng ta đến khám xét tử thi khoảng từ một đến một tiếng rưỡi đồng hồ. Xin lỗi – ông húng hắng ho – điều này hoàn toàn trùng với kết luận ban đầu của tôi ở chỗ xảy ra vụ án.
- Nói một cách khác, chưa đến một giờ truớc khi chúng tôi đến, – Shalai đứng lên. – Trước khi nhóm hành động đến, thời gian trôi qua cũng phải đến 30 – 40 phút.
- Cái chết gây ra do một phát đạn bắn từ một khẩu súng ngắn. – Bác sĩ Chalto tiếp tục – Viên đạn vào gần thái dương bên phải, xuyên thấu và đi ra phía bên kia của hộp sọ. Tôi chưa tính đến sự phá hoại của viên đạn đối với bộ não. Tuy nhiên, điều quan trọng cần phải ghi nhận là đường đi của viên đạn xuyên qua lại không song song với chiều ngang của trục tâm xác chết mà là trên một góc gần 15o.
- Nói khác đi, nòng của khẩu súng ngắn có xu hướng từ trên cao chúc xuống. – Rona ngắt lời bác sĩ.
Bác sĩ Chalto gật đầu công nhận.
- Tôi đã nói với anh rằng thể lực của Dodek không thể cho phép ông ta chống cùi chỏ đưa tay cao như thế rồi kia mà! – Trong giọng nói của Rona nghe đã có chiều bực tức.
- Trong điều kiện bình thường ông ta không thể chống tay lên được. Nhưng ở giây phút khủng hoảng tinh thần, trong tình trạng xúc động, con người có khả năng thực hiện được nhiều việc khác thường. – Bác sĩ thản nhiên cãi lại. – Chính lúc đó tôi cũng không loại trừ khả năng phát súng giết chết Dodek là do một người khác bắn.
Sự im lặng căng thẳng bắt đầu. Kuty ngậm điếu thuốc trong miệng, hí húi tìm hộp quẹt.
- Đó là tất cả những gì mà giám định pháp y đã phát hiện phải không? – Rona hỏi bằng giọng khàn khàn.
- Không, còn một chi tiết nữa. Phát súng đã được bắn ở khoảng cách rất gần. Những hạt nhỏ của thuốc súng và vết bỏng do hơi nóng phụt ra bao quanh lỗ đạn. Ngoài ra, thành phần vôi trong các cơ quan chức năng của xác chết nhiều tới mức chúng ta buộc phải nghi ngờ khả năng xảy ra chuyện tự sát.
- Như thế là rõ rồi, – Shalai mở đầu.
Bác sĩ ngắt lời anh ta một cách gay gắt:
- Chưa có gì là rõ cả! Chúng ta vẫn phải dự đoán đây là trường hợp tự sát chừng nào chúng ta còn chưa có những bằng chứng xác nhận giả thiết ngược lại.
Lại im lặng.
- Xin đừng giận, bác sĩ. – Lần này lại là Kuty nói. – Xin anh nói thực xem, anh cố tình tỏ vẻ khách quan như vậy hay là đang chờ một cứ liệu nào đó từ phòng thí nghiệm?
Chalto không tỏ vẻ bực mình. Anh đã quen với những loại câu hỏi như thế. Vả lại cả hai người đã xây dựng tình bạn dựa trên cơ sở chung là sự đam mê môn quần vợt.
- Tôi đang đợi, – anh ta trả lời ngắn gọn, mỉm cười với đại úy. – Cậu đã đoán đúng, luôn luôn đoán đúng.
- Thế còn dấu kim chích ở tĩnh mạch? – Rona tiếp tục gạn hỏi. – Anh đã xác minh được gốc tích của nó rồi phải không?
- Phải, đã xác minh được rồi. Đấy quả thực là vết đâm do một chiếc kim chích, không còn phải nghi ngờ gì nữa. – Bác sĩ thừa nhận ngay. – Nhưng còn việc người ta đã chích vào người Dodek một thứ thuốc gì đó hay là không thì chúng ta chưa thể biết được.
- Sao lại thế? – Shalai ngẩng đầu lên. – Người ta chọc kim vào tĩnh mạch của con người mà không biết là để làm gì, hoặc chẳng để làm gì cả, hơn nữa lại còn không chích cái gì vào đó cả hay sao? Điều này quả thật không thể xảy ra được!
- Có thể, hoàn toàn có thể, ông bạn Doly thân mến ạ, – Chalto đáp lại. – Chừng nào việc phân tích máu của người chết ở phòng thí nghiệm còn chưa xong thì chưa thể khẳng định bất cứ vấn đề nào. Mặt khác, – bác sĩ tỏ vẻ thận trọng, – theo những triệu chứng riêng biệt, người ta thấy có sự xuất hiện một thứ dược liệu nào đó có lẽ chúng ta còn chưa biết. Tôi nhấn mạnh: có lẽ thôi.
- Đó chính là những cứ liệu mà anh đang chờ đợi phải không? – Kuty vội vã nêu câu hỏi.
- Chính chúng đấy. Nhưng muốn có đầy đủ tính chất xác thực lại cần phải có thời gian. Việc phân tích cần phải chính xác và đầy đủ.
- Đến khi nào thì anh hoàn tất được việc đó? – Rona hỏi.
- Điều đó còn phụ thuộc vào các phản ứng đã được thực hiện – Bác sĩ Chalto nhổm người khỏi ghế bành. – Nếu anh đồng ý, tôi sẽ ở lại chỗ các anh. Những công việc phân tích của các nhà hóa học trong lúc bận rộn nhất sẽ không đến nỗi tồi nếu có mặt bác sĩ ở bên cạnh. Tôi muốn giúp sức cho các nhân viên phòng xét nghiệm của chúng ta.
- Tất nhiên là như vậy rồi. Xin cảm ơn bác sĩ, – trung tá nói. – Nhưng trước khi rời khỏi đây, anh hãy dùng cà phê đi, điều này chẳng có hại gì đâu. – Ông đưa tay ra hiệu cho Klara đang hiện ra ở ngưỡng cửa với chiếc khay trên tay.
Tuy nhiên bác sĩ không để cho Klara bước vào. Ông vội vàng bước đến và bưng lấy tách cà phê, uống liền hai hớp thứ nước giải khát có vị thơm và đăng đắng, sau đó trở lại chỗ cũ.
- Bây giờ đến lượt anh nào, Sasvari! – Kuty khuyến khích ông bạn ở nhóm kỹ thuật nghiệp vụ.
Con người gầy gò rụt rè ho một tiếng, bưng tách cà phê của Klara đang đứng trước anh ta rồi ngó chằm chằm vào cuốn sổ tay của mình. Một lúc sau anh ta mới hớp một ngụm và nói một cách từ tốn:
- Chúng tôi đã xác định được dấu vết của hai chiếc xe hơi. Tất nhiên, các anh nên nhớ chiếc đậu ở hướng nam của ngôi nhà mang biển số nước ngoài. Căn cứ theo đà chạy của bánh xe và chiều dài của trục xe, có nhiều khả năng đây là loại xe Ostin. Vỏ xe còn mới, nhãn hiệu Samson. Như mọi người đã biết, vành trong của những vỏ xe này màu trắng. Tất cả các dấu vết đều đã được định hình một cách chính xác trên khuôn đúc bằng thạch cao …
- Khoan, khoan đã! – Shalai trì níu. – Cậu nói rằng ai cũng biết vành trong của những chiếc vỏ xe Samson đều có màu trắng nhưng tôi lại không hề biết điều đó. Xin hãy nói chậm hơn tý nữa! Tôi không kịp ghi chép gì cả.
- Chiếc xe thứ hai là loại Juyguli. – Sasvari nói chậm trở lại và vừa giảm bớt kiểu diễn đạt văn vẻ, vừa nhìn vào quyển vở của Shalai, xem anh ta có ghi chép kịp những tài liệu mà anh đã trình bày hay không. – Những hình mẫu được phục chế từ các dấu vết đã xác nhận rằng cả hai chếc xe đã đậu ở đấy trong khoảng thời gian khá lâu. – Anh ta bày ra một xấp ảnh. – Xin mời các anh xem những tấm ảnh đã phóng lớn dấu vết các bánh xe. Đây là ảnh chụp lại dấu in bằng thạch cao ở phòng thí nghiệm luôn chịu sự điều khiển của các anh.
Kuty chăm chú xem xét tất cả các tấm ảnh.
- Tất cả đều tốt. Nhưng còn cái gì ẩn chứa trong bức vẽ anh đang cầm trong tay thế? Đưa xem nào, đừng ngại.
- Chúng tôi đã tìm được một vài dấu chân. Các dấu vết rất có giá trị cho việc phân tích. – Sasvari chìa thêm một xấp ảnh. – Có ba người ra khỏi xe hơi và đi đến ngôi nhà: hai người từ chiếc Juyguli, một người từ chiếc Ostin. Những dấu vết chứng tỏ họ đi đến ngôi nhà rồi quay lại xe. Căn cứ theo kích thước của dấu giày, tất cả ba người đều là đàn ông. Một trong những người ở chiếc Juyguli có vẻ nặng ký hơn mấy người kia, thậm chí mập thù lù, dáng đi lạch bạch. Bước chân của người này dài, rắn rỏi, gót giày in sâu và rõ ràng.
- Ba người đàn ông, thế, thế … – Rona lặp lại trong suy ngẫm. Ông lật một trong những tấm ảnh. – A ha, tôi đã thấy rồi. Anh đã chỉ rõ được đây là ba gã đàn ông và miêu tả được ngoại hình, tầm vóc, sức nặng. Điều này rất đúng.
Đến lượt mình, Shalai xem đi xem lại từng xấp ảnh rồi thở phào.
- Vui suớng làm sao nếu tôi được làm quen với các chủ nhân của những đôi giày cao cổ này! Chỉ cần một tên thôi để bắt đầu.
Trung tá huớng về phía Kuty.
- Cậu hãy yêu cầu họ cung cấp cho chúng ta bảng liệt kê tất cả xe hơi hiệu Ostin hiện đang lưu thông trên lãnh thổ nước ta. Ở bảng kê đặc biệt này phải tách riêng ra những chiếc vừa mới vượt qua biên giới mà chưa quay trở lại. Trước tiên chúng ta cần lưu ý đến những chiếc Ostin nào có vỏ xe hiệu Samson. Trong khi xác định, cần ghi nhớ là vành trong của vỏ xe màu trắng bởi vì không phải ai cũng biết được điều đó. – Ông đưa mắt sang Shalai.
Kuty đi vòng ra sau bàn của thủ trưởng nhấc một ống nghe lên, vừa đọc khe khẽ lời yêu cầu, vừa tiếp tục theo dõi bản tường trình của Sasvari.
- Bây giờ đến chuyện vũ khí, – Sasvari tiếp tục. – Phát súng được bắn ra từ một khẩu Walter kiểu cũ. Cỡ đạn 765. Istvan Dodek có giấy phép sử dụng khẩu súng này. Viên đạn chúng tôi tìm thấy hoàn toàn phù hợp với loại súng này.
- Chúng đã bắn bằng khẩu Walter của Dodek?
- Đúng thế đấy. – Sasvari còn lật quyển sổ tay của mình. – Ở đây còn thêm những chứng liệu đáng lưu ý qua quá trình kiểm tra chiếc máy chữ.
Sasvari uống hết phần cà phê của mình, hớp nốt chỗ đường còn đọng dưới đáy, rồi lại mải mê ngó vào cuốn sổ ghi chép của mình.
- Trên các phím chiếc máy chữ của Dodek chúng tôi không phát hiện ra dấu tay ngay cả khi khám nghiệm sơ bộ lẫn lúc ở phòng xét nghiệm. Nhưng các chuyên viên khám nghiệm đều quả quyết rằng đoạn văn trối trăng đã được đánh ngay trên chiếc máy chữ này chứ không phải ở chiếc nào khác. Đồng thời, ở những bộ phận khác của nó, ví dụ như ở dưới đáy, lại thấy rất rõ những dấu tay của người chết. Điều này cho thấy Dodek quá cố dĩ nhiên phải là người đã sử dụng chiếc máy chữ của mình và sử dụng một cách thường xuyên. Ông ta có đánh bức thư cuối cùng trên chiếc máy chữ của mình hay không còn là điều bí ẩn.
- Chắc là có sự trợ giúp của những bóng ma vô hình. – Rona cay đắng nhận xét.
- Phải, anh nói đúng đấy. – Sasvari ngước mắt nhìn Rona.
Tất cả ngạc nhiên nhìn chằm chằm vào anh ta.
- Cậu định nói cái gì thế? –Trung tá rõ ràng đã mất bình tĩnh.
- Theo lệnh của anh, thưa trung tá Rona, chuyên viên tự dạng đã so sánh văn phong của bức thư với văn phong và đặc điểm ngôn ngữ của những giấy tờ khác do Dodek từng viết, đặc biệt là tập hồi ký. Hai tài liệu này có đặc điểm rất trái ngược nhau cả về văn phong lẫn vốn từ vựng. Trong hồi ký của mình, như lệ thường Dodek đã sử dụng những thành ngữ phức tạp, những mệnh đề phụ. Còn bức thư lại được cấu thành từ những câu ngắn, đơn giản, họa hoằn lắm mới thấy có mệnh đề mở rộng. Mỗi câu trong hồi ký, kể cả ở phần được viết ra trong những thời điểm khó khăn nhất của cuộc đời người quá cố, vẫn hàm chứa niềm tin và chất lạc quan …
- Đúng lắm. Ông ấy chính là như vậy. – Rona nhận xét.
- Có thể lắm. Và chuyên viên cho rằng, xét về mặt tâm lý thuần túy thì khó có thể hình dung được một con người như Dodek lại đột ngột thay đổi văn phong của bức thư, từ giọng “trưởng” lạc quan thình lình chuyển sang giọng “thứ” bi thảm, đi đến quyết định tự sát và rút cục là đã kết liễu cuộc đời của mình.
- Giỏi lắm, suy luận rất khá! – Trung tá không còn giữ được sự dè dặt thường có trong khi khen ngợi. – Còn có gì nữa không?
- Tàn thuốc lá mà các anh thu lượm được bên chỗ đậu của chiếc Ostin là tàn thuốc lá ngoại.
- Ôi! Điều này thì có gì đáng nói đến đâu, – Shalai kêu lên. – Tại mỗi cửa hàng có vô khối thuốc lá hiệu Marlboro, Kent và các loại tương tự. Chỉ có mỗi Kuty là hút thứ thuốc lá Simphony khét lẹt của mình mà thôi!
- Thôi đi, – Rona cắt lời anh ta. – Sự kiện này cũng có thể bổ ích đấy. Dù thế nào thì cũng phải cố gắng phát hiện cho chính xác nhãn hiệu thứ thuốc lá này.
Sasvari gấp sổ tay của mình và đứng lên.
- Các chuyên viên xét nghiệm đã làm việc suốt đêm. Sáng mai sẽ đổi nhóm khác nhưng riêng tôi vẫn luôn luôn thuộc quyền điều khiển của các anh.
- Xin cảm ơn, anh Sasvari! – Trung tá phấn chấn nói và chìa tay cho nhà kỹ thuật.
Sau khi nhà kỹ thuật pháp y nhỏ nhắn đi khỏi, Rona nhìn đồng hồ.
- Khỉ thật, đã ba giờ thiếu mười lăm rồi. Chính tôi đã hứa gọi dây nói cho Imre. Làm sao tôi lại có thể quên được nhỉ? Các cậu nghĩ thế nào, mấy cậu nhỏ, bây giờ đã muộn chưa?
- Theo tôi anh ấy đang đợi chuông điện thoại, – Shalai nói.
Rona nhấc ống nghe của máy điện thoại.
Ngay từ đầu năm, góa phụ Martona Pavelets – trước khi lấy chồng là Anna Beltrich – đã nhận được một lá thư từ nước ngoài gửi về. Lá thư được ký bằng một cái tên mà bà thấy rất xa lạ: Arthur Pavelets.
“Dì kính mến – Arthur Pavelets viết, – cháu vô cùng vui sướng vì cuối cùng cháu đã tìm được người bà con duy nhất còn lại và đang sống trên tổ quốc chôn nhau cắt rốn của cháu”. Mặc dù sự mô tả về cái cây gia hệ của dòng họ Pavelets có phần khập khiễng, dì Anna đã có thể hiểu được rằng người cháu được gọi là Arthur kia đúng là một nhánh trong cây gia hệ. Ngoài bức thư ra, anh ta còn gửi cho bà một gói quà khá nặng.
Dì Anna suy nghĩ nát óc, cố gắng hiểu cho rành rẽ mối dây huyết thống giữa người bà con mới với bà là thế nào. Nhưng đã ở tuổi 72, cái tuổi mà, như tục ngữ đã nói, con người gần đất xa trời, bà chấp nhận sự việc này một cách đơn giản. Giờ thì tháng nào nhân viên bưu tá cũng đem đến cho bà một bức thư ngắn ngủn và một thùng đồ ngon lành như cà phê Brazil hay kẹo chocolate chẳng hạn và bà góa đáng kính cảm thấy vui sướng bởi cái bước ngoặt của sự kiện bất ngờ này!
Cho đến khi, trong một bức thư mà Arthur Pavelets yêu cầu bà cho hai người bạn của mình đến trú ngụ một thời gian thì dì Anna sẵn lòng đưa họ đến ở trong căn phòng tốt nhất của mình có cửa sổ trông ra đường phố. Hơn nữa, những người khách trọ mới của bà không hề keo kiệt trong việc trả tiền trước cũng như họ đã không hề tính toán khi tặng cho bà hàng đống quà.
Từ cửa sổ căn phòng được bố trí ở tầng thứ ba này có thể nhìn thấy cảnh tuyệt đẹp của công viên Thanh niên, đồng thời nhìn thấy cổng ra vào và cửa sổ của căn phòng mà Bela Imre đang ở.
Dì Anna đã ngủ được một giấc ngon lành từ lâu rồi mà một trong hai khách trọ của dì vẫn còn đứng bên cửa sổ, theo dõi cảnh viện trưởng Bela Imre đi đi lại lại trong phòng làm việc như đang lo lắng vì một chuyện gì đó. Tên của người khách trọ này là Naldor Saad.
“Con bài trùng” của hắn – Mills – đang lăn qua lăn lại trên giường. Trên mặt chiếc bàn ở đầu giường trước mắt hắn đặt một chiếc radio bé tí tẹo.
Imre ở căn hộ đối diện bỗng nhảy bổ đến chỗ đặt điện thoại. – Trong máy thu thanh của Mills nghe vang lên tiếng chuông điện thoại.
- Ai mà lại gọi dây nói cho lão ta vào giữa đêm này nhỉ? – Saad ngạc nhiên hỏi.
- Chúng ta sẽ biết ngay thôi. – Mills thản nhiên đáp lại.
Hai tên cùng nghe giọng nói của Imre.
- Cậu đấy à, Balint? Mình nghe đây.
- Thế là rõ. Đấy là ông bạn Rona của lão ta ở cơ quan phản gián. – Saad hồi hộp nói thầm. Mills ra hiệu bằng cử chỉ cho hắn ngưng lại. Cả hai đứa lặng lẽ, dỏng tai nghe.
- Chưa, chưa, mình chưa ngủ, thâm chí còn chưa ngả lưng xuống … – Imre tiếp tục câu chuyện. – Khủng khiếp hơn cả là … Có cái gì đó sáng tỏ rồi hả? … Chưa ư? Thế mà mình lại nghĩ cậu gọi để thông báo tin tức … Mình không thể hiểu được nguyên nhân … Tại sao ông ta làm như thế? Mình đã nghĩ nhiều nhưng chưa vỡ ra điều gì hết.
- Được rồi, mình hiểu … Tốt, ngày mai gọi … Vào bất cứ lúc nào cậu có thể. Các cậu mà biết được cái gì thì báo ngay cho mình đấy. Cậu hứa chứ? Cảm ơn … Mình chúc cậu cũng như vậy. – Imre đặt ống nghe xuống.
Cho đến lúc này ông vẫn luôn luôn làm chủ được tình cảm của mình, ngay cả trong những tình huống khó khăn nhất, ông vẫn tranh đấu đến cùng. Còn bây giờ ông dường như có cái gì đó đã bị đổ vỡ. “Mình đã già đi, đã trở thành kẻ hèn nhát rồi sao? Tại sao lúc bấy giờ mình không kể cho Balint biết về cuộc gặp gỡ giữa mình và Saad? Tại vì nhút nhát, quỷ tha ma bắt mình đi! Phải, mình đang lo cho đứa con gái của mình”.
Imre đi tới đi lui trong phòng. “Nhưng, nếu đây chỉ là một sự vu cáo thì sao? Nếu chỉ giản đơn là chuyện Saad muốn hù cho mình sợ hãi?”. Tất nhiên, những tên đê tiện này đã tiên đoán rằng hàng chục tấm ảnh và những lời dọa dẫm có dính đến vụ kiện tụng ở tòa án cách đây 30 năm là quá ít để ép buộc được ông phải cộng tác với chúng. Chúng bắt buộc phải có con bài mạnh mẽ hơn. Ông không vì bước đường công danh của bản thân để trở thành kẻ phản bội Tổ quốc, rõ ràng là như vậy rồi. “Đúng, mình cần phải kể lại tất cả cho Balint biết! Lương tâm và danh dự của mình yêu cầu như thế. Nhưng nếu Nora và Habor quả đã lọt vào tay bọn chúng? Trong trường hợp này thì Nora không đủ sức giúp đỡ được. Bọn trẻ đang ở Munich và bạn mình không thể làm gì được. Giả sử như họ bắt được Saad nhưng rồi sẽ ra sao? Chắc chắn là Saad có những tên dự bị hoặc đồng bọn ở Budapest. Chúng sẽ thông tin về việc Saad đã bị bắt giữ và như vậy là hai con của mình sẽ bị tử nạn. Không, mình cần phải biết trước tiên là Saad có nói sự thật hay không, hay đây chỉ là một chuyện bịa đặt đểu cáng, một chuyện vu khống, một sự khiêu khích?”.
Một phút sau, Imre đã chuyển những ý nghĩ của mình sang hướng khác. “Nhưng nếu như Saad nói đúng sự thật thì sao? Nếu như chúng đã tóm được và bắt giữ Nora và chồng của con bé? Mình có quyền phản bội tất cả những điều mà vì chúng mình đã sống và đấu tranh trong suốt cuộc đời hay không?”. Imre gục đầu lên cánh tay: “Mình chẳng còn ai ruột thịt ngoài Nora. Cô đơn, đấy là điều đón đợi mình lúc tuổi già. Nhưng mình có thể làm gì được? Và chuyện gì sẽ xảy ra với nó, nếu như mình nói không?”.
Saad nghe xong bèn nói với Mills:
- Tuyệt diệu! Lão ta chẳng nói gì với Rona cả.
- Bây giờ thì chưa, – Mills cắt ngang. – Nhưng Rona đã nói cho lão ta nhiều điều rồi đấy.
- Anh nhận thấy điều gì?
- Phải chăng anh không hiểu? – Sự nông nổi của anh bạn đồng nghiệp đã làm Mills nổi giận. – Rona đã bắt đầu điều tra vụ án ở ngôi nhà gác rừng.
- Chẳng lẽ lão ta đã đánh hơi được điều gì đó? – Saad giật mình và toàn thân có cảm giác khác lạ thế nào ấy.
- Rất có thể như thế. – Mills thản nhiên cằn nhằn. – Cần phải lắp máy nghe trộm vào điện thoại của Imre. Lúc ấy chúng ta có thể biết chính xác những thứ còn nằm trong óc vị thiên thần của cơ quan phản gián này.
- Thế nếu như Rona đã dò xét được tất cả những gì đã xảy ra ở chỗ Dodek rồi thì sao?
- Không loại trừ khả năng ấy. Không Rona thì cũng là một người nào đó. Hay là anh cho họ hoàn toàn chỉ là những kẻ ngu ngốc? Họ cũng là những tay chuyên nghiệp chẳng khác gì chúng ta.
Saad hốt hoảng thật sự.
- Phải tìm cách vô hiệu hóa thằng cha Rona này!
- Sao lại chỉ có mình lão ta mà không phải là tất cả tổ chức hiệp ước Varzawa? Thôi hãy để yên cho tôi ngủ một lát. Imre đang làm gì?
Saad nhìn ra cửa sổ.
- Lão đang ngồi ở ghế, lấy tay che mặt.
- Không được rời mắt khỏi lão ta!
Mills ra lệnh. Sau đó hắn trở mình về một phía, gối đầu lên cánh tay và đắm mình trong giấc ngủ. Chiếc máy thu thanh trên chiếc bàn ở đầu giường của hắn vẫn đang mở.
Buổi sáng chủ nhật rực nắng.
Trong phòng làm việc của trung tá vẫn còn ánh đèn, mặc dù những tia nắng mặt trời đã vạch những vệt sáng trên tường nhà, trên hè phố và trên chiếc cầu của đường phố vẫn còn vắng người qua lại.
Shalai nằm trên đi –văng, đang còn mắt nhắm mắt mở. Trong lúc mơ mơ màng màng, anh ta nghe thấy tiếng của Kuty đang nói trong điện thoại.
- Tôi ghi đây? – Giọng Kuty vang lên tỉnh táo và mạnh mẽ, giống như anh ta vừa mới ngủ một giấc đẫy và nhảy ra khỏi phòng tắm. – Qua kiểm tra loại xe mang nhãn hiệu Ostin có tất cả 276 chiếc. Tôi nhắc lại 276. Ngoài ra … Tôi nghe không rõ. Hãy nói vào ống nghe ấy …
- Cậu đừng có la toáng lên như thế! – Shalai van nài.
- Tôi ghi tiếp nhé! Ngoài ra, có 30 chiếc Ostin gắn bảng số nước ngoài đang lưu thông trên lãnh thổ nước ta. Thế, tôi hiểu rồi. Các anh không thể cho chúng tôi biết rõ chỗ đậu của mỗi chiếc xe được à? Có cái đó để làm gì ư? Chúng tôi cần thiết để điều tra. Phải, phải, anh thấy đấy, chủ nhật thì cũng vậy à? Kỳ hạn ư? Từ hôm nay tới ngày 12, không được chậm hơn đấy. Cái gì? Sang tuần tới à? Anh vẫn đang tỉnh táo đấy chứ? Hoàn toàn là một vụ án, rõ chưa? A hà, thế lại là chuyện khác. Anh cứ làm đi, tôi chờ. Cám ơn, xin chào!
Kuty đặt ống nghe xuống, ngó sang Shalai.
- Ba trăm Ostin! Việc nhỏ mọn, chẳng có gì! Chuyện tầm phào, vặt vãnh. – Anh ta vươn vai và ngáp.
- Chuyện vặt vãnh. – Kuty tán đồng. – Nhưng dù sao chăng nữa cậu cũng nên rời khỏi đi –văng thôi chứ! Bây giờ mà ông cụ xuất hiện, ông cụ sẽ giũa cho cậu một trận ra trò ngay.
Thượng úy, vẫn đang trong giấc ngủ lơ mơ, bật ngồi ngay dậy.
- Coi giùm xem, ở đấy còn một ít cà phê nào không? – Anh ta nài nỉ người đồng đội của mình. – Cà phê nguội cũng được. Đằng nào mà chẳng vậy.
Kuty rót cho anh ta chỗ cà phê còn lại trong ấm. Còn được nửa ly nhỏ – và đặt bên cạnh miếng bánh mì kẹp pho –mát.
- Thủ trưởng ở phòng thí nghiệm sắp quay về ngay đấy, chúng ta nên tranh thủ rửa ráy sơ qua một chút, – anh ta nói. – Bây giờ mà tính đến chuyện nằm nghỉ quả là không thích hợp. Chừng nào mà chúng ta chưa tìm ra được hung thủ thì còn chưa được yên đâu.
- Phải vậy thôi, nếu như cái lũ giết người ấy vẫn còn tồn tại! – Shalai cắn một miếng lớn.
- Chúng vẫn đang tồn tại! – Rona hiện ra ở ngưỡng cửa và đã nghe thấy những tiếng cuối của Shalai. – Đã phát hiện ra trong nhóm máu của Dodek quá cố một loại chế phẩm có tác dụng chế ngự sức phản kháng của con người, làm liệt ý chí của con người, làm cho con người dễ nhào nặn giống như là một loại sáp. Rất có thể bọn chúng đã chích loại thuốc đó vào tĩnh mạch của Dodek rồi ép buộc ông ấy phải viết lá thư tuyệt mệnh kia.
- Thế thì lúc ấy chúng có thể đẩy Dodek tới cái quyết định tự kết liễu cuộc đời mình! – Shalai nói.
- Về nguyên tắc thì có thể là thế, – trung tá đồng ý. – Nhưng bác sĩ lại đánh giá tình hình theo cách khác. Chúng đã bắn chết Dodek! – Ông gục đầu xuống ngực. Hành vi cuối cùng này họ không thể giao phó cho Dodek một cách giản đơn như vậy được. Đã cầm được súng trong tay, biết đâu ông ta sẽ không dồn mọi sức lực còn lại bắn vào một tên nào đó trong bọn chúng. Chúng không muốn mạo hiểm. Còn sau đó thì giản đơn là người bị nạn không còn đủ sức,và sự thể đã xảy ra như thế đấy.
Hai chàng trai im lặng.
Rona thả người vào một trong những chiếc ghế bành, úp hai tay lên trán một cách mệt mỏi. Sau đó ông nhìn những cộng sự của mình.
- Hãy bắt đầu ghép mình vào nề nếp đi các bạn trẻ. Chúng ta sẽ trải qua một ngày vất vả đấy. – Nhìn thấy cả hai vẫn còn đứng yên, ông nói thêm. – Tôi cho rằng, một sự hèn hạ cực kỳ ghê gớm nào đó đang được tiến hành. Hoặc là chống Imre hoặc là chống tôi.
Shalai nhướng cặp lông mày:
- Tại sao lại là chống trung tá?
- Chúng tôi có ba người, ba người bạn. Dodek, Imre và tôi. Người quá cố không có bà con thân thích, chúng tôi đã thay thế họ, trở thành những người gần gũi nhất của ông ấy. Tôi tin rằng chúng không chỉ bắt ông ấy viết hay là ký tên vào bức thư trước khi chết thôi đâu mà còn bắt ông ấy làm một việc gì đó nữa.
- Giả dụ như ký tên vào một bức thư khác mà chúng ta chưa tìm thấy, – Kuty nhắc lại.
- Và nội dung bức thư ấy chúng ta cũng chưa được biết. Rất có thể là như thế. – Rona chuyển cuộc nói chuyện sang một hướng khác. – Vấn đề là ở chỗ loại chế phẩm bí ẩn hoặc chất độc này, muốn gọi thế nào thì tùy, chỉ được sử dụng ở bên ngoài biên giới nước ta. Chúng ta chưa hề biết đến nó …
Shalai chộp ngay lấy ý tưởng này:
- Và nếu xét đến việc viện trưởng Imre hiện đang tiến hành những thí nghiệm tuyệt mật về năng lượng, có sự cộng tác chặt chẽ với các nước trong khối Hội đồng tương trợ kinh tế, thì có thể cho rằng …
- Đúng thế. Hoặc là một cái gì đó tương tự như vậy. – Rona đứng dậy và đi dọc theo phòng làm việc.
Chuông điện thoại reo vang. Kuty cầm lấy ống nghe.
- Đại úy Kuty nghe đây. – Sau đó anh lấy bàn tay đậy một đầu ống nghe, báo cáo: – Trực ban cơ quan gọi qua đường dây mắc song song của trung tâm thông tin. Họ đã gọi ba cô nhân viên đang nghỉ đến và những cô gái này lập một bản dồ hành trình đi lại vào bất cứ giờ nào của những chiếc xe Ostin trên khắp lãnh thổ nước ta. Tài liệu đã được chuẩn bị xong.
Rona vội vàng nhảy tới và chộp lấy ống nghe trong tay Kuty.
- Trung tá Rona đây. Xin cảm ơn trung tâm thông tin. Chúng tôi cần gặp người trực ban. Hãy chú ý nghe tôi. Cần phải cấp tốc xác định vị trí tất cả xe hơi hiệu Ostin. Tất cả, không trừ một chiếc nào. Không nên để cho một người nào trong số chủ nhân của những chiếc xe này tỏ ý nghi ngờ điều gì. Hãy chọn những nhân viên xuất sắc nhất để giao công việc này. Chúng tôi muốn các anh lưu ý trước hết đến những chiếc xe Ostin nào có vỏ xe của hãng Samson. Dễ dàng nhận ra vỏ xe này vì chúng có một đường viền trắng phía vành trong. Trong trường hợp đã phát hiện ra những chiếc xe như thế phải thông báo ngay cho tôi, không được chậm trễ. Trong trường hợp khác, không được chận xe lại, thậm chí cũng không nên đến gần nó. Hãy chỉ đạo công việc theo dõi và thông báo cho tôi. Anh đã rõ tất cả rồi chứ? Xin cảm ơn. Hãy bắt tay vào việc đi! – Rona gác ống nghe vào máy.
- Thế đấy, những người bạn đồng nghiệp của chúng ta đã bắt tay vào việc rồi. Còn chúng ta thì làm gì bây giờ? – Shalai hỏi.
- Chờ đợi! – Rona nhìn anh ta rồi mệt mỏi sụp mí mắt xuống.